Tải bản đầy đủ (.pdf) (72 trang)

Nghệ thuật hát xẩm ở hà nội thưc trạng và giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (930.34 KB, 72 trang )

1

TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT

NGHỆ THUẬT HÁT XẨM Ở HÀ NỘI – THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT

Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Chí Hiếu

Lớp

: Âm nhạc 2

Hà Nội – 2013


2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết

Ký hiệu


Ảnh

A

Phụ lục

PL

Trang

Tr

Nghệ sĩ nhân dân

NSND

Nghệ sĩ ưu tú

NSUT

Nghệ sĩ

NS

Giáo sư

GS


3


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chƣơng 1: NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT
HÁT XẨM HÀ NỘI ..................................................................................... 8
1.1. Nguồn gốc của Hát Xẩm .................................................................... 8
1.1.1. Tương truyền về nguồn gốc hát Xẩm ............................................. 8
1.1.2. Những bước thăng trầm nghệ thuật hát Xẩm .................................. 9
1.2. Sự phát triển của nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội ............................ 11
1.2.1. Sự ra đời nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội ....................................... 11
1.2.2. Sự phát triển của hát Xẩm ở Hà Nội............................................. 13
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NGHỆ THUẬT HÁT XẨM Ở HÀ NỘI . 18
2.1.Khái quát về đặc điểm của nghệ thuật Hát Xẩm ............................. 18
2.1.1. Môi trường diễn xướng ................................................................ 18
2.1.2. Tổ chức dàn nhạc Xẩm ................................................................ 19
2.1.3. Các nhạc cụ thường dùng trong dàn nhạc Xẩm ............................ 21
2.1.4 . Hệ thống làn điệu ........................................................................ 25
2.1.5. Đặc điểm lời ca ............................................................................ 29
2.2. Thực trạng nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội ...................................... 35
2.2.1. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật hát Xẩm tại hà Nội ..................... 35
2.2.2. Khán giả của nghệ thuật hát Xẩm................................................. 40
2.2.3. Khả năng chuyên môn của nghệ sĩ ............................................... 45
2.2.4. Môi trường diễn xướng của hát Xẩm ở Hà Nội ........................... 46
2.2.5 Công tác đào tạo về nghệ thuật hát Xẩm ...................................... 47
2.2.6. Sự khác nhau giữa Xẩm làng quê và Xẩm Hà Nội ..................... 50
Chƣơng 3: Ý KIẾN NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT
HÁT XẨM TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI HIỆN NAY ........................... 53
3.1. Giá trị của nghệ thuật hát Xẩm ....................................................... 53



4

3.1.1. Giá trị nghệ thuật ......................................................................... 53
3.1.2. Giá trị lịch sử ............................................................................... 54
3.1.3. Giá trị tinh thần ............................................................................ 55
3.1.4. Giá trị nhân văn ........................................................................... 55
3.2. Hƣớng phát triển của nghệ thuật Xẩm ........................................... 56
3.2.1. Đề xuất ý kiến với các cấp quản lý ............................................... 56
3.2.2. Đề cử hát Xẩm là di sản văn hóa thế giới ..................................... 57
3.2.3. Tổ chức các câu lạc bộ hát Xẩm ................................................... 58
3.2.4. Tổ chức biểu diễn hát Xẩm .......................................................... 59
3.2.5. Giáo dục âm nhạc dân gian trong các trường phổ thông và các
trường nghệ thuật................................................................................... 60
3.2.6. Tổ chức các cuộc liên hoan hát xẩm ............................................. 61
3.2.7. Có thêm nhiều kênh thơng tin đại chúng giới thiệu về hát xẩm .... 61
3.2.8. Khuyến khích sự tham gia của xã hội vào hoạt động bảo tồn và
phát triển nghệ thuật hát xẩm ................................................................. 62
KẾT LUẬN ................................................................................................. 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 64
PHỤ LỤC.................................................................................................... 66


5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với Ca trù là một bộ mơn nghệ thuật truyền thống ở phía Bắc
Việt Nam, loại ca nhạc trong cung đình được giới quý tộc và học giả yêu
thích; dân ca quan họ là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc
Bộ, Việt Nam. Hát xoan là loại hình dân ca lễ nghi phong tục hát thờ thần,

thì có một thể loại đặc biệt và gần gũi với người dân hơn cả đó là nghệ
thuật dân gian hát xẩm.
Xẩm có thể nói là loại hình âm nhạc kể chuyện bám sát văn học dân
gian, nội dung đề cập đến những vấn đề của đời sống nhất so với các loại hình
âm nhạc dân gian khác như ca trù, chầu văn, chèo… Phần lớn phần lời của
các bài xẩm là do các nghệ sĩ xẩm tự chế, là những tự sự về thân phận của
mình, nỗi khổ của những người nghèo khó, cảnh đời ngang trái. Hay có
những chuyện vui nhẹ nhàng, hóm hỉnh, mang tính chất châm biếm các thói
hư tật xấu, lên án những hủ tục, tố cáo tội ác của kẻ áp bức, thống trị. Có thể
coi những người hát xẩm là những người kể chuyện rất tài ba.
Hát xẩm khơng phải chỉ có ở Hà Nội mà là loại hình ca hát chuyên
nghiệp xuất hiện ở nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam như: Ninh Bình, Nam
Định, Hà Nam, Hải Dương, Bắc Giang, Bắc Ninh... Xẩm Hà Nội xuất hiện
muộn hơn các địa phương trên là bởi, trước những khó khăn của kinh tế xã
hội từ những năm nửa cuối thế kỷ 19, nửa đầu thế kỷ 20, nhiều nghệ nhân hát
xẩm đã phải bỏ nghề. Một số nghệ nhân vì u nghề đã tìm cách chuyển dịch
mơi trường diễn xướng ra những đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phịng... Từ bến
sơng, bãi chợ, sân đình ở khắp các nẻo đường làng quê, xẩm chu du ra từng
con phố, góc chợ của chốn Hà Thành và nhanh chóng kiếm cho mình một
"bến đỗ" mới với những đặc điểm riêng, tạo nên nét độc đáo cho dịng xẩm đơ
thị, cũng như làm phong phú cho nghệ thuật hát xẩm Việt Nam.


6

Ở Hà Nội, những nghệ nhân hát xẩm thường tập trung ở khu vực chợ
Mơ, chợ Đồng Xuân và những góc phố đơng người qua lại, đặc biệt là những
bến tàu điện và trên toa xe thứ 2 của các đồn tàu điện. Chính vì vậy, xẩm Hà
Nội cịn được biết tới với tên gọi hết sức dân gian, gắn liền với mơi trường
hoạt động ca hát, ấy chính là xẩm tàu điện. Mặt khác, khi chuyển dời ra Hà

Nội, vì để phù hợp với đời sống thẩm mỹ, phù hợp tới tai nghe của người
thành thị, các nghệ nhân đã sáng tạo ra một làn điệu mới, nhẹ nhàng hơn, dễ
nghe hơn và tinh tế hơn. Đặc biệt, bên cạnh lời thơ dân gian, các nghệ nhân
hát xẩm ở Hà Nội đã sử dụng thơ của những nhà thơ rất nổi tiếng thời đó như
Á Nam Trần Tuấn Khải, và sau này là Nguyễn Bính để thể hiện. Có một điểm
rất đáng chú ý, nghệ nhân hát xẩm thường chọn thơ văn có tinh thần yêu
nước, chống giặc ngoại xâm để thể hiện, bên cạnh đó là những bài thơ nói về
tình u q hương, đất nước, đơi lứa...
Phổ biến từ đầu thế kỷ 20 cho tới những năm của thập niên 70, những
nghệ nhân hát xẩm, những lời ca, giai điệu quen thuộc trên toa xe thứ 2 của
tàu điện bỗng dưng vắng bóng và gần như rơi vào quên lãng.
May mắn là cho đến ngày nay, xẩm ngày nào vẫn còn giữ lại được một
phần những giá trị tinh hoa của nó. Để góp phần vào việc khẳng định những
giá trị nghệ thuật của xẩm trong đời sống tinh thần của con người cũng như để
có đề xuất phát triển thể loại âm nhạc dân gian đặc sắc này, em đã chọn đề tài
“ Nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội – Thực trạng và giải pháp ” cho bài khóa
luận của mình.
2. Đối tƣợng,phạm vi nghiên cứu
Nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:


7

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng hợp

4. Đóng góp của đề tài
Làm phong phú thêm tài liệu về nghệ thuật hát Xẩm làm tài liệu tham
khảo cho những tài liệu nghiên cứu về hát Xẩm
Ý kiến về bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát Xẩm trong đề tài có thể
ứng dụng vào thực tiễn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị loại hình nghệ
thuật này.
5. Cấu trúc đề tài
Ngồi phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục bài nghiên
cứu có cấu trúc như sau :
Chƣơng 1 : Nguồn gốc và sự phát triển của nghệ thuật hát Xẩm ở
Hà Nội
Chƣơng 2 : Thực trạng nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội
Chƣơng 3 : Giải pháp nhằm và bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát
Xẩm trong đời sống xã hội hiện nay


8

Chƣơng 1
NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT
HÁT XẨM HÀ NỘI
1.1. Nguồn gốc của Hát Xẩm
1.1.1. Tương truyền về nguồn gốc hát Xẩm
Một trong những câu chuyện về nguồn gốc của xẩm mà các nghệ nhân
xẩm vẫn lưu truyền từ các thế hệ nối tiếp nhau một cách đầy trân trọng và tự
hào đó là về hai người con của vua Trần. Tương truyền, vào thế kỉ thứ 13, vua
Trần Thánh Tơng có hai người con là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh.
Toán là người anh nhưng lười học, tính tình ngang bướng, hay đố kỵ. Người
em tên Đĩnh chăm chỉ học hành, kiến thức uyên thâm, tính tình hiếu thảo lại
đàn giỏi hát hay nên rất được lịng vua cha. Một hơm hai anh em vào rừng săn

bắn, chợt Đĩnh thấy viên ngọc quý, định bụng sẽ mang về dâng vua cha. Toán
thấy vậy đã rắp tâm hãm hại, chọc mù hai con mắt của của người em rồi đem
bỏ vào rừng sâu cho hổ ăn thịt. Toán mang viên ngọc quý về dâng vua lấy
thưởng. Chàng Đĩnh mù lịa ở chốn rừng sâu khơng biết lối ra, khơng có gì để
ăn, lại nghĩ tới nhân tình thế thái chàng buồn bã chỉ biết giãi bày tâm sự qua
tiếng hát, hát rồi lại khóc. Những tiếng tâm sự của chàng thấu tân trời cao.
Bụt hiện ra và ban dạy cho chàng cách nối những sợi dây rừng vào và dùng
que gảy lên nó, đây chính là tiền thân của cây đàn bầu ngày nay. Có thêm
tiếng đàn được tạo ra từ dây rừng, tiếng hát của chàng càng trở nên ngọt ngào
tha thiết tới nỗi chim muông ngày ngày sà xuống bên để nghe chàng hát và
mang tới những trái ngọt trong rừng để chàng ăn. Một lần, những người đi
rừng đi ngang qua chỗ chàng, họ nghe được tiếng hát làm say đắm lòng người
của chàng đã đưa chàng về làng. Ở đây, ngày ngày chàng đem lời ca tiếng hát
kể về những khó khăn vất vả của cuộc sống, kể về những công việc thường


9

nhật của người nông dân, kể về sự đố kỵ, lòng ganh ghét giữa những người
thân với nhau. Tiếng hát của chàng bay xa tới cung đình. Vua cho vời chàng
trai khiếm thị có giọng hát tuyệt vời vào phục vụ. Cha con nhận ra nhau,
chàng trai mù lòa hát hay nổi tiêng giờ đây đã được trở lại với thân phận cao
sang của mình. Song chàng vẫn khơng qn ơn đùm bọc của nhân dân. Chàng
một mực xin vua cha cho trở lại dân gian để truyền dạy cho những người
khiếm thị kém may mắn một nghề làm kế sinh nhai. Nghề hát xẩm gắn với cây
đàn bầu được ra đời từ đó và cho đến ngày nay, khi nhắc đến hát xẩm người ta
vẫn ln nghĩ đó là thể loại âm nhạc dành cho những người khiếm thị.
1.1.2. Những bước thăng trầm nghệ thuật hát Xẩm
Hát Xẩm là một thể loại âm nhạc dân dã trước đây được lưu truyền chủ
yếu ở các tỉnh phía Bắc như: Bắc Giang, Hà Nội, Hà Đơng, Hải Phịng, Ninh

Bình, Thanh Hóa… với những hình thức biểu diễn rất độc đáo, mang đậm bản
sắc văn hóa khu vực.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời gian thịnh đạt nhất của hát
Xẩm. Lúc này, khơng cịn đơn thuần là loại hình giải trí lúc nơng nhàn, Xẩm
đã phát triển thành một nghề kiếm sống của người nghèo nơi thành thị và
được truyền dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Trong q trình phổ biến lối hát Xẩm, có những người mù hoặc nghèo
khổ nhưng rất có năng khiếu về âm nhạc đã vận dụng hát Xẩm làm phương
tiện kiếm sống, vơ hình trung, đưa hát Xẩm trở thành "đặc sản" của những
người ăn xin. Lượng người hát Xẩm đông nhất là thời kỳ Pháp thuộc và
những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Có thể nói, một thời gian dài, hát Xẩm đã là món ăn tinh thần của quần
chúng lao động. Nó đề cập đến nhiều vấn đề ở mọi khía cạnh, trong mọi tình
huống của cuộc sống, từ cơng cha nghĩa mẹ, tình u, tình vợ chồng, tình


10

huynh đệ cho đến những tình cảm riêng tư của mỗi con người, hay những vấn
đề mang tính thời sự cập nhật, đả kích và phê phán những thói hư tật xấu của
xã hội đương thời… Không chỉ phục vụ cho đám đơng ngồi xã hội, người
nghệ sĩ Xẩm cịn sẵn sàng phục vụ theo yêu cầu như trong dịp cưới xin, ma
chay, giỗ kỵ... và thậm chí nhiều khi chỉ đơn giản là “nhờ bác Xẩm đánh tiếng
dùm” với cô nàng thôn nữ đang đứng bên đàng.
Một trong những chức năng vô cùng độc đáo của nghệ thuật hát Xẩm là
một kênh truyền thông bằng tiếng hát rất hữu hiệu. Trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và cả trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Xẩm địch vận
đã xuất hiện và phát huy vai trị tích cực của mình. Để động viên tinh thần đấu
tranh anh dũng của các chiến sĩ trong trận tuyến quyết giữ mạch máu lưu
thông cầu Hàm Rồng, nghệ nhân Xẩm Minh Sen (Thanh Hóa) đã ôm cây đàn

nhị đi khắp mọi nơi trên mặt trận để mang những lời ca hóm hỉnh, mang lại
tiếng cười sảng khoái cho các chiến sĩ. Rồi nghệ nhân Xẩm đất Ninh Bình là
bà Hà Thị Cầu, người được mệnh danh là người đàn bà hát Xẩm cuối cùng
của thế kỷ XX, tuy không hề biết đến mặt chữ, nhưng cách đây hơn nửa thế
kỷ đã sáng tác ra bài Xẩm “Theo Đảng trọn đời” theo điệu thập ân với những
câu thơ:
“Vững tâm theo Đảng nghe con
Đạp bằng sóng gió sắt son lời thề”.
[ 1; tr 65]
Hay nghệ nhân Vũ Đức Sắc với bài “Tiễu trừ giặc dốt” hưởng ứng
Phong trào Bình dân học vụ do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động...
Tới giữa thế kỷ XX, nghề hát Xẩm vẫn còn với các tên tuổi nghệ nhân
tài ba, như: Nguyễn Văn Nguyên - tức cụ Trùm Nguyên, Vũ Đức Sắc (Hà
Nội); Thân Đức Chinh (Bắc Giang); Nguyễn Phong Sắc (Hải Dương), cụ


11

Trùm Khoản (Sơn Tây), cụ Chánh Trương Mậu (Ninh Bình); cụ Đào Thị Mận
(Hưng Yên); cụ Trần Thị Nhớn (Nam Định); Trần Thị Thìn, Nguyễn Văn
Khơi (Hà Đơng)... và nhiều nghệ nhân khuyết danh khác.
Từ thập niên 60 trở lại đây, vì nhiều ngun nhân khác nhau do điều
kiện mơi trường và xã hội, đặc biệt là do những quan niệm sai lầm nên các
phường Xẩm dần tan rã và không hoạt động nữa. Các nghệ nhân Xẩm tài
danh bước dần vào tuổi xế chiều, rồi lần lượt ra đi, vĩnh viễn đem theo những
giá trị nghệ thuật đặc sắc mà họ đã từng lưu giữ và thực hành. Đời sống xã hội
của nghệ sĩ Xẩm khơng cịn, nghệ thuật hát Xẩm đã bị lãng quên, tưởng như
đã thất truyền.
1.2. Sự phát triển của nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội
1.2.1. Sự ra đời nghệ thuật hát Xẩm ở Hà Nội

Trong mạch nguồn âm nhạc dân gian, có một dịng chảy từ bao đời nay
đã gắn bó với con người Việt Nam, đặc biệt là với cuộc sống dân dã, thị thành
và kẻ chợ… đó là là hát xẩm. Thể loại âm nhạc này trước đây được lưu truyền
chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như: Bắc Giang, Hà Nội, Hà Đơng, Hải Phịng,
Thanh Hóa…với những hình thức biểu diễn rất độc đáo, mang đậm bản sắc
văn hóa khu vực.
Theo các nghệ nhân, hát xẩm được hình thành khoảng thế kỷ thứ 14.
Từ khi ra đời đến khoảng nửa đầu thế kỷ 20, hát Xẩm được gọi với những tên
khác nhau như hát rong, hát dạo…
Đầu thế kỷ XX, hát xẩm đã phát triển thành một nghề để những người
dân nghèo kiếm sống nơi thành thị và được truyền dạy từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Xẩm thành thị ra đời, hối hả hơn, bóng bẩy hơn để phù hợp với cuộc
sống nơi đây. Bên cạnh các loại xẩm chính tơng như xẩm chợ, xẩm xoan, xẩm
thập ân.. nghệ nhân xẩm đã kết hợp, du nhập thêm các loại hình khác như Sa
mạc, Trống qn, Cị lả...Việc kết hợp như vậy vừa làm phong phú hơn mượt


12

mà hơn cho các câu hát xẩm, vừa phổ biến các loại hình khác rộng rãi trong
dân gian.
Theo thời gian, xẩm đã dần phát triển và định hình thành một nghệ
thuật âm nhạc độc đáo với hệ thống làn điệu riêng. Bởi thế, tên những điệu
hát này thường hay kèm theo chữ “xẩm”, như những làn điệu xẩm xoan, xẩm
chợ… với tính chất lạc quan, khỏe khoắn, tươi vui, yêu đời.
Trong hệ thống làn điệu của xẩm, có những làn điệu hấp dẫn, đặc sắc
đến mức các bộ môn nghệ thuật khác như Chèo, Quan họ và thậm chí Ca trù
đều phải “vay mượn”, như các điệu xẩm huê tình, xẩm chợ, xẩm xoan... Bài
xẩm huê tình khi được các đào nương, kép đàn ca trù du nhập vào trong hình
thức ca qn, thường gọi là điệu xẩm cơ đầu (hay xẩm nhà trị). Nói vậy để

thấy các nghệ sĩ giáo phường ca trù rất tôn trọng nghệ thuật xẩm, họ vẫn giữ
chữ “xẩm” ở làn điệu này nhằm chỉ rõ gốc gác của làn điệu.
Về nhạc cụ, chủ yếu là cây đàn bầu. Theo truyền thuyết, nó được coi là
nhạc cụ đặc trưng của xẩm lúc ban đầu (thế nên người ta cịn gọi nó là đàn
xẩm). Theo thời gian, một nhóm xẩm thường phải có đàn nhị, sênh, phách và
cặp trống mảnh (trống da một mặt). Tùy vào điều kiện nhân lực, họ cũng có
thể chơi đủ cả đàn bầu hay đôi khi thêm vào chiếc trống cơm hoặc sáo.
Nhưng với hoàn cảnh lang thang kiếm sống nay đây mai đó, nhiều khi chỉ cần
một đàn nhị và cỗ phách đơn hay cặp sênh là đủ tiếng tơ đồng phụ họa. Khi
trình diễn, bao giờ cũng có một người hát chính, những người cịn lại chơi
nhạc cụ đệm hoặc hát đỡ giọng khi cần.
Những loại hình văn hóa dân gian như hát xẩm không chỉ đơn thuần
mang ý nghĩa về mặt văn hóa, mà lớn lao hơn, chính là sự thể hiện rõ nét của
đời sống, là biểu hiện của tư tưởng, tâm hồn ông cha ta.


13

1.2.2. Sự phát triển của hát Xẩm ở Hà Nội
1.2.2.1. Hát Xẩm – sản phẩm nghệ thuật của người dân lao động
Hát xẩm có từ rất lâu trên đất kinh kỳ Thăng Long xưa. Trải qua năm
tháng, đến nay hát xẩm vẫn là một loại hình văn hóa dân gian đặc sắc ở Hà Nội.
Trên lưu vực châu thổ sông Hồng- cái nơi văn hóa của người Việt
cổ- tồn tại khá nhiều loại hình diễn xướng dân gian như hát trống qn, cị
lả, hát ví, hát xoan ghẹo... nhưng phổ biến và có sức lan truyền mạnh mẽ
nhất có lẽ vẫn là hát xẩm, với môi trường diễn xướng rộng rãi và đối tượng
khán giả đa dạng.
Thơng thường, một nhóm xẩm chính là một gia đình xẩm, có bố, mẹ và
các con. Trong đó, bố hoặc mẹ, hoặc cả bố và mẹ bị khiếm thị, các con sáng
mắt đi theo, vừa để đỡ đần bố mẹ, vừa học nghề. Tuy hồn cảnh khốn khó

nhưng những nghệ nhân hát xẩm ln có lịng tự trọng cao. Họ khơng than
thân trách phận mà trái lại luôn lạc quan. Họ tôn trọng nghề nghiệp của mình
và coi đó là một cơng việc cao q:
Cái nghiệp cầm ca có ích cho đời
Tay đàn miệng hát giúp đời mua vui…
[ 2; tr65 ]
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời gian thịnh đạt nhất của hát
xẩm. Khơng cịn đơn thuần là loại hình giải trí lúc nơng nhàn, xẩm đã phát
triển thành một nghề kiếm sống của người nghèo nơi thành thị và được truyền
dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác. Là sản phẩm nghệ thuật của người dân lao
động, tính chất âm nhạc cũng như lời ca mộc mạc, chân thành, nhưng xẩm
vẫn chứa đựng những nội dung, tư tưởng sâu sắc. Lời ca trong hát xẩm không
chỉ phong phú về mặt thể loại: từ ca dao, tục ngữ, truyện thơ dân gian, đến


14

những bài thơ của các tác giả nổi tiếng như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn
Bính, Phan Bội Châu… mà cịn đa dạng về mặt nội dung. Ca từ của xẩm
thường hàm chứa những triết lý, lời răn dạy đạo lý. Thời phong kiến, xẩm đã
cất lên tiếng nói bênh vực người lao động, chống lại chế độ phong kiến hà
khắc ức hiếp dân lành. Còn những năm tháng sau chiến tranh, các làn điệu
xẩm được các nhạc sỹ, cán bộ văn hóa sử dụng như một cơng cụ để tun
truyền chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Theo chân những nhà tiểu thương về đất kinh kỳ, xẩm đã nhanh chóng
thích nghi, và dần trở thành một loại hình văn hóa dân gian đặc sắc ở Hà Nội.
Để phục vụ được những đối tượng khán giả luôn tất bật, xẩm Hà Nội đã thay
đổi về cấu trúc cũng như tiết tấu: nhanh và gọn hơn. Biên chế dàn nhạc xẩm
Hà Nội cũng được gia tăng và mở rộng, rôm rả hơn để sánh cùng âm thanh
náo nhiệt của đường phố. Xẩm Hà Nội thể hiện sự đặc biệt ở lời ca. Người Hà

Nội am hiểu và có trình độ trong việc thưởng thức văn học. Họ yêu thích thơ
ca, vì thế các gánh hát xẩm đã khéo léo lồng vào điệu hát xẩm những bài thơ
của các thi sỹ trứ danh. Những Anh khóa, Cơ hàng nước (của Á nam Trần
Tuấn Khải), Còn vẹn nguyên ký ức về những chuyến tàu điện chạy trên
đường phố Hà Nội, cùng với tiếng leng keng là tiếng hát, tiếng đàn da diết
như trút lòng của vợ chồng nhà xẩm. “Xẩm tàu điện” xuất hiện và đã khẳng
định chỗ đứng như mội loại hình âm nhạc dân gian độc đáo của Hà Nội. Xẩm
tàu điện đã tái hiện những địa danh, những làng nghề, nếp sinh hoạt và cả
những gì đặc thù nhất trong đời sống xã hội của đất kinh kỳ ngàn năm tuổi.
Sau những năm tháng chiến tranh khốc liệt, tiếp đó là những khó khăn
thời bao cấp đã khiến xẩm Hà Nội nói riêng và hát xẩm nói chung có lúc
tưởng mai một, thậm chí đứng trước bờ vực của sự lãng quên và thất truyền.
Thời gian gần đây, xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ thì
nhu cầu lưu giữ những giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc được đặt ra như


15

một yêu cầu bức thiết. Cùng với những biến chuyển của xã hội, khơng cịn là
một nhóm người nhỏ lẻ đứng hát nơi góc phố, xẩm ngày nay được trình diễn
trên sân khấu trang trọng, với đội ngũ nghệ sỹ trình diễn được đào tạo bài bản
chuyên nghiệp .
1.2.2.2. Sự phát triển hát Xẩm Hà Nội
Trên đất nước ta,khắp ngõ chợ đường quê đều có hát Xẩm. Như mọi
giá trị văn hóa khác , Xẩm cũng được hội tụ về Hà Nội . Nếu các giá trị văn
hóa Phi vật thể có bộ phận được triều đình quy tụ về kinh đơ thì hát Xẩm chỉ
có con đường dân dã.
Về đến đây, hát Xẩm được tiếp biến, điều tiết cho phù hợp với văn hóa
Hà Nội . Một xu hướng điều tiết là tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa bác học.
Xẩm Hà Nội không chỉ thu nhập các tác phẩm vơ danh mà quan tâm nhiều

đến thơ ca có tác giả như : Nguyễn Bính, Nguyễn Khuyến , Tản Đà , Á Nam
Trần Tuấn Khải….
Thể thơ được lựa chọn chủ yếu là lục bát ( vì lý do này các cụ còn gọi
Xẩm Hà Nội là Xẩm lục bát ) hồn chỉnh, ổn định, chứ khơng phải lời nói vần
hoặc tiền lục bát.
Chúng ta đều biết, thơ ca dân gian có một xu hướng bac học hóa về mặt
thể thơ. Ban đầu là dân ca, thơ ( đúng ra là văn vần ) phục vụ cho hát . Ngôn
ngữ và thể thơ phụ thuộc vào làn điệu của bài hát. Giới văn nghệ dân gian gọi
đây là “lời nói vần” , lời nói vần khác lời nói thơng thường, khác lời nói giao
tiếp là có vần , có nhịp, ít nhiều đăng đối. Lời nói vần chưa phải là thơ vì vần
chưa phổ biến, vị trí văn vần chưa ổn định, số lượng từ trong câu chưa được
quy định.
Dần dần dân ca chuyển thành ca dao, lời nói vần chuyển thành thơ lục
bát. Trong việc này, các nhà nho có đóng góp lớn. Phỏng theo Khổng Tử san


16

định Kinh Thi, các cụ ta cũng sưu tập ca dao đê đưa vào sách “Hợp tuyển” ca
dao. Từ trong kho tàng dân ca của dân tộc, các cụ còn lựa chọn theo xu
hướng: “ Ưu tiên cho tính chất tồn quốc, so với tính địa phương; giá trị khái
qt so với tính chất bộ phận, ưu tiên tính chất thơ, so với tính chất hát hị; thể
thơ lục bát, so với các thể vần vè” .
Xu hướng trên đây ảnh hưởng đến việc bác học hóa hát Xẩm ở Hà Nội .
Và các tác phẩm được rất nhiều người yêu thích là : Lỡ bước sang
ngang, Trăng sáng vườn chè, Anh Khóa, Mục hạ vơ nhân…nhiều người cứ
thích nghe mãi mà khơng chán, hình như càng nghe càng nghiện.
Chuyến này chị bước sang ngang
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây
Rượu nồng em uống cho say

Vui cùng chị một vài giây cuối cùng
Người ta pháo đỏ, rượu nồng
Mà trong lòng chị một vòng khăn tang….
[ 3; tr65 ]
Những đọa thơ xé ruột của Nguyễn Bính được các nghệ sĩ tài danh Hà
Nội, hát trên đường phố Hà Nội,vào những buổi tối, người Hà Nội không thể
nào quên được.
Xẩm cũng như các giá trị văn hóa phi vật thể khác, được thu hút về Hà
Nội và được thanh lịch hóa. Đặc biệt Hà Nội có điệu Xẩm tàu điện, mang đến
dấu hiệu đo thị rõ rệt. Điệu Xẩm này thường được hát trên một địa điểm mà cả
nước không nơi nào có – Xẩm tàu điện – hơn nữa nó mang tính chất Hà Nội, vui
tươi, trang nhã, khơng thảm thiết, ai oán như các điệu Xẩm ở làng quê.


17

Về nội dung, tính đơ thị được diễn đạt đầy đủ trong bài Chợ Đồng Xuân:
Vui nhất có chợ Đồng Xuân
Mùa nào thức ấy, xa gần đến mua
[ 4; Tr65 ]
Các thứ hàng được kể ra : hàng cau, hàng quýt, hàng hồng,phở xào, ngô
bung… “hàng tôm hàng cá xum xuê”…… “ tanh ngắt hàng cá, phô trương
hàng vàng”…..
Hiện tượng tiêu cực cũng không giấu giếm:
Lại những kẻ ăn cắp như rươi
Hở cơ chốc lát, tiền ôi mất rồi
[ 4; Tr65 ]
Sự việc tắt điện từ sáu giờ tối là một hiện thực được ghi lại, chứng tỏ
bài ca này ra đời từ buổi đầu có điện sinh hoạt.
Hà Nội như động tiên sa

Sáu giờ tắt hết đèn xa, đèn gần
[ 4; Tr65 ]


18

CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG NGHỆ THUẬT HÁT XẨM Ở HÀ NỘI
2.1.Khái quát về đặc điểm của nghệ thuật Hát Xẩm
2.1.1. Môi trường diễn xướng
Nói đến hát xẩm là nói đến thể loại âm nhạc dân gian nên nó gắn liền
với nhân dân và thân quen, gần gũi với đời sống của người dân. Ở đâu có dân
là ở đó có xẩm, từ Bắc vào Nam, từ vùng quê nghèo cho đến nơi thị thành
sầm uất. Nhưng xẩm chính tơng với tổ chức nghề nghiệp và hệ thống làn điệu
chặt chẽ thì chỉ xuất hiện ở miền Bắc. Môi trường diễn xướng của xẩm rất đa
dạng. Khi là trong khuôn viên của một gia đình khá giả và những dịp mùa
màng bội thu, khao thọ, chúc tụng ở trong làng...mà xẩm gọi là đi hát chúc, có
khi lại góp tiếng hát ai oán (thập ân) trong các đám ma – hát đám. Rộng hơn,
ở nông thôn người ta thấy hát xẩm ở cổng chùa, đình, đền hay cạnh một quán
nước, gốc đa đầu làng, ở các bến đò... ở thành phố, người hát xẩm ngược xuôi
theo các chuyến tàu điện 36 phố phường, các bến xe bãi chợ...Như vậy, xưa
kia xẩm xuất hiện hầu hết ở những nơi có cư dân sinh sống tập trung, “thậm
chí đơi lúc cịn len lỏi vào cả các xóm làng thưa thớt” – theo lời kể của nghệ
nhân Hà Thị Cầu. Cũng theo nghệ nhân Hà Thị Cầu, đi hát cũng phải có vụ,
vụ ở đây gắn với lối sinh hoạt, các lễ nghi và các thủ tục của cộng đồng trong
một năm. Chẳng hạn vào mùa xuân các nhóm xẩm thường chỉ đi hát chúc,
hát hội, cuối vụ chiêm – mùa bà con nông dân tập trung ở ngoài đồng gặt
hát, người hát xẩm cũng xuất hiện ở những nơi này để phục vụ hay hát ở
các qn nước, chặng dừng chân. Nơng nhàn thì ra bến đò hoặc đi hát rong
khắp các tỉnh...

Như vậy có thể khẳng định xẩm có một mơi trường diễn xướng rất
rộng, chúng ta tạm gọi là môi trường diễn xướng mở. Có nghĩa là xẩm khơng


19

đóng lại mơi trường diễn xướng mà ln có xu hướng mở rộng, thích nghi với
mọi hồn cảnh, điều kiện. Có lẽ đây chính là đặc điểm khiến xẩm gần hơn với
đời sống của người dân. Bởi vậy mà khi nhắc đến xẩm là người ta nhắc đến
những con người rất đỗi gần gũi, mộc mạc, hóm hỉnh, thân quen và đặc biết là
đậm đà, thuần chất người nông dân của đồng bằng Bắc bộ.
2.1.2. Tổ chức dàn nhạc Xẩm
Trước nhất phải nói đến các tổ xã hội của xẩm. Trong thời kỳ thịnh
vượng của hát xẩm (đầu thế kỷ 20) là lúc xuất hiện đầy đủ các làng xẩm, hội
xẩm do các nghệ nhân tập hợp nhau lại. Các tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ
theo đơn vị tỉnh, thành. Nhỏ nhất là các nhóm trong làng, hội do các Bơ phụ
trách, phân ra Bơ nhất, Bơ nhì, Bô ba… theo độ tuổi. Công việc của làng,
hội do các Trưởng- cịn gọi là các ơng Trùm. Các trưởng, Trưởng nhất- coi
việc chung, Trưởng nhì, Trưởng ba… giúp đỡ, đơn đốc các nhóm nhỏ. Xnthu nhị kỳ, bà con làng xẩm, hội xẩm lại tập trung làm lễ giỗ Tổ (cuối tháng 2
và 8 âm lịch). Các qui định, bình bầu ơng Trùm, Ơng Bơ hay các nghi lễ cúng
giỗ được tổ chức quy củ và linh đình. Các nhóm xẩm cũng thường có “vùng
lãnh thổ” riêng. Theo lệ, nếu xẩm từ nơi khác đến kiếm ăn phải có lời chào
thăm hoặc xin phép ông Trùm rồi mới được hành nghề. Có khi từ sự chào
thăm ấy họ thử tiếng hát, tài đàn của nhau, nếu hợp thì mời nhau cùng đi hát,
thường họ hợp 2 nhóm lại với nhau khoảng 4, 5 người. Lớn hơn, họ kéo 3
nhóm lại, ít nhất cũng phải 6 người, khi ấy phải đến chỗ khách nghe đông
đúc mới mong kiếm đủ miếng cơm manh áo cho các thành viên. Nói thì như
vậy, nhưng trên thực tế, trường hợp nhiều nhóm xẩm cùng tụ lại với nhau chỉ
diễn ra rất ít, mỗi năm chỉ hai lần vào ngày giỗ tổ tháng hai và tháng tám âm
lịch. Còn tổ chức dàn nhạc trong hát xẩm dân gian chủ yếu là dàn nhạc nhỏ.

Tuy nhiên số lượng nhạc cụ ở đây nhiều hay ít phụ thuộc vào biên chế nghệ
nhân của mỗi nhóm.


20

Xin điểm lại các tổ chức dàn nhạc xẩm nổi bật nhất:
Nhóm xẩm chỉ có một người: [ PL 1; A1; Tr 66 ]
Trên lý thuyết rất hiếm khi nhóm nhạc chỉ có một người, song thực tế
nhóm xẩm một người lại là biên chế phổ biến nhất trong nhiều chục năm qua.
Bởi kể từ khi thất truyền, xẩm luôn bị coi là một loại hình gắn với người ăn
xin nên hầu như đã khơng có được sự tiếp nối của các thế hệ sau, điều này
diễn ra ngay chính trong các thế hệ sau của các nhóm xẩm, mà nhóm xẩm
của gia đình nghệ nhân Hà Thị Cầu là một ví dụ điển hình. Trong bối cảnh
như vậy, người nghệ nhân chỉ sử dụng duy nhất một nhạc cụ mà giờ đây được
xem như linh hồn của hát xẩm là cây đàn nhị.
Nhóm xẩm hai người: [ PL1; A2; Tr 67]
Trong trường hợp nhóm xẩm có hai người thì ngồi cây đàn nhị, có
thêm một người gõ trống mảnh kèm sênh sứa. Thực tế cả trống mảnh và sênh
sứa có vị trí rất đặc biệt trong hát xẩm. Nếu như cây đàn nhị được ví như một
giọng hát thứ hai trong hát xẩm thì trống mảnh và sênh sứa bên cạnh chức
năng giữ nhịp còn làm cho những điệu hát thêm rộn ràng thu hút người nghe.
Nhóm xẩm có ba người: [ PL1; A3; Tr 67]
Lúc này sẽ có thêm cây đàn bầu hoặc đàn hồ. Tuy xuất xứ của nghệ
thuật hát xẩm gắn với cây đàn bầu song do q trình diễn xướng phải di
chuyển nhiều nơi, có lúc phải đứng hát nên các nghệ nhân đã chuyển cây đàn
nhị từ thứ yếu sang thành nhạc cụ chủ đạo, chính vì thế mà cây đàn bầu chỉ
xuất hiện trong những nhóm xẩm đơng người, có từ ba người trở lên. Tiếng
đàn bầu rất phù hợp với những câu hát kể về tâm trạng buồn của con người,
phù hợp với thân phận của người hát xẩm. Có lẽ vì vậy mà hầu hết các nghệ

nhân của xẩm ở thế kỷ 20 đều biết chơi điệu nghệ cây đàn bầu bên cạnh cây
đàn nhị. Bên cạnh đàn bầu, trong trường hợp dàn nhạc có 3 người có thể có


21

thêm đàn hồ, một loại nhạc cụ mang hình dáng như cây đàn nhị nhưng kích
thước lớn và tiếng trầm ấm hơn.
Với nhóm xẩm từ 4 người trở lên: [ PL1; A4; Tr68]
Mỗi người sẽ cầm một nhạc cụ, có thể có thêm trống cơm. Trường
hợp các ngày lễ giổ tổ nghề, thường có phần biểu diễn, dù rất đơng người
nhưng ít khi các nhóm xẩm cùng biểu diễn một lúc. Đây là dịp để các nghệ
nhân thể hiện những làn điệu, ngón đàn tay trống tuyệt chiêu của mình cho
nhóm bạn cùng thưởng thức và học hỏi. Điểm đặc biệt của nghệ thuật hát xẩm
là mỗi một nghệ nhân ít nhất biết một nhạc cụ đàn và các nhạc cụ gõ. Đối
với những nghệ nhân xuất sắc mà tên tuổi vẫn còn lưu danh cho đến tận ngày
nay như Nguyễn Văn Nguyên, Thân Đức Chinh, Vũ Đức Sắc… thì mỗi cụ
cịn có thể chơi được đàn bầu, đàn nhị và các loại trống phách, đặc biệt có
nghệ nhân Thân Đức Chinh và nghệ nhân Nguyễn Văn Nguyên có thể chơi
một lúc cây đàn bầu và nhiều nhạc cụ gõ đi kèm theo, tức là tay chơi đàn hai
chân đảm nhận vài ba loại nhạc cụ gõ trong đó có thanh la, trống đế và sênh
sứa. Trường hợp biệt tài như trên giờ trong dân gian vẫn còn một người lưu
giữ và có thể thể hiện được đó chính là NSND Xuân Hoạch, một thành viên
của nhóm xẩm thuộc Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam.
Như vậy có nghĩa là, trong tổ chức dàn nhạc xẩm, âm sắc quan trọng
nhất là giọng hát và đàn nhị, sau đó đến trống mảnh sênh sứa, rồi đến đàn
Bầu, đàn hồ, trống cơm và có thể là những nhạc cụ khác…
2.1.3. Các nhạc cụ thường dùng trong dàn nhạc Xẩm
- Đàn Bầu: [ PL1; A5; Tr 68]
Những truyền thuyết về tổ nghề xẩm cho thấy nghệ thuật hát xẩm gắn

với cây đàn Bầu từ khi mới ra đời. Một vài ý kiến cho rằng cây đàn Song tiền
thân của đàn Bầu ngày nay mới là nhạc cụ đầu tiên của xẩm, song cho tới thời


22

điểm này khơng có cây đàn Song, và những hình ảnh, tư liệu nói về cây đàn
này ngoại trừ sự phỏng đoán của các nhà nghiên cứu. Ngay cả với cây đàn
Bầu, theo các tư liệu ảnh có được và qua tìm hiểu về khảo tích các dàn cổ
nhạc được khắc trên bia đá, chạm gỗ xưa kia, chúng tôi cũng khơng tìm thấy.
Tuy nhiên những hình ảnh về người hát xẩm mà chúng tơi sưu tầm được có
thời điểm ra đời lâu nhất lại gắn với cây đàn Bầu. Đó chính là hình cây đàn
bầu của các nghệ sĩ hát xẩm cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Nhiều hình ảnh cho
thấy, cây đàn bầu xưa kia hồn tồn khác so với ngày nay. Đó là một cây đàn
mộc (bằng gỗ hoặc bằng tre), dùng âm vang tự nhiên từ thân đàn. Dây đàn
được mắc rất cao ở phía cần đàn sao cho đặt đàn trên chiếu, khơng dùng giá
đàn mà người ngồi ở tư thế lưng thẳng, với vẻ hiên ngang vẫn có thể đàn thoải
mái. Người nghệ nhân giữ đàn bằng cách ghếch một đùi lên thân đàn. Cần
đàn được vót bằng tre hoặc gỗ nhưng to và cao hơn nhiều so với ngày nay.
Tay rung cần, người nghệ sĩ nắm cần đàn bằng cả nắm tay, cầm phía chỏm
của cần đàn. Tay gảy, cầm một que gảy to gần bằng chiếc đũa con và gảy từ
dưới lên. Với một cây đàn như vậy nghệ sĩ hát xẩm có một tư thế ngồi rất
thuận, phong thái nho nhã, đường hoàng của một trang quân tử thời xưa.
Tiếng đàn bầu xưa có âm thanh mộc mạc với những tiếng gẩy và âm
rung nhấn dứt khoát và sâu. Có lẽ từ khi “lên sân khấu”, cây đàn bầu phổ biến
ngày nay có thêm bộ kích âm. Vì đã có kích âm nên khơng cần gẩy mạnh từ
đó que gẩy nhỏ hơn, không dùng nắm tay mà dùng kỹ thuật các ngón tay
nhiều hơn. Có thêm giá để đàn nên dây đàn được mắc thấp hẳn xuống, cần
đàn cũng nhỏ và thấp hơn hẳn đàn xưa…Về cây đàn bầu, cần có riêng một
q trình nghiên cứu dài hơn ở một cơng trình khác mới có thể đưa ra những

nhận định chính xác hơn nữa. Tuy nhiên, ở đây, với hát xẩm, có thể khẳng
định đàn bầu là một cây đàn có mặt ngay từ ban đầu, một cây đàn giữ vị trí
quan trọng thường do nam giới sử dụng. Trong quá trình diễn xướng đàn bầu


23

đưa hơi, đệm cho người hát và đặc biệt khoe ngón đàn ở những đoạn nối giữa
các câu hát, giữa các trổ hát (tương tự như xuyên tâm hoặc lưu không trong
hát Chèo). Lợi thế của đàn bầu là những điệu xẩm tốc độ chậm, vừa.. với
tính chất buồn hoặc trữ tình; đặc biệt biệt là những câu ngâm ngợi, như xẩm
Ba bậc, Huê Tình, ngâm Sa mạc, ngâm Kiều… Những điệu xẩm vui, hóm
hỉnh với tiết tấu nhanh thì đàn bầu nhường cho nhạc cụ khác như đàn nhị,
hoặc chỉ chơi điểm xuyến hỗ trợ. Do hình dáng của cây đàn, nên các nhóm hát
xẩm thường dùng đàn bầu ở những nơi có địa bàn rộng, khơng phải di
chuyển nhiều hoặc trong khơng gian mang tính thính phịng như khi đi hát
chúc, hát đám... Đặc biệt trong các dịp hội hè, các nhóm tụ họp thành các dàn
nhạc lớn.
- Đàn nhị - hồ : [ PL1; A6 ; Tr 69]
Khơng có một quy định chặt chẽ nào cho từng nhạc cụ, phải dùng ở địa
điểm nào, không gian nào, mà các nghệ nhân xẩm thường tiện gì mang đó.
Với gia đình xẩm vài ba thế hệ, gia đình đơng người… thì nhạc cụ phong
phú hơn. Với những nhóm nhỏ 2, 3 người và mơi trường địi hỏi di chuyển
liên tục như bến tầu, bến xe… thì cây đàn nhị được sử dụng nhiều hơn đàn
bầu. Mặc dù không xuất hiện trong truyền thuyết hát xẩm như cây đàn bầu
vừa nói ở trên, nhưng thực tế đàn nhị lại là một nhạc cụ gắn bó mật thiết nhất
và có mặt ở hầu hết các nhóm xẩm, hiếm khi người ta thấy nhóm xẩm, gánh
xẩm nào lại khơng có cây đàn này. Trong dàn nhạc xẩm, đàn nhị cũng chơi
những câu dạo để đưa hơi cho người hát, rồi tòng theo các câu hát, đến khi hết
câu hát hoặc trổ hát thì khoe những ngón đàn và những câu nhạc ngẫu hứng,

cũng giống như đàn bầu. Tuy nhiên so với đàn bầu tiếng đàn nhị xuất hiện
thường xuyên hơn, cả trong những bài chậm buồn, trữ tình đến những bài
nhanh vui hóm hỉnh. Đặc biệt đàn nhị có những nét nhạc rất đặc trưng để
điểm thật nhanh sau mỗi lấy hơi của người hát, hoặc dùng để tạo ra những


24

âm bắt chước giọng nói một cách hết sức hóm hỉnh, hài hước. Lúc người hát
muốn trọc cười khán giả, cũng là lúc người đàn thể hiện tài năng, những âm
bắt chước như “bố mày”, “hết rồi”, “hết”… Nghệ nhân có kĩ thuật chơi đàn
điêu luyện thì khán giả có cảm giác nghệ nhân với cây đàn nhị là một. Bởi, ở
góc độ nào đó, cây đàn mang cả “tính cách” của nghệ nhân. Người nghệ nhân
làm chủ cây đàn đến độ tưởng như có thể chơi tất cả những gì họ muốn một
cách tự nhiên và ngẫu hứng. Qua tư liệu ảnh cho thấy người xưa dường như
thuận tay nào thì cầm đàn tay đó tay đó. Có người cẩm vĩ bên trái và đàn bên
phải, người khác lại cầm ngược lại. Đàn nhị có khi được để chạm đất và
người chơi đàn tì gối lên, ngồi kiểu xếp bằng, cũng có khi đàn được đặt lên
đùi. Cách ngồi chơi đàn khá tự do, thoải mái cốt tập trung vào tiếng đàn.
- Trống mảnh: [ PL1; A7; Tr70]
Qua nguồn tư liệu và qua thực tế tìm hiểu các nghệ nhân cho thấy, dù
dàn nhạc xẩm lớn hay nhỏ, diễn ở bãi chợ sân đình, hay bến xe, tàu điện… thì
trống mảnh và sênh (cặp kè) là hai nhạc cụ ít khi vắng mặt. Có thể khẳng
định trống mảnh có vai trò quan trọng trong dàn nhạc xẩm. Trống mảnh là
loại trống chỉ có một mặt, gồm 2 chiếc kích cỡ to nhỏ khác nhau. Hai âm tạo
nên một quãng 5 (tùng- tang).
- Sênh (cặp kè): [ PL1; A8; Tr 70]
Thường là hai mảnh tre già hoặc gỗ, được đẽo cong hai đầu, khi
chơi thì cầm cả hai trên một tay và chuyển động một cách uyển chuyển nhịp
nhàng sao cho 2 gáy sênh va vào nhau, một tay dùng dùi trống giữ nhịp ở một

đầu, tạo nên tiếng kêu (các nghệ nhân thường ví nó như tiếng gà kêu kép
kép). Theo chúng tôi, sênh là một loại phách đặc biệt chỉ thấy xuất hiện trong
dàn nhạc xẩm. Âm sắc của sênh khá đặc biệt, ở âm khu cao nhưng khơng chói
tai và mang màu âm của tre trúc rất rõ ràng. Trong dàn nhạc xẩm, sênh được
dùng như một nhạc cụ để giữ nhịp.


25

- Các nhạc khí khác:
Ngồi 4 nhạc cụ quan trọng nhất là Bầu, Nhị, Trống mảnh, Sênh,
trong các dàn nhạc xẩm lớn, khi có đủ người chơi, cịn thấy xuất hiện các
nhạc cụ phổ biến của người Việt khác như Phách, Song loan, Mõ, Trống
cơm, Sáo, Tiêu, Đàn đáy (huê tình- xẩm nhà trị có sử dụng).
2.1.4 . Hệ thống làn điệu
2.1.4.1 . Các làn diệu Xẩm chính tơng
Có hai cách hiểu về làn điệu trong nghệ thuật hát xẩm. Một là, làn điệu
vừa là tên điệu đồng thời cũng là tên bài. Hai là, tên bài không trùng với tên
làn điệu. Những bài có trùng tên làn điệu là những bài mang tính mẫu mực,
được cho là ra đời sớm nhất trong hệ thống các bài thuộc làn điệu ấy. Chẳng
hạn như bài Thập ân trên làn điệu Thập ân, hay bài Ba bậc trên làn điệu Ba
bậc. Tuy nhiên, cùng với thời gian và nhu cầu phục vụ ngày càng cao, người
nghệ nhân hát xẩm không thể chỉ dừng lại một vài bài, họ đã sáng tạo thêm
nhiều bài mới dựa trên chính các làn điệu ấy. Trong phần giới thiệu dưới đây,
tôi nhắc tới tên làn điệu với đúng vai trị làn điệu của nó, chứ khơng chỉ tên
bài hát xẩm cụ thể nào. Trên thực tế, hát xẩm có hệ thống làn điệu tương đối
phong phú. Điều này có được là bởi chức năng truyền tải thông tin phục vụ
đối tượng người nghe của hát xẩm rất rộng, ở đó có đầy đủ những trạng thái
buồn vui, nỉ non, ai oán… hay phục vụ nhiều tầng lớp và nhiều không gian
diễn xướng khác nhau.

Về những làn điệu xẩm chính thống, tức là có từ thời xa xưa và do
chính thể loại âm nhạc này tạo ra thì hát xẩm tới nay chỉ được biết tới với 7
làn điệu. Những làn điệu này tạm gọi là điệu xẩm chính tơng. Bên cạnh đó, do
nhu cầu thể hiện ngày một thay đổi theo xu hướng phong phú, đa dạng hơn
nên hát xẩm đã khai thác thêm một số làn điệu của các loại hình dân ca khác


×