Tải bản đầy đủ (.docx) (6 trang)

NGỤY BIỆN, NGỘ BIỆN và NGHỊCH LÍ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (81.74 KB, 6 trang )

NGỤY BIỆN, NGỘ BIỆN VÀ NGHỊCH LÍ

1. Có sự phân biệt giữa ngụy biện (sophism), ngộ biện (fallacy) và
nghịch lí (paradox, antinomy)
Ngụy biện là sự cố tình dùng những lí lẽ có vẻ như đúng lơgích nhưng
thực ra chứa đựng sai lầm để dẫn tới một kết luận sai nhằm một mục đích
nào đó.
Ngộ biện là một lập luận sai. Nghĩa là nó có hình thức của một lập luận
nhưng lại không theo đúng những quy tắc đảm bảo cho sự suy diễn được
đúng đắn. Người ngộ biện vơ tình mà sai lầm.
Nghịch lí là một điều chứa đựng những diễn đạt mâu thuẫn suy ra một
cách lơgích từ các ngun lí khoa học mà trên hình thức là khơng thể bác bỏ
được. Các nghịch lí thường chia làm hai loại: Nghịch lí ngữ nghĩa và nghịch lí
lơgích. Một nghịch lí ngữ nghĩa là một nghịch lí liên quan tới tính mâu thuẫn
của một số quy luật chi phối các khái niệm ngữ nghĩa.

2. Một vài kiểu ngộ biện cổ điển
+ Ngộ biện qua tính mơ hồ thuật ngữ.
Ngơn ngữ tự nhiên mơ hồ, trên mọi cấp độ. Từ ngữ lại đa nghĩa và
nhiều từ đồng âm. Vì vậy có những câu mà cấu trúc bề mặt giống nhau
nhưng nghĩa lại hồn tồn khác nhau. Ấy thế là có những ngộ biện do hiện
tượng mơ hồ này gây ra:
Tiền đề: (1) Đồng thanh là kim loại.
(2) Kim loại nào cũng là một đơn chất.
Kết đề: Đồng thanh là đơn chất.
Nguyên nhân dẫn đến ngộ biện trên: Từ kim loại có hai nghĩa: a) đơn
chất; b) đơn chất hoặc hợp chất. Hai tiền đề trong ngộ biện trên đã dùng từ
kim loại theo hai nghĩa khác nhau. Tiền đề (1) dùng theo nghĩa (b) còn tiền
đề (2) dùng theo nghĩa (a). Chỉ trên cơ sở cả hai tiền đề đều dùng theo một
nghĩa mới suy ra được kết đề đúng.
Vậy là, nếu trong tam đoạn luận chứa thuật ngữ mơ hồ thì trong kết đề


khơng thể dùng thuật ngữ đó với nghĩa đã bị thu hẹp lại (thường trở thành
nghĩa rõ ràng).


+ Ngộ biện về sự suy diễn.
Sự không hợp lệ trong các quy tắc suy luận: Ngộ biện về LƯỢNG TỪ.
Không một vật thể nào tự chuyển động. Với mọi vật thể chuyển động đều có
một tác nhân làm nó chuyển động. Vậy tồn tại một tác nhân duy nhất cho
mọi chuyển động.
Sai lầm của loại lí lẽ này là đã đảo thứ tự giữa lượng từ phổ quát và
lượng từ tồn tại. Nghĩa là từ phán đoán “Với mọi a đều có một b sao mà F(b,
a)” khơng thể suy ra phán đốn “Có một b sao mà với mọi a ta sẽ có F(b, a)”.
Ngộ biện về lấy điều kiện cần làm điều kiện đủ. (chỉ có một lí do duy
nhất cho sự kiện): “Đường ướt. Vậy trời đã mưa”.

3. Ngụy biện
+ Đánh tráo khái niệm
Người ngụy biện thường lén đánh tráo khái niệm. Nghĩa là lúc đầu họ
dùng một từ ngữ để trỏ khái niệm này nhưng sau lại được lén dùng để trỏ
một khái niệm khác.
Giai thoại: (ở một quán ăn nhỏ)
“- Ông chủ, một ổ bánh mì thịt bao nhiêu?
- 5 xen.
- Cho hai ổ.
- Hai ổ của ông đây, 10 xen cả thẩy.
- Loại bia này bao nhiêu một chai?
- 10 xen.
- Giờ tôi lại thấy q khát. Khát hơn cả đói. Tơi muốn đổi hai ổ bánh mì
này lấy một chai bia, được không ông chủ?
- Đương nhiên là được.

(Khách trả lại hai ổ bánh mì, cầm chai bia tu một hơi cạn sạch và xách
túi định đi)
- Xin lỗi, ông chưa trả tiền bia.

- Nhưng bia đã được đổi bằng hai ổ bánh mì rồi. Chính ơng đã đồng ý
kia mà.


- Nhưng ơng chưa trả tiền bánh mì...
- Tơi có ăn bánh mì của ơng đầu mà trả?
Người chủ ức quá nhưng không biết lý lẽ thế nào để vạch chỗ ngụy
biện của ông khách để tiện này.” (dẫn theo Triệu Truyền Đống).
Khi đổi hai ổ bánh mì (chưa trả tiền) lấy một chai bia (chưa trả tiền)
người khách đã ngụy biện bằng cách đánh tráo khái niệm ổ bánh mì chưa trả
tiền thành ổ bánh mì khơng ăn.

+ Đánh tráo luận đề: Thay luận đề được đề cập thành một luận đề
khác.
Một người, nhờ xuất thân từ một thành phần tốt (bố của ơng ta là một
người bình thường) mà trở thành một quan chức lớn. Con ông ta khơng ra gì
chỉ lêu lổng, ăn chơi. Được cái may là cháu ông ta lại khá, đỗ tiến sĩ ở một
trường đại học danh giá ở nước ngồi. Ơng rất bực tức với con trai, thường
mắng là đồ bỏ đi, đồ khơng ra gì. Một lần khơng chịu được, đứa con khơng ra
gì này đã cãi lại ơng như sau: “Cha của cha không bằng cha của con. Con
của cha cũng không bằng con của con. Sao cha lại mắng con là đồ bỏ? Quan
chức nọ khơng cịn biết nói thế nào nữa.
Người con đã đánh tráo luận đề như sau: Thay vì phải chứng minh rằng
khơng phải mình khơng ra gì như cha nói, người con khơng ra gì nhưng tinh
quái này đã đánh tráo thành việc con của bố với con của con.


+ Luận đề mơ hồ
Kẻ ngụy biện thường cố tình dùng những luận đề mơ hồ để người nghe
không biết đường nào mà hiểu cho đúng. Vì hiểu như thế này cũng được, có
hiểu ngược lại cũng đúng. Do vậy kẻ ngụy biện có thể đảo lộn phải trái.
Có một ơng vua hiếu chiến. Ơng ta muốn đánh nhau với nước Ba Tư,
nhưng không tin lắm vào khả năng mình sẽ chiến thắng. Ơng bèn tới xin quẻ
ở một ngôi đền nổi tiếng linh thiêng. Thần phán như sau:
Nếu đánh nhau với Ba Tư, một vương quốc hùng mạnh sẽ bị phá tan
tành.

Ông vua ngu ngốc này không chịu suy nghĩ kĩ về lời phán mơ hồ của
thần linh: dù ơng thắng hay thua thì câu “Một Vương quốc hùng mạnh sẽ bị
phá tan tành” vẫn đúng. Cả mừng, ông vội đem quân tiến đánh Ba Tư. Nhưng


ơng đã đại bại. Chỉ mình ơng trốn thốt. Buồn rầu, hối hận và căm giận, ông
ta lén gửi thư đến trách thần linh đền nọ đã phán sai với bút danh người cầu
xin tức giận. Ít lâu sau, người coi đền nọ gửi thư trả lời:
Thần linh đâu có nói sai. Chẳng phải là một vương quốc hùng hạnh vương quốc mà ơng trị vì - đã bị phá tan tành đó sao!

+ Làm lẫn lộn
Thời cổ Hi Lạp, một thanh niên tới xin học ở nhà thông thái Ôđimu. Nhà
thông thái, để biểu lộ tài năng, đã hỏi phủ đầu: Cái anh học là những cái đã
biết hay chưa biết. Anh thanh niên đáp: Cái chưa biết. Thế là có đoạn nói
chuyện sau:
- “Anh có biết chữ cái không?
- Tôi biết.
- Tất cả mọi chữ cái đều biết chứ?
- Thưa vâng.
- Người thầy dạy anh, phải chăng là dạy anh biết chữ cái?

- Vâng.
- Nếu anh biết đọc chữ cái, vậy thì ơng thầy chẳng phải đã dạy anh
những cái mà anh đã biết là gì?
- Vâng.
- Vậy thì, lời đáp ban đầu của anh đâu có đúng!”
Nhà thông thái này đã làm lẫn lộn câu chữ để anh thanh niên bái phục
ông: “Tôi học những cái chưa biết” để nói những cái trước khi học thì chưa
biết. Cịn “Tơi học những cái đã biết” lại để chỉ những cái sau khi học mới
biết. Nhưng nhà thông thái đã làm lẫn lộn cách hiểu hai câu này.

4. Nghịch lí
Nghịch lí ngữ nghĩa cổ xưa nhất mang tên nghịch lí người nói dối, có từ
thế kỉ thứ 4 trước Cơng ngun: “Một người nói “Tơi nói dối”. Vậy anh ta nói
thật hay nói dối?”. Nói dối tức là nói lên một điều sai. “Tơi nói dối” là một


điều sai, cũng có nghĩa là tơi khơng nói dối, mà là tơi nói một điều đúng. Vậy
thì “Tơi nói dối” là một điều đúng, tức là tơi nói dối. Nhưng tơi nói dối tức là...
Q trình này cứ thế lặp lại, khơng thể kết luận được câu Tơi nói dối là đúng
hay sai. Nghiên cứu ngữ nghĩa của những biểu thức, của những cách diễn đạt
trong một ngôn ngữ, chúng ta lại dùng chính ngơn ngữ đó. Do vậy thường
này sinh những nghịch lí ngữ nghĩa.
Có hàng loạt nghịch lí là biến thể trực tiếp hoặc gián tiếp của nghịch lí
người nói dối. Một số ví dụ:
1) Thời Trung cổ, nói về nghịch lí này, người ta thường dẫn lời thi sĩ
Epiménide người xứ Crétois: “Mọi người Crétois đều nói dối”. Đây là nghịch lí
của những câu tự mâu thuẫn. Giống như một người nói “Tồn bộ du khách
trên chiếc tàu bị nạn mà hơm đó tơi đi khơng một ai sống sót”.
2) Phát ngơn này là sai.
3) Mệnh đề trên dịng này là sai.

4) Platon: “Aristote nói đúng”.
Aristote: “Platon nói sai”.
Theo lời của Platon thì Aristote nói đúng, nghĩa là câu “Platon nói sai”
là đúng. Tức đúng là Platon nói sai. Vậy thì cầu của Platon “Aristote nói đúng”
là sai. Nghĩa là Aristote nói sai, vậy câu của ông ta “Platon nói sai” là sai. Tức
là Platon nói đúng. Ơng ta nói đúng có nghĩa là câu “Aristote nói đúng” là
đúng. Tức là Aristote nói đúng. Cứ vậy, xảy ra một vòng luẩn quẩn.
Cặp câu (5) dưới đây cũng là một nghịch lí tương tự:
(5) Câu dưới đây là đúng.
Câu trên đây là sai.
(6) Mọi qui tắc đều có ngoại lệ.
Nếu qui tắc trên đây là đúng thì cái qui tắc của chúng ta cũng là một
qui tắc nên cũng phải có ngoại lệ. Thế là qui tắc (6) khơng cịn đúng trong
trường hợp tổng qt nữa. Nó lại thành sai.
Nghịch lí của B.Russell (1918): Người thợ cạo thành Seville
Một người thợ cạo thành Seville nói:
(7) Tơi và chỉ tơi cắt tóc cho tất cả những ai ở thành Seville này khơng
tự cắt tóc được.
Nghịch lí xuất hiện khi ta phải trả lời câu hỏi: Ai cắt tóc cho bác thợ cạo
này?


Nghịch lí của Sancho Panza de Cervantes: Một bạo chúa muốn giết
chết một nhà hiền triết hay bình luận về những hành động tàn ác của hắn,
nhưng hắn còn giả lịng nhân nghĩa: “Ta cho nhà ngươi nói một câu nào đó.
Nếu nói đúng sẽ bị chém đầu, cịn nếu nói sai sẽ bị treo cổ”. Nhà hiền triết
nói:
(8) Tơi sẽ bị treo cổ!
Tên bạo chúa khơng thể hành hình nhà hiền triết được nữa vì dù sao
cũng đã ra lời trước quần thần mất rồi: Nếu đem chém, hóa ra nhà hiền triết

nói sai, mà nói sai thì phải đem treo cố. Nhưng nếu đem treo cổ thì hóa ra
nhà hiền triết lại nói đúng. Thế thì lại phải đem xử trảm... Cứ thế mâu thuẫn.
Nghịch lí con cá sấu: Một con cá sấu vồ được một em bé đang chơi trên
bờ sông Nil. Mẹ em bé van xin cá sấu tha cho con bà ta. Cá sấu ra vẻ độ
lượng: Được thơi, nếu bà đốn đúng ta định làm gì thì ta sẽ trả nó cho bà.
Nếu đốn sai, ta sẽ không tha đứa bé. Bà mẹ giận quá liền la lên:
(9) Ngươi sẽ ăn thịt con ta.
Thế là con cá sấu không biết phải làm thế nào nữa: Ăn thì hóa ra bà mẹ
đốn đúng, mà như vậy thì phải trả đứa bé lại cho bà mẹ. Nhưng nếu trả lại
đứa bé thì hóa ra bà mẹ đốn sai. Vậy thì được ăn. Nhưng nếu ăn thì...
Có những nghiên cứu giải thích về ngun nhân hình thành những
nghịch lí trên.



×