BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------------
TRỊNH GIANG THANH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CANH TÁC
RỪNG NÔNG LÂM KẾT HỢP TẠI HUYỆN VĂN CHẤN,
TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------------
TRỊNH GIANG THANH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CANH TÁC
RỪNG NÔNG LÂM KẾT HỢP TẠI HUYỆN VĂN CHẤN,
TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60620201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. PHẠM VĂN ĐIỂN
Hà Nội, 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của chính bản thân tơi,
được sự hướng dẫn của PGS.TS. Phạm Văn Điển. Các số liệu và kết quả nghiên
cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các
thơng tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2013
Tác giả
Trịnh Giang Thanh
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu luận văn gặp nhiều khó khăn, tơi đã nhận
được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của các thầy, cơ giáo, cơ quan, gia đình và bạn
bè về cả tinh thần và vật chất, nhờ đó tơi đã hồn thành bản luận văn này.
Lời đầu tiên, tơi xin được bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
thầy giáo PGS.TS. Phạm Văn Điển đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tơi vượt qua
những khó khăn trong q trình nghiên cứu để hồn thành luận văn này.
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới:
- Các Thầy giáo, cô giáo trong khoa Lâm Học, Khoa đào tạo Sau đại học
Trường Đại học Lâm Nghiệp đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, truyền đạt những
kinh nghiệm, đóng góp cho tơi nhiều ý kiến q báu để tơi hồn thành bản luận
văn này.
- Lãnh đạo, cùng toàn thể cán bộ huyện Văn Chấn đã tạo mọi điều kiện
giúp đỡ tơi trong q trình học tập và nghiên cứu.
Tơi xin được bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia
đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên và tạo điều kiện để tôi an tâm học
tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2013
Tác giả
Trịnh Giang Thanh
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan ...................................................................................................... i
Lời cảm ơn ........................................................................................................ ii
Mục lục ............................................................................................................. iii
Danh mục các bảng .......................................................................................... vi
Danh mục các hình .......................................................................................... vii
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................ 2
1.1. Trên thế giới ............................................................................................... 2
1.1.1. Một số quan điểm về hiện trạng và hiệu quả rừng nông lâm kết hợp .... 2
1.1.2. Thành quả nghiên cứu ............................................................................. 5
1.1.3. Tồn tại của nghiên cứu rừng NLKH ..................................................... 14
1.2. Ở Việt Nam .............................................................................................. 14
1.2.1. Một số quan điểm về hiện trạng và hiệu quả của rừng NLKH ............. 14
1.2.2. Thành quả nghiên cứu ........................................................................... 16
1.2.3. Tồn tại của nghiên cứu rừng NLKH ..................................................... 23
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 24
2.1. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................. 24
2.1.1. Về lý luận .............................................................................................. 24
2.1.2. Về thực tiễn ........................................................................................... 24
2.2. Giới hạn nghiên cứu ................................................................................. 24
2.2.1. Về địa bàn nghiên cứu........................................................................... 24
2.2.2. Về đối tượng và nội dung nghiên cứu ................................................... 24
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 24
2.3.1. Đánh giá hiện trạng rừng NLKH .......................................................... 24
iv
2.3.2. Đánh giá hiệu quả của rừng NLKH ...................................................... 25
2.3.3. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả rừng NLKH ...25
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 25
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu ................................................................ 25
2.4.2. Phương pháp điều tra hiện trường các loại rừng NLKH ...................... 26
2.4.3. Phương pháp tính tốn và xử lý số liệu................................................. 27
2.4.4. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường ........................ 28
2.4.5. Một số phương pháp đề xuất giải pháp ................................................. 30
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 32
3.1. Điều kiện tự nhiên .................................................................................... 32
3.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................ 32
3.1.2. Địa hình, địa mạo .................................................................................. 32
3.1.3. Điều kiện khí hậu .................................................................................. 33
3.1.4. Tài nguyên ............................................................................................. 33
3.2. Điều kiện kinh tế và xã hội ...................................................................... 36
3.2.1. Kinh tế ................................................................................................... 36
3.2.2. Lao động, việc làm ................................................................................ 36
3.2.3. Cơ sở hạ tầng ......................................................................................... 37
3.2.4. Thực trạng xã hội .................................................................................. 38
3.3. Tình hình sản xuất nơng lâm nghiệp ........................................................ 41
3.3.1. Tình hình sản xuất nơng nghiệp ............................................................ 42
3.3.2. Tình hình sản xuất lâm nghiệp .............................................................. 42
3.4. Những thuận lợi và khó khăn của xã Nậm Lành ..................................... 43
3.4.1. Thuận lợi ............................................................................................... 43
3.4.2. Khó khăn ............................................................................................... 43
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 46
v
4.1. Hiện trạng rừng NLKH ............................................................................ 46
4.1.1. Phân loại, diện tích và phân bố ............................................................. 46
4.1.2. Các hoạt động canh tác và quản lý........................................................ 48
4.1.3. Cấu trúc và sinh trưởng rừng NLKH .................................................... 50
4.1.4. Năng suất và sản lượng ......................................................................... 57
4.2. Hiệu quả của rừng NLKH ........................................................................ 58
4.2.1. Hiệu quả kinh tế - xã hội của rừng NLKH ............................................ 58
4.2.2. Hiệu quả môi trường ............................................................................. 64
4.2.3. Hiệu quả tổng hợp của các loại hình rừng NLKH ................................ 65
4.3. Một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả rừng NLKH ............ 66
4.3.1. Cấu trúc hợp lý cho rừng NLKH .......................................................... 66
4.3.2. Giải pháp điều chỉnh lớp thảm thực vật ................................................ 73
4.3.3. Giải pháp tác động vào đất rừng ........................................................... 75
4.3.4. Giải pháp về tổ chức kỹ thuật và công nghệ ......................................... 78
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ....................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
STT
Trang
3.1
Hiện trạng diện tích các loại đất đai ở xã Nậm Lành
34
4.1
Một số loại rừng NLKH tại khu vực nghiên cứu
46
4.2
4.3
4.4
4.5
4.6
4.7
4.8
4.9
Một số hoạt động canh tác và quản lý loại rừng NLKH tại khu
vực nghiên cứu
Lịch mùa vụ của các loài cây trồng trên các loại rừng NLKH
Một số chỉ tiêu bình quân của lớp phủ thực vật của các loại
rừng NLKH
Năng suất và sản lượng của các loại rừng NLKH
Chỉ tiêu hiện tại lợi nhuận ròng và xếp hạng theo NPV của các
loại rừng NLKH
Chỉ tiêu tỷ suất giữa thu nhập - chi phí và xếp hạng theo BCR
của các loại rừng NLKH
Chỉ tiêu tỷ lệ lãi suất hồi quy và xếp hạng theo IRR của các
loại rừng NLKH
Chỉ tiêu thu nhập bình quân năm và xếp hạng theo NPV/năm
của các loại rừng NLKH
48
50
52
58
60
61
62
62
4.10 Điểm đánh giá hiệu quả môi trường của các loại rừng NLKH
65
4.11 Chỉ số hiệu quả tổng hợp của các loại rừng NLKH
66
4.13
Yêu cầu về tổng độ giao tán độ che phủ và thảm mục của các
loại rừng NLKH mong đợi
4.14 So sánh cấu trúc hiện tại và cấu trúc mong đợi của loại rừng NLKH
72
73
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Tên hình
STT
Trang
4.1
Chiều cao lớp phủ thực vật của các loại rừng NLKH
53
4.2
Độ tàn che tầng cây cao của các loại rừng NLKH
54
4.3
Độ che phủ của cây bụi thảm tươi của các loại rừng NLKH
55
4.4
Độ che phủ của thảm mục của các loại rừng NLKH
56
4.5
Chỉ số diện tích tán của các loại rừng NLKH
57
4.6
4.7
Trồng xen Bồ đề Sắn Gừng Quế Trám trắng và Sa nhân theo
băng dải
Sơ đồ luân canh nương rẫy của người dân ở xã Nậm Lành
74
77
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Canh tác nông lâm kết hợp (NLKH) là một hướng đi có triển vọng ở
trung du và vùng núi Việt Nam, nhằm giải quyết nhu cầu về lâm sản và bảo
vệ môi trường sinh thái. So với một số dạng rừng khác, rừng NLKH có những
ưu điểm nổi trội vì nó là một hệ sinh thái (HST) rừng, có thể cung cấp nguồn
sống cho người dân với thời gian cho thu nhập nhanh . Vì vậy, phát triển rừng
NLKH đã trở thành một xu thế và một phương thức sử dụng đất được chú ý
nhiều.
Việc nghiên cứu hai chỉ tiêu cấu trúc, kinh tế khơng chỉ có ý nghĩa
đánh giá hiện trạng của rừng mà còn giúp cho việc cải thiện cấu trúc, thơng
qua đó đạt được những mục tiêu về kinh tế . Mặc dù vậy, cho đến nay ở
huyện Văn Chấn – tỉnh Yên Bái vẫn còn thiếu những nghiên cứu về những
vấn đề nêu trên. Hạn chế này đã làm cho nhiều khu rừng NLKH chưa phát
huy tốt các chức năng kinh tế và phòng hộ, tính ổn định của rừng NLKH chưa
cao.
Để góp phần giải quyết những vấn đề bức xúc nêu trên, Đề tài: “Đánh
giá hiện trạng và hiệu quả canh tác rừng nông lâm kết hợp tại huyện Văn
Chấn, tỉnh Yên Bái” được thực hiện nhằm xác định một số mơ hình rừng
nơng lâm kết hợp có triển vọng. Phương hướng của Đề tài là: đánh giá cấu
trúc rừng NLKH, xác định một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của loại
rừng này. Tiếp theo là đề xuất mơ hình cấu trúc rừng hợp lý và giải pháp kỹ
thuật, kinh tế - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng. Vì hạn , chế
về thời gian và kinh phí, đề tài chỉ thực hiện tại xã Nậm Lành, huyện Văn
Chấn, tỉnh Yên Bái, với sự tập trung vào bốn loại rừng NLKH phổ biến.
2
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Một số quan điểm về hiện trạng và hiệu quả rừng nông lâm kết hợp
(1)Rừng nông lâm kết hợp:
Thuật ngữ rừng NLKH mới xuất hiện trong khoảng 10 năm trở lại đây,
sau khi thuật ngữ NLKH được nhận thức rõ và phổ biến.
Theo FAO (1996) [37]: “NLKH là tên gọi chung cho các hệ thống và
kỹ thuật sử dụng đất, trong đó những cây thân gỗ sống lâu năm (cây gỗ, cây
bụi, các cây thuộc họ cau dừa, tre nứa) được kết hợp một cách có tính tốn
trên cùng một đơn vị kinh doanh với các loài thân thảo và chăn ni. Sự kết
hợp này có thể tiến hành đồng thời hoặc kế tiếp nhau về mặt không gian và
thời gian. Trong các hệ thống NLKH, cả hai yếu tố sinh thái học và kinh tế
tác động qua lại lẫn nhau với các bộ phận hợp thành nên hệ thống đó ”.
Theo FAO (1998): “rừng NLKH (Agroforest) là rừng được trồng cây
nông nghiệp với sự tương tác qua lại giữa các thành phần của nông nghiệp
và lâm nghiệp trong một bối cảnh của quản lý tài nguyên thiên nhiên”.
(2)Hiện trạng rừng nông lâm kết hợp:
Canh tác cây thân gỗ cùng với cây trồng nơng nghiệp trên cùng một
diện tích là một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế
giới. Theo King (1987), thời trung cổ ở châu Âu đã tồn tại một tập quán phổ
biến là “ chặt và đốt” rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây nông
nghiệp hoặc sau khi thu hoạch nông nghiệp. Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại
ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ 19 và vẫn còn ở một số vùng của Đức đến tận
những năm 1920.
Tại Châu Á, Trung Quốc được coi là một trong những “cái nôi” nông
nghiệp phương Đông. Khi lần theo dấu vết trong quá khứ ở giai đoạn đầu của
3
nông nghiệp lúc sơ khai, người ta nhận ra rằng canh tác cây gỗ kết hợp với
cây nông nghiệp đã có từ rất lâu đời. Vào triều đại nhà Hán (từ 206 trước
công nguyên đến năm 220 sau công nguyên), người ta đã khuyến cáo phát
triển cây gỗ cùng với chăn nuôi và canh tác cây nông nghiệp (Zhu Zhaohua,
Fu Maoyi và C.B.Sastry, 2001). Lịch sử cổ đại Trung Quốc có ghi lại và mơ
tả khá tỷ mỉ về những kỹ thuật trồng xen. Vào cuối triều đại nhà Minh một
cuốn sách nổi tiếng là “Nongzheng Quanshu” (bản luận hoàn chỉnh về canh
nông) được Hsu Kunangchhi (1640) viết, đã mô tả một kiểu canh tác kết hợp
giữa đậu tương và các hàng cây dẻ gai (Castanopsis sp) và cho biết bằng cách
này cả hai cây đều sinh trưởng rất hoàn chỉnh, dẻ có thân thẳng, đậu tương
cho năng suất cao.
Ở vùng nhiệt đới của nước Mỹ, trong quá trình canh tác người ta đã bắt
chước điều kiện của rừng nhằm đạt được những ảnh hưởng có lợi của hệ sinh
thái của rừng. Họ trồng tầng trên cùng là dừa, tầng dưới là cam, quýt và tầng
thấp hơn là cà phê hoặc ca cao, cây mùa vụ có ngơ, lạc...và cuối cùng là mặt
đất được che phủ bằng các loại cây thấp, có thân bị như bí...đây là hệ thống
kết hợp thân thiện của nhiều lồi cây, mỗi một tầng có cấu trúc riêng, ngoại
hình tầng thứ giống như rừng hỗn giao nhiệt đới.
Người Hunnunoo của nước Philipin có kinh nghiệm sử dụng phương
pháp du canh một cách kinh tế. Ở những nơi chặt rừng để canh tác nông
nghiệp người ta cân nhắc kỹ lưỡng để lại các cây gỗ nhất định cho tới cuối vụ
lúa, nó sẽ tạo nên sự che bóng nhờ những cây gỗ cịn lại đó, chống sự phơi
nắng thái quá bề mặt đất. Các cây gỗ là bộ phận không thể thiếu của hệ thống
canh tác của người hunnunoo và nó có thể được trồng hoặc giữ lại từ rừng cũ,
nó cịn tác dụng cung cấp gỗ xây dựng, củi đun (Conklin, 1957). Các hệ thống
canh tác như vậy còn gặp ở nhiều vùng nhiệt đới ẩm của châu Á. Cịn ở châu
Phi, ở phía nam Nigeria người ta trồng khoai, ngơ, bí ngơ và đậu với nhau
4
được sự che trở của tầng cây gỗ (Forde, 1937). Ở miền Tây Nigeria, người
dân Yoruba đã sử dụng hỗn hợp cây hoà thảo, cây dạng bụi và cât gỗ, họ cho
rằng hệ thống đó là phương tiện bảo tồn năng lượng của con người bằng cách
sử dụng tối đa khoảng khơng gian có giới hạn, đồng thời nhằm bảo vệ độ phì
của đất cũng như chống xói mịn ngăn chặn sự mặn hoá đất (Ojo, 1966).
Sau phương thức du canh là sự ra đời của phương thức Taungya.
Nguồn gốc của phương thức này được gắn với một từ địa phương của ngơn
ngữ Myanma có nghĩa là canh tác đồi núi. Sự ra đời của phương thức
Taungya ở vùng nhiệt đới được xem như là một dấu hiệu báo trước cho các
phương thức nông lâm kết hợp sau này (NairP.K.R,1987). Vào năm 1806 khi
Miến Điện còn là một bộ phận của Ấn Độ thời thuộc địa của Anh, ông U.
Pankle đã cho người dân trồng rừng Tếch và trồng cây lương thực giữa các
hàng cây khi rừng chưa khép tán để giải quyết nhu cầu lương thực hàng năm.
Đây là phương pháp theo ơng gọi là Taungya, sau đó ơng truyền lại phương
thức này cho nhà cai trị Anh ở Ấn Độ là Dictrich Brandis, từ đó phương thức
này được lan truyền và áp dụng rộng rãi ở ấn Độ và Nam Phi. Theo
Vonhesmer (1966 và 1970) và King (1979) thì hầu như ở các vùng nhiệt đới
bắt đầu từ phương thức này. Có thể nói Taungya là một bước phát triển từ du
canh sang nông lâm kết hợp (NLKH ), và hiện nay phương thức Taungya đã
phân hoá và phát triển thành các hệ thống, các phưong thức nông lâm kết hợp
đa dạng như hiện nay.
(3) Hiệu quả kinh tế rừng nông lâm kết hợp:
Hiệu quả của một mô hình canh tác là tổng lợi nhuận thu được từ một
đơn vị diện tích và trong một đơn vị thời gian của mơ hình canh tác. Hiệu quả
của một mơ hình canh tác thường được xác định bằng cách lấy tổng các
nguồn lợi thu được trừ đi những khoản chi phí cần thiết để thực hiện các hoạt
động canh tác. Theo phương pháp phân tích kinh tế động của P.K.R.Nair
5
(1993) [44], HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh doanh. Mục tiêu của sản xuất là đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, trong khi nguồn lực sản xuất xã
hội ngày trở lên khan hiếm. Việc nâng cao HQKT là một đòi hỏi khách quan
của mọi nền sản xuất xã hội.
1.1.2. Thành quả nghiên cứu
(1) Nghiên cứu về hiện trạng rừng nông lâm kết hợp:
Xu hướng phát triển của nông lâm kết hợp được ICRAF tổng kết và
giới thiệu vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX ở Đông Nam Á, khi các
quốc gia trong khu vực đang nỗ lực tìm kiếm các giải pháp thay thế cho hệ
thống canh tác nương rẫy (ASB)1. Thực chất của sự phát triển này là chuyển
hoá nương rẫy thành " rừng cho những sản phẩm nông nghiệp" (nông nghiệp
ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, không phải chỉ đơn thuần là các sản phẩm
ngũ cốc). Nông nghiệp rừng được phát triển bởi những lý do cơ bản sau:
- Canh tác nương rẫy ngày càng tỏ ra không bền vững khi mật độ dân
số cao và áp lực khai thác sức sản xuất vào đất rừng ngày càng cao. Ví dụ, tại
Việt Nam, người H'Mơng thường được coi là tiên phong về canh tác nương
rẫy. Họ đã làm thay đổi những cánh rừng rộng lớn thành đất đồng cỏ trong
hơn một thế kỷ qua. Hiện tại, hầu như khơng cịn rừng cho những hoạt động
này của họ nữa. Từ những hiểu biết cơ bản về bản chất của nông nghiệp du
canh, việc loại bỏ dần du canh và thay thế nó bằng các dạng nơng nghiệp bền
vững hơn là một lý do để có sự chuyển hố này. Như vậy có thể thấy, canh tác
du canh sẽ bị đào thải bởi chính nó trong q trình canh tác bởi cả hai lý do
kinh tế và xã hội.
- Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá đã từng bước đẩy lùi nền sản
xuất tự cung tự cấp. Trong cơ chế mới, sản xuất ngũ cốc khơng cịn là con
đường độc nhất để bảo đảm an ninh lương thực hay cứu đói ở vùng cao mà có
thể thơng qua trao đổi những sản phẩm khác của hệ thống sử dụng đất mới này.
6
- Về phương diện sinh thái - nhân văn, cơ hội cùng tồn tại là bản chất tự
nhiên. Đây chính là cách thức để con người sống "đồng thuận" với thiên nhiên
theo cách lựa chọn khơn ngoan hơn.
Có thể nhận thấy rất rõ xu hướng của hệ thống nông nghiệp rừng là
nhằm mục tiêu phát triển lâm sản ngoài gỗ. Cơ sở khoa học của nông lâm kết
hợp trong lựa chọn cây lâu năm là những cây gỗ đa tác dụng. Có hai điểm cần
đặc biệt chú ý về sự tham gia của các cây gỗ đa tác dụng. Một là, chúng cung
cấp nhiều loại sản phẩm hàng hoá từ một hay nhiều bộ phận của cây gỗ. Hai là,
cây đa tác dụng cung cấp nhiều lợi ích về sinh thái, môi trường và các dịch vụ
khác. Bởi vậy, cây đa tác dụng thường đóng vai trị trọng tâm trong nơng lâm
kết hợp. Vai trị trọng tâm này khơng chỉ biểu hiện ở những sản phẩm do chính
nó cung cấp mà điều quan trọng hơn là chính những cây đó tạo mơi trường
(tiểu hồn cảnh) cho nhiều lồi thực vật khác cho lâm sản ngoài gỗ tồn tại và
phát triển. Song mây, cây dược liệu, cây ăn quả, cây cảnh, Ca cao, Cao su,
Quế... thậm chí cả việc trồng nấm nhân tạo cũng cần có mơi trường này.
(2) Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế và xã hội rừng nông lâm kết hợp
HQKT là một trong những chỉ tiêu quan trọng, là mục tiêu của hoạt
động canh tác. Tuy nhiên, việc xác định chính xác HQKT cũng khơng đơn
giản, ngay trong điều kiện thí nghiệm HQKT cũng biến động, nó phụ thuộc
vào nhiều nhân tố khách quan như: biến động về giá cả vật tư, thiết bị và các
yếu tố chi phí đầu vào cũng như những biến động thị trường của các sản phẩm
bán ra v.v… Còn trong điều kiện thực tế sản xuất ngoài những nhân tố ảnh
hưởng trên, HQKT còn phụ thuộc vào biến động điều kiện thời tiết từng năm,
trình độ kỹ thuật của người dân, mức độ tác động của thiên tai v.v… Cho nên
để đánh giá HQKT người ta đã đưa ra nhiều phương pháp khác nhau, từ điều
tra thu thập thông tin đến xử lý, phân tích đánh giá hiệu quả.
Về phương pháp điều tra: Năm 1987 hội nghị quốc tế về RRA được tổ
chức tại trường đại học Khonken (Thailand), hội nghị đã thảo luận để thống
7
nhất về phương pháp luận của RRA trong phân tích đánh giá các dự án nông
lâm nghiệp (NLN). Tiếp theo đó PRA được bổ sung và phát triển rộng rãi,
khẳng định vai trị của nó như là một cơng cụ để đánh giá các dự án. Trong
thời gian này Gilmour (1990) [39] đã tổng kết các phương pháp tiếp cận lấy
nông dân làm trung tâm (People centred Appraisal). Đây cũng chính là cơ sở
của PRA ở Trung đơng và Bắc Phi để đánh giá các dự án lâm nghiệp thừa kế
kinh nghiệm của J.Theis và H.M.Grady (1992), A.Palinswang (1992). Mặc dù
chưa có phương pháp thích hợp hơn để thay thế RRA và PRA, nhưng cũng
phải nói rằng những phương pháp này cịn có hạn chế nhất định như khơng có
khả năng đánh giá bản chất của những vấn đề kỹ thuật.
R.Rhoader (1992) [47] đã vận dụng phương pháp đánh giá nơng thơn
có sự tham gia của người dân PRA để xây dựng phương pháp “từ nông dân
trở lại với nông dân”. Phương pháp này tỏ ra có nhiều ưu điểm, các thông tin
được kiểm tra chéo nhiều lần qua đánh giá lẫn nhau của người dân.
Nair (1993) [44] đã hoàn thiện phương pháp “từ nông dân trở lại với
nông dân” để quản lý và sử dụng đất. Bằng công cụ PRA, kết hợp với phương
pháp thống kê phân tích, W.Laquidon và H.R.Watson (1987) [42] đã đưa ra
được những kết luận của nơng dân về các mơ hình canh tác trên đất dốc
(SALT) ở vùng Mindanao (Phillipine). Gần đây W.Rolla (1994) [48] đã đề
xuất phương pháp đánh giá tác động kinh tế xã hội và môi trường ở
Phillipine. Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là sử dụng phương pháp phân
tích đa diện của Nikamp (1987) [46]. Phương pháp cho phép đánh giá hiệu quả
tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và sinh thái đối với các hệ canh tác. Tuy
nhiên, phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định. Khi kết hợp các
chỉ tiêu với nhau trong chỉ tiêu tổng hợp chung có thể xảy ra hiện tượng các
chỉ tiêu thứ yếu lấn át các chỉ tiêu quan trọng do các chỉ tiêu đưa vào tham gia
tính tốn khơng đồng nhất.
8
(3) Nghiên cứu về hiệu quả môi trường rừng nông lâm kết hợp
HQMT mà rừng NLKH mang lại được thể hiện ở nhiều mặt, đó là: khả
năng giữ nước, bảo vệ đất chống xói mịn v.v…Những vấn đề này cũng được
nhiều tác giả nghiên cứu.
a) Khả năng giữ nước của đất rừng
Nước thấm vào đất sẽ chiếm lĩnh các khoảng hổng khơng khí trong đất,
sau đó dần dần chuyển động xuống phía hướng mạch nước ngầm. Lượng
nước do ảnh hưởng của trọng lực chảy xuống phía dưới đó là nước trọng lực.
Một số dạng nước khác được giữ lại trong đất dưới ảnh hưởng của năng lượng
bề mặt của đất và dưới ảnh hưởng của lực mao quản. Đó là dạng nước hấp
phụ chặt, hấp phụ hờ, nước mao quản.
Theo Rode và Koloskốp, độ trữ ẩm hấp phụ cực đại là lượng nước lớn
nhất mà đất giữ lại nhờ lực hấp phụ, hoặc nói một cách khác là lượng nước
lớn nhất của nước liên kết chặt. Theo Lêbêđev, độ trữ ẩm phân tử cực đại là
lượng nước lớn nhất được giữ lại trong đất nhờ lực phân tử bao gồm nước hút
ẩm khơng khí cực đại và nước màng. Theo Rôđe (1952,1963,1969), Rôzôp
(1936), Astapôp (1943), Katriski (1970) độ trữ ẩm cực đại là lượng nước lớn
nhất mà đất giữ lại được sau khi nước trọng lực đã rút chảy và khơng có hiện
tượng dâng mao quản từ dưới mạch nước ngầm lên.
Nghiên cứu về khả năng giữ nước của đất rừng, Trung Quốc thường
dùng lượng nước bão hoà phi mao quản trong đất rừng để tính tốn, theo kết
quả nghiên cứu, Hà Đông Ninh (1991) - dẫn theo Bùi Hiếu (2002) [13], mỗi
ha đất rừng tàng trữ được lượng nước là 641-679 tấn/năm. Trung tâm thực
nghiệm Gunnarsholt giới thiệu công trình nghiên cứu về chu kỳ tính tốn độ
ẩm đất tại rừng dựa trên ngun tắc: tính tốn thể tích lớp bề mặt, phẫu đồ thể tích
thế năng nước trong đất.
9
Nhìn chung những nghiên cứu về khả năng giữ nước của đất của các
tác giả là đa dạng, bước đầu đã có những kết quả nhất định có thể áp dụng vào
thực tế NLN.
b) Khả năng bảo vệ đất chống xói mịn
Cơng trình nghiên cứu đầu tiên về xói mịn đất và dòng chảy được thực
hiện bởi nhà bác học Volni người Đức trong thời kỳ 1877 đến 1885 (Hudson
N, 1981[15]). Những ơ thí nghiệm được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng
của nhiều nhân tố như thực bì, loại đất, độ dốc mặt đất, lượng mưa tới dòng
chảy và xói mịn đất. Trong cơng trình này Volni cũng nghiên cứu ảnh hưởng
của loại đất và độ dốc mặt đất tới dịng chảy và xói mịn đất. Tuy nhiên, phần
lớn các kết luận chưa được định lượng một cách rõ ràng.
Bằng các thí nghiệm trong phịng, Ellison (Hudson N, 1981 [15]) thấy
rằng các loại đất khác nhau có biểu hiện khác nhau trong các pha của xói mịn
đất do nước. Ellison là người đầu tiên phát hiện ra vai trò của lớp phủ thực vật
trong việc hạn chế xói mịn đất và vai trò cực kỳ quan trọng của hạt mưa rơi
đối với xói mịn. Phát hiện của Ellison đã mở ra một phương hướng mới trong
nghiên cứu xói mịn đất, đã làm thay đổi quan điểm nghiên cứu về xói mịn và
khẳng định khả năng bảo vệ đất của lớp thảm thực vật. Nó đã mở ra phương
hướng sử dụng cấu trúc thảm thực vật trong các biện pháp chống xói mịn
nhằm bảo vệ độ phì của đất. Các nghiên cứu xói mịn bắt đầu chuyển sang
nghiên cứu định lượng, xác định cơ chế xói mịn , tìm cơng thức tốn học để
mơ phỏng q trình xói mịn. Nhờ các phương tiện hiện đại người ta đã tiến
hành nghiên cứu xói mịn khơng chỉ trong điều kiện tự nhiên mà cả trong điều
kiện nhân tạo (mưa nhân tạo, độ dốc nhân tạo, độ che phủ nhân tạo). Các nhà
nghiên cứu nổi tiếng trong giai đoạn này là: Ellison (Hudson N, 1981[15]),
Wischmeier W.H, (1978) [50], Kirkby M.J và Chorley (1967) [41]…
Kết quả quan trọng của nghiên cứu xói mịn và khả năng bảo vệ đất
trong giai đoạn này là xây dựng được phương trình mất đất ở trường Đại học
10
Tổng hợp Pardiu (Mỹ) vào cuối năm 1950 (Hudson N, 1981[15]). Sau đó
phương trình này được W.H.Wischmeier hồn chỉnh dần (Wischmeier W.H,
(1978) [50]). Phương trình mất đất đã làm sáng tỏ vai trị của từng nhân tố
ảnh hưởng tới xói mịn. Nó cịn có tác dụng định hướng cho nhiều nghiên cứu
nhằm xác định quy luật xói mịn và nghiên cứu các mơ hình canh tác bền
vững ở các khu vực có điều kiện địa lý khác nhau. Tuy nhiên, sử dụng
phương trình mất đất phổ dụng vẫn gặp phải những khó khăn nhất định địi
hỏi phải có những nghiên cứu bổ sung để điều chỉnh các hệ số cho phù hợp
với điều kiện địa lý, địa chất, thổ nhưỡng, tập quán canh tác và đặc tính cây
trồng ở từng địa phương.
Kết quả nghiên cứu của G. Fiebiger (1993) [38] xác nhận rằng, nguy cơ
xói mịn đất dưới tầng cây gỗ có thể tăng lên do giọt mưa dưới tán rừng có
kích thước lớn hơn. Những lồi cây có phiến lá to (như lá tếch – Techtona
grandis) thường tạo ra các giọt nước ngưng đọng với kích thước lớn, nên khi
rơi từ tán lá trên cao xuống sẽ có sức công phá bề mặt đất lớn hơn so với sức
công phá của giọt mưa tự nhiên trên đất trống. Loài Albizzia falcatarica với
tầng tán cao hơn 20 m so với mặt đất, tạo ra giọt mưa có năng lượng gây xói
mịn bằng 102% so với năng lượng của giọt mưa ở nơi trống. Loài
Anthocephalus chinensis với phiến lá to và tầng tán cao 10 m, lại tạo nên
những hạt nước mưa có năng lượng gây xói mịn bằng 147% so với năng
lượng của hạt mưa rơi tự nhiên (G. Fiebiger, 1993 [38]). Vì vậy, một trong
những tiêu chí chọn loại cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn ở vùng nhiệt đới
là chọn cây có tán lá dày rậm nhưng phiến lá phải nhỏ, càng nhỏ càng tốt.
Những nghiên cứu khác cho thấy rằng: cây bui, thảm tươi và vật rơi rụng có
vai trị rất lớn trong việc hạn chế xói mòn đất. Nếu chúng bị phá trụi hoặc bị
lấy đi khỏi đất rừng thì tác dụng hạn chế xói mịn đất của rừng sẽ giảm. FAO
(1994a, 1994b) [8], [9] đã tổng kết về nhiều tài liệu nghiên cứu về xói mòn
11
đất dưới các loại rừng và các kiểu sử dụng đất khác nhau và đã chỉ ra rằng,
q trình tích lũy sinh khối là cơ chế sinh vật học chủ yếu để khống chế xói
mịn đất.
Ở Trung Quốc, trong lĩnh vực nghiên cứu hiệu quả nuôi dưỡng nguồn
nước, bảo vệ đất của rừng phòng hộ đã đề cập nhiều về ảnh hưởng của tán
rừng đối với động năng của mưa dưới góc độ năng lượng (Dư Tân Hiểu, 1991
[53]); đã phân tích tác dụng của bộ rễ cây trên bề mặt đất dốc đối với sự ổn
định của thành phần cơ giới để nghiên cứu tác dụng khống chế xói mịn trọng
lực của rừng dưới góc độ lực học; nghiên cứu về hệ số độ thô của bề mặt đất
rừng để phân tích tác dụng cản trở làm chậm tốc độ dòng chảy trên mặt đất
rừng (Trương Hồng Giang, 1993 [52]). Lý Xuân Dương (1991 – dẫn theo Vu
Chí Dân và Vương Lễ Tiên, 2001 [51]) đã sử dụng các phương pháp đóng
đinh, phương pháp vịng nhuộm màu, phương pháp so sánh, phương pháp
rãnh định lượng, để xác định lớp đất mặt bị mất trên bề mặt đất của 96 bãi đo
dòng chảy khác nhau thuộc khu Mạo Nhi Sơn, sau đó lấy lượng ngăn giữ
nước của thảm thực vật và lượng hút giữ nước của thảm mục làm biến số để
xây dựng mơ hình hồi quy phi tuyến tính về lượng đất xói mịn.
(4) Nghiên cứu về rừng NLKH
Trên thế giới, lịch sử phát triển NLKH có từ rất lâu, khó có thể xác
định một cách chính xác thời điểm mà tại đó cội nguồn của các hệ thống
NLKH ra đời. Mặc dù vậy, người ta vẫn thừa nhận rằng sự hình thành các hệ
thống NLKH cận đại gắn liền với sự hình thành và phát triển của hai nghành
khoa học: nông học và lâm học. Tiền sử NLKH là ở Châu Âu, từ thời trung cổ
nhân dân đã có tập quán là chặt hạ cây rừng, phát bãi, phá rừng làm nương
rẫy sau đó trồng cây nơng nghiệp kết hợp cây gỗ (có thể gieo hạt cây gỗ
trước, đồng thời hoặc sau khi đã trồng cây nông nghiệp). Hệ thống này được
phát triển phổ biến ở Phần Lan cho tới cuối thế kỷ XIX và được duy trì ở một
số vùng trên nước Đức cho đến tận những năm 20 của thể kỷ XX.
12
Đã có nhiều tác giả định nghĩa về NLKH như: Cete – 1977, King và
Chedler – 1978, Comtre – 1979…Song định nghĩa hiện nay được coi là đầy
đủ và được thừa nhận rộng rãi là định nghĩa của Lundgren B.O – 1982 như
sau: “NLKH là tên gọi chung cho hệ thống kỹ thuật sử dụng đất, trong đó
những cây thân gỗ sống lâu năm (cây gỗ, cây bụi, các cây họ cau – dừa, tre –
nứa,…) được kết hợp một cách có tính tốn trên cùng một đơn vị diện tích
kinh doanh với các lồi cây thân thảo hoặc chăn ni”. Sự kết hợp này có thể
tiến hành đồng thời hoặc kế tiếp nhau về mặt không gian và thời gian. Trong
hệ thống NLKH, cả yếu tố sinh thái học và yếu tố kinh tế có tác dụng qua lại
lẫn nhau với các bộ phận hợp thành hệ thống đó”.
Như vậy, ta có thể nhận thấy đặc điểm chủ yếu của hệ thống NLKH đó là:
- NLKH thơng thường có hai hay nhiều lồi cây (có thể gồm cả thực vật
và động vật) nhưng ít nhất một trong số chúng phải là loài cây gỗ sống lâu năm.
- Một hệ thống NLKH ln có hai hoặc nhiều sản phẩm đầu ra.
- Chu kỳ của hệ thống NLKH luôn lớn hơn 1 năm.
- Một hệ thống NLKH dù đơn giản nhất cũng phức tạp hơn là một hệ
thống độc canh cả về phương diện kinh tế học và sinh thái học (bao gồm cả
cấu trúc và chức năng sinh thái học).
NLKH có vai trị quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề về lương
thực, thực phẩm, hạn chế suy giảm về tài nguyên rừng, bảo vệ và nâng cao độ
phì của đất. Chính vì lẽ đó, mà ngay từ các kỳ họp năm 1967 và 1969 của tổ
chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) đã quan tâm đến vấn đề này
và đi đến một sự thống nhất đúng đắn là: “áp dụng các biện pháp NLKH là
phương pháp tốt nhất để sử dụng đất rừng nhiệt đới một cách hợp lý, tổng
hợp, nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động dư
thừa đồng thời thiết lập lại cân bằng sinh thái của môi sinh” [36].
Một trong những nghiên cứu thành công là : đã tìm ra hệ thống canh tác
kỹ thuật trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững đã được trung
13
tâm đời sống nông thôn Bapstit Mindanao philipin tổng kết, hoàn thiện và
phát triển từ những năm 1970 đến nay. Cho đến năm 1992, đã có bốn mơ hình
tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc được các tổ
chức quốc tế ghi nhận đó là:
- Mơ hình SALT1 (Slopping Agriculture Land Technology) đây là mơ
hình tổng hợp trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thực. Kỹ
thuật này với cơ cấu cây trồng gồm: 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên
(cây nông nghiệp) + 50% cây nông nghiệp hàng năm.
- Mơ hình SALT2 (Simple Agro - Livestock Technology) đây là mơ hình
kinh tế nơng súc kết hợp đơn giản với cơ cấu sử dụng đất là 40% dành cho sản
xuất nông nghiệp + 40% cho chăn nuôi + 20% làm nhà và chuồng trại.
- Mơ hình SALT3 (Sustainable Agro - forest Land Technology) đây
là mơ hình NLKH bền vững với cơ cấu sử dụng đất gồm 40% đất dành cho
nông nghiệp + 60% dành cho lâm nghiệp. Mơ hình canh tác này địi hỏi
phải có sự đầu tư cao cả về nguồn lực, vốn đầu tư cũng như kiến thức, kỹ
năng và kinh nghiệm.
- Mơ hình SALT4 (Small Agro – fruit Livehood Technology) đây là mơ
hình kỹ thuật sản xuất nông nghiệp kết hợp với cây ăn quả trên quy mơ nhỏ.
Trong mơ hình này, ngồi đất dành cho trồng cây lương thực, trồng cây lâm
nghiệp, hàng rào xanh, còn dành ra một phần đất để trồng cây ăn quả với cơ
cấu sử dụng đất gồm: 60% đất dành cho lâm nghiệp + 15% đất dành cho nông
nghiệp + 25% đất dành cho cây ăn quả.
Để đánh giá các hệ thống NLKH hiện có vào tháng 9 năm 1982
chương trình điều tra thống kê các hệ thống NLKH (A.F.S.I – Agroforestry
Systems Inventory) được đưa vào hoạt động. Kết quả của chương trình này
cho phép ICRAF xây dựng hệ thống phân loại của các hệ sử dụng đất trên
thế giới, với những hệ thống phân loại dựa trên cơ sở: cấu trúc, chức năng,
14
tương quan KT - XH, trình độ quản lý và ảnh hưởng sinh thái học của hệ
thống. Trên cơ sở phân loại đó, các nhà khoa học đã phân loại các hệ thống
và các phương thức NLKH trên thế giới bao gồm:
+ Hệ Nông – Lâm: cây trồng bao gồm cả cây gỗ, cây bụi và các cây
thân thảo (Những cây nông nghiệp, công nghiệp và cây lâm nghiệp)
+ Hệ Lâm – Súc: cây gỗ, đồng cỏ và chăn nuôi dưới tán cây gỗ
+ Hệ Nông – Lâm – Súc: các cây nông nghiệp, lâm nghiệp kết hợp với
đồng cỏ chăn nuôi gia súc
+ Các hệ thống khác (các vùng trồng cây đa dụng, nuôi ong với cây gỗ,
nuôi trồng thủy sản với cây gỗ)
NLKH đã được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới. Tuy
nhiên, việc xây dựng các hệ thống NLKH và áp dụng các phương thức canh
tác phù hợp với các điều kiện sinh thái, nhân văn từng vùng, từng khu vực
khác nhau vẫn đang là vấn đề cần thiết được tiếp tục nghiên cứu. Hơn nữa, để
đánh giá hiệu quả của các mơ hình NLKH, sự phù hợp của các phương thức
canh tác cũng cần được thảo luận và thống nhất.
1.1.3. Tồn tại của nghiên cứu rừng NLKH
Mặc dù đã đạt được một số thành quả, song những nghiên cứu về rừng
nông lâm kết hợp cịn một số tồn tại sau:
- Cịn ít nghiên cứu về hiện trạng cấu trúc, tái sinh, sinh trưởng cũng
như mối quan hệ qua lại giữa các thành phần trong rừng nông lâm kết hợp
- Chưa xác định rõ ảnh hưởng của nhiều nhân tố, chủ yếu tập trung đến
hiệu quả canh tác rừng nông lâm kết hợp
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Một số quan điểm về hiện trạng và hiệu quả của rừng NLKH
(1) Quan điểm về hiện trạng rừng nông lâm kết hợp
15
Quan niệm về rừng NLKH còn khá mới, chưa được nhiều tác giả nhắc
đến. Theo Phạm Văn Điển (2004) [6]: “rừng NLKH là rừng có sự tham gia
của cây lâm nghiệp với cây nơng nghiệp hoặc vật ni, trong đó độ tàn che
của tán lá cây gỗ sống lâu năm chiếm từ 30% trở lên, chiều cao của cây gỗ
(cây lâm nghiệp, cây ăn quả) từ 5 mét trở lên”.
Phân bố số cây theo đường kính, phân chia tầng thứ và phân bố số cây
theo chiều cao, những đặc trưng này thường được mô tả theo đơn vị lâm phần
của Đồng Sỹ Hiền (1974) [11]. Theo tác giả, đó là: “tổng thể những cây hình
thành một khoảnh rừng thuần nhất nhiều hay ít. Vì thế, trong thực tiễn rừng
tự nhiên nhiệt đới nước ta chỉ cần có những cây dù khác loài khác tuổi mọc
thành rừng, nghĩa là cùng nhau sinh trưởng trên một đơn vị diện tích nào đó
với một mật độ nhất định, hình thành một tàn che thì có thể tạo thành hồn
cảnh rừng và khoảnh rừng ấy hình thành một đơn vị sinh vật học, một lâm
phần có quy luật xác định”. Luận điểm này đã được các nhà nghiên cứu cấu
trúc rừng tự nhiên nước ta vận dụng trong các cơng trình khoa học của mình.
(2) Quan điểm về HQKT
HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh về mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế. Mục đích sản xuất KT - XH là đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao về vật chất và tinh thần của toàn xã hội khi nguồn lực sản xuất xã hội
ngày càng trở lên khan hiếm, yêu cầu công tác quản lý kinh tế là phải nâng
cao chất lượng hoạt động kinh tế dẫn đến xuất hiện các phạm trù HQKT.
(3) Quan điểm về HQMT
Đánh giá HQMT là cơng cụ thơng tin có nhiệm vụ phân tích, xác định
HQMT, các chi phí mơi trường và tổn thất tài nguyên thiên nhiên là do hoạt
động của con người gây ra. Theo tác giả Nguyễn Thành Bang (1995) [1],
HQMT chính là hiệu quả về mặt sinh thái mà rừng mang lại trong việc tăng
lượng nước thấm vào đất, giảm thiểu q trình xói mịn trong q trình phát
triển của rừng.
16
1.2.2. Thành quả nghiên cứu
(1) Nghiên cứu về hiện trạng
Nhiều tác giả trong nước đã tập trung nghiên cứu đặc điểm cấu trúc
rừng nhằm phục vụ kinh doanh, phòng hộ ổn định, sản xuất lâu dài liên tục.
Có thể điểm qua một số cơng trình như sau:
Trần Ngũ Phương (1970) [22] đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của
thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát
về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam (1961÷ 1965) trong đó nhân tố cấu trúc
đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành.
Đào Công Khanh (1996) [17], Bảo Huy (1993) [16] đã căn cứ vào tổ
thành lồi cây mục đích để phân loại rừng phục vụ cho việc xây dựng các
biện pháp lâm sinh. Lê Sáu (1996) [28] đã dựa vào hệ thống phân loại của
Thái Văn Trừng kết hợp với hệ thống phân loại của Loeschau, chia rừng ở
khu vực Kon Hà Nừng thành 6 trạng thái.
Trong những cơng trình nghiên cứu về cấu trúc rừng tại Việt Nam,
đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu của tiến sĩ khoa học Nguyễn Văn
Trương về “Quy luật cấu trúc rừng hỗn lồi” được cơng bố vào năm 1983
[33]. Theo tác giả, nghiên cứu đặc điểm lâm học của rừng phải tập trung làm
rõ những vấn đề về thành phần lồi cây, tìm hiểu về cấu trúc của từng loại
rừng, cấu trúc đứng, cấu trúc đường kính của rừng, phân bố số cây và tổng
diện ngang thân cây trên mặt đất, cấu trúc các nhóm loài cây, sinh thái loài
cây, tái sinh và diễn thế các thế hệ cây rừng. Từ đó dẫn đến những kết luận
logic cần thay đổi những biện pháp xử lý rừng có hiệu quả, vừa cung cấp
được gỗ, vừa ni dưỡng và tái sinh được rừng, thêm cơ sở khoa học để góp
phần giải đáp tốt bài tốn có ý nghĩa chiến lược đối với nghề rừng ở nước ta.
Trong nghiên cứu về cấu trúc đứng, ông không đi theo con đường cũ
của Paul maurand, W.Richards, Thái Văn Trừng là nghiên cứu cấu trúc đứng