BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
DIỆP VĂN DŨNG
Tên đề tài
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP
CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI
HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60620201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN TRỌNG BÌNH
Đồng Nai, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
DIỆP VĂN DŨNG
Tên đề tài
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP
CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TẠI
HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Đồng Nai, 2013
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Viê ̣t Nam trong những năm trước đây viê ̣c xem xét vai trò và giá tri ̣
của rừng mới chỉ quan tâm chú tro ̣ng đế n giá tri ̣sử du ̣ng trực tiế p mà rừng ta ̣o
ra còn giá trị gián tiếp mà rừng ta ̣o ra cho nhiề u người và cả xã hô ̣i hưởng lơ ̣i
như (phòng hô ̣ đầ u nguồ n, điề u tiế t nguồ n nước, bảo vê ̣ đấ t, ha ̣n chế xói mòn,
vẽ đep̣ cảnh quan, du lich
̣ sinh thái, hấ p thu ̣ cacbon…) chưa được chú trọng.
Đây là loa ̣i hàng hóa đă ̣c biêt,̣ có giá tri ̣ rấ t lớn chiế m tới 60-80% tổ ng giá tri ̣
kinh tế mà rừng ta ̣o ra [2]. Trong những năm qua những người trực tiế p tham
gia bảo vê ̣ và phát triể n rừng chỉ đươ ̣c hưởng mô ̣t phầ n giá tri ̣ sử du ̣ng trực
tiế p, còn giá tri ̣ sử du ̣ng gián tiế p của rừng hầ u như không đươ ̣c nhâ ̣n. Trong
khi xã hô ̣i, cô ̣ng đồ ng, tổ chức và cá nhân nằ m ngoài khu vực có rừng, không
tham gia bảo vê ̣ tái ta ̣o rừng la ̣i được hưởng lợi từ các dich
̣ vu ̣ do rừng tạo ra rất
lớn như điề u tiế t nguồ n nước, chố ng xói mòn cho các công tình thủy điện, cung
cấ p nước sa ̣ch, kinh doanh du lich
̣ sinh thái…mà không phải trả tiề n cho những
người bảo vê ̣ và phát triể n rừng, yế u tố quan tro ̣ng đảm bảo cho các dich
̣ vu ̣ đó
phát triể n bề n vững.
Theo mu ̣c tiêu của chiến lược phát triển Lâm nghiệp của Việt Nam đặt
ra, đến năm 2020, cả nước sẽ có khoảng 16 triệu hec-ta rừng với độ che phủ là
47% [4]. Rõ ràng rừng đóng một vai trị rất quan trọng đối với việc phát triển
kinh tế-xã hội của Việt Nam, nế u thiế u các chủ trương, chính sách và nguồn
tài chính bền vững nhằ m khích lê ̣ và tăng cường trách nhiệm của các bên liên
quan cho công cuộc bảo vệ rừng bền vững ở nước ta thì những khu rừng quan
trọng tiế p tu ̣c bi ̣ đe do ̣a và suy thoái cùng với những công trình hưởng lơ ̣i từ
dịch vụ sinh thái ta ̣o ra sẽ bi ̣ xuố ng cấ p. Cùng với xu hướng tiếp cận của thế
giới, vai trò và giá trị của rừng đã được nhìn nhận một cách đầy đủ hơn, mố i
quan hê ̣ kinh tế giữa người bảo vê ̣ và phát triể n rừng và người sử du ̣ng các
2
dich
̣ vu ̣ môi trường rừng đươ ̣c thiế t lâ ̣p “người hưởng lơ ̣i từ rừng có trách
nhiê ̣m phải trả tiề n cho người trực tiế p tham gia bảo vê ̣ và phát triể n rừng” tạo
sự cơng bằng và nguồn tài chính ổn định cho việc quản lý bền vững tài
nguyên rừng. Theo tinh thầ n đó, ngày 10/4/2008, Thủ tướng Chính phủ Việt
Nam đã ban hành quyế t đinh
̣ số 380/QĐ-TTg ngày 10 tháng 4 năm 2008 về
chính sách thí điể m chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường rừng, áp du ̣ng thí điể m ta ̣i 2
tỉnh Lâm Đồ ng và Sơn La [5]. Sau 2 năm thực hiê ̣n, kết quả thành cơng của
chính sách là việc Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Nghị định số 99/2010/NĐCP ngày 24 tháng 9 năm 2010 về chính sách chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường rừng bắ t
đầ u có hiê ̣n lực từ ngày 01/01/2011. Nghi ̣ đinh
̣ này là khung pháp lý về chính
sách chi trả DVMTR áp dụng trên phạm vi toàn quố c ta ̣i Viê ̣t Nam [6].
La ̣c Dương là huyê ̣n miề n núi nằm trên cao nguyên Lâm Viên về phía
Đông Bắc của tỉnh Lâm Đồng, có tổ ng diê ̣n tích tự nhiên 131.233,03 ha, diê ̣n
tích rừng còn nhiề u 113.608 ha [3], đô ̣ che phủ của rừng 86,57%, là nơi đầu
nguồn quan tro ̣ng của tỉnh, sinh thủy cho lưu vực sông Đa Nhim và khu vực
vùng ha ̣ lưu. La ̣c Dương, là mô ̣t trong những huyê ̣n đầ u tiên của tỉnh Lâm Đồ ng
tham gia thực hiê ̣n chính sách thí điể m chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường rừng. Việc chi
trả dich
̣ vu ̣ môi trường rừng đế n nay của huyện đã có những thành công nhấ t
đinh,
̣ đặc biệt làm thay đổ i nhâ ̣n thức, nâng cao trách nhiê ̣m của các bên liên
quan trong viê ̣c quản lý bảo vê ̣ và phát triể n rừng, được dư luâ ̣n xã hô ̣i đồ ng tình
hưởng ứng. Những thành công trên đòi hỏi phải có những nghiên cứu, đánh giá
khoa ho ̣c, và thực tiễn để đưa ra những bài ho ̣c kinh nghiê ̣m và tiếp cận được các
quan điểm mới, cách làm phù hợp với điạ phương ngày mô ̣t tố t hơn.
Xuất phát từ thực tiễn và lý luận trên, tôi thực hiện đề tài “Đánh giá
thực trạng và các giải pháp chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường rừng ta ̣i huyêṇ
La ̣c Dương, tỉnh Lâm Đồ ng”
3
Đề tài góp phầ n làm rõ quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR
trong thời gian qua, đưa ra mơ ̣t sớ quan điể m, phân tích, đánh giá về thực
trạng chi trả DVMTR, cùng với các giải pháp thực hiện, những thuận lợi, khó
khăn thách thức, tiềm hiểu về sự ảnh hưởng tác động của chính sách chi trả
DVMTR đến đời sống, kinh tế, xã hội trong khu vực trên cơ sở lý luâ ̣n khoa
ho ̣c và thực tiễn sẽ làm phong phú thêm những bài học kinh nghiệm, nhằm
góp phần cho việc xây dựng hình thành các giải pháp khắc phục những khó
khăn, vướng mắc trong thời gian qua, đồng thời nâng cao được sự hiểu biết về
chính sách phục vụ cho việc xây dựng các phương án chi trả DVMTR trên
phạm vi tỉnh Lâm Đồng một cách có cơ sở khoa học và thực tiễn, đáp ứng
được yêu cầu ba lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những khái niệm về chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường rừng
- Chi trả dich
̣ vu ̣ hê ̣ sinh thái (Payments for Ecosystems Services –
PES) hay còn go ̣i là chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường rừng (Payments for
Environment Services – PES) là cam kế t tham gia hơ ̣p đồ ng trên cơ sở tự
nguyê ̣n có giàng buô ̣c về mă ̣t pháp lý và với hơ ̣p đồ ng này thì mô ̣t hay nhiề u
người mua chi trả cho dich
̣ vu ̣ hê ̣ sinh thái xác đinh
̣ bằ ng cách trả tiề n mă ̣t
hoă ̣c có hỗ trơ ̣ cho mô ̣t hoă ̣c nhiề u người bán và người bán này có trách
nhiê ̣m đảm bảo mô ̣t loa ̣i hiǹ h sử du ̣ng đấ t nhấ t đinh
̣ cho mô ̣t giai đoa ̣n xác
đinh
̣ để ta ̣o ra các dich
̣ vu ̣ hê ̣ sinh thái thỏa thuâ ̣n.
- Định nghĩa chi trả DVMTR Sven Wunder đưa ra đã được chấp nhận
tương đối rộng rãi, trong đó tác giả giải thích “Chương trình chi trả dịch vụ mơi
trường” là một giao dịch tự ngụn trong đó, dich
̣ vụ mơi trường được xác định rõ
ràng, hoặc một hình thức sử dụng đất để duy trì dịch vụ đó, được mua bởi ít nhất
một người mua, được cung cấp bởi ít nhất một người cung cấp, khi và chỉ khi
người cung cấp tiếp tục cung cấp dịch vụ đó (tính điều kiện).
1.2. Chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường rừng trên thế giới
Chi trả DVMTR là mô ̣t liñ h vực hoàn toàn mới, trong những năm 90
của thế kỷ XX mới đươ ̣c các nước trên thế giới quan tâm thực hiên.
̣ Với
những giá tri ̣và lơ ̣i ích bề n vững của viê ̣c chi trả DVMTR đã thu hút đươ ̣c sự
quan tâm đáng kể của nhiề u quố c gia, nhiề u nhà khoa ho ̣c và các nhà hoa ̣ch
đinh
̣ chin
́ h sách trên thế gới. Chi trả DVMTR đã nhanh chố ng trở nên phổ
biế n ở mô ̣t số nước và đươ ̣c thể chế hóa bằ ng các văn bản pháp luâ ̣t. Hiêṇ nay
chi trả DVMTR được xen như mô ̣t chiến lược dựa vào thị trường để quản lý tài
nguyên thiên nhiên, khuyế n khích, chia sẻ các lợi ích trong cô ̣ng đồ ng và xã hô ̣i.
5
Các nước phát triể n ở Mỹ La Tinh đã áp du ̣ng thực hiêṇ các mô hình
chi trả DVMTR sớm nhấ t. Ở Châu Âu, chính phủ mô ̣t số nước cũng đã quan
tâm đầ u tư và thực hiê ̣n nhiề u chương trình, mô hình DVMTR. Chi trả dịch
vụ rừng phòng hộ đầu nguồn hiện đang được thực hiện tại các quốc gia Costa
Rica, Ecuador, Bolivia, Ấn Độ, Nam Phi, Mexico và Hoa Kỳ. Trong hầu hết
các trường hợp này thực hiêṇ tối đa hóa các dịch vụ rừng phịng hộ đầu nguồn
thơng qua các hệ thống chi trả đều mang lại kết quả góp phần giảm nghèo. Ở
Châu Úc, Australia đã lâ ̣p pháp hóa quyề n phát thải cacbon từ năm 1998, cho
phép các nhà đầ u tư đăng ký quyề n sở hữu hấ p thu ̣ cacbon của rừng. Chi trả
DVMTR cũng đã đươ ̣c phát triể n và thực hiê ̣n thí điể m ở Châu Á như
Indonesia, Philippines, Trung Quố c, Nepal và Viê ̣t Nam bước đầ u đã xây
dựng đươ ̣c các chương trình chi trả DVMTR có quy mô lớn, chi trả cho các
chủ rừng để thực hiêṇ các biêṇ pháp bảo vê ̣ rừng nhằ m tăng cường cung cấ p
các dich
̣ vu ̣ thủy văn, bảo tồ n đa da ̣ng sinh ho ̣c, chố ng xói mòn, hấ p thu ̣
cacbon, ta ̣o cảnh quan du lich
̣ sinh thái, và đã thu được một số thành công
nhất định trong công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo
cho nhân dân vùng đầu nguồn.
Chi trả cho các DVMTR đang đươ ̣c thử nghiê ̣m ở mô ̣t số nước trên thế
giới, Đông Nam Á nói chung và Viêṭ Nam nói riêng. Từ năm 2002, Trung
tâm Nông lâm thế giới (ICRAF) đã tích cực giới thiêụ khái niê ̣m chi trả
DVMTR (PES) vào Viê ̣t Nam. Quỹ phát triể n Nông nghiêp̣ quố c tế (IFAD)
đã hỗ trơ ̣ dự án đề n đáp cho người nghèo vùng cao cho các DVMTR mà ho ̣
cung cấ p ta ̣i Indonesia, Philippines và Nepal là “xây dựng cơ chế mới để cải
thiêṇ sinh kế và an ninh tài nguyên cho cô ̣ng đồ ng nghèo vùng cao ở Châu Á”
thông qua xây dựng các cơ chế nhằ m đề n đáp người nghèo vùng cao về các
DVMTR ho ̣ cung cấ p cho các cô ̣ng đồ ng trong nước và trên pha ̣m vi toàn cầ u.
6
1.2.1. Các hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Mỹ
- Tại Hoa Kỳ, là quốc gia nghiên cứu và tổ chức thực hiện các mơ hình
PES sớm nhất, ngay từ giữa thập kỷ 80, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã thực hiện
“Chương trình duy trì bảo tồn”, ở Hawaii đã áp dụng chính sách mua lại đất hoặc
mua nhượng quyền để bảo tồn bảo vệ rừng đầu nguồn, duy trì, cải thiê ̣n nguồn
nước mặt và nước ngầm, phục vụ đời sống sinh hoạt, phát triển du lịch, nông
nghiệp và các ngành nghề khác. Ở Oregon, Portland áp dụng chính sách bảo tồn
và phát triển cá Hồi và môi trường sinh thái của chúng. Từ việc xác định và đầu tư
đúng mục tiêu sẽ hình thành các dịch vụ hệ sinh thái, cụ thể họ đã phát triển du
lịch sinh thái, lấy dịng sơng nơi cá Hồi đẻ là nơi tham quan về sinh thái, lấy các
khu rừng bị khai thác quá mức xưa kia là nơi giáo dục cho học sinh, sinh viên và
du khách về ý thức bảo vệ rừng, v.v.. Ở New York, chính quyền thành phố đã
thực hiện các chương trình mua đất để quy hoạch và bảo vệ vùng đầu nguồn và
nhiều chương trình hỗ trợ cho các chủ đất áp dụng các phương thức quản lý tốt
nhất nhằm tích cực hạn chế các nguy cơ ô nhiễm đối với nguồn cung cấp nước
cho thành phố. Các hoạt động hỗ trợ sản xuất cho chủ đất được đầu tư từ nguồn
tiền nước bán cho người sử dụng nước ở thành phố, kể cả du khách. Chính quyền
thành phố đã lập ra cơng ty phi lợi nhuận để tiếp thu nguồn kinh phí này và hỗ trợ
các hộ nông dân là chủ đất đã nhượng quyền sử dụng đất cho thành phố.
- Tại Costa Rica, năm 1996, thực hiện chi trả DVMTR thơng qua Quỹ
Tài chính Quốc gia về rừng (FONAFIFO) đã chi trả cho các chủ rừng và các
khu bảo tồn để phục hồi, quản lý và bảo tồn rừng. FONAFIFO hoạt động như
một người trung gian giữa chủ rừng và người mua các dịch vụ hệ sinh thái.
Nguồn tài chính thu được từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: thuế nhiên liệu
hóa thạch, bán tín chỉ cacbon, tài trợ nước ngồi và khoản chi trả từ các dịch
vụ hệ sinh thái. FONAFIFO và nhà máy thủy điện chi trả cho các chủ rừng tư
nhân cung cấ p dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn khoảng 45USD/ha/ năm cho
7
hoạt động bảo vệ rừng của mình, và 116 USD/ha/ năm cho phục hồi rừng [8].
Mô ̣t số khách sa ̣n tham gia vào cơ chế chi trả DVMT để bảo vê ̣ lưu vực. Cơ sở
của viê ̣c chi trả này là mố i tương quan chă ̣t chẽ giữa người cung cấ p DVMT
nước do bảo vê ̣, duy trì cải thiê ̣n chấ t lượng nước và dòng chảy với người hưởng
lợi là ngành du lich.
̣ Lý do là các hoa ̣t đô ̣ng ngành du lich
̣ phu ̣ thuô ̣c rấ t lớn vào
trữ lượng và chấ t lượng nước. Vì vâ ̣y, từ năm 2005 mô ̣t số khách sa ̣n chi trả
hàng năm 45,5 USD cho mỗi ha đấ t của các chủ rừng điạ phương và trả 7%
trong tổ ng số chi phí hành chính của mô hình chi trả DVMT. Tuy nhiên, cũng ở
Cố t-xơ-ta Ri-ca, “vẫn chưa có mô ̣t cơ chế được thừa nhâ ̣n chung nào dựa vào lợi
ích của mo ̣i người được chi trả trực tiế p từ vẻ đe ̣p cảnh quan và bảo tồ n đa da ̣ng
sinh ho ̣c” gầ n đây ta ̣i Tan-za-ni-a có mô ̣t nhóm 5 công ty du lich
̣ đã liên kế t cùng
nhau làm hợp đồ ng với mô ̣t làng nằ m trong khu vực đồ ng cỏ ở điạ phương để
bảo vê ̣ các loài hoang dã chủ yế u thông qua chi trả tài chính hàng năm [21].
- Tại Ecuador, Năm 1999 Quỹ bảo tồn nước quốc gia (FONAG) được
thành lập các công ty nước đô thị ở Quito và Pimampiro xây dựng bằng cách
áp phí lên nước sinh hoạt. Theo đó, tất cả các đơn vị công cộng sử dụng nước
dành 1% doanh thu đóng góp vào FONAG. Quỹ này được đầu tư cho việc bảo
tồn lưu vực đầu nguồn và chi trả trực tiếp cho các chủ rừng.
- Tại Colombia, những người sử dụng nước phục vụ công - nông
nghiệp ở Thung lũng Cauca đã thành lập các hiệp hội để thu các khoản chi trả
tự nguyện cho các chủ rừng để cải thiêṇ dòng chảy và giảm bồ i lắ ng 0,5
USD/m3 nước thương phẩ m [8].
- Tại Bolivia, hai công ty năng lượng Mỹ phối hợp với một tổ chức phi
chính phủ của Bolivia và Uỷ ban bảo vệ thiên nhiên để tài trợ cho việc ngừng
khai thác gỗ và các hoạt động khác nhằm mở rộng diện tích và chất lượng của
Vườn Quốc gia Noel Kempff với mục đích tăng cường hấp thụ cácbon.
8
- Tại khu vực Trung Mỹ và Mexico, Chương trình về dịch vụ mơi
trường thủy văn (PSA-H) là chương trình lớn nhất châu Mỹ. PSA-H tập trung
vào bảo tồn các rừng tự nhiên bị đe dọa nhằm duy trì các dòng chảy và chất
lượng nước. Mexico đã thành lập Quỹ lâm nghiệp năm 2002, thực hiện chi trả
DVMTR từ việc sử dụng đất. Uỷ ban Lâm nghiệp Quốc gia ký hợp đồng với
chủ đất để quản lý nhằm duy trì các dịch vụ đầu nguồn. Ngoài ra người nông
dân ở Ugada và Mexico đã tiến hành liên kết với nhau để tham gia thị trường cac
bon quốc tế, bên mua là cơng ty sản x́t bao bì Teltra Pak có trụ sở tại Vương
quốc Anh. Nhóm nơng dân này đã liên hệ với tổ chức phi chính phủ Ecotrust có
trụ sở tại Uganda, sau đó tổ chức này lại phối hợp với Trung tâm quản lý các bon
Edinburg. Theo hợp đồng, nhóm nơng dân phải trồng các lồi cây bản địa. Trong
thời gian thực hiện hợp đồng, những cây này sẽ hấp thụ được 57 tấn các bon và
ho ̣ sẽ nhâ ̣n được 8 USD/ tấn. Trong khi cây trồng đang lớn, ho ̣ có thể ni dê
dưới tán cây. Khi hợp đồng kết thúc, ho ̣ có thể sử dụng hoặc bán số gỗ đó [8].
- Ta ̣i Brazil, Nhà nước phân bổ ngân sách cho các thành phố để bảo vệ
các khu rừng phòng hộ đầu nguồn và phục hồi diện tích rừng nghèo kiệt. Ở
Parana cũng như ở Minas Gerais, 5% doanh thu từ lưu thông hàng hóa và dịch
vụ (ICMS) – một loại thuế gián tiếp đánh vào tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ
được phân bổ cho các thành phố có cơ quan bảo tồn hay diện tích rừng cần
bảo vệ hoặc cho các thành phố cung cấp nước cho các thành phố lân cận [8].
Chính phủ cũng đã thực hiêṇ “Chương trình ủng hộ mơi trường” trong đó, chi
trả để thúc đẩy sự bền vững môi trường của khu vực Amazon. Một số sáng
kiến cacbon cũng đã được thực hiện, như dự án Plantar được tài trợ bởi Ngân
hàng Thế giới, nhằm cung cấp các biện pháp kinh tế cho việc cung cấp gỗ bền
vững để sản xuất gang ở Bang Minas Gerais.
9
1.2.2. Hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Âu
- Tại Pháp, Công ty Perrier Vittel (hiện nay do Nestlé sở hữu) phát
hiện ra rằng bỏ tiền đầu tư vào bảo tồn diện tích đất chăn ni xung quanh
khu vực đất ngập nước sẽ tiết kiệm chi phí hơn là việc xây dựng nhà máy lọc
nước để giải quyết vấn đề chất lượng nước. Theo đó, họ đã mua 600 mẫu đất
nằm trong khu vực sinh cảnh nhạy cảm và ký hợp đồng bảo tồn dài hạn với
nông dân trong vùng. Nông dân vùng rừng đầu nguồn Rhine-Meuse ở miền
đông nam nước Pháp được nhận tiền đền bù để chấp nhận giảm quy mơ chăn
ni bị sữa trên đồng cỏ, nâng cao hiệu quả quản lý chất thải chăn nuôi và
trồng rừng ở những khu vực nước thẩm thấu nhạy cảm. Công ty Perrier Vittel
chi trả chất lượng nước cho mỗi trang tra ̣i nuôi bò sữa ở thượng lưu khoảng
230USD/ ha/năm, trong 7 năm Công ty đã chi trả tổng số tiền là 3,8 triệu USD[8].
- Tại Đức, Chính phủ đã đầu tư một loạt chương trình để chi trả cho
các chủ đất tư nhân với mục đích thay đổi cách sử dụng đất của họ nhằm tăng
cường hoặc duy trì dịch vụ hệ sinh thái. Những dự án này bao gồm trợ cấp
cho sản xuất cà phê và ca cao trong bóng râm, quản lý rừng bền vững, bảo tồn
đất và cải tạo các cánh đồng chăn thả ở các nước Mỹ La tinh, gồm Honduras,
Costa Rica, Colombia, Ecuador, Peru, Paraguay và Cộng hoà Dominica.
- Tại Chile, một số cá nhân khu vực tư nhân đã bỏ tiền đầu tư vào khu
vực bảo vệ tư nhân chỉ vì mục đích bảo tồn trên những diện tích có tính đa
dạng sinh học cao. Việc chỉ trả được thực hiện trên nguyên tắc hoàn toàn tự
nguyện xuất phát từ ý nguyện muốn hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn của
chính phủ tại những sinh cảnh có nguy cơ bị đe dọa [8].
1.2.3. Hoa ̣t động chi trả DVMTR ở Châu Á
Trong những năm gần đây, các chương trình về chi trả DVMTR đã được
phát triển và thực hiện thí điểm tại các nước Châu Á như Indonesia, Philippines,
10
Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam nhằm xác định điều kiện để thành lập
cơ chế chi trả DVMTR. Đặc biệt là Indonesia và Philippines đã có nhiều nghiên
cứu điển hình về chi trả DVMTR đối với việc quản lý lưu vực đầu nguồn.
Năm 1998, Trung Quốc đã bổ sung, sửa đổi Luật quy định hệ thống bồi
thường sinh thái rừng. Triển khai thí điểm hệ thống bồi thường giai đoạn
2001-2004. Năm 2004, thành lập Quỹ bồi thường lợi ích sinh thái rừng.
Từ năm 2001-2006, nhiều nhà tài trợ cũng đã khảo sát khả thi các
chương trình chi trả DVMTR ở Châu Á. Trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ
Quốc tế về Phát triển nông nghiệp (IFAD), Trung tâm Nơng - Lâm thế giới
(ICRAF) đã đóng vai trị quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về khái
niệm chi trả DVMTR bằng Chương trình chi trả cho người nghèo vùng cao
dịch vụ môi trường (RUPES) ở châu Á. RUPES đang tích cực thực hiện các
chương trình thí điểm ở Indonesia, Philippines và Nepal. Tại Indonesia, thiết
lập cơ chế chuyển giao dịch vụ từ các chức năng rừng phòng hộ đầu nguồn.
Khách hàng của Công ty PDAM (40.000 hộ gia đình) ở Mataram đồng ý trả
0,15-0,20 USD hàng tháng cho cơng tác bảo tồn chức năng phịng hộ đầu
nguồn tại hụn Tây Lombok.
Tại Bakun (Philippines), Chính phủ cơng nhận các quyền sở hữu khơng chính
thức về đất đai do tổ tiên để lại. Việc được giao đất ở Bakun được xem là một hoạt
động chi trả cho việc quản lý đất bền vững. Về phía cộng đồng, tất cả mọi người đều
được chi trả, hưởng lợi trong việc trao đổi cung cấp các dịch vụ đầu nguồn.
Tại Kulekhani (Nepal), Ban quản lý rừng địa phương và Uỷ ban Phát triển
thôn xây dựng kế hoạch quản lý và hoạt động. Kế hoạch này được coi là một văn
bản pháp lý, quy định về quản lý rừng và các biện pháp sử dụng đất hợp lý đối
với chi trả DVMTR. Hiệp hội Điện lực quốc gia trả phí từ cơng trình thuỷ điện
cho cộng động vì các hoạt động bảo tồn đầu nguồn và sử dụng đất bền vững.
11
Cho đế n nay, có nhiề u nghiên cứu về chi trả DVMTR đã đươ ̣c xây dựng
ở nhiề u quố c gia. Từ các mô hình chi trả DVMTR ở các nước cho thấ y, quản lý
bảo vê ̣ đầ u nguồ n đóng vai trò quan tro ̣ng trong viê ̣c quản lý và bảo vê ̣ tài
nguyên và đa da ̣ng sinh ho ̣c, nhằ m ta ̣o nguồ n tài chiń h bề n vững và chia sẽ lơ ̣i
ích cho cô ̣ng đồ ng trong công tác bảo vê ̣ rừng, và hướng tới giảm nghèo.
1.2.4. Xu hướng mới trong phát triể n dich
̣ vụ môi trường rừng
Trong những năm gầ n đây, trên pha ̣m vi ̣ toàn cầ u nhận thức về vai trị
và giá trị của rừng đã được nhìn nhận một cách đầy đủ hơn, đặc biệt là giá trị
MTR. Theo đó, rừng có tác du ̣ng cung cấ p các DVMT gồ m: Bảo tồ n đa da ̣ng
sinh ho ̣c, hấ p thu ̣ cacbon, bảo vê ̣ đầ u nguồ n, vẻ đep̣ cảnh quan, vv. Cơ cấ u giá
tri ̣ cho các loa ̣i DVMT của rừng đươ ̣c các nhà khoa ho ̣c nghiên cứu xác đinh
̣
cho hấ p thu ̣ cacbon chiế m 27%, Bảo tồ n đa da ̣ng sinh ho ̣c chiế m 25%, bảo vê ̣
đầ u nguồ n chiế m 21%, Vẻ đe ̣p cảnh quan chiế m 17% và giá tri ̣ khác chiếm
10% [20]. Giá tri ̣dich
̣ vu ̣ do hê ̣ sinh thái rừng trên toàn trái đấ t đươ ̣c ước tiń h
33.000 tỷ USD/năm. Riêng ở Bristish Clubia, rừng đã giúp cho cô ̣ng đồ ng điạ
phương tránh đươ ̣c chi phí xây dựng các nhà máy lo ̣c nước, ước tính khoảng 7
triê ̣u USD/nhà máy và 300.000 USD vâ ̣n hành mỗi năm [24].
Những kết quả nêu trên cho thấ y; Giá tri cu
̣ ̉ a rừng là lấ t to lớn và đă ̣c biê ̣t là
giá tri ̣ môi trường đã và đang mang la ̣i những lợi ích cho cô ̣ng đồ ng điạ phương
và quố c tế . Với tầ m quan tro ̣ng này nhiề u tổ chức, quố c gia đã hình thành các cơ
chế khác nhau nhằ m quản lý DVMT trên quan điể m coi DVMT là mô ̣t loa ̣i hàng
hóa. Theo đó, các khái niê ̣n và thuâ ̣t ngữ được thừa nhâ ̣n để chỉ sự thương ma ̣i
các DVMT như: chi trả (Payments), đề n đáp (Reward), thi ̣ trường (Market), Bồ i
thường (Compensation) [22] . Đây được coi là những xu hướng mới nhằ m quản lý
PES và hướng tới phát triể n bề n vững đến sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hịa giữa
ba mặt: Phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
12
1.2.4.1. Chi trả DVMT rừng về hấp thụ cacbon
Trong những thập kỷ gần đây, biến đổi khí hậu đã được nhận thức là
một trong những vấn đề toàn cầu mà con người phải đối mặt. Nhiều sáng kiến
đã được đưa ra nhằm ứng phó với mối đe dọa hiện hữu này và với lý giải
rằng, một trong những nguyên nhân chính của biến đổi khí hậu là nạn phá
rừng và suy thối rừng. Nhằm đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầ u, Nghị
định thư Kyoto đã được thông qua vào 11/12/1997 và có hiệu lực ngày
16/2/2005, đây là một thỏa thuận quốc tế trong khuôn khổ Công ước khung
của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, trong đó u cầu mơ ̣t sớ nước cơng
nghiệp và cộng đồng Châu Âu phải cắt giảm phát thải khí nhà kính. Tổng
lượng cắt giảm đến năm 2012 tương đương với trung bình 5% của năm 1990.
Nghị định thư đặt ra một số cơ chế thị trường nhằm giúp các nước tham gia
đóng góp vào các nỗ lực giảm phát thải, bao gồm: Mua bán chứng chỉ phát
thải (Thị trường cacbon); Cơ chế phát triển sạch (CDM); Đồng thực hiện (JI).
Thông qua các kỳ hội nghị quyết định về “giảm phát thải từ mất rừng và suy
thoái rừng (REDD) đã được thông qua. Tại COP 15 ở Cô-pen-ha-ghen, một
bước phát triển của REDD gọi là REDD+ được nhấn mạnh vì nó ghi nhận vai
trò của quản lý rừng bền vững và các lợi ích khác từ rừng như giảm phát thải
từ mất rừng, giảm phát thải từ suy thoái rừng, bảo tồn trữ lượng cacbon rừng,
quản lý rừng bền vững, và tăng cường trữ lượng cacbon rừng [18]. CDM, JI,
REDD+ là ba cơ chế dự án phù hợp với thị trường cacbon cho phép các nước
công nghiệp cùng thực hiện dự án với các nước đang phát triển, trong khi
CDM bao gồm đầu tư cho các dự án phát triển bền vững giúp giảm phát thải ở
các nước đang phát triển.
13
- Thị trường cacbon tự nguyện: Áp dụng cho các công ty và cá nhân quan
tâm đến môi trường phải giảm phát thải khí nhà kính (KNK). Họ tự nguyện mua
để tài trợ cho các dự án sản xuất sạch hơn, bù cho phần phát thải do các hoạt
động phát thải của họ, gầ n đây thi ̣trường này phát triển rất mạnh. Tuy nhiên, thị
trường này khơng có cơ chế điều tiết chung được chấp nhận trên toàn cầu.
Năm 2009, NORAD (Cơ quan phát triể n Na Uy) cung cấ p hỗ trơ ̣ tài
chiń h cho RECOFTC trong khuôn khổ sáng kiế n rừng và khí hâ ̣u 2009 – Hỗ
trơ ̣ xã hô ̣i dân sự để thực hiêṇ dự án “Đào ta ̣o và tăng cường năng lực cho các
bên có liên quan đế n lâm nghiêp̣ cấ p cơ sở nhằ m giảm phát thải do mấ t rừng
và suy thoái rừng (REDD) khu vực Châu Á Thái Biǹ h Dương” hay go ̣i tắ t là
dự án NORAD-REDD. Giai đoa ̣n I (8/2/2009-7/2010) dự án đươ ̣c thực hiêṇ ở
3 nước Indonesia, Lào và Nepal. Giai đoa ̣n II (8/2010-7/2013) dự án vâ ̣n hành
ta ̣i 4 nước thêm Viê ̣t Nam là nước đầ u mố i nữa ngoài 3 nước đã nêu. Mục tiêu
tổ ng thể của dự án là “ Các bên có liên quan đế n Lâm nghiêp̣ cấ p cơ sở khu
vực Châu Á Thái Biǹ h Dương tích cực đóng góp vào thành công của cơ chế
REDD+ và đươ ̣c vâ ̣n du ̣ng đầ y đủ ưu điể m của lơ ̣i ích do REDD+ mang la ̣i
đố i với phát triể n kinh tế - xã hô ̣i điạ phương”.
Năm 2010, tổng cộng 131 triệu tấn CO2 đã được giao dịch qua thị
trường tự nguyện, với trị giá 424 triệu USD so với tổng số 98 triệu tấn CO 2 và
415 triệu USD được giao dịch trong năm 2009. Lượng CO 2 được giao dịch
tăng 34% và số tiền nhận được cũng cao hơn. Theo báo cáo của Bloomberg
New Energy Finance, dự đoán năm 2011 lượng giao dịch trên thị trường sẽ là
213 triệu tấn. Báo cáo này dự báo sự tăng trưởng nhanh của thị trường giai
đoạn sau năm 2015, đạt tới 1,6 tỷ tấn năm 2020. Dự báo này dựa trên cơ sở là
một mạng lưới các thị trường quy chuẩn và thị trường bán quy chuẩn cấp khu
vực sẽ tăng lên, và sẽ sử dụng cách tiếp cận thị trường tự nguyện [23].
14
1.3. Tổ ng quan về chi trả dich
̣ vu ̣ mơi trường rừng ở Viêṭ Nam
1.3.1. Cơ sở hình thành chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam
Việt Nam hiện có khoảng 13,38 triê ̣u hécta rừng, đơ ̣ che phủ đa ̣t 39,5%
[7] phân bố trên địa bàn 61 tỉnh, thành phố; Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp
của Việt Nam dự kiến đến năm 2020 đưa diện tích rừng đạt khoảng gần 16
triệu ha, với tỷ lệ che phủ 47% [4]. Rừng có vai trò rấ t quan tro ̣ng trong đời
số ng con người và sự phát triể n bề n vững của quố c gia. Các hê ̣ sinh thái rừng
phát triển tốt với đầy đủ chức năng đã và đang cung cấp những giá trị DVMT
vô cùng to lớn như: Bảo vệ phòng hô ̣ đầ u ng̀ n, điều tiết và duy trì nguồn
nước, hấp thụ và lưu giữ cacbon, ta ̣o cảnh quan phục vụ cho dịch vụ du
lịch…, nhưng những năm trước đây chúng được coi là tài sản chung và được
sử dụng miễn phí cho toàn xã hơ ̣i, trong khi đó việc duy trì và bảo vệ các hệ
sinh thái rừng thường chỉ được thực hiện bởi một nhóm nhỏ người, ho ̣ là
những người lao đô ̣ng trong ngành lâm nghiệp (là các chủ rừng) trực tiếp đầu
tư vốn, cơng sức để trồng, bảo vệ, gìn giữ và phát triển rừng nhưng ho ̣ chưa
được hưởng những lợi ích xứng đáng mà xã hội phải trả cho sự nỗ lực của họ.
Trong khi xã hô ̣i, cô ̣ng đồ ng, tổ chức và cá nhân không tham gia bảo vê ̣ tái
ta ̣o rừng la ̣i đươ ̣c hưởng lơ ̣i từ các dich
̣ vu ̣ do rừng ta ̣o ra. Ngày nay cô ̣ng
đồ ng xã hô ̣i nhâ ̣n thức đươ ̣c rằng, các giá trị sử dụng của rừng ta ̣o ra khơng
cịn là miễn phí. Chin
́ h vì thế , cầ n phải có mơ ̣t cơ chế để bảo bê ̣ và khuyến
khích quyền lợi về kinh tế cho những chủ rừng, đồ ng thời những người được
hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái phải chi trả cho những người tham gia
duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó.
Từ năm 2004, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu xây dựng nền móng cho
một chương trình quốc gia về chi trả DVMTR. Trên cơ sở khung pháp lí Việt
Nam đã có như: Luâ ̣t Đấ t đai (2003), Luâ ̣t Bảo vê ̣ và Phát triể n rừng (2004),
15
Luâ ̣t Bảo vê ̣ môi trường (2005), Luâ ̣t Tài nguyên nước (1998) đề u thừa nhâ ̣n,
các nhân tố của dich
̣ vu ̣ hê ̣ sinh thái mang la ̣i là bảo tồ n đa da ̣ng sinh ho ̣c, bảo
vê ̣ cảnh quan, bảo vê ̣ rừng phòng hô ̣ đầ u nguồ n và hấ p thu ̣ cacbon. Đă ̣c biê ̣t,
Điề u 74 Luâ ̣t Đa da ̣ng sinh ho ̣c (2008) quy đinh
̣ “Tổ chức, cá nhân sử du ̣ng
DVMTR liên quan đế n đa da ̣ng sinh ho ̣c có trách nhiê ̣m trả tiề n cho tổ chức,
cá nhân cung cấ p DVMTR” các khung pháp lí trên là tiề n đề cho Việt Nam đã
sẵn sàng sử dụng một số cơng cụ tài chính và kinh tế cần thiết để thực thi hoạt
động chi trả DVMTR, tạo cơ sở pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn bước đầu để
PES thực sự ứng dụng có hiệu quả rộng rãi ở Việt Nam. Đó chính là lý do
Việt Nam ban hành chính sách chi trả DVMTR theo đúng pháp luâ ̣t. Hai trong
những văn bản quan trọng nhất là Quyết định số 380/TTg ngày 10/4/2008 của
Thủ tướng Chính phủ về thí điểm chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường rừng ở hai tỉnh
Lâm Đồng và Sơn La, và Nghị định số 99 ngày 24/9/2010 của Chính phủ về
thực hiện chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường rừng trên phạm vi cả nước. Dự án thí điểm
về chi trả dịch vụ mơi trường rừng đã được triển khai tại tỉnh Lâm Đồng với sự
hỗ trợ của tổ chức Winrock International, tỉnh Sơn La với sự hỗ trợ của cơ
quan hợp tác kỹ thuật CHLB Đức (GTZ) và Việt Nam đã trở thành một trong
những quốc gia đầu tiên thực hiêṇ chi trả DVMTR ở Đông Nam Á.
- Các chương trin
̀ h, dư ̣ án làm tiề n để cho PES ở Viêṭ Nam
Chương trình Bảo tồn Đa dạng Sinh học Vùng Châu Á (ARBCP) đã hỗ trợ
Chính phủ Việt Nam từ năm 2006, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
phối hợp với tổ chức Winrock Internationnal thực hiê ̣n thành công chương trình
thí điểm về Chi trả DVMTR, đã cải thiện sinh kế cho hơn 32.000 người dân nghèo
nông thôn đồng thời tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học ở tỉnh Lâm Đồng, Đồng
Nai, Bình Phước và ở Việt Nam . Chương trình hợp tác Viê ̣t Nam – Thu ̣y Điể n có
vai trò quan tro ̣ng đầ u tiên về phát triể n Lâm nghiê ̣p xã hô ̣i ở Viê ̣t Nam, cho đế n
nay các chương trình này luôn đi đầ u trong phát triể n LNXH ở nước ta.
16
Dự án trồ ng rừng quy mô nhỏ để hấ p thu ̣ khí Cacbon-đi-ô-xit́ đươ ̣c
Cu ̣c Lâm nghiê ̣p, Trường Đa ̣i ho ̣c Lâm nghiêp̣ Viêṭ Nam, Trung tâm nghiên
cứu sinh thái và môi trường và Cơ quan hơ ̣p tác quố c tế Nhâ ̣t Bản cùng phố i
hơ ̣p xây dựng. Dự án tiế n hành ta ̣i Xuân Phong và Bắ c Phong thuô ̣c huyê ̣n
Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.
Chương trình trồng rừng phịng hộ 327, Chương trình 327 được thực
hiện theo quyết định số 327-QĐ ngày 15/9/1992 của Thủ tướng Chính phủ
với tên gọi “ Một số chủ trương, chính sách sử dụng rừng, đất trống đồi núi
trọc, bãi bồi ven biển và mặt nước”.
Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng là một chương trình kinh tế - xã hội sinh thái trọng điểm của Nhà nước Việt Nam theo đó sẽ trồng mới 5 triệu
hecta rừng và bảo vệ diện tích rừng hiện có trong thời kỳ từ năm 1998 đến
năm 2010 nhằm nâng cao độ che phủ của rừng Việt Nam.
Các dự án trồng rừng PAM đã tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao
động ở những vùng xa xơi, hẻo lánh đời sống có nhiều khó khăn, tạo nên
những khu rừng kinh tế, phòng hộ, phong cảnh, góp phần to lớn vào việc xóa
đói, giảm nghèo cho nhân dân và đặc biệt đã tạo lập được nghề rừng nhân dân.
Quyết định số 178/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được th,
nhận khốn rừng và đất lâm nghiệp.
Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC ngày 03/09/2003 của
Bộ NN&PTNT, Bộ tài chính về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình,
cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của Thủ tướng
Chính phủ về việc giao rừng, khốn bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng
đồng trong buôn làng là đồng bào thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên.
17
Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp
& PTNT về Hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi
rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thơn.
Dự án phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng tây nguyên
(Flitch) do ngân hàng phát triển Châu Á tài trợ, được triển khai từ năm 2007
trên 6 tỉnh tây nguyên: Đăk lăk; Đăk Nông; Gia Lai; Lâm Đồng; Kom Tum và
Phú Yên với mu ̣c đích góp phầ n giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách của các hộ
nghèo so với các hộ trung bình sống dựa vào rừng.
Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (NTPRCC), đươ ̣c thực hiêṇ theo Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg Ngày 2/12/2008
của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến nội dung giao rừng, cho thuê rừng.
Nghị định số 113/2010/NĐ-CP ngày 03/12/2010 quy định về xác định
thiệt hại đối với môi trường, là một công cụ pháp lý quan trọng dựa trên
nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, bước đầu giúp tháo gỡ những
rào cản và thách thức về mặt pháp lý mà cơ quan quản lý Nhà nước về môi
trường khi giải quyết các vụ việc khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi
phạm pháp Luật mơi trường gây ra.
Nghị định 117/2010/ NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 24/12/2010
nhằm mục đích tạo một hành lang pháp lý thống nhất về tổ chức, quản lý hệ
thống rừng đặc dụng trên tồn quốc.
Với những chương trình thực hiêṇ nêu trên, qua nhiề u năm thực hiêṇ và
đa ̣t đươ ̣c kế t quả rấ t khả quan, cho thấy đây là những dự án tạo cơ sở pháp lý
và kinh nghiệm thực tiễn là tiề n đề cho Việt Nam sẵn sàng thực hiêṇ chiń h
sách PES thành công ở Việt Nam và có sức lan tỏa lớn trong khu vực.
18
1.3.2. Chính sách chi trả dich
̣ vụ môi trường rừng ở Viê ̣t Nam
Năm 2007, Bô ̣ NN&PTNT đã yêu cầ u ARBCP giúp xây dựng mô ̣t
chiń h sách thí điể m về chi trả DVMTR ở Viê ̣t Nam. Kế t quả ngày 10 tháng 04
năm 2008, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số 380/QĐ-TTg về “chính
sách thí điểm chi trả dịch vụ mơi trường rừng” với các hoa ̣t đô ̣ng dự kiế n thực
hiêṇ đế n tháng 12 năm 2010, nhằm tạo cơ sở cho xây dựng khung pháp lý về
chính sách chi trả DVMTR áp dụng trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở những
thí điể m ban đầ u, Chính phủ Viêṭ Nam đã tiế n hành đánh giá giữa kỳ ở Hà
Nô ̣i vào ngày 9 tháng 3 năm 2010 để đánh giá kế t quả và quá trình thực hiêṇ
chiń h sách thí điể m Quyế t đinh
̣ số 380/QĐ-TTg. Tư vấ n của Winrock
International đã tiế n hành hỗ trơ ̣ cho chính quyề n Lâm Đồ ng đánh giá chính
sách thí điể m bằ ng viê ̣c tiế n hành mô ̣t khảo sát kinh tế - xã hô ̣i ở lưu vực Đa
Nhim đố i với các tổ chức quản lý và bảo vê ̣ rừng; các hô ̣ dân (những người
đươ ̣c chi trả PES); các công ty và các cá nhân sử du ̣ng DVMTR (những người
chi trả PES) và các cơ quan chính quyề n điạ phương tham gia trong viê ̣c thu,
quản lý và chi trả PES. Sau hai năm thực hiêṇ và đánh giá kết quả của việc
thực hiện thành cơng chính sách chi trả DVMTR ở Lâm Đồng và Sơn La là
việc Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về
“chính sách chi trả dịch vụ mơi trường rừng” và bắt đầu có hiệu lực từ ngày
01/01/2011. Nghị định này đã làm thay đổi cách nhình và quản lý rừng ở Việt
Nam, là một chiến lược dựa vào thị trường để quản lý tài nguyên thiên nhiên
nhằm huy động các nguồn lực xã hội để bảo vệ, phát triển rừng; tạo điều kiện
để ngành lâm nghiệp hoạt động đúng quy luật của nền kinh tế sản xuất hàng
hoá, đồng thời tạo ra các nguồn tài chính bền vững và tăng cường trách nhiệm
của các bên liên quan cho công cuộc bảo vệ rừng bền vững ở Việt Nam.
19
Chi trả DVMTR đang ngày càng nhâ ̣n đươ ̣c nhiề u mố i quan tâm từ cả
các nhà lâ ̣p chính sách lẫn các nhà khoa ho ̣c như mô ̣t cơ chế để chuyển các
giá tri ̣ phi thi ̣ trường của môi trường thành các khuyế n khích tài chính cho
người dân điạ phương có vai trò cung cấ p dich
̣ vu ̣ môi trường đươ ̣c mua bởi
người mua (là người hưởng lơ ̣i từ dich
̣ vu ̣ môi trường) khi và chỉ khi, người
cung cấ p (là người dân sinh số ng hoă ̣c là chủ đấ t ở điạ phương) đảm bảo viêc̣
cung cấ p dich
̣ vu ̣ môi trường đó [26].
Cơ chế thực hiện chi trả DVMTR rất đơn giản: kết nối các nhà quản lý
rừng ở địa phương với người sử dụng dịch vụ môi trường rừng thông qua chi
trả trực tiếp (Wunder 2005). Những người sử dụng dịch vụ môi trường rừng ở
vùng hạ lưu trả tiền cho những người quản lý bảo vệ rừng đầu nguồn [25]. Xác
đinh
̣ “những người mua dich
̣ vu ̣” là Tổ ng Công ty Điê ̣n lực Viê ̣t Nam (EVN)
và Tổ ng Công ty cấ p nước Sài Gòn (SAWACO) chi trả cho dich
̣ vu ̣ điề u tiết
nước và bảo vê ̣ đấ t, các Doanh nghiêp̣ du lich
̣ ở Lâm Đồ ng và Sơn La chi trả
cho dich
̣ vu ̣ thẩ m mỹ cảnh quan. Dựa vào các nghiên cứu của Winrock tiế n
hành, đưa ra mức chi trả là 20 đồ ng/kWh từ các cơ sở sản xuấ t thủy điê ̣n, 40
đồ ng/m3 nước sa ̣ch từ các Doanh nghiêp̣ sản xuấ t nước sa ̣ch, và 0,5-2% tổng
doanh thu của các Doanh nghiêp̣ du lich,
̣ và xác đinh
̣ “những người cung cấp
dich
̣ vu ̣”, quy đinh
̣ rằ ng cá nhân, hô ̣, cô ̣ng đồ ng nông thôn đươ ̣c giao rừng sẽ là
những người hưởng lơ ̣i chiń h từ chiń h sách chi trả DVMTR.
Tính đế n tháng 12 năm 2010, các chi trả DVMTR tổ ng cô ̣ng là
87.067.200.000 đồ ng (4,46 triê ̣u USD) đã được thực hiê ̣n cho 22 ban quản lý rừng
và các doanh nghiê ̣p lâm nghiê ̣p và 9.870 hô ̣ gia đình trong đó, 6.858 là hô ̣ dân tô ̣c
thiể u số , bảo vê ̣ được 209.705 ha rừng . Trong năm 2010, mức chi trả trung bình
trên hô ̣ là 10,5 đế n 12 triê ̣u đồ ng (khoảng 540 đế n 615 USD), tương đương mức
tăng 3-4 lầ n so với các chi trả của Chính phủ Viê ̣t Nam trước đây. Số vu ̣ vi pha ̣m
lâm luâ ̣t giảm 50% so với trước đây trong vùng lưu vực Đa Nhim [10].
20
Tỉnh Lâm Đồng áp dụng cách chi trả gián tiếp. Các nghiên cứu rô ̣ng raĩ
đã đươ ̣c tiế n hành để đánh giá cách thiế t lâ ̣p mức chi trả DVMTR dựa vào chấ t
lượng rừng, và mức đô ̣ đe do ̣a và cuố i cùng là mô ̣t hê ̣ số K đã đươ ̣c áp du ̣ng.
Tuy nhiên, các cô ̣ng đồ ng ở Lâm Đồ ng cho ̣n cách chi trả như nhau để đảm bảo
chi trả bình đẳ ng và tránh xung đô ̣t. Trong năn 2009, tỉnh quyế t đinh
̣ mức chi
trả 290.000 đồ ng/ha/năm cho lưu vực Đa Nhim và 270.000 đồ ng/ha/năm cho
lưu vực Đa ̣i Ninh; Năm 2010, tỉnh tăng mức chi trả lên 400.000 đồ ng/ha/năm
cho lưu vực Đa ̣i Ninh và 350.000 đồ ng/ha/năm cho lưu vực Đa Nhim [13].
1.3.3. Tình hình nghiên cứu ở trong nước và điạ phương.
Nghiên cứu đầ u tiên về chi trả DVMTR ở Viê ̣t Nam do các nhà khoa
ho ̣c ta ̣i Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng (RCFEE) và các
đố i tác nước ngoài như tổ chức Winrock quố c tế , trung tâm lâm nghiêp̣ thế
giới, thực hiêṇ và xuấ t bản ấ n phẩ m “Chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường cho người
dân vùng cao về dich
̣ vu ̣ môi trường mà ho ̣ cung cấ p”. Nghiên cứu này đã góp
phầ n lồ ng nghép PES vào Luâ ̣t đa da ̣ng sinh ho ̣c, xây dựng các chiń h sách hỗ
trơ ̣ cho chi trả DVMTR và đă ̣c biêṭ tâ ̣p trung xác đinh
̣ mức chi trả của những
người sử du ̣ng điêṇ cho những người bảo bê ̣ rừng đầ u nguồ n.
Chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được thử nghiệm ở hai tỉnh Lâm
Đồng và Sơn La, trong giai đoạn 2008-2010. Sau đó, Chính phủ đã phê duyệt
một chính sách mới về chi trả dịch vụ môi trường rừng (Nghị định số 99/NĐCP), được áp dụng kể từ ngày 01/01/2011 trên phạm vi toàn quốc.
Tài liêụ của nhiề u tác giả (Hoàng Minh Hà, Vũ Tấn Phương và ctv,
2008) về “Chi trả dịch vụ môi trường: Kinh nghiệm và bài học tại Việt Nam”
đã đề cập đến những vấn đề ban đầu liên quan đến chi trả DVMTR ở Việt
Nam như: Tạo nguồn hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ vùng đầu nguồn sông Đồng
Nai do Cơ quan phát triển DANIDA của Đan Mạch và các đối tác nghiên cứu
21
nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm tại hồ Trị An và vùng hạ lưu sông Đồng Nai.
Xây dựng cơ chế chi trả hấp thụ cacbon trong lâm nghiệp, một nghiên cứu
điểm tại hụn Cao Phong, tỉnh Hồ Bình. Dự án được Trường Đại học Lâm
nghiệp và Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường phối hợp xây dựng.
Tài liê ̣u nghiên cứu về “Giá trị của rừng để bảo tồn nguồn nước và
kiểm sốt xói mịn” tại lưu vực Đa Nhim, tỉnh Lâm Đồng của nhóm nghiên
cứu quốc tế (Winrock International) đã được tiến hành ở vùng thượng lưu khu
vực sông Đồng Nai (Trần Kim Thanh, 2008). Trong báo cáo đã xác đinh
̣ giá
tri ̣và vai trò quan trọng của rừng trong lưu vực làm tăng dòng chảy kiệt trong
mùa khơ. Diện tích rừng càng lớn, độ che phủ rừng càng cao thì dịng chảy
trong mùa khơ càng tăng. Rừng có thể tác động tích cực lên các hồ chứa được
điều tiết hàng ngày và ít hơn đối với hồ điều tiết nhiều năm. Tác động của
rừng lên các hồ chứa điều tiết hàng năm có thể ở giữa hai giá trị đó. Tại lưu
vực Đa Nhim, rừng có thể: Giảm thiểu thiệt hại về lũ trong các lưu vực nhỏ;
điều tiết nước trong hệ thống sông tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất
điện và tưới; và tăng dịng chảy kiệt trong mùa khơ, kiểm sốt xói mịn, hấp
thu và lưu giữ cacbon. Rừng làm giảm bồi lắng lơ lửng trong hồ chứa ở lưu
vực Đa Nhim làm giảm chi phí vâ ̣n hành cho nhà máy.
Năm 2009, được sự hỗ trợ của Viện môi trường Stockhom, Thụy Điển
(SEI) thông qua Mạng lưới nghiên cứu bền vững sông Mê Kông
(SUMERNET), trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế đã phối hợp với Đại
học Quốc gia Lào và Đại học Hoàng gia Campuchia thực hiện nghiên cứu
đánh giá thí điểm chi trả dịch vụ mơi trường rừng tại Lâm Đồng nhằm chia sẽ
những kết quả đã đạt được từ dự án nghiên cứu.
Đinh Quốc Huy (2009) đã có một nghiên cứu tổng quát về chi trả dịch
vụ môi trường rừng tỉnh Lâm Đồng với đề tài “Đánh giá bước đầu triển khai
22
chính sách thí điểm chi trả DVMTR ở Lâm Đồng”. Theo báo cáo kết quả của
đề tài này, trong các đối tượng được chi trả DVMTR tác giả phân ra làm 3
nhóm lớn là: Tổ chức nhà nước; doanh nghiệp tư nhân sản xuất trên đất lâm
nghiệp; hộ gia đình và cộng đồng được giao đất và khoán BVR. Trong việc
xác định các đối tượng phải chi trả và được chi trả DVMTR vẫn còn chưa đầy
đủ, còn nhiều đối tượng sử dụng dịch vụ nhưng chưa được tính đến. Tỷ lệ chi
trả dịch vụ về du lịch còn thấp, mức chi trả dịch vụ về điều tiết và cung ứng
nguồn nước hay dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mịn, chống bồi lắng lịng
hồ là một con số quy định dựa theo ước lượng chưa đúng với khả năng và giá
trị mà nó cung cấp, dẫn đến số tiền chi trả DVMTR còn thấp, chưa tương
xứng với tiềm năng thực sự của nó.
Năm 2010, Trần Kim Thanh đã tiến hành “Khảo sát kinh tế xã hội để
đánh giá chính sách thí điểm của Chính phủ Việt Nam về chi trả DVMTR ở
Lâm Đồng” thuộc dự án “Cảnh quan bảo tồn lưu vực Đồng Nai” của Winrock
International. Trong báo cáo kết quả của mình, tác giả có đề cập đến một số
kết quả mà chi trả DVMTR đạt được như: Tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành một
số biện pháp để nâng cao nhận thức về giá trị rừng và tuyên truyền chính sách
chi trả DVMTR theo Quyết định số 380 đến các sở, ban, ngành có liên quan,
các công ty và cộng đồng. Kết quả khảo sát cho thấy cách hiệu quả nhất đối
với cộng đồng và hộ là thông qua các cuộc họp cộng đồng. Tỉnh Lâm Đồng
có lợi thế về việc chuẩn bị hợp đồng bảo vệ rừng vì việc giao đất rừng cho hộ
đã được bắt đầu từ những năm 1990 và cơ chế quản lý đã có từ lâu. Tuy
nhiên, quá trình lập hồ sơ để xác định ranh giới, giao đất, cần phải có nhiều
thời gian và kinh phí. Quy hoạch sử dụng đất đóng góp cho việc giải quyết cơ
bản vấn đề thiếu đất nông nghiệp canh tác của người dân trong vùng, xác định
được tính phù hợp của đất cho nơng nghiệp và lâm nghiêp̣ để phát triển bền
23
vững. Tuy nhiên, năng suất nông nghiệp ở một số nơi trong lưu vực vẫn còn
thấp cần nghiên cứu thêm để xác định vấn đề và đưa ra giải pháp thích hợp.
Thơng tư sớ 80/2011/TT-BNNPTNT, ngày 23/11/2011 hướng dẫn
phương pháp xác đinh
̣ tiề n chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường rừng cho chủ rừng, hô ̣
nhâ ̣n khoán theo Nghị định số 99/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ.
Nghiên cứu xác đinh
̣ hê ̣ số hiêụ chỉnh mức chi trả dich
̣ vu ̣ môi trường
rừng ở Đăk Lăk của GS.TS Vương Văn Quỳnh Trường Đa ̣i ho ̣c lâm nghiêp̣
theo phương pháp so sánh tương đố i, xác đinh
̣ các hê ̣ số hiê ̣u chỉnh mức chi
trả DVMRT theo các tiêu chí. Nguồ n gố c rừng, tra ̣ng thái rừng, mu ̣c đích sử
du ̣ng, mức đô ̣ khó khăn trong bảo vê ̣ rừng, nhằ m để khuyế n khích bảo vê ̣ và
phát triể n rừng với những DVMT ngày càng tố t hơn theo Nghị định số
99/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chiń h phủ.
Hoạt động chi trả DVMTR là lin̉ h vực mới, Viê ̣t Nam mới chỉ thực
hiện từ năm 2008. Do vậy, các nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này còn it́
ỏi, nhưng đã đươ ̣c nhiề u nhà khoa ho ̣c trong và ngoài nước quan tâm, với
những công triǹ h nghiên cứu vừa qua là cơ sở khoa ho ̣c cho quá trình nghiên
cứu và thực hiê ̣n chính sách chi trả DVMTR cho những năm tiế p theo.
1.3.4. Vai trò hỗ trợ, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế trong việc xây dựng và
thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở Việt Nam
Ngay từ khi hình thành Chủ trương xây dựng chính sách chi trả
DVMTR. Chính phủ Việt Nam đã xác định rõ vai trò quan trọng của việc hợp
tác quốc để giúp đỡ thúc đẩy xây dựng chính sách chi trả DVMTR của Việt
Nam. Tổ chức Winrock International đã tham gia triển khai ngay từ đầu, giúp
đỡ Việt Nam xây dựng chính sách chi trả DVMTR rất kịp thời và toàn diện cả
về kinh nghiệm tổ chức, nội dung chun mơn và tài chính nên đạt được hiệu
quả rất thiết thực. Đồ ng thời, tổ chức Winrock International hỗ trợ cho các