Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

Các trường hợp làm ảnh hưởng đến hiệu lực của quy phạm xung đột

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (142.25 KB, 16 trang )

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TPQT

Tư pháp quốc tế

QPXĐ

Quy phạm xung đột

HTPL

Hệ thống pháp luật

BLDS

Bộ luật dân sự

HĐTTTP

Hiệp định tương trợ tư pháp

HN&GĐ

Hơn nhân và gia đình



MỞ ĐẦU
Trong TPQT, để giải quyết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng
có yếu tố nước ngồi, việc xác định pháp luật của quốc gia nào
được áp dụng là rất quan trọng khi có hai hay nhiều HTPL của các


quốc gia khác nhau cùng có thể tham gia điều chỉnh. Việc xác
định này khơng thể dựa trên cảm tính hay ngẫu nhiên mà phải
trên cơ sở pháp luật quy định và QPXĐ chính là căn cứ pháp lí để
xác định HTPL của quốc gia nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh
quan hệ đang xem xét. Tuy nhiên, không phải trong bất kì trường
hợp nào pháp luật của nước được áp dụng và QPXĐ dẫn chiếu
cũng có hiệu lực áp dụng vì nhiều lý do khác nhau hay nói cách
khác, hiệu lực của QPXĐ bị chi phối, tác động bởi nhiều yếu tố. Từ
những lập luận trên, em xin chọn đề bài số 14: “Phân tích các
trường hợp làm ảnh hưởng đến hiệu lực của quy phạm xung
đột” để làm rõ vấn đề này.
NỘI DUNG
I. Khái quát chung về một số vấn đề
1. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Theo quy định tại khoản 2 Điều 663 BLDS 2015, quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngồi là quan hệ dân sự thuộc một trong các
trường hợp sau: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá
nhân, pháp nhân nước ngoài; Các bên tham gia đều là công dân
Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực
hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngồi; Các bên
tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng
đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngồi.
Như vậy, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngồi là các quan
hệ pháp luật dân sự có yếu tố chủ thể là người nước ngoài, đối
3


tượng của quan hệ là tài sản ở nước ngoài hoặc sự kiện pháp lý
làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra tại nước ngoài.
Trong TPQT, đối tượng điều chỉnh của TPQT cần được hiểu là quan

hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngồi, tức là các quan
hệ dân sự, kinh doanh, thương mại, hơn nhân gia đình… có yếu tố
nước ngồi.

2. Hiện tượng xung đột pháp luật
Đối tượng điều chỉnh của TPQT là các quan hệ dân sự theo
nghĩa rộng có yếu tố nước ngồi. Vì vậy, các quan hệ TPQT
thường liên quan đến nhiều HTPL. Nếu các quốc gia hữu quan
chưa ký kết với nhau điều ước quốc tế về nguyên tắc áp dụng
pháp luật thì có thể phát sinh hiện tượng là cùng một quan hệ
TPQT sẽ có nhiều HTPL tham gia điều chỉnh. Hiện tượng này trong
khoa học TPQT được gọi là xung đột pháp luật.1
Tóm lại, khi xảy ra một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu
tố nước ngồi thì sẽ có ít nhất là hai HTPL cùng có thể tham gia
điều chỉnh, mà pháp luật các nước khác nhau thì ln có sự khác
nhau. Như vậy, xung đột pháp luật là hiện tượng hai hay nhiều
HTPL cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ dân
sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngồi.
3. Quy phạm xung đột
Do có yếu tố nước ngồi mà quan hệ dân sự thuộc loại này có
khả năng chịu sự điều chỉnh của nhiều HTPL khác nhau, khiến
cho việc giải quyết các vấn đề pháp lý trong quan hệ giữa các
bên trở nên phức tạp, nhất là khi các HTPL có cách tiếp cận và
quy định cụ thể thường rất khác nhau. Vì vậy, pháp luật các nước
1 Đỗ Hoàng Mỹ Linh (2017), Giải quyết xung đột pháp luật từ hợp đồng theo quy định
của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, tr.6

4



hầu hết đều có các quy định đặc biệt đưa ra các nguyên tắc để
lựa chọn và áp dụng một HTPL với một quan hệ pháp luật dân sự
có yếu tố nước ngồi cụ thể hay cịn gọi là QPXĐ.
Như vậy, QPXĐ có thể hiểu là quy phạm ấn định luật pháp
nước nào cần phải áp dụng đề điều chỉnh quan hệ pháp luật dân
sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngồi trong một tình huống cụ
thể.2 Từ đó, ta có thể thấy QPXĐ ln mang tính dẫn chiếu và
không trực tiếp điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có
yếu tố nước ngồi đang phát sinh mà các quy phạm này chỉ quy
định việc lựa chọn pháp luật nước này hay nước khác để điều
chỉnh.
II. Các trường hợp làm ảnh hưởng đến hiệu lực của quy
phạm xung đột
Bài viết sau đây sẽ tập trung phân tích ba trường hợp chính
thường gặp gây ảnh hưởng đến hiệu lực của QPXĐ trong TPQT
bao gồm: vấn đề bảo lưu trật tự công, dẫn chiếu ngược và dẫn
chiếu đến pháp luật nước thứ ba, lẩn tránh pháp luật. Tuy nhiên,
trên thực tế còn tồn tại hai trường hợp cũng gây ảnh hưởng đến
hiệu lực của QPXĐ nhưng đây là chỉ là những trường hợp cá biệt
và hiếm gặp trong TPQT, tùy thuộc vào quan điểm, ứng xử của
một số quốc gia, đó là trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật của
nước chưa được công nhận và vấn đề thực hiện nguyên tắc có đi
có lại trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài. Hai trường hợp
này mặc dù trên thực tế cũng có gây ảnh hưởng đến hiệu lực của
QPXĐ nhưng chỉ là cá biệt, ngoại lệ nên bài viết chỉ đề cập qua
chứ không đi sâu làm rõ.
1. Vấn đề bảo lưu trật tự công
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2019,
tr.63


5


Thuật ngữ “trật tự công” là một thuật ngữ pháp lý có nội hàm hàm hết sức trừu
tượng, phức tạp. Nhiều học giả và các từ điển thuật ngữ pháp lý cũng cố gắng đưa
ra các định nghĩa khác nhau, nhưng cũng rất khó tìm ra một khái niệm cụ thể, thống
nhất. Theo nghĩa chung nhất thì khái niệm trật tự cơng là “…tình trạng xã hội của
một quốc gia trong một thời điểm xác định mà hồ bình, ổn định và an tồn cơng
cộng khơng bị xáo trộn”.3 Tùy từng hệ thống luật, trong mỗi hoàn cảnh khác nhau,
thuật ngữ “trật tự công” cũng được sử dụng dưới các tên gọi khác nhau như “lợi ích
cơng”, “chính sách cơng”, “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật’’, “thuần phong mỹ
tục”, hay “đạo đức xã hội”…
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các nước đều có các quy định liên quan
đến việc bảo vệ trật tự công, đặc biệt vấn đề này được sử dụng khá phổ biến trong
TPQT, khi cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng pháp luật nước ngoài. Tuy nhiên,
trong hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam, khái niệm “trật tự công” rất ít được
sử dụng, mà thay vào đó nhà lập pháp Việt Nam thiên về sử dụng thuật ngữ “các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Có lẽ như lập pháp Việt Nam muốn sử
dụng một thuật ngữ gần gũi hơn, tiệm cận hơn bởi các nguyên tắc cơ bản được hiểu
là những quy định nền tảng nhất, thiêng liêng nhất tạo nên những giá trị hiển nhiên
mà cả xã hội công nhận. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam cũng
chưa hề có một văn bản pháp luật, một tài liệu pháp lý hay một thực tiễn xét xử nào
đưa ra định nghĩa về “những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” 4 hay có
bao nhiêu nguyên tắc được cho là cơ bản. Nói chung, việc sử dụng thuật ngữ “trật
tự cơng” hay “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật” trong pháp luật Việt Nam cho
đến nay vẫn được hiểu chung chung, trừu tượng và hệ quả là việc hiểu và giải thích
chúng trên thực tế chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của các cơ quan áp dụng pháp
luật trong mỗi tình huống pháp lý cụ thể.
3 Xem khái niệm “Trật tự công” (Ordre public) của từ điển “ thuật ngữ pháp lý” – Lexique des termes
juridique, Nhà xuất bản Dalloz, xuất bản lần thứ 13 năm 2001 trang 392

4 Vấn đề bảo lưu trật tự công trong tư pháp quốc tế, (truy cập 17:30 22/04/2020)

6


Trong tư pháp quốc tế, việc áp dụng pháp luật nước ngoài là một tất yếu khách
quan. Tuy nhiên, pháp luật nước ngồi khơng phải lúc nào cũng có sự tương đồng
với pháp luật Việt Nam mà đơi khi cịn là mâu thuẫn, đối nghịch. Vậy khi QPXĐ
dẫn chiếu đến pháp luật nước ngồi thì có phải mọi trường hợp luật nước ngoài sẽ
được áp dụng? Câu trả lời là pháp luật nước ngoài khi được dẫn chiếu đến sẽ khơng
được áp dụng một cách vơ điều kiện với lí do được đưa ra là để bảo vệ trật tự cơng.
Trường hợp pháp luật nước ngồi có quy định trái với trật tự cơng của quốc gia
mình hoặc nếu áp dụng có thể sẽ làm tổn hại, xâm phạm đến trật tự cơng của quốc
gia thì khi đó phải “bảo lưu trật tự công”. Nội dung của vấn đề bảo lưu trật tự công
trong tư pháp quốc tế là không áp dụng pháp luật nước ngoài nếu hậu quả của việc
áp dụng pháp luật nước ngoài trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam5.
Điều này đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam.6
Khi bảo lưu trật tự cơng, luật nước ngồi sẽ bị gạt bỏ khơng được áp dụng. Do
đó, hiệu lực của QPXĐ sẽ bị triệt tiêu. QPXĐ dẫn chiếu tới HTPL nước ngồi,
nhưng luật nước ngồi khơng được áp dụng bởi nó trái với trật tự cơng thì việc dẫn
chiếu đó là vơ nghĩa, hay chính là việc chọn một HTPL khơng áp dụng được trên
thực tế. Điều đó làm QPXĐ mất hiệu lực.
Ví dụ: Trường hợp đăng ký kết hôn tại Việt Nam giữa một nữ công dân quốc tịch
Việt Nam (A) và nam công dân quốc tịch Iran (B) (là một quốc gia hồi giáo, pháp
luật nước này công nhận chế độ hôn nhân đa thê). Theo Điều 126 khoản 1, đoạn 1
Luật HN&GĐ 2014 thì nguyên tắc xác định HTPL được áp dụng trong trường hợp
này là nguyên tắc “Luật quốc tịch của của các bên”, nghĩa là mỗi bên sẽ tuân thủ
pháp luật nước mà họ có quốc tịch về điều kiện kết hơn. Như vậy, nếu xét riêng quy
định này (Điều 126 khoản 1 đoạn 1, có tính chất là một QPXĐ) thì quy phạm này
sẽ dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật nước B để xem xét điều kiện kết hôn của anh

B. Giả định công dân nước B đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật nước B kể cả
việc công nhận anh B có quyền kết hơn đa thê. Trong tình huống này nếu áp dụng
5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2019, tr.91
6 Ví dụ: Điều 666, điểm a khoản 1 Điều 670 BLDS 2015; khoản 2 Điều 5 Luật thương mại 2005

7


khoản 1 Điều 126 nói trên sẽ dẫn đến hậu quả là cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng
HTPL nước ngồi có nội dung vi phạm “các ngun tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam” (hay trật tự công Việt Nam) vì pháp luật hơn nhân gia đình Việt Nam chỉ
công nhận nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Và do vậy trong trường hợp
này cơ quan có thẩm quyền có thể từ chối (hay loại bỏ) khơng áp dụng pháp luật
nước ngồi đó để bảo vệ trật tự công của Việt Nam. Lúc này, hiệu lực của QPXĐ
tại Điều 126 khoản 1 đoạn 1 đã bị triệt tiêu.
Trong trường hợp cần bảo lưu trật tự cơng thì cơ quan tài phán sẽ không áp dụng
pháp luật nước ngoài lẽ ra sẽ được áp dụng theo sự dẫn chiếu của QPXĐ mà thông
thường trong trường hợp này sẽ áp dụng hệ thuộc luật tòa án (Lex fori) để thay thế
để đảm bảo các quan hệ được giải quyết kịp thời. Vấn đề này được pháp luật Việt
Nam quy định tại khoản 2 Điều 670 BLDS 2015. Cụ thể, trong trường hợp xét thấy
cần bảo vệ trật tự công quốc gia thì cơ quan tài phán thì sẽ áp dụng ngay pháp luật
của quốc gia để giải quyết mà không cần thông qua QPXĐ.
2. Dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ
ba
Dẫn chiếu ngược là hiện tượng pháp luật nước được dẫn chiếu,
dẫn chiếu trở lại pháp luật nước dẫn chiếu. Dẫn chiếu ngược còn
được gọi là phản chí.7
Ví dụ: Anh A ( 25 tuổi) có quốc tịch Anh, cư trú tại Việt Nam xin
kết hôn với chị B ( 22 tuổi) quốc tịch Việt Nam tại Việt Nam. Theo
quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật HN&GĐ năm 2014: “Trong

việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi
bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết
hơn…”. Như vậy, điều kiện kết hôn của anh A là do pháp luật
nước Anh điều chỉnh nhưng theo pháp luật nước Anh thì vấn đề
7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Cơng an nhân dân, Hà Nội, 1999,
tr. 185

8


này được điều chỉnh bởi pháp luật nơi cư trú (hệ thuộc luật nơi cư
trú). Do đó, điều kiện kết hôn của anh A được pháp luật nước Anh
dẫn chiếu ngược trở lại pháp luật Việt Nam.
Dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba là hiện tượng pháp
luật nước được dẫn chiếu, dẫn chiếu đến pháp luật nước khác.
Dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba còn gọi là chuyển chí.8
Ví dụ: Hai vợ chồng đều là cơng dân Việt Nam hiện đang cùng cư
trú tại nước X, hai người gửi đơn xin li hơn tới tịa án Việt Nam giải
quyết. Giả sử tịa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết và đã
thụ lý nhưng Việt Nam và nước X khơng có HĐTTTP về vấn đề này
nên tòa án Việt Nam căn cứ vào khoản 2 Điều 127 Luật HN&GĐ
2014 và xác định vụ việc này sẽ do pháp luật nơi thường trú
chung của vợ chồng giải quyết - tức là nước X. Song, nước X lại
quy định li hơn có yếu tố nước ngồi sẽ áp dụng theo pháp luật
của nước do các bên lựa chọn, mà vợ chồng này sau đó đã lựa
chọn luật nước Y là luật nơi có tài sản để giải quyết. Như vậy, hiện
tượng dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba đã xảy ra.
Nguyên nhân của hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu
đến pháp luật nước thứ ba là do về cùng một vấn đề, một phạm
vi quan hệ nhưng pháp luật các nước có quy định khác nhau về

hệ thuộc luật áp dụng. Hiện nay, quan điểm của các nước về việc
chấp nhận hay không chấp nhận dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu
đến pháp luật nước thứ ba là chưa thống nhất, tức là có nước
chấp nhận có nước không. Trong khoa học TPQT vấn đề dẫn chiếu
đến pháp luật nước ngồi hiện nay có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: nếu hiểu dẫn chiếu đến pháp luật nước
ngoài là dẫn chiếu chỉ đến quy phạm thực chất của nước đó thì sẽ
8 Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1999,
tr. 185

9


loại trừ vấn đề dẫn chiếu ngược. Nói cách khác là không bao giờ
xảy ra dẫn chiếu ngược và luật thực chất của nước được dẫn
chiếu đến sẽ được áp dụng. Các quốc gia theo quan điểm này là
các quốc gia không chấp nhận dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến
pháp luật nước thứ ba
Quan điểm thứ hai: nếu hiểu dẫn chiếu đến pháp luật nước
ngoài là dẫn chiếu đến tồn bộ hệ thống pháp luật của nươc đó
(kể cả quy phạm thực chất, cả quy phạm xung đột) thì có nghĩa
là sẽ chấp nhận dẫn chiếu ngược trở lại cũng như dẫn chiếu đến
pháp luật nước thứ ba. Các quốc gia theo quan điểm này là các
quốc gia chấp nhận dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật
nước thứ ba.
Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về vấn này tại khoản 1
Điều 668 BLDS 2015: “Pháp luật được dẫn chiếu đến bao gồm
quy định về xác định pháp luật áp dụng và quy định về quyền,
nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự, trừ trường hợp
quy định tại khoản 4 Điều này.” Như vậy có thể thấy Việt Nam

theo quan điểm thứ hai tức là chấp nhận dẫn chiếu. Nhìn chung
chấp nhận dẫn chiếu cũng là tơn trọng ý chí của nhà lập pháp
nước ngồi đã xây dựng nên quy phạm này. Nếu khơng chấp
nhận dễ gây khó khăn trong việc thụ lý giải quyết vụ việc của tòa
án.
Trong trường hợp chấp nhận dẫn chiếu ngược thì hiệu lực của
quy phạm xung đột bị ảnh hưởng, vì quy phạm chỉ dẫn tới áp
dụng pháp luật nước ngồi nhưng nay luật nước ngồi khơng
được áp dụng mà áp dụng luật nước có tịa án thì hiệu lực của
quy phạm bị ảnh hưởng ở đó.9 Ngồi ra, tại khoản 3 Điều 668
9 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2019, tr.95-96

10


BLDS 2015 quy định: “Trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật của
nước thứ ba thì quy định của pháp luật nước thứ ba về quyền,
nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự được áp dụng.”
Như vậy, khi xảy ra trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ
ba thì phần quy định quyền, nghĩa vụ (luật thực định) của nước
đó sẽ được áp dụng. Tóm lại, khi gặp hiện tượng dẫn chiếu
ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba, việc áp dụng
pháp luật như thế nào sẽ căn cứ theo TPQT các nước trên thế giới.
Cịn riêng trong TPQT của Việt Nam thì vấn đề này được khẳng
định là chấp nhận hiện tượng dẫn chiếu.
3. Lẩn tránh pháp luật
Lẩn tránh pháp luật là hiện tượng đương sự dùng những biện
pháp cũng như thủ đoạn để tránh việc áp dụng HTPL đáng lẽ phải
được áp dụng điều chỉnh các quan hệ của họ và nhắm tới HTPL
khác có lợi hơn. Trong việc lẩn tránh này, QPXĐ đóng vai trị rất

quan trọng.
Mỗi quốc gia đều có hệ thống QPXĐ riêng, vì vậy tuy cùng một
vụ việc nhưng cách giải quyết ở các quốc gia sẽ rất khác nhau.
Khi nhận thấy HTPL thực chất do QPXĐ dẫn chiếu đến có khả
năng sẽ gây bất lợi cho mình, một bên trong quan hệ sẽ tìm cách
tránh để khơng phải chịu sự điều chỉnh của HTPL đó và hướng
đến một HTPL khác có lợi hơn trên cơ sở vận dụng các QPXĐ sao
cho có lợi nhất. Đây chính là cơ sở làm phát sinh hiện tượng lẩn
tránh pháp luật trong TPQT. Một số “thủ đoạn” lẩn tránh pháp luật
thường được các chủ thể áp dụng như: di chuyển trụ sở, thay đổi
nơi cư trú, thay đổi quốc tịch,…
Theo quan điểm của nhiều quốc gia, khi đương sự thực hiện
các hành vi như thay đổi quốc tịch, thay đổi nơi cư trú hoặc
11


chuyển đổi tài sản… nhằm bỏ qua sự tồn tại của QPXĐ, không tạo
cơ hội để QPXĐ được áp dụng hoặc nếu có áp dụng thì cũng
khơng giống những gì mà nó đáng nhẽ sẽ điều chỉnh gây ra hậu
quả là sự triệt tiêu hoặc làm hạn chế hiệu lực của QPXĐ (tức là lúc
này hiệu lực của QPXĐ đã bị ảnh hưởng) thì đây sẽ bị coi là hiện
tượng lẩn tránh pháp luật và các quốc gia sẽ tìm cách hạn chế
hoặc ngăn cấm. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận ở một góc độ khác thì
việc mỗi chủ thể tìm đến hệ thống pháp luật có lợi nhất cho mình
là điều bình thường khi mà các hệ thống pháp luật của các quốc
gia là khác nhau. Chỉ vì QPXĐ bị “bỏ qua” hay bị “dẫn dắt” mà
cho rằng các hành vi đã đề cập như trên của các chủ thể là “lẩn
tránh pháp luật”, là bất hợp pháp và không cơng nhận nó thì quả
là chưa có cơ sở chắc chắn.10 Hiện nay, Việt Nam chưa có quy
định nào rõ ràng về hậu quả pháp lí của việc lẩn tránh pháp luật

cũng như chưa ghi nhận một trường hợp nào bị xem là lẩn tránh
pháp luật. Nói chung, vấn đề lẩn tránh pháp luật được quy định ra
sao và nó ảnh hưởng đến hiệu lực của QPXĐ như thế nào còn tùy
quan điểm của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, về mặt lý luận, việc thực
hiện các hành vi để đạt được mục đích áp dụng HTPL có lợi nhất
cho mình là có ảnh hưởng đến hiệu lực của các QPXĐ.
4. Dẫn chiếu đến pháp luật của nước chưa được công nhận
Việc thực hiện và áp dụng các QPXĐ trong các văn bản pháp luật (trong nước và
quốc tế) nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền khơng được phép phân biệt đối xử
trong quan hệ với bất kì quốc gia nào. Điều này là hoàn toàn phù hợp với luật pháp
quốc tế và tập quán quốc tế. Tuy nhiên, trên thực tế tòa án của một số nước phương
Tây vẫn có những hành vi kì thị đối với các hệ thống luật pháp mà quốc gia của họ
chưa công nhận. Họ không công nhận việc dẫn chiếu tới HTPL của nước chưa
10 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2019, tr.99

12


được cơng nhận với lí lẽ là đến nhà nước đó cịn chưa được cơng nhận huống hồ lại
phải cơng nhận hệ thống pháp luật của nước đó.
Ví dụ: khi pháp luật của Hoa Kì dẫn chiếu tới pháp luật của quốc gia mà công
dân tham gia vào quan hệ tư pháp quốc tế mang quốc tịch, tuy nhiên, nước thứ hai
đó lại là Somaliland hoặc Transnistria (đây là những vùng tự trị có bộ máy hành
chính, có luật pháp riêng… nhưng chưa được công nhận là quốc gia độc lập) thì khi
giải quyết vụ việc, pháp luật của hai nước này cũng sẽ khơng được áp dụng bởi Hoa
Kì không công nhận sự tồn tại của hai quốc gia này. Như vậy, lúc này hiệu lực của
QPXĐ đã bị ảnh hưởng bởi vấn đề dẫn chiếu đến pháp luật của nước chưa được
cơng nhận
Việt Nam ln khẳng định chính sách đối ngoại nhất quán là chống lại mọi hành
vi phân biệt và kì thị giữa các quốc gia và giữa Việt Nam với các nước. Giữa các

quốc gia Việt Nam đã cơng nhận và những quốc gia cịn chưa được cơng nhận sẽ
khơng có sự phân biệt hoặc kì thị nào. Việt Nam luôn ủng hộ quan điểm là việc
cơng nhận quốc gia hay chính phủ khơng làm phát sinh một chủ thể mới trong luật
quốc tế mà việc công nhận chỉ là thủ tục, các bước tạo tiền đề cho việc thiết lập
quan hệ ngoại giao đầy đủ.11
Như vậy, việc dẫn chiếu đến pháp luật của nước chưa được cơng nhận có làm
ảnh hưởng đến hiệu lực của QPXĐ hay khơng cịn tùy vào quan điểm, cách ứng xử
của từng quốc gia và chỉ là những trường ngoại lệ, cá biệt trong TPQT.
5. Vấn đề thực hiện nguyên tắc có đi có lại trong việc áp
dụng pháp luật nước ngồi
Vấn đề có đi có lại trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài giữa các quốc gia là
nhu cầu thực tiễn khách quan và thể hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia.
Trong lý luận và thực tiễn TPQT của các nước thì phần lớn đều thừa nhận việc thi
hành các quy phạm xung đột không bị hạn chế bởi các quy định của nguyên tắc có
đi có lại. Điều này có nghĩa là khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào đó vận
11 (truy cập 12:52 23/04/2020)

13


dụng luật nước ngoài để giải quyết vụ việc sẽ khơng cần thiết phải xem xét là ở
nước ngồi đó có áp dụng luật pháp của nước mình chưa.12 Như vậy, hiệu lực của
các QPXĐ nhìn chung sẽ khơng bị ảnh hưởng bởi nguyên tắc có đi có lại này. Tuy
nhiên, trong thực tế hiện nay vẫn còn ở một vài nước trên thế giới đặt vấn đề áp
dụng luật nước ngồi địi hỏi phải trên ngun tắc có đi có lại.
Ví dụ: Điều 25 BLDS của Đức năm 1988 đến nay vẫn còn nguyên giá trị ghi
nhận rằng: “… Đức sẽ áp dụng biện pháp trả đũa nếu nước ngồi khơng áp dụng
luật của Đức để giải quyết vấn đề thừa kế của cơng dân Đức ở đó” Thơng qua điều
luật này có thể hiểu rằng nếu một nước A không áp dụng pháp luật của Đức để giải
quyết vấn đề thừa kế của cơng dân Đức ở đó thì Đức cũng sẽ khơng áp dụng pháp

luật nước A trong trường hợp tương tự hoặc các trường hợp khác khi QPXĐ dẫn
chiếu đến. Như vậy ở trường hợp này hiệu lực của QPXĐ cũng đã bị ảnh
hưởng. Tuy nhiên, đây chỉ là một trong những trường hợp ngoại lệ và hiếm gặp
trong TPQT.
KẾT LUẬN
QPXĐ là một loại quy phạm pháp luật đặc biệt nên vấn đề về
hiệu lực của QPXĐ cũng có nhiều điểm riêng cần chú ý. Ngồi
việc bị chi phối bởi các yếu tố thời gian, không gian, đối tượng tác
động thì do đặc thù là một loại quy phạm liên quan đến việc xác
định pháp luật áp dụng nên hiệu lực của QPXĐ còn bị các yếu tố
khác tác động như bài viết đã trình bày ở trên. Qua việc phân tích
làm rõ các trường hợp làm ảnh hưởng đến hiệu lực của QPXĐ, vấn
đề lựa chọn pháp luật của quốc gia nào để áp dụng sẽ trở nên dễ
dàng và triệt để hơn, tránh gặp phải sự phức tạp và mâu thuẫn
trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý trong quan hệ giữa các
bên.

12 (truy cập 12:54 23/04/2020

14


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật dân sự năm 2015
2. Luật Thương mại năm 2005
3. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
4. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội, 2019
5. Đỗ Hoàng Mỹ Linh (2017), Giải quyết xung đột pháp luật từ
hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ

luật học
6. Từ điển “ thuật ngữ pháp lý” – Lexique des termes juridique,
Nhà xuất bản Dalloz, xuất bản lần thứ 13 năm 2001
7. Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật
học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1999
8. Trường Đại học Luật Hà Nội - Bộ môn Tư pháp quốc tế, Hướng
dẫn học Tư pháp quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, 2017
15


9. Lý Vân Anh, Vấn đề dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu tới pháp
luật nước thứ ba trong tư pháp quốc tế, Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật (Số 4/2018), tr. 70-76
Wedsite:
1. Vấn đề bảo lưu trật tự công trong tư pháp quốc tế,
/>2. Hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” trong tư pháp quốc tế, Trường
Đại học Kiểm sát Hà Nội, />3. Vấn đề dẫn chiếu tới pháp luật nước chưa được cơng nhận,
/>4. Vấn đề có đi có lại trong việc áp dụng pháp luật nước
ngoài, />
16



×