GIÁO DỤC
BỘ GIÁO
DỤC VÀ
VÀ ĐÀO
ĐÀOTẠO
TẠO
BỘ
BỘ NÔNG
NÔNGNGHIỆP
NGHIỆPVÀ
VÀPTNT
PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------***------------
THÁI HỮU QUỲ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ
DỤNG ĐẤT XÃ MINH THÀNH - HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN, GIAI ĐOẠN 2013 - 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Đồng Nai, 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-------------***-------------
THÁI HỮU QUỲ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ
DỤNG ĐẤT XÃ MINH THÀNH - HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN, GIAI ĐOẠN 2013 - 2022
CHUÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GVC. TS. NGUYỄN TRỌNG BÌNH
Đồng Nai, 2012
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, đặc biệt trong sản xuất nông lâm nghiệp, là tư liệu sản xuất đặc biệt. Đất đai là thành phần quan trọng của
môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh
tế, văn hố xã hội an ninh, Quốc phịng tồn dân [27]. Khác với các tư liệu
sản xuất khác, nếu được sử dụng hợp lý thì trong quá trình sản xuất, chất
lượng đất đai ngày càng tốt lên.
Quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) là một trong những nội dung rất
quan trọng, mang tính pháp lý của hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế, xã
hội. QHSDĐ có nhiệm vụ bố trí, sắp xếp sản xuất nơng – lâm nghiệp, cơng
nghiệp, các cơng trình xây dựng cơ bản, các khu dân cư và các cơng trình văn
hố, phúc lợi xã hội… nhằm mục tiêu sử dụng đất một cách hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, trên thực tế công tác QHSDĐ cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế chưa
được thống nhất về quan điểm quy hoạch, phương pháp tiến hành và các cơ
sở lập kế hoạch sử dụng đất. Hầu hết cán bộ chuyên trách công tá QHSDĐ ở
cấp xã không cho rằng người sản xuất phải là người tham gia trực tiếp vào
quy hoạch. Cơng tác quy hoạch cịn phụ thuộc nhiều vào ý kiến chủ quan của
cấp trên, thiếu sự quan tâm đến nhu cầu và nguyện vọng của người dân. Vì
vậy mà mặc dù cơng tác quy hoạch được tiến hành rất cơng phu nhưng thiếu
tính thực tiễn dẫn đến tính khả thi khơng cao.
Nhu cầu về đất đai cho các ngành, các lĩnh vực ngày càng gia tăng và
đặt ra nhiều vấn đề phức tạp gây áp lực đến nguồn tài nguyên đất, làm cho
nguồn tài nguyên đất ngày càng cạn kiệt nhất là khi VIệt Nam đang trong q
trình cơng nghiệp hố- hiện đại hố đất nước. Do đó sử dụng đất đai hợp lý,
hiệu quả, bảo vệ đất bền vững đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu của
nước ta. Vì thế, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên đất là mục tiêu chiến lược
của một nền nơng- lâm nghiệp. QHSDĐ cấp xã có sự tham gia của người dân
2
giữ một vị trí hết sức quan trọng, nhằm giúp người dân có thể tham gia tích
cực vào quy hoạch trong sử dụng đất của mình một cách hợp lý, hiệu quả, bền
vững, bảo đảm hài hồ giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và bảo vệ mơi
trường sinh thái.
Minh Thành là xã miền núi thuộc huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An,
mặc dầu năm 2004 đã tiến hành QHSDĐ giai đoạn 2005-2010 nhưng đây là
lần đầu thực hiện nên khơng tránh khỏi những khó khăn, vì vậy sử dụng đất
cịn chưa hợp lý, gây nên nhiều lãng phí, chưa phát huy hết tiềm năng đất đai
dẫn đến việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mà chủ yếu chuyển đổi cơ cấu cây
trồng vật ni cịn nhiều lúng túng. Hệ thống canh tác cịn lạc hậu… Do đó,
một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đặt ra hiện nay là tiến hành QHSDĐ cho
xã, dựa trên phương pháp PRA, kết hợp với kỹ thuật canh tác NLKH. Cần
tiến hành phân bổ lại đất đai, lập kế hoạch phát triển sản xuất, kết hợp với kỹ
thuật canh tác NLKH nhằm tạo cho người dân có ý thức, tự phân tích, đánh
giá và quan tâm đến hồn cảnh của mình. Từ đó, thúc đẩy cộng đồng phát
triển và giúp người dân đề xuất được cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp với
gia đình và kinh tế thị trường hiện nay. Rõ ràng, QHSDĐ đóng vai trị vơ
cùng quan trọng trong cơng tác phát triển nông- lâm nghiệp. Cùng với sự phát
triển của xã hội loài người.
Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn trên, để góp phần QHSDĐ hợp lý,
đáp ứng yêu cầu phát triển hài hoà giữa các ngành kinh tế xã hội, kết hợp ưu
tiên, định hướng của nhà nước với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân địa
phương. Tác giả thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất xã Minh
Thành – huyện Yên Thành – tỉnh Nghệ An giai đoạn 2013 - 2022”.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nhận thức chung về QHSDĐ.
QHSDĐ có vai trị và chức năng vơ cùng quan trọng, nó tạo ra những
điều kiện cần thiết để tổ chức sử dụng đất có hiệu quả cao. QHSDĐ là một
hoạt động định hướng nhằm sắp xếp, bố trí sử dụng đất một cách hợp lý vào
thời điểm hiện tại và phù hợp với mục tiêu trong tương lai. QHSDĐ là tiền đề
vững chắc cho bất kỳ giải pháp nào nhằm phát huy đồng thời những tiềm
năng to lớn, đa dạng và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác. QHSDĐ
là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt khơng gian và bố trí cân đối các
hạng mục sản xuất kinh doanh theo các cấp quản lý sản xuất khác nhau, làm
cơ sở cho việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu về mặt
Nông lâm sản cho nền kinh tế địa phương và Quốc dân. Đặc biệt trong sản
xuất nông - lâm nghiệp QHSDĐ có nhiệm vụ quy hoạch sử dụng các loại đất
Nông – lâm nghiệp, các phương pháp thâm canh trong Nông – lâm nghiệp,
nâng cao hiệu quả sử dụng đất và các giải pháp bảo vệ đất chống xói mịn,
bảo vệ rừng và mơi trường sinh thái.
QHSDĐ là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển
nơng thơn. Do đó, cơng tác QHSDĐ cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy
hoạch phát triển nông thôn mới nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau
giữa các ngành. Thực chất của công tác quy hoạch là tổ chức về không gian
và thời gian phát triển cho một ngành hoặc một lĩnh vực sản xuất trong từng
giai đoạn cụ thể. Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại và phát triển bền vững thì
nhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó
cơng tác điều tra cơ bản phục vụ cho công tác quy hoạch phát triển phải được
đi trước một bước.
Vấn đề QHSDĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế xã hội.
Nếu QHSDĐ hợp lý thì nền kinh tế xã hội sẽ phát triển bền vững, trong điều
4
kiện ngược lại thì sự phát triển của nền kinh tế xã hội sẽ gặp những cản trở,
khó khăn. Ngày nay, trong điều kiện nhu cầu của xã hội về đất đai canh tác,
đất xây dựng cơ sở hạ tầng, nguyên liệu gỗ củi…ngày càng lớn thì vấn đề
QHSDĐ một cách bền vững càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ
hết và đã trở thành một nguyên tắc hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của mỗi quốc gia nói riêng và trên tồn cầu nói chung.
1.2. Trên thế giới.
1.2.1. Những nghiên cứu liên quan đến cơ sở khoa học của QHSDĐ
cấp vĩ mô
Khoa học về đất đai đã trải qua hơn một trăm năm nghiên cứu và phát
triển, những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất đã
được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai
một cách hiệu quả.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 7 tỷ người, theo tài liệu của FAO thì
thế giới đang sử dụng khoảng 1,476 tỷ ha đất nơng nghiệp, trong đó đất đồi
núi có độ dốc trên 100 là 937 triệu ha chiếm 63,5%. Trong quá trình sử dụng
nhân loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất. Ước lượng hàng năm tồn cầu
mất khoảng 11 triệu ha đất nơng nghiệp do các ngun nhân xói mịn, sa mạc
hố, nhiễm độc hoặc bị chuyển hóa sang các dạng khác.
Sự phát triển của QHSDĐ gắn liền với sự phát triển kinh tế Tư bản chủ
nghĩa. Từ thế kỷ thứ XIX, khi nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa bắt đầu phát triển
với tốc độ mạnh do ngành công nghiệp và giao thông vận tải phát triển thì nhu
cầu khối lượng gỗ ngày càng tăng. Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa
phương của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hố Tư bản
chủ nghĩa. Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận QHSDĐ đã được hình thành
trong hồn cảnh như vậy và đã được đề cập đến, được thực hiện một cách triệt
để, nghiêm túc, nhằm thoả mản nhu cầu của thực tế khách quan xã hội loài
5
người. Thời kỳ này đã có những cơng trình nghiên cứu về QHSDĐ, phần lớn
các cơng trình nghiên cứu này đều xuất phát tại Mỹ.
Tại Mỹ, năm 1929 bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai trong
đó có quy định nguyên tắc sử dụng đất Lâm nghiệp, tiếp theo là xây dựng kế
hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã
xác định các diện tích cho sử dụng Lâm nghiệp, Nơng nghiệp và nghỉ ngơi
giải trí [53]. Năm 1966 Hội đất học và Hội nông dân học Mỹ cho ra đời
chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng
dụng QHSDĐ. Tại Đức tác giả Haber năm 1972 đã xuất bản tài liệu “Khái
niệm về sử dụng đất khác nhau, đây được coi là lý thuyết sinh thái về quy
hoạch sử dụng đất dựa trên quan điểm về mối quan hệ hợp lý giữa tính đa
dạng của hệ sinh thái cũng như sự ổn định của chúng với năng suất và khả
năng điều chỉnh. Từ năm 1967 Hội đồng Nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp
với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và QHSDĐ.
Các hội nghị này khẳng định rằng quy hoạch vùng nơng thơn trong đó quy
hoạch các ngành sản xuất như Nông nghiệp, Lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến
nhỏ,… cũng như quy hoạch cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phải dựa trên
cơ sở quy hoạch đất đai. Năm 1971 và 1975 các chuyên gia tư vấn họp tại
Rome (Italia) và Geneve (Thuỵ sỹ) để thảo luận về phương pháp luận quy
hoạch nông thôn. Nội dung các cuộc thảo luận đã đề cập đến các phương
pháp cùng tham gia trong quy hoạch cấp vi mô [23].
Những kết quả phân tích hệ thống canh tác tại Châu Á, Châu Phi và
Nam Mỹ đã xác nhận rằng phân tích hệ thống canh tác là một cơng cụ quy
hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất cấp địa phương. Năm 1990, Luning đã
nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích hệ thống canh tác cho
QHSDĐ.
6
Trong nghiên cứu các hệ thống canh tác, Robert Chamerts năm 1985 đã
đưa ra các cách tiếp cận như: Tiếp cận Sondeo của Peter Hildeband (Hilđebran, 1981); Tiếp cận “ Nông thôn - trở lại - về nông thôn” của Robert
Rhoades - (Rhoades, 1982); cách tiếp cận theo tài liệu của RobertChamberrs;
cạch tiếp cận chuẩn đoán và thiết kế của ICRAF (Rainree) và bản phân tích
theo vùng các hệ canh tác của trường Đại học Cornel (Garrett và đồng tác giả,
1987). Nhìn chung các phương pháp tiếp cận đi theo 2 hướng chính đó là:
Tiếp cận từ trên xuống (Top-down approach) và tiếp cận từ dưới lên
(Boottom-up approach). Cách tiếp cận thứ nhất ngày càng bộc lộ những hạn
chế, kém hiệu quả khi khơng có sự tham gia của cộng đồng và khi các chương
trình thực hiện ở cấp vi mơ. Cách tiếp cận thứ 2 được hình thành khi các nhà
xã hội học chứng minh rằng sự “không thể thiếu được” vai trị của cộng đồng
nơng thơn trong quản lý tài nguyên cộng đồng (Robert Chambers). Từ đó
“Quy hoạch trên cơ sở cộng đồng” (Community-based Planning) bắt đầu xuất
hiện. Khi nghiên cứu hệ thống canh tác năm 1990 tổ chức FAO đã xuất bản
cuốn Phát triển hệ thống canh tác (Farming system development) [16].Trong
đó đã khái quát phương pháp tiếp cận nông thôn trước đây là phương pháp
tiếp cận một chiều ( từ trên xuống). Qua nghiên cứu và thực tiễn FAO đã đưa
ra phương pháp tiếp cận mới nhằm phát triển các hệ thống trang trại và cộng
đồng nông thôn trên cơ sở bền vững.
Theo Erwin (năm1999), phân tích hệ thống canh tác là cơng cụ cho
phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại hộ gia đình để xác định mục
tiêu quy hoạch, xác định các kiểu sử dụng đất mới, đánh giá các phương án sử
dụng đất khác nhau nhằm mục đích lựa chọn phương án tốt nhất.
7
1.2.2. Những nghiên cứu liên quan đến sử dụng đất cấp vi mơ có sự
tham gia của người dân
Vấn đề QHSDĐ có sự tham gia của người dân đã được nhiều nhà khoa
học trên thế giới, trong nước nghiên cứu và công bố kết quả.
- Hội thảo quốc tế tại Việt Nam năm 1998 về vấn đề QHSDĐ cấp làng
bản [54] đã được tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới (FAO) đề cập
một cách khá chi tiết cả về mặt khái niệm lẫn sự tham gia trong việc đề xuất
các chiến lược QHSDĐ và giao đất cấp làng bản;
- Tài liệu Hội thảo giữa trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và
Trường Tổng hợp Kỹ thuật Dresden, vấn đề QHSDĐ có sự tham gia của
người dân đã được Holm Uibrig đề cập khá đầy đủ và toàn diện [53]. Tài liệu
đã phân tích một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có
liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn đề phát triển nông thôn, QHSDĐ, phân
cấp hạng đất và phương pháp tiếp cận mới trong QHSDĐ;
Vấn đề lập kế hoạch sử dụng và quản lý tài nguyên đất cũng được các
nhà khoa học và các quốc gia đặc biệt quan tâm. Khởi đầu, công tác lập kế
hoạch đựợc xây dựng bằng cách tiếp cận một chiều từ trên xuống. Tuy nhiên
phương pháp này sớm bộc lộ những nhược điểm của nó, đó là thiếu vắng sự
đóng góp của cộng đồng đân cư sở tại dẫn đến hiệu quả thực tế không cao. Về
sau, những nghiên cứu về quy hoạch và quản lý rừng cộng đồng ở Nepal đã
chứng tỏ ưu thế của cách tiếp cận mới, đó là cách tiếp cận lấy người dân làm
trung tâm trong công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển của cộng
đồng.
Dựa trên những kết quả thực tiễn ở Ấn Độ, giai đoạn từ năm 1970 đến
đầu năm 1980, ở nhiều Quốc gia trên thế giới các phương pháp điều tra, đánh
giá truyền thống dần được thay thế bằng các phương pháp điều tra đánh giá có
sự tham gia của người dân (PRA) và đánh giá nhanh nông thôn (RRA).
8
Phương pháp này nhanh chóng thể hiện được ưu thế và hiệu quả nổi trội của
nó trong việc điều tra, đánh giá, lập kế hoạch, QHSDĐ nói chung và đất nơng
lâm nghiệp nói riêng.
Ngày nay, PRA và RRA đã dần dần được hồn thiện và thể hiện được
vai trị khơng thể thiếu nó trong mọi hoạt động lập kế hoạch, QHSDĐ.
- Ở Việt Nam có thể áp dụng những thành tựu nghiên cứu về QHSDĐ
trên thế giới, nhưng phải thực hiện một cách linh hoạt cho phù hợp với hoàn
cảnh cụ thể đối với từng cộng đồng nông thôn Việt Nam. Quy hoạch phát
triển Nông – lâm nghiệp phải dựa trên nền tảng QHSDĐ, kết hợp quy hoạch
từ trên xuống bằng các định hướng chiến lược, đồng thời ưu tiên nhu cầu và
phạm vi của cộng đồng thông qua quy hoạch phát triển – xây dựng kế hoạch
cấp thôn bản.
- Hệ thống canh tác trên đất dốc, quan điểm sử dụng đất bền vững là
những giải pháp quan trọng và là cơ sở cho QHSDĐ cấp vi mô.
1.2.3. Những kết luận rút ra từ kinh nghiệm QHSDĐ trên thế giới
Từ những tài liệu nghiên cứu và kinh nghiệm QHSDĐ trên thế giới ta rút
ra một số kết luận sau:
- Mặc dầu đã có rất nhiều nghiên cứu, thử nghiệm về quy hoạch, kỹ
thuật, phương pháp chuyển giao sử dụng đất nhưng nhìn chung hầu hết các
phương pháp đó đều phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, chưa thực sự quan
tâm đến lợi ích của người nơng dân cũng như vấn đề bức xúc hiện nay là đảm
bảo an toàn về sinh tháí mơi trường theo hướng phát triển bền vững.
- Ở Việt Nam có thể ứng dụng các thành tựu nghiên cứu về QHSDĐ trên
thế giới song phải vận dụng một cách linh hoạt sao cho phù hợp với hồn cảnh
cụ thể từng địa phương nơng thơn Việt Nam. Quy hoạch phát triển các ngành,
các lĩnh vực có liên quan đến sử dụng đất phải dựa trên nền tảng QHSDĐ, kết
hợp quy hoạch từ trên xuống dưới bằng các định hướng chiến lược và ưu tiên
9
phạm vi theo vùng với nhu cầu của cộng đồng dân cư thông qua quy hoạch
phát triển và xây dựng kế hoạch cấp thôn bản.
- Hệ thống canh tác trên đất dốc, quan điểm sử dụng đất bền vững là
những giải pháp quan trọng và là cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô.
- Phương pháp cùng tham gia, phân tích hệ thống canh tác cần vận dụng
vào đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội và thể chế chính sách của Việt Nam.
1.3. Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
1.3.1. Một số nghiên cứu về cơ sở thực tiễn của QHSDĐ
- Từ thế kỷ 15 Lê Q Đơn đã tổng kết kinh nghiệm của mình về canh
tác nông nghiệp trong “Vân đài loại ngữ ” ông đã khuyên nông dân áp dụng
luân canh với cây họ đậu nhằm giúp người dân đạt năng suất cao nhất trong
sản xuất nông nghiệp;
- Trong thời kỳ Pháp thuộc, các cơng trình nghiên cứu đánh giá và
QHSDĐ đã được các nhà khoa học Pháp nghiên cứu phát triển với quy mô
rộng lớn;
- Giai đoạn 1955 – 1975, công tác điều tra phân loại đã được tổng hợp
một cách có hệ thống trong phạm vi toàn miền Bắc. Nhưng từ sau năm 1975
các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất. Xung quanh chủ
đề phân loại đất đã có nhiều cơng trình khác triển khai thực hiện chủ đề phân
loại đất trên các vùng sinh thái (Ngơ Nhật Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994...)
Tuy nhiên, những cơng trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức độ
nghiên cứu cơ bản, thiếu biện pháp đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất,
công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng đất. Những
thành tựu về nghiên cứu đất đai trong giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp
phần vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả
trên tồn quốc. Tuy nhiên, ở nước ta vấn đề QHSDĐ cấp vi mô có sự tham
gia của người dân mới được nghiên cứu ứng dụng trong những năm gần đây.
10
Cấp vi mô thực chất đã được đề cập tới trong nhiều cơng trình nghiên cứu ở
các mức độ khác nhau, cho đến nay những nghiên cứu trên vẫn còn hết sức
tản mạn và chưa có sự phân tích tổng hợp thành cơ sở lý luận để có thể áp
dụng vào thực tiễn;
- Cơng trình “Sử dụng đất tổng hợp và bền vững” của tác giả Nguyễn
Xuân Quát (1996) [24] đã phân tích tình hình sử dụng đất đai cũng như mơ
hình sử dụng đất tổng hợp bền vững, mơ hình khoanh ni và phục hồi rừng ở
Việt Nam. Đồng thời đề xuất tập đồn cây trồng thích hợp cho các mơ hình sử
dụng đất tổng hợp bền vững;
- Tài liệu về ''Đất rừng Việt Nam'' [1], Nguyễn Ngọc Bình đã đưa ra
những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc điểm
cơ bản của đất rừng Việt Nam;
- Về luân canh, tăng vụ, trồng xen, trồng gối vụ để sử dụng hợp lý đất
đai đã được nhiều tác giả như: Phạm Văn Chiểu 1964; Lê Trọng Cúc 1971;
Bùi Huy Đáp 1977; Nguyễn Ngọc Bình 1987; Vũ Tuyên Hoàng 1987; Bùi
Quang Toản 1991 đề cập tới nhằm mục đích lựa chọn hệ thống cây trồng phù
hợp trên đất dốc vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam;
- Năm 1996, cơng trình QHSDĐ Nơng nghiệp ổn định ở vùng trung du
và miền núi nước ta tác giả Bùi Quang Toản đã đề xuất sử dụng đất Nông
nghiệp vùng đồi núi và trung du. Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong
chương trình tập huấn hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội (LNXH) của trường Đại học
Lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệ thống sử dụng đất và đề xuất một số hệ
thống và kỹ thuật sử dụng đất bễn vững trong điều kiện Việt Nam [8]. Trong
đó, các tác giả đã đi sâu phân tích về:
+ Quan điểm về tính bền vững
+ Khái niệm tính bền vững và phát triển bền vững
+ Hệ thống sử dụng đất bền vững
11
+ Kỹ thuật sử dụng đất bền vững
+ Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật sử
dụng đất
- Nghiên cứu hệ thống canh tác ở nước ta được đẩy mạnh hơn từ sau
khi đất nước thống nhất, Tổng cục địa chính [43] đã tiến hành quy hoạch đất 3
lần vào các năm 1978, 1985 và 1995. Căn cứ vào điều kiện đất đai, ngành
Lâm nghiệp đã phân chia đất đai toàn quốc thành 7 vùng sinh thái…
- Vấn đề hệ thống chính sách và những quy định về quản lý và sử dụng
đất, cũng như hệ thống quản lý sử dụng đất các cấp được đề cập khá đầy đủ
và chi tiết trong báo cáo tóm tắt khảo sát đợt 1 về LNXH nhóm luật và chính
sách 1998 của trường Đại học Lâm nghiệp [46]. Tài liệu tập huấn, những quy
định và chính sách về quản lý sử dụng đất của Trần Thanh Bình (1997) [2],
“Các chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế trang trại” [45];
- Về việc sử dụng đất gắn với việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất và mơi
trường ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, Lê Vĩ (1996) đã nêu ra:
+ Tiềm năng đất vùng trung du
+ Hiện trạng đất vùng trung du
+ Các kiến nghị về sử dụng đất bền vững
- Qua nghiên cứu hệ thống Nông nghiệp tại khu vực đồng bằng Sông
Hồng, Đào Thế Tuấn (1998) đã phát hiện được nhiều tồn tại, nguyên nhân của
nó và đã đề xuất các mục tiêu và giải pháp khắc phục [47];
- Trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các cơng trình nghiên cứu trong
và ngồi nước các tác giả Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Chí Thành
và Phạm Đức Viên (1993) đã xây dựng giáo trình hệ thống nơng nghiệp.
Ngồi phần hệ thống hố nơng nghiệp, các tác giả đã đề xuất chiến lược phát
triển, dự kiến cấu trúc và thứ bậc hệ thống nơng nghiệp cơng trình hỗ trợ đắc
lực cho công tác nông nghiệp trên các phương diện về lý luận và thực tiễn;
12
- Về định hướng QHSDĐ cho cả nước đến năm 2000 năm 1994 đã
được Tổng cục Địa chính xây dựng định hướng QHSDĐ trên quy mô cả nước
giai đoạn 1995 - 2000. Trong đó việc lập kế hoạch giao đất nơng nghiệp, lâm
nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác cũng được đề cập tới. Báo cáo
đánh giá tổng quát hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển đến năm
2000 làm căn cứ để các các ngành, các địa phương thống nhất triển khai công
tác quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất [43].
- Năm 1996 Tác giả Trần An Phong qua nghiên cứu các mơ hình sử
dụng đất dốc đã đi đến kết luận, biện pháp sử dụng đất có hiệu quả là bố trí
một chế độ thâm canh hợp lý, lợi dụng nước tự nhiên một cách triệt để, áp
dụng các biện pháp canh tác nhằm bảo vệ giữ độ ẩm tối đa, bảo đảm cây trồng
phát triển tốt.
- Chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH năm 1997 của trường Đại
học Lâm nghiệp đã đề cập đến các phương pháp tiếp cận có sự tham gia của
người dân. Các tác giả: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên
và Trần Ngọc Bình (1997) đã phối hợp với các chuyên gia trong và ngoài
nước biên soạn [44] tài liệu với những vấn đề chính như sau:
+ Các khái niệm và phương pháp tiếp cận trong q trình tham gia;
+ Các cơng cụ của phương pháp đánh giá nơng thơn có sự tham gia của
người dân;
+ Tổ chức quá trình đánh giá nông thôn;
+ Thực hành tổng hợp.
- Để làm cơ sở cho chiến lược sử dụng đất hợp lý có hiệu quả theo quan
điểm sinh thái và phát triển lâu bền, trong luận án Phó tiến sỹ khoa học nơng
nghiệp, Nguyễn Huy Phồn (1997), đã tiến hành đánh giá các loại hình đất chủ
yếu trong Nơng – Lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung
tâm của miền núi Bắc Bộ Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá một cách tương đối
13
có hệ thống về đất đai và hiện trạng sử dụng đất Nông – Lâm nghiệp vùng
trung tâm miền núi Bắc Bộ, tác giả đã xây dựng bản đồ thích nghi sử dụng đất
tỷ lệ 1/250.000, đối với một số loại hình sử dụng đất bền vững phục vụ các
mục tiêu kinh tế và mơi trường cho tồn vùng;
- Tài liệu tập huấn về QHSDĐ và giao đất Lâm nghiệp (GĐLN) có sự
tham gia của người dân tác giả Trần Hữu Viên (1997). Trên cơ sở kết hợp
giữa phương pháp QHSDĐ trong nước và phương pháp QHSDĐ của một số
dự án quốc tế đang áp dụng tại một số vùng có dự án ở Việt Nam [50]. Trong
đó, tác giả đã nêu lên khái niệm, nguyên tắc chỉ đạo, QHSDĐ và giao đất có
sự tham gia của người dân;
- Trong tài liệu hướng dẫn cơng tác QHSDĐ và GĐLN có sự tham gia
của người dân, Đoàn Diễm (1997) [15] đã tập trung vào các chủ đề sau:
+ Phương pháp QHSDĐ và GĐLN ở Việt Nam;
+ Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp của dự
án GCP/VIE/024/ITA.
+ Những tồn tại của QHSDĐ và GĐLN ở Việt Nam và Quốc tế.
+ Kiến nghị phương pháp đơn giản về QHSDĐ và GĐLN có sự tham
gia của người dân.
- Năm 1999, Trần Hữu Viên và Lê Sỹ Việt [51] đã nêu rõ: xã là đơn vị
quản lý hành chính nhỏ nhất, là đơn vị quản lý và tổ chức sản xuất Lâm
nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân. Công tác quy hoạch
cần giải quyết những nội dung sản xuất, các giải pháp kinh tế, kỹ thuật thật và
xã hội thật chi tiết và cụ thể.
Những tài liệu nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để tiến hành
QHSDĐ và giao đất theo phương pháp người dân cùng tham gia ở nước ta.
14
1.3.2. Một số nghiên cứu đánh giá ban đầu về việc vận dụng phương
pháp QHSDĐ vào thực tiễn ở Việt Nam
- Nghiên cứu và thử nghiệm đầu tiên về QHSDĐ và GĐLN cấp xã
trong những năm gần đây được tiến hành với quy mô rộng rãi. Những nghiên
cứu đầu tiên được tiến hành tại các xã như: Xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, xã
Hang Kia, xã Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hồ Bình vào năm 1993 do Dự án
đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp thực hiện. Qua đó, dự án đã tổng
hợp những bài học kinh nghiệm cho thấy công tác QHSDĐ được coi là một
nội dung chính cần được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tôn trọng tập
quán làm nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất, có
sự tham gia tích cực của người dân, Già làng, Trưởng bản và chính quyền cấp
xã [48]. Cần phải có kế hoạch sử dụng đất chi tiết, tránh được các mâu thuẫn
của cộng đồng phát sinh sau khi quy hoạch.
- Trong chương trình phát triển Nơng thơn miền núi Việt Nam – Thuỵ
Điển giai đoạn 1996 - 2001 trên phạm vi 5 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang,
Tuyên Quang và Phú Thọ Dự nán đã tiến hành thử nghiệm trong công tác quy
hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã trên cơ sở kế hoạch phát triển cấp
thơn bản và hộ gia đình. Theo Bùi Đình Tối [42] và Nguyễn Hải Nam [22]
năm 1998, tỉnh Lào Cai đã xây dựng mơ hình sử dụng PRA để tiến hành
QHSDĐ; tỉnh Hà Giang đã xây dựng quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất 3
cấp đó là xã, thơn và hộ gia đình. Đến năm 1998 trên tồn vùng dự án có 78
thơn bản được QHSDĐ theo phương pháp có người dân tham gia. Cơng tác
QHSDĐ trong giai đoạn này đã căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của
người sử dụng đất với cách tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi
cao hơn. Tuy nhiên, trong khi tiến hành QHSDĐ ở đây chưa tạo ra sự gắn kết
chặt chẽ giữa chủ trương của Nhà nước với nhu cầu nguyện vọng của nhân
dân địa phương. Vấn đề đặt ra ở đây là phải tìm ra một phương pháp quy
15
hoạch tại địa phương với sự kết hợp hài hoà giữa ưu tiên của Chính phủ và
nhu cầu sử dụng đất của cộng đồng dân cư;
- Năm 1996, tác giả Vũ Văn Mễ và Desloges đã thử nghiệm phương
pháp QHSDĐ có sự tham gia của người dân tại Quảng Ninh [20] đã đề xuất
các nguyên tắc và các bước cơ bản khi QHSDĐ trong đó cấp xã đóng vai trị
phát triển trong phương pháp quy hoạch. Những nguyên tắc đó là:
+ Kết hợp hài hồ giữa ưu tiên của Chính phủ và nhu cầu, nguyện vọng
của nhân dân địa phương;
+ Tiến hành trong khuôn khổ luật pháp hiện hành và các nguồn lực hiện
có tại địa phương;
+ Bảo đảm tính công bằng, chú ý đến cộng đồng dân tộc miền núi,
nhóm người nghèo và vai trị của phụ nữ;
+ Bảo đảm phát triển bền vững;
+ Bảo đảm nguyên tắc cùng tham gia;
+ Kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng [19;20].
- Khi thử nghiệm phương pháp này cho các tỉnh Thừa Thiên Huế, Gia
Lai và Sa Đéc tác giả đã cho rằng QHSDĐ cấp xã phải dựa trên tình trạng sử
dụng đất hiện tại, tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước, nhu
cầu và nghĩa vụ của nhân dân. Xem xét mọi vấn đề liên quan đến đất đai và
sử dụng tài nguyên [19;20] cho thấy cách tiếp cận tổng hợp và toàn diện này
phù hợp và xu thế chung của thế giới hiện nay về áp dụng các phương pháp
quy hoạch tổng hợp;
- Năm 1996, Qua tổng kết các kinh nghiệm nhiều nơi Cục kiểm lâm
soạn thảo và xuất bản tài liệu hướng dẫn “Nội dung, biện pháp và trình tự tiến
hành giao đất lâm nghiệp trên địa bàn xã” [11]. Đây là tài liệu sửa đổi lần thứ
2 có nhiều bổ sung vào tài liệu năm 1994, đã đáp ứng phần nào về những
hướng dẫn cơ bản về nội dung và nguyên tắc. Những yêu cầu về chuyên môn
16
và phương pháp trong tài liệu hướng dẫn này còn mang nhiều phương pháp
điều tra truyền thống, phù hợp với điều tra rừng trước đây. Bản hướng dẫn
này cần hoàn thiện theo hướng dừng lại ở những nguyên tắc và phương pháp
cơ bản, khơng nên có bản hướng dẫn chi tiết cụ thể dẫn đến ngộ nhận rằng
quy hoạch lâm nơng nghiệp cấp địa phương theo một chu trình cứng;
- Chương trình hợp tác Việt - Đức về phát triển lâm nghiệp xã hội Sông
Đà [3] ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, đã nghiên cứu và thử nghiệm
phương pháp QHSDĐ và GĐLN địa bàn 2 xã thuộc 2 huyện Yên Châu tỉnh
Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên). Trên cơ sở
hướng dẫn trực tiếp của Chi cục kiểm lâm, với cách làm 6 bước lấy cấp thôn
bản làm đơn vị quy hoạch và GĐLN để áp dụng cách tiếp cận LNXH đối với
cộng đồng dân tộc vùng cao. Sự khác biệt ở đây với chương trình khác là lấy
cấp thơn bản làm đơn vị quy hoạch phù hợp với đặc thù vùng cao, phù hợp
với kết quả nghiên cứu xã hội và cộng đồng của Donovan và nhiều người
khác, năm 1997 [12] ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu “Đề tài” của Nguyễn Bá Ngãi [23] cùng với nhóm
tư vấn dự án khu vực Lâm nghiệp Việt nam - ADB đã nghiên cứu và thử
nghiệm phương pháp quy hoạch và xây dựng tiểu dự án cấp xã. Mục tiêu là
đưa ra một phương pháp quy hoạch Lâm - nơng nghiệp cấp xã có sự tham gia
của người dân để xây dựng tiền Dự án Lâm - nông nghiệp cho 50 xã của 4
tỉnh: Thanh Hoá; Gia Lai; Phú Yên và Quảng Trị. [21]. Áp dụng phương pháp
này đã rút ra được kinh nghiệm là:
+ Khi tiến hành quy hoạch phải dựa trên kết quả đánh giá và điều tra
nguồn lực một cách cụ thể, chi tiết và đầy đủ;
+ QHSDĐ là cơ sở quan trọng cho việc QHSDĐ Lâm - nơng nghiêp.
+ Phân tích hệ thống canh tác làm cơ sở cho việc lựa chọn cây trồng và
phương thức sử dụng đất;
17
+ Quy hoạch Lâm - nông nghiệp cấp xã được tiến hành từ khâu lập kế
hoạch cấp thôn bản phải có sự tham gia trực tiếp của người dân;
+ Tổng hợp và cân đối kế hoạch phạm vi cấp xã trên cơ sở: Định hướng
phát triển chiến lược của cấp huyện, tỉnh. Khả năng hỗ trợ từ bên ngoài, đối
thoại và thống nhất trực tiếp giữa đại diện các cộng đồng với nhau và giữa
cộng đồng với cán bộ các cấp;
+ Có sự thống nhất chung của tồn xã, thơng qua các cuộc họp cộng
đồng cấp thơn xóm, ...
- Trong giai đoạn những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, vấn đề
QHSDĐ Nông – lâm nghiệp được nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập tới. Ví
dụ như Reichenberg, (1992) cho rằng ở Việt Nam chưa có QHSDĐ cấpvi mô,
được xây dựng trên cơ sở xem xét các khía cạnh của tất cả các ngành trong
tương lai;
- Trong dự án phát triển nông thôn ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn trước
đây đã thực hiện các hoạt động QHSDĐ Nông – lâm nghiệp, tăng cường kỹ
năng trong Nông lâm kết hợp cho 41 bản, với 1.155 người tham gia, đã tiến
hành quản lý trồng trọt và lập kế hoạch phát triển thôn bản, đồng thời phát
triển được 612 mơ hình ở Bắc Cạn và 89 mơ hình ở Cao Bằng.
- Trong những năm trước đây, các chương trình và dự án Nông lâm
nghiệp như dự án PAM, Việt - Đức (KWF) triển khai tại các tỉnh: Lạng Sơn,
Bắc Giang, Thanh Hoá, Quảng Ninh... do GTZ tài trợ cũng đã sử dụng triệt để
phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia người dân. Về mặt lý luận,
một số đề tài nghiên cứu của Đinh Văn Đề [14], Nguyễn Hữu Tân [29],
Nguyễn Bá Ngãi [23], Nguyễn Phúc Cường [13], Trần Thanh Huyền [17] ...
đã tiến hành ở một số địa phương, có những đánh giá và kết quả có ý nghĩa
thực tiễn nhất định.
18
1.3.3. Các văn bản chính sách Nhà nước liên quan đến QHSDĐ
- Hiến pháp của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
nêu: Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp
luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các
tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài [26];
+ Luật Đất đai năm 1993 khẳng định vai trò của cấp xã trong quản lý và
sử dụng đất đai tại địa phương. Trong 7 nội dung quản lý nhà nước của cấp xã
về đất đai có 4 nội dung mà cấp xã cùng với các cơ quan cấp trên thực hiện,
đó là: điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng, lập bản đồ địa chính;
Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất; đăng ký đất đai, lập và quản lý
sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất; giải
quyết tranh chấp về đất đai, khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong phạm vi quản
lý và sử dụng đất đai của địa phương [27];
- Quốc hội nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khố XI tại kỳ họp
thứ 4, ngày 26 tháng 11 năm 2003 đã thông qua Luật đất đai năm 2003 nêu rõ:
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những công cụ quan trọng nhất
để Nhà nước thống nhất quản lý đối với toàn bộ đất đai, đảm bảo cho đất đai
được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả. Trong giai đoạn hiện nay, nội
dung QHSDĐ không đơn thuần chỉ là sự khoanh định các loại đất để phù hợp
với từng giai đoạn phát triển của từng vùng, của cả nước, bên cạnh vấn đề
này, QHSDĐ phải giải quyếtt một cách đồng bộ những yêu cầu về môi
trường, về giải pháp tổ chức thực hiện đảm bảo đúng với mục tiêu của kỳ quy
hoạch đồng thời phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử
dụng đất [28]. Luật Đất đai năm 2003 đã quy định rõ 3 loại đất (đất Nông
nghiệp, đất phi Nông nghiệp, đất chưa sử dụng) và 6 quyền sử dụng đất bao
gồm (được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao
động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do cơng trình của Nhà nước
về bảo vệ, cải tạo đất Nơng nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ
19
trong việc cải tạo, bồi bổ đất Nông nghiệp; được Nhà nước bảo hộ khi bị
người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; khiếu nại,
tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của
mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai);
- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng
(rừng sản xuất; rừng phòng hộ; rừng đặc dụng) làm cơ sở cho QHSDĐ;
- Chỉ thị số 28/2004/CT-TTg ngày 15/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ
về việc kiểm kê đất đai năm 2005 [36];
- Chỉ thị 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về việc rà sốt, quy hoạch lại 3 loại rừng [37];
- Chỉ thị 09/2007/CT-TTg, ngày 06/04/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về tăng cường quản lý sử dụng đất của các quy hoạch và dự án đầu tư [38];
- Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Thủ tướng Chính
phủ về việc “Quy định về giao đất nơng nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử
dụng ổn định và lâu dài vào mục đích nơng nghiệp” [31]. Nghị định này đã
nói đến vai trị của cấp xã trong việc giao đất nông nghiệp trong các điều 8,
12, 15. Mặc dầu không đề cập nhiều đến vấn đề QHSDĐ nhưng cũng thể hiện
rõ vai trò của cấp xã trong giao đất nông nghiệp, tạo tiền đề cho việc QHSDĐ
nông nghiệp sau này trên cơ sở diện tích đất đã được giao cho người dân sử
dụng lâu dài vào mục đích nơng nghiệp;
- Thơng tư số 19/2009/TT-BTNMT, ngày 02 tháng 11 năm 2009 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm
định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [9];
- Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 11 năm 1994 của Chính phủ Quy
định về giao khốn đất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình vào mục
đích lâm nghiệp [32]. Nghị định này đề cập đến vai trò của cấp xã trong việc
20
xác định quỹ đất lâm nghiệp cũa địa phương và khẳng định giao đất lâm
nghiệp trên địa bàn xã phải dựa trên QHSDĐ lâm nghiệp của xã;
- Nghị định số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ Quy
định về giao khoán đất và sử dụng vào mục đích sản xuất nơng nghiệp, lâm
nghiệp và thuỷ sản trong các doanh nghiệp [33];
- Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính
phủ về việc Giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân, hộ
gia đình sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp [35];
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính
phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ tái định cư [39];
- Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21 tháng 12 năm 1998 của
Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các
cấp về rừng và đất lâm nghiệp [34];
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nơng thơn mới [40];
- Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 16 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý đầu tư xây dựng cơng trình lâm
sinh [41]
- Thông tư số 01/2005 /TT-BTNMT ngày 13 tháng 4 năm 2005 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn một số điều của Nghị định số
181/2004NĐ-CP ngày 29/10/2004 [8];
- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT, ngày 02 tháng 11 năm 2009 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm
định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [9];
21
- Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT, ngày 10 tháng 06 năm 2009 của
Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn về việc quy định tiêu chí xác định và
phân loại rừng [5];
- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21 tháng 08 năm 2009 của
Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện bộ tiêu
chí quốc gia về nông thôn mới [6];
- Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT, ngày 08/02/2010 của Bộ Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn quy hoạch phát triển sản
xuất nông nghiệp cấp xa theo Bộ tiêu chí quốc gia nơng thơn mới [30];
- Thông tư số 69/2010/TT-BNNPTNT, ngày 21/10/2011 của Bộ Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung
Quy chế quản lý đầu tư xây dựng cơng trình lâm sinh ban hành kèm theo
Quyết định số 73/2010/QĐ-TTg [7]
- Định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh
và bảo vệ rừng (Ban hành kèm theo Quyết định: 38/2005/QĐ-BNNPTNT
ngày 06/07/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) [4];
- Quy chế quản lý rừng năm 2006 Quy định về việc tổ chức quản lý,
bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng
bao gồm diện tích có rừng và diện tích khơng có rừng đã được Nhà nước giao,
cho thuê hoặc quy hoạch cho Lâm nghiệp.
1.3.4. Đánh giá ban đầu về vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
Đánh giá, phân tích các nghiên cứu và thử nghiệm về QHSDĐ ở Việt
Nam có thể rút ra một số kết luận sau:
- Hiện tại ở Việt Nam đã có những nghiên cứu liên quan đến QHSDĐ
cấp vĩ mơ. Mặc dù đã có một số thử nghiệm về QHSDĐ cấp địa phương,
nhưng những thử nghiệm này còn nhiều hạn chế mới chỉ nghiên cứu chủ yếu
22
đối tượng đất phục vụ cho sản xuất mà chưa chỉ ra được vai trị quan trọng
của mơi trường sinh thái;
- Phương pháp QHSDĐ còn nhiều hạn chế và thiếu sự thống nhất, mỗi
dự án lại sử dụng một phương pháp riêng;
- Phương pháp QHSDĐ có sự tham gia của người dân, đã được áp dụng
ở một số địa phương tuy đã đạt được một số thành công nhưng chưa tổng kết
xác định đối tượng cụ thể tham gia nên chưa xây dựng được phương pháp
chung nhất cho QHSDĐ;
- Thiếu sự phối kết hợp giữa các ngành kinh tế trong việc xây dựng
phương án QHSDĐ dẫn tới việc lúng túng, chồng chéo trong sử dụng đất ở
nhiều địa phương, nên nhiều bản quy hoạch phải liên tục bổ sung điều chỉnh,
nên việc chỉ đạo và quản lý gặp nhiều khó khăn;
- Phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất đai, ít xét đến
tiềm năng đất đai, nhu cầu và khả năng của cộng đồng. Công tác quy hoạch
thường dựa vào ý kiến chủ quan của các nhà quy hoạch, thiếu sự đóng góp và
tham gia ý kiến của người dân. Chính vì vậy khơng khai thác được kinh
nghiệm của người dân địa phương dẫn đến tính khả thi khơng cao;
- Trong cơng tác QHSDĐ cịn thiếu các nghiên cứu cơ bản hỗ trợ cho
từng địa phương cụ thể, một số vấn đề cần tiến hành nghiên cứu trước như
đánh giá tiềm năng đất đai, nghiên cứu chiến lược thị trường tiêu thụ Lâm
nơng sản, nghiên cứu tập đồn cây trồng… dẫn tới tính khả thi của phương án
QHSDĐ khơng cao. Phương pháp quy hoạch có sự tham gia của người dân
đang được chú ý và thí điểm ở một số nơi. Những kết quả đưa ra tuy đạt được
một số thành công nhưng chưa được tổng kết, hiệu quả của quy hoạch chưa
được khẳng định.
Từ những hạn chế trên, đề tài tiến hành nghiên cứu một số vấn đề như
phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân trong QHSDĐ, phương
23
pháp đánh giá đất đai, phân tích hệ thống canh tác, lựa chọn cơ cấu tập đoàn
cây trồng và tiến hành QHSDĐ trên địa bàn.
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.1.1. Vị trí địa lý
Xã Minh thành nằm về phía Tây huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An, cách
huyện lỵ Yên Thành 25 km và cách thành phố Vinh 75 km. Với tổng diện tích
tự nhiên 2.431,61 ha. Có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Tây giáp huyện Đơ Lương tỉnh Nghệ An;
- Phía Bắc giáp xã Thịnh Thành huyện Yên Thành;
- Phía Nam giáp xã Đại Thành huyện n Thành;
- Phía Đơng giáp xã Lý Thành huyện Yên Thành;
Trên địa bàn xã có các tuyến đường liên thơn, liên xã đi qua nên việc đi
lại giao lưu với bên ngồi có nhiều thuận lợi, phù hợp với kinh tế thị trường
trong giai đoạn mới. Chính vì vậy việc QHSDĐ của xã chủ yếu tập trung vào
việc phân bổ sử dụng đất nông lâm nghiệp, khu dân cư, xây dựng cơ sở hạ
tầng phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với quy hoạch
phát triển nông thôn mới.
2.1.2. Đặc điểm tự nhiên
2.1.2.1. Địa hình, địa thế
Địa hình xã Minh Thành được chia thành 3 vùng đó là vùng đồng bằng,
vùng đồi trung bình và vùng đồi bát úp. Độ cao trung bình khoảng từ 60120m, vùng đồng bằng có độ cao khoảng từ 20-40m, vùng đồi nơi cao nhất
khoảng 220m. Vùng đồng bằng phân bố chủ yếu ở phía Nam và phía Tây,
vùng đồi phân bố chủ yếu ở phía Bắc và một số đồi bát úp phân bố trong địa
bàn xã.