Tải bản đầy đủ (.pdf) (65 trang)

Đánh giá tình trạng và phân bố một số loài thú quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên thần sa phượng hoàng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (9.09 MB, 65 trang )

Đánh giá tình trạng và phân bố một số lồi thú quý hiếm tại khu bảo tồn
thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
SVTH: Lương Anh Tuấn 2011; GVHD: Đồng Thanh Hải. LV7748

1


ĐẶT VẤN ĐỀ
Thú quý hiếm ở Việt Nam gồm có 90 loài và phân loài, thuộc 22 họ
(Sách đỏ Việt Nam, 2007), trong đó có rất nhiều lồi đặc hữu như: Voọc
mông trắng, Voọc mũi hếch, Chà vá chân xám, Voọc đầu vàng...
Về tình trạng các lồi thú q hiếm trong sách đỏ Việt Nam năm 2007
đã thống kê có 5 loài thú đã bị tuyệt chủng hoàn toàn hoặc tuyệt chủng trong
tự nhiên và 85 loài đang bị đe dọa diệt vong ở các mức độ khác nhau, nhiều
loài đang đứng trước bờ vực của sự tuyệt chủng nếu như khơng có sự quan
tâm đúng mức.
Nhận thức được các giá trị rất lớn về mặt bảo tồn, kinh tế cũng như sinh
thái chính phủ Việt Nam đã có nhiều biện pháp nhằm bảo tồn các loài động
vật hoang dã như bảo tồn nội vi, ngoại vi, hay bằng pháp chế song những mối
đe doạ tuyệt chủng của những loài thú quý hiếm là rất lớn, chúng thường
xuyên phải đối mặt với các mối đe doạ như: Săn bắn trái phép sử dụng làm
thuốc, thức ăn, buôn bán… Và đáng lưu ý nhất là sinh cảnh sống của chúng
không ngừng bị thu hẹp do các hoạt động như: Khai thác gỗ, đốt rừng làm
nương rẫy, chăn thả gia súc tự do,… từ đó làm suy giảm số lượng các lồi thú
đặc biệt là các loài thú quý hiếm.
Khu rừng Thần Sa - Phượng Hồng có tính đa dạng sinh học cao, có
nhiều lồi động thực vật q hiếm. Hiện tại, nguồn tài nguyên thiên nhiên này
đang bị xâm hại khá nghiêm trọng. Trong những năm gần đây, công tác quản
lý bảo vệ rừng đã được quan tâm và thực hiện một cách tốt hơn. Tuy nhiên,
do địa hình núi đá hiểm trở, phức tạp trong khi lực lượng kiểm lâm mỏng, địa
bàn quản lý rộng nên công tác bảo vệ rừng thường xuyên gặp khó khăn, rừng


trong khu vực vẫn tiếp tục bị đe doạ. Mức độ đe dọa đối với hệ sinh thái rừng
và các loài động thực vật quý hiếm vẫn đang ở mức cao. Các loài thú lớn nhìn
chung đã cạn kiệt. Các lồi động vật đặc hữu hầu như khơng cịn thấy xuất
hiện ở khu rừng Thần Sa - Phượng Hoàng. Các loài thú quý hiếm hiện cịn lại
trong khu bảo tồn như Gấu, các lồi trong bộ Linh trưởng, Beo lửa, Báo
2


gấm... vẫn bị đe doạ một cách nghiêm trọng. Sự tồn tại của các loài thú quý
hiếm này thực sự trở nên mong manh, nếu khơng có các biện pháp bảo vệ bảo
tồn kịp thời và quyết liệt thì nguy cơ tuyệt chủng là rất cao.
Nhằm góp phần làm cơ sở khoa học cho việc phát triển lâu bền nguồn
tài nguyên động vật rừng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá tình
trạng và phân bố một số loài thú quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên
Thần Sa - Phượng Hồng”. Mục đích của đề tài này là xác định thành phần
các loài thú quý hiếm trong khu bảo tồn, đặc điểm phân bố các loài thú quý
hiếm theo các dạng sinh cảnh, từ đó làm cơ sở để đề xuất các biện pháp quản
lý, bảo vệ và phát triển động vật hoang dã nói chung và các lồi thú nói riêng
tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng.

3


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm lớp thú
Lớp Thú tên khoa học là Mammalia, gồm những lồi có tổ chức cao
nhất trong các lớp động vật có xương sống. Chúng có thân nhiệt cao và ổn
định. Hệ thần kinh rất phát triển, đặc biệt là lớp vỏ xám của não bộ. Đẻ con và
nuôi con bằng sữa. Trong một số tài liệu tiếng Việt khác gọi là (lớp) động vật

có vú (động vật hữu nhũ), vì đặc điểm của chúng là có nhiều tuyến dưới da
ngực, gọi là vú, tiết ra sữa để ni con mới sinh. Ngồi ra động vật thuộc lớp
này có 3 xương nhỏ trong tai, da có lơng, răng và não phát triển cao cấp hơn
những lồi lớp khác, tim có 4 thất, và máu nóng.
Lớp Thú có 3 dạng chính do thích nghi với mơi trường sống:
Dạng có đầu, mình, cổ và đi phân biệt rõ ràng: Dạng này chiếm đa số
các loài trong lớp thú, các loài này chủ yếu là sống trên cạn. Ví dụ: Mèo, Thỏ,
Trâu, Bị...
Dạng có cánh: Dạng này thích nghi với mơi trường sống khơng khí, có
khả năng bay lượn. Giữa các ngón của chi, có lớp da, y như cánh của các lồi
chim, Ví dụ: Dơi... Hoặc màng da nối chi trước với cổ, chi sau. Ví dụ: Chồn
bay...
Dạng thích nghi bơi lội: Cơ thể có các chi biến đổi thành các vây. Lớp
da thì trở nên trơn, bóng hơn. Ví dụ: Cá voi, Cá heo, và một số khác...
1.2. Thành phần loài thú ở Việt Nam
Các cơng trình đã được cơng bố về thống kê thành phần loài thú ở Việt
Nam phải kể đến là:
“Khảo sát thú ở Miền Bắc Việt Nam” của Đào Văn Tiến (1985), đã
phân tích các mẫu vật thú sưu tầm được ở 12 tỉnh Miền bắc Việt Nam từ năm
1957-1971 và đưa ra danh lục thú ở Miền bắc Việt Nam gồm 129 loài và phân
loài thú thuộc 32 họ 11 bộ.

4


“Những loài gặm nhấm ở Việt Nam” của Cao Văn Sung và cộng sự
(1980) đã thống kê ở Việt Nam có 64 lồi gặm nhấm thuộc 7 họ.
“Kết quả điều tra nguồn lợi thú ở Việt Nam của Đặng Huy Huỳnh và
cộng sự (1981) trong sách “Kết quả điều tra cơ bản động vật Việt Nam” đã
tập hợp các tư liệu điều tra thú ở các tỉnh Miền Bắc Việt Nam lập danh sách

thú Miền Bắc Việt Nam gồm 169 loài thú (202 loài và phân loài) thuộc 32
loài và 11 bộ.
“Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” của Đặng Huy Huỳnh
và cộng sự (1994) đã thống kê ở Việt Nam có 223 lồi thú thuộc 12 bộ, 37 họ
(khơng thống kê các lồi thú biển).
“Danh lục các lồi thú Việt Nam” của Lê Vũ Khôi năm 2000 thống kê
252 loài (289 loài và phân loài) thú ở Việt Nam (khơng thống kê các lồi thú
trên biển).
“Vietnam primate conservations status review 2000. Part1: gibbons”
của Geissman et al.,2000 và “Vietnam primate conservations status review
2000. Part2: Leaf monkeys” của Nadler et al.,2003 đã xem xét lại vị trí phân
loại và tình trạng quần thể của các loài vượn (Hylobatidae) và Vọoc
(Clobinae) ở Việt Nam.
“Bats of Vietnam and Ajacent territories.A indentification manual” của
Borissenko và Kruskop 2003 mơ tả 57 lồi dơi ở Việt Nam.
“Mlekopitausii Vietnama” (thú Việt Nam tiếng Nga) của kyznetsov
2006 thống kê ở Việt Nam 310 loài thú thuộc 44 họ và 14 bộ (kể cả loài thú
biển) đây là danh lục thú Việt nam đầu tiên có thống kê các loài thú biển đã
biết ở vùng Biển Việt Nam.
“Danh lục các loài thú Việt Nam” của Đặng Ngọc Quân và cộng sự
(2008) thống kê 295 loài thú (298 loài và phân loài) thú thuộc 37 họ và 13 bộ
ở Việt Nam (không kể thú biển).

5


Bảng 1.1: Sự phân bố các taxon trong các bộ thú trong sách đỏ Việt Nam
STT

Bộ


Họ

Loài

1

Bộ cánh da - Dermoptera

1

1

2

Bộ Dơi - Chiroptera

2

7

3

Bộ linh trưởng - Primates

3

21

4


Bộ thú ăn thịt - Carnivora

4

24

5

Bộ có vịi - Proboscidea

1

1

6

Bộ móng guốc ngón lẻ -

2

3

3

17

Perissodactyla
7


Bộ móng guốc ngón chẵn Artiodactyla

8

Bộ Tê tê - Pholidota

1

2

9

Bộ Gặm nhấm - Rodentia

2

8

10

Bộ thỏ - Lagomorpha

1

2

11

Bộ Cá voi - Cetacea


1

4

12

Bộ hải ngưu - Sirenia

1

1

22

90

Tổng số

(Nguồn: Sách đỏ Việt Nam, 2007)
1.3. Đặc điểm khu hệ và sinh học sinh thái của các lồi thú Việt Nam
Một số cơng trình nghiên cứu về đặc điểm khu hệ và sinh học sinh thái
của lồi thú Việt Nam có.
“Khảo sát thú Miền Bắc Việt Nam” của Đào Văn Tiến (1985), phân
tích một số đặc điểm khu hệ và sinh thái học thú Miền bắc Việt Nam.
“Những loài gặm nhấm ở Việt Nam”: của Cao Văn Sung và cộng sự
(1980) phân tích một số đặc điểm sinh học sinh thái của loài gặm nhấm Việt
Nam.
“Sinh học và sinh thái các lồi thú móng guốc ở Việt Nam” của Đặng
Huy Huỳnh (1986) mô tả đặc điểm sinh học sinh thái một số lồi thú móng
guốc ở Việt Nam.

6


“The Cat Ba Langur: past, presen and future - the Definenitive report
on trachypithecus polliosephalus, the world’s rearest primate” của Nadler et
al.,2000 giới thiệu một số nghiên cứu hiện trạng quần thể và sinh học, sinh
thái học của loài vượn đầu trắng ở Cát Bà.
“Thú linh trưởng ở Việt Nam” của Phạm Nhật (2002) mô tả đặc điểm
sinh học sinh thái của 25 loaì thú ở Việt Nam.
“Mlekopitausii Vietnama” (thú Việt Nam tiếng Nga) của Kyztov
(2006) ngoài việc xây dựng danh lục thú hoang dã ở Việt Nam gồm 310 loài
thú thuộc 44 họ và 14 bộ kể cả các loài thú biển còn cung cấp nhiều tư liệu
quan trọng về đặc điểm khu hệ và sinh học sinh thái của nhiều loài thú Việt
Nam.
“Sách đỏ Việt Nam và động vật” (2007) mơ tả tình trạng và đặc điểm
sinh học và sinh thái của 90 loài thú đang bị đe dọa diệt vong ở Việt Nam.
“Thú rừng (mamalia) Việt Nam - hình thái và sinh học sinh thái một số
lồi” tập 1 của Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (2008) mô tả đặc điểm sinh học
và sinh thái của nhiều loài thú nhỏ (thú ăn sâu bọ Insectivora, dơi Chiroptera)
ở Việt Nam.
“Động vật chí Việt Nam tập 25: lớp thú - mamalia của Đặng Huy
Huỳnh và cộng sự (2008) mô tả đặc điểm hình thái phân loại và sinh học sinh
thái của 145 loài thú ở Việt Nam thuộc các bộ linh trưởng (Primates), ăn thịt
(Carnivora), móng guốc ngón lẻ (Perissodactyla), móng guốc ngón chẵn
(Artiodactyla), và bộ gặm nhấm (Rodentia).
Như vậy trong suốt 3 thế kỉ qua các nghiên cứu về khu hệ thú ở Việt
Nam đã từng bước phát triển về lượng và về chất. Theo danh lục đầy đủ nhất
(Kuznetsove.,2006), đến nay ở Việt Nam đã thống kê được 310 loài thú thuộc
44 họ và 14 bộ kể cả các loài thú biển. Các nghiên cứu về các đặc điểm sinh
học và sinh thái của các loài cũng đã thu được những kết quả đáng kể góp

phần quan trọng vào việc quy hoạch quản lý bảo tồn phát triển và sử dụng
hợp lí khu hệ thú Việt Nam.
7


1.4. Đặc điểm địa động vật khu hệ thú hoang dã Việt Nam
Việt nam là một bộ phận của phân miền địa lý – động vật Đông Dương
(Indochinese subregion) thuộc miền địa lý động vật Phương Đơng (Oriental
Region hay cịn gọi Miền Ðịa lý - động vật Indômalai (Indomalayan Region).
Phân miền Ðông Dương (bao gồm Miama, Vân Nam, và Tứ Xuyên của Trung
Quốc, Thái Lan, Lào, Việt nam, Campuchia, Đảo Hải Nam, Đài Loan, và
quần đảo Ryukyu).
Theo Đào văn Tiến (1987) và Lê Vũ Khôi (2008) Việt Nam nằm trên
luồng di cư của hai luồng động vật từ Himalaya qua Vân Nam xuống và từ
Malaixia lên, có một khu hệ thú nói chung phong phú, đa dạng. Tính chất này
thể hiện ở mối quan hệ của khu hệ thú Việt Nam với các khu hệ thú lân cận.
Khu hệ thú Việt nam được cấu thành bởi 4 nhóm yếu tố động vật học:
Nhóm yếu tố Ấn Độ - Himalaia (gọi tắt là Himalaia) có ở miền Đơng
Bắc Ấn Độ, Neepan, Mianma, Tây Bắc Vân Nam - Tứ Xuyên (Trung quốc).
Nhóm này mang tính chất ơn đới núi cao.
Nhóm yếu tố Trung Hoa (chủ yếu là Hoa Nam, Trung Quốc) mang
tính chất cận nhiệt đới và có ở khu Đơng Nam Vân Nam, Quảng Tây, Quảng
Đơng và Phúc Kiến.
Nhóm yếu tố đặc hữu của Việt Nam (có thể có cả của Lào hoặc
Campuchia) có tính chất hỗn hợp về tính chất địa động vật học của vùng Bắc
Trung Bộ.
Căn cứ vào các yếu tố địa hình, địa mạo, khí hậu, mơi trường sống, sự phân
bố của thảm thực vật và của các lớp động vật, một số nhà động vật học Việt
nam (Đào Văn Tiến, Đặng Huy Hùynh, Cao Văn Sung, Lê Vũ Khơi...). Việt
Nam có thể chia thành 5 đơn vị địa lý động vật học sau đây:

Khu Đông Bắc: Khu đông bắc thuộc đơn vị địa - sinh học Bắc trung
tâm Đông Dương (theo McKinnon, trong BAP, 1994). Ranh giới giữa khu
Đơng Bắc với khu Tây Bắc - Hồng Liên Sơn là dãy Hoàng Liên Sơn. Do các
dãy núi của khu vực này đều nối tiếp với các dãy núi đá vôi của khu Tứ
8


Xuyên, Vân Nam, Quang Đông, Quảng Tây và Phúc Kiến nên có nhiều yếu tố
Himalaia và ít yếu tốTrung Hoa hơn. Khu hệ thú ở đây gồm một số dạng đặc
hữu sau: Hươu xạ (Moschus berzovskii) Chuột cùi lìa (Scaptonyx fusicaudus),
Vooc

Mũi

Hếch

(Rhinopithecus

avunculus)

Vooc

mơng

trắng

(Trachypithecus delacouri), Vooc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus)
Lửng chó (Nyctereutes procyonoides), Thỏ rừng Trung Hoa (Lepus sinensis),
Cáo lửa (Vulpes Vulpes),...
Khu Tây Bắc - Hoàng Liên Sơn: Khu này phân cách Khu Đơng Bắc bởi

dãy Hồng Liên Sơn và khu Bắc Trường sơn bởi sông cá và cũng thuộc đơn
vị địa sinh học Bắc Trung Tâm Đông Dương với nhiều yếu tố Himalaia và ít
yếu tố Malaixia hơn. Điều này liên quan đến sự di cư của thú cổ xưa ở Kỉ
Pleistoxen theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và ngược lại dọc theo các đường
bộ nối Đơng Dương nói chung và với Việt Nam nói riêng với quần đảo
Malaixia. Dãy Hồng Liên Sơn đã ngăn cản sự di trú của thú từ Đông sang
tây hay ngược lại. Khu hệ thú gồm các dạng đặc trưng sau: Vooc
xám(Trachypithecus crepusculus), chuột mù (Typhlomys cinereus), sóc bay
sao (Petaurista elegans), chuột cộc (Eothenomys melenogaster), chuột choắt
(Micromus minutus), Chuột chù cộc (Anourosorex squamipes), chuột chù cộc
(Anourosorex squamipes), chuột chù nước Miền Bắc (Chimarrogale
himalayica), Dìm đi dài (Neotracus sinensis)...
Khu Bắc Trung Bộ (hay BẮc Trường Sơn): Khu vực này có ranh giới
phía nam là Đèo Hải Vân. Điểm nổi bật nhất của khu vực này là có nhiều yếu
tố đặc hữu nhất. Có lẽ đây là do sự hình thành dãy Trường Sơn ở kỉ
Pleistoxten dẫn tới chuyển hẳn khí hậu cận nhiệt đới của Miền Bắc sang khí
hậu cận nhiệt đới của Miền Nam hình thành nhiều ổ sinh thái mới, tạo điều
kiện cho sự phân hóa các lồi động vật. Khu hệ thú gồm các dạng đặc trưng
sau: Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang lớn (Muntiacuv uquangensis),
Vooc Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhesis), Cầy bay (Cynocephalus

9


variegatus), chà và chân xám (Pygathrix cinereus), thỏ vằn Đông Dương
(Nesolagus timminsi)...
Xét chung toàn Miền Bắc Việt Nam (từ Bắc vào đến đèo hải Vân - Bạch
Mã) yếu tố Himalaia trội nhất rồi tới yếu tố đặc hữu, số yếu tố Trung Hoa và
Malaixia khơng lớn. Vì vậy có thể nói Miền Bắc Việt nam có khu hệ thú hỗn
hợp gồm các yếu tố cận nhiệt đới tiếp cận với các yếu tố ôn đới của khu

Phương Bắc và yếu tố nhiệt đới của khu Phương Nam. Khu hệ thú miền Bắc
Việt Nam thuộc khu hệ thú Bắc Trung tâm Đông Dương khác với khu hệ thú
Miền Nam Việt nam thuộc khu hệ thú Nam Trung tâm Đông Dương.
Khu Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: Khu vực này bao gồm cao nguyên
Tây Nguyên và cao nguyên Đà Lạt thuộc Nam trung tâm Đơng Dương
(South Central Indochina bionit) có nhiều yếu tố Malaixia tiếp đến là yếu tố
Ấn Độ, còn yếu tố Trung Hoa ít. Các lồi đặc trưng sau: Voocj bạc Đơng
Dương (Trachypityhecus margarita), Bị xám (Bó porcinus), Bị rừng (Bos
javanicus), Hươu cà toong (Rucervus eldii), Hươu vàng (Axis porcinus), Cheo
cheonapu (Tragulus napu) Cheo cheo Việt nam (Tragulus versicolour) Voi
(Elephas Maximus) Chó rừng (Canis aureus )....
Khu nam Bộ (bao gồm cả Đồng bằng sông Cửu Long): Khu vực này
bao gồm vùng nam trung tâm Đông Dương mang nhiều yếu tố Malaixia, còn
yếu tố Ấn Độ và yếu tố Trung hoa ít. Các lồi đặc trưng có: Tê Giác Java
(Rhinoceros sondaicus), Vọoc bạc (Trachypithecus germaini) Voi (Elephas
maximus) Dơi ngựa ly lê (Pteropus lyei), Dơi ngựa lớn (Pteropus vampyrus),
Sóc đỏ (Callosciurus filaysoni),...
1.5. Tình trạng các lồi thú ở Việt Nam
Sách đỏ Việt Nam (2007) đã thống kê có 5 lồi thú đã bị tuyệt chủng
hoàn toàn hoặc tuyệt chủng trong tự nhiên và 85 loài đang bị đe dọa diệt vong
ở các mức độ khác nhau, chiếm gần 28% tổng số loài thú hoang dã đã biết của
Việt Nam

10


Số loài đã bị tuyệt chủng hoàn toàn (EX): 4 lồi gồm Cầy rái cá
(Sinogale Bennettii), Heo vịi (tapirus indicus), Tê giác hai sừng
(Dicerorhinus sumatreensis), Bị xám (Bos Sauveli)
Số lồi bị tuyệt chủng trong tự nhiên (EW): gồm 1 loài Hươu sao

(Servus nippon)
Số loài rất nguy cấp (CR): 12 loài, Chà vá chân xám (Pygathryx
cinerea), Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng
(Trachypithecus delacouri), Voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus),
Báo hoa mai (Panthera pardus), Hổ (Panthera tigris), Voi (Elephasmaximus),
Tê giác Java (Rhinoceros sondaicus), Hươu xạ (Moschus berezovskii), Trâu
rừng (Bubalis), Sóc bay lơng tai (Belomys Pearsoni) và Bị biển (Dugon
dugon).
Số lồi nguy cấp (EN): 30 loài
Số loài sẽ nguy cấp (VU): 30 lồi
Số lồi ít nguy cấp: 5 lồi
Số lồi cịn thiếu số liệu xếp bậc (DD): 8 loài
1.6. Các mối đe dọa đối với khu hệ thú
Tài nguyên thú nước ta vốn rất phong phú, do nước ta là một nước
nghèo với 80% dân số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp và Lâm nghiệp,
đất nước ta lại trải qua nhiều cuộc chuến tranh khốc liệt kéo dài và nhiều thiên
tai liên tục xảy ra nên để tồn tại bảo vệ và xây dựng đất nước, người dân Việt
Nam đã phải tận dụng hết mức nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước
trong đó có tài nguyên thú hoang dã. Sau chiến tranh kết thúc sự đói nghèo,
dân số tăng nhanh cùng với sự yếu kém trong quản lý bảo vệ nguồn tài
nguyên thiên nhiên đã dẫn đến sự khai thác lạm dụng tài nguyên sinh vật nói
chung và nguồn lợi thú nói riêng (khai thác bằng nhiều phương tiện mang tính
hủy diệt, khai thác với sản lượng lớn và liên tục vượt quá khả năng tự phục
hồi của các quần thể... ). Đồng thời hủy hoại nghiêm trọng các sinh cảnh của
các loài thú hoang dã (phá rừng để lấy đất cấy trồng nông nghiệp, chiếm dụng
11


đất rừng để phát triển các cơng trình cơ sở hạ tầng hoặc phát triển các ngành
sản xuất kinh doanh khác...). Kết quả là tài nguyên thú nước ta giảm sút

nghiêm trọng với nhiều lồi có giá trị kinh tế cao đã bị tuyệt chủng hay đứng
trước bờ vực diệt vong. Những lồi khác thì có số lượng giảm nhiều so với số
lượng trước đây.
1.7. Nghiên cứu ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phƣợng Hoàng
Khu hệ thú KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng chiếm 84% khu hệ thú
tỉnh Thái Ngun, mặt khác ở đây cịn có lồi đặc hữu hẹp đó là Voọc mũi
hếch (Rhinopithecus avunculus). Lồi này phân bố rất hạn chế ở một vài nơi
tách biệt nhau như Hà Giang, Tuyên Quang đến Tây Ninh và ở mức đe doạ
tuyệt chủng khá cao. (phân viện điều tra quy hoạch rừng vùng tây bắc bộ,
2008).
Tuy nhiên nhóm thú q hiếm khá cao, tới 21 lồi trong sách đỏ Việt
Nam năm 2007 và 18 loài trong nghị định số 32/2006/NĐ - CP. Trong số đó
các lồi đang được quan tâm hàng đầu ở Việt Nam như: Voọc mũi hếch
(Rhinopithecus avunculus), Voọc bạc má (Trachypithecus francoisi), Vượn
Hải Nam (Nomacus hainamus), Hươu xạ (Moschus berezovski), Gấu ngựa
(Ursus thibetanus) (Phân viện điều tra quy hoạch rừng vùng Tây Bắc bộ,
2008).
Khu hệ thú linh trưởng tại KBTTN Thần Sa - Phượng Hồng có 7 lồi chiếm
29% trong tổng số các lồi thú có mặt tại đây. Tất cả chúng đều có mặt trong
sách đỏ Việt Nam năm 2007 và nghị định 32 của Chính phủ.

12


Chƣơng 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI
2.1. Điều kiện tự nhiện
2.1.1. Vị trí địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng cách thành phố Thái
Nguyên 40 km về phía Bắc, nằm trên địa bàn 6 xã và 1 thị trấn thuộc huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Bao gồm: Thần Sa, Thượng Nung, Sảng Mộc,
Nghinh Tường, Vũ Trấn, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả.
Khu bảo tồn có ranh giới địa lý là:
105051'05'' đến 106008'38'' kinh độ Đơng;
21045'12'' đến 21056'30'' vĩ độ Bắc.
Có ranh giới giáp với:
Phía Đơng: Giáp huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Phía Tây: Giáp huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Phía Nam: Giáp các xã cịn lại của huyện Võ Nhai.
Phía Bắc: Giáp huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn.
Tổng diện tích khu bảo tồn là: 48.913,66 ha.
2.1.2. Địa hình, địa chất và thổ nhưỡng
2.1.2.1 Địa hình
Khu bảo tồn thuộc vùng núi cao của tỉnh Thái Nguyên, địa hình chia
cắt hiểm trở, núi đá chiếm gần 87% diện tích KBT. Khu vực thuộc phần cuối
cùng phía nam của dãy Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn. Độ cao tuyệt đối trung
bình khoảng 700m.
2.1.2.2. Địa chất và thổ nhưỡng
a. Địa chất
Khu bảo tồn có lịch sử kiến tạo địa chất vào kỷ Đệ Tam, dưới tác dụng
của nhiệt độ, nước, sinh vật và áp suất cùng với sự vận động của vỏ trái đất
các sản phẩm phong hóa phân dị thành 2 dạng đá trầm tích, trầm tích cơ học
(đá sa thạch chiếm tỷ lệ lớn).
13


b. Thổ nhưỡng
Trong khu vực có các loại đât chính sau:
- Đất phù sa không được bồi hằng năm: Phân bố dọc các triền sông.
Tầng dày >100cm, đây là diện tích trồng cây lương thực và hoa màu hàng

năm chủ yếu trong khu vực.
- Đất phù sa ngoài suối: Phân bố ở ngồi các con suối. Là những dải đất
có diện tích hẹp có thành phần cơ giới nhẹ, đất chua, hàm lượng mùn nghèo,
được sử dụng để trồng lúa hai vụ và hoa màu khác.
- Đất dốc tụ thung lũng: Phân bố rải rác dưới chân địa hình đồi núi, độ
dốc địa hình nhỏ. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, có lẫn nhiều mảnh đá dăm.
Phần lớn diện tích đất này được sử dụng để canh tác chè, cây ăn quả và hoa
màu.
- Đất feralit: Bao gồm các lồi đất feralit nâu đỏ trên đá macma trung
tính và bazơ, đất feralit đỏ vàng trên đá macma axít và đất feralit trên đá sét.
2.1.2.3. Khí hậu thuỷ văn
a.Khí hậu:
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa
khô từ tháng 10 đến tháng 5. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000
đến 2.500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1.
Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 34 0C) với tháng
lạnh nhất (tháng 1: 13,2 0C) là 20,8 độ 0C . Tổng số giờ nắng trong năm dao
động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong
năm.
b. Thuỷ văn:
Mật độ sông suối ở đây khá thưa, chủ yếu là các suối nhỏ.
+ Lượng mưa thất thường theo mùa.
+ Do kiểu địa hình núi cao, khí hậu mát mẻ, sự thay đổi của thời tiết
thúc đẩy quá trình phong hố mạnh, vì vậy thực vật ở đây sinh trưởng phát
triển khá phong phú.
14


2.1.3.4. Hệ động vật và hệ thực vật
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng là nơi giao thoa của

nhiều luồng thực vật khác nhau, kết hợp điều kiện khí hậu và địa hình của khu
vực đã tạo nên tính đa dạng, phong phú về thành phần lồi thực vật ở đây.
Hệ động vật trong khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng
thuộc khu hệ động vật vùng Đông Bắc Việt Nam. Đây là hệ động vật đặc
trưng cho hệ sinh thái rừng trên núi đá vơi. Đa số các lồi động vật ở đây có
ưu thế là thích nghi với điều kiện địa hình hiểm trở, có khả năng vận động
kiếm ăn tốt nơi địa hình phức tạp.
2.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội
2.2.1. Dân số, dân tộc và lao động
- Dân số và lao động: Theo thống kê dân số tính đến hết năm 2007,
trong vùng có 20.411 nhân khẩu, sinh sống tại 4.446 hộ gia đình, trên địa bàn
66 thơn bản, thuộc 6 xã và 1 thị trấn, mật độ dân số trong vùng bình qn là:
42 người/km2. Phân bố dân cư khơng đều, đa số các thôn bản tập trung ở
thung lũng, gần sơng suối, có khả năng làm ruộng nước và dọc theo các trục
đường giao thông.
Tổng số lao động trong vùng là 9.101 người, chiếm 44,6% dân số.
Trong đó, lao động nông nghiệp là chủ yếu, chiếm 85,7%, lao động thuộc các
ngành nghề khác bao gồm cán bộ chủ chốt xã, huyện, cán bộ y tế, giáo dục.
- Dân tộc: Trong khu vực có 5 dân tộc chủ yếu là Tày, Dao, Nùng, Kinh,
H’Mơng. Ngồi ra, cịn một số dân tộc khác ít gười như Cao Lan, Sán Dìu.
Dân tộc Tày có số dân đơng nhất với 8.720 người, chiếm 42,4%. Tiếp theo là
dân tộc Dao với 4.816 người, tỷ lệ 23,4%. Dân tộc Nùng có 3.291 người,
chiếm 16,0%. Dân tộc Kinh có 2.193 người, chiếm 10,7%. Dân tộc H’Mơng
có 1.518 người, chiếm 7,4%. Các dân tộc khác còn lại chỉ có 21 người, chỉ
chiếm 0,1%
2.2.2. Giao thơng

15



Giao thơng trong vùng chưa phát triển. Tồn bộ hệ thống giao thơng chỉ có
gần 150 km đường ơ tơ. Trong đó chỉ có 13 km đường nhựa, cịn lại là đường
cấp phối và đường đất. Tất cả các xã trong vùng đều đã có đường ơ tơ đến được
trung tâm xã. Tuy nhiên, chất lượng đường rất xấu nên việc đi lại rất khó khăn,
đặc biệt là trong mùa mưa lũ. Ngồi ra cịn hàng trăm km đường mịn dân sinh
trong các xã, thôn bản, mặt đường nhỏ hẹp, chất lượng xấu.
2.2.3. Y tế
Các xã trong khu vực đều đã xây dựng trạm y tế đặt ở trung tâm xã. Tại
các trạm y tế các xã có 10 bác sỹ, 14 y sỹ, 7 y tá hoạt động khám chữa bệnh
cho nhân dân trong vùng. Ngồi ra cịn có 70 cộng tác viên tham gia y tế cộng
đồng, 9 y sỹ hoạt động y tế học đường. Tuy lực lượng cán bộ y tế đã được
tăng cường nhưng do đội ngũ cán bộ y tế chưa đồng đều, trình độ chuyên môn
chưa cao, cơ sở vật chất và thuốc men cịn thiếu nên cơng tác chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân cũng như cơng tác tun truyền phịng chống dịch bệnh
trong nhân dân cịn hạn chế.
2.2.4. Giáo dục
Tồn bộ khu vực có 27 trường, 275 lớp với 4 cấp học: Mầm non, tiểu
học, phổ thông cơ sở và phổ thông trung học. Các trường ở thị trấn và ở trung
tâm các xã được xây dựng khá khang trang đảm bảo việc dạy và học của giáo
viên và học sinh. Cịn lại một số trường ở các thơn bản, nhất là các lớp tiểu
học chưa được xây dựng kiên cố. Cơ sở vật chất rất thiếu thốn. Việc dạy và
học của giáo viên và học sinh ở đây còn gặp nhiều khó khăn.
2.2.5. Văn hóa - xã hội
Các xã đều có trụ sở UBND xã, 90% các thơn xóm đều đã có nhà văn
hóa. Tuy nhiên, hoạt động văn hóa tại thơn bản khơng có gì đặc biệt. Trong
khu vực có hai điểm họp chợ là chợ Cúc Đường và chợ La Hiên nhưng ở đây
chủ yếu buôn bán những mặt hàng thực phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt.
Nhìn chung trình độ văn hóa của người dân trong khu vực là chưa cao.

16



Chƣơng 3
MỤC TIÊU NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tình trạng và phân bố của các loài thú quý hiếm và các mối đe
dọa làm cơ sở cho công tác quản lý và bảo tồn loài và sinh cảnh tại Khu bảo
tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài của các loài thú quý hiếm ở khu bảo tồn.
- Xác định phân bố của các loài thú quý hiếm ở khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá nhận thức của người dân về loài thú quý hiếm.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thú quý hiếm tại đây.
3.3. Đối tƣợng – địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài thú quý hiếm tại khu bảo tồn thiên
nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng.
Địa điểm nghiên cứu: Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng
Hoàng.
Thời gian nghiên cứu: Luận văn được thực hiện từ ngày 03 tháng 03
năm 2011 đến ngày 14 tháng 05 năm 2011. Tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần
Sa – Phượng Hoàng – Thái Nguyên. Nội dung công việc được chia thành các
giai đoạn:
STT

Nội dung cơng việc

Thời gian

1


Thu thập, phân tích tài liệu và hồn thiện đề cương 23/01/2010nghiên cứu

2

14/02/2011

Điều tra thực địa tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần 15/02/2011Sa- Phượng Hoàng đợt 1.

3

4

27/03/2011

Điều tra thực địa tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần 10/04/2011Sa- Phượng Hoàng, đợt 2

22/04/2011

Xử lý số liệu, hoàn thiện luận văn

23/04/2011
14/05/2011

17


3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.4.1. Công tác chuẩn bị
Tham khảo các tài liệu có liên quan tới khu vực nghiên cứu: Điều kiện
tự nhiên, dân sinh kinh tế, các thông tin, tài liệu liên quan tới khu vực nghiên

cứu.
Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết cho công tác nghiên cứu: Máy ảnh,
GPS, đèn pin, địa bàn, ống nhòm, đèn pin, dây đánh dấu.... Bảng biểu, bộ câu
hỏi phỏng vấn bán định hướng, sổ ghi chép phục vụ cho công tác điều tra.
Các loại bản đồ: Bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ địa hình.
Bản đồ khu bảo tồn tỷ lệ 1/25000.
Quan sát và nhận biết những mẫu vật đang lưu trữ tại phịng tiêu bản
của trường.
Thu thập tài liệu khí hậu thuỷ văn, địa chất, tình hình dân sinh kinh tế có
ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên khu vực.
3.4.2. Phương pháp điều tra thành phần loài
3.4.2.1. Phương pháp phỏng vấn:
Đối tượng phỏng vấn và mục đích phỏng vấn:
Đối tượng phỏng vấn là người dân địa phương, thợ săn tại địa phương,
là những người dân sống quanh vùng đệm của khu bảo tồn và thường xuyên
vào rừng để săn thú, kiếm củi, chăn trâu bò, lấy mật ong, lấy thuốc…
Mục đích phỏng vấn là thu thập được thơng tin sơ bộ về sự có mặt của
các lồi thú và số lượng của chúng. Ngoài ra qua phỏng vấn để biết được các
hoạt động có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên của người dân mà có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới khu hệ thú tại đây.
Nội dung phỏng vấn: (Phụ biểu 1)

18


Một số chú ý trong quá trình phỏng vấn:
Nguyên tắc: Nguyên tắc nhất quán của việc phỏng vấn đó là phải tôn
trọng ý kiến của người dân đưa ra, không được phản bác hoặc tỏ thái độ
khơng vừa lịng, khơng mặc đồng phục kiểm lâm, đặt vấn đề rõ ràng, tránh sự
hiểu lầm là mình đến điều tra, thẩm tra, chất vấn họ.

Trình tự phỏng vấn nhƣ sau:
Bước 1: Để người dân, thợ săn địa phương tự kể những loài thú mà họ đã săn
được, trong đó có gợi ý để người được phỏng vấn mô tả đặc điểm từng loài
,cách nhận biết và địa điểm bắt gặp và săn được thú. Đối với một số loài thú
dễ nhận biết như khỉ, nai hổ, gấu …thì bước này có thể cho ta độ chính xác
cao.
Bước 2: Đưa người được phỏng vấn xem các ảnh màu hoặc hình vẽ màu trong
các tài liệu như tài liệu” Hướng dẫn điều tra thú ngoại nghiệp linh trưởng” của
FFI, “Nhận dạng động vât hoang dã bị buôn bán” của TRAFIC để họ nhận
biết từng lồi hoặc cung cấp, bổ sung thơng tin về nơi gặp, địa điểm gặp
chúng.
Bước 3: Phân tích mẫu vật chết (sọ, da ,lơng, vuốt, sừng..) có đề nghị họ cho
xem những mẫu vật mà họ còn lưu giữ trong nhà.
Các thơng tin thu thập từ q trình phỏng vấn người dân địa phương và thợ
săn được ghi vào mẫu sau: (Phụ lục 2)
3.4.2.2. Điều tra theo tuyến:
Mục đích :
Tuyến điều tra được lập để xác định thành phần loài thú quý hiếm, mối
quan hệ giữa các loài thú quý hiếm và sinh cảnh và các mối đe doạ đến loài
thú quý hiếm.
Nguyên tắc lập tuyến:
Dựa trên bản đồ địa hình, phân bố thảm thực vật, khảo sát thực tế, tôi
tiến hành lập 5 tuyến điều tra. Số tuyến điều tra được tổng hợp như sau:

19


Bảng 3.1: Tổng hợp số tuyến điều tra tại khu vực nghiên cứu

Tuyến


Tọa độ xuất phát

Chiều dài

Tọa độ kết thúc

tuyến

Dạng sinh cảnh đi qua

(km)
Tuyến 01

0593215/2416856

2

Rừng thứ sinh trên núi đất

0592964/2416966
Tuyến 02

0593215/2416291

4,5

rừng thứ sinh trên núi đá vôi

0595306/2415576

Tuyến 03

Rừng thứ sinh trên núi đất,

0589439/2411695

4,5

0591047/2412683

Rừng phục hồi sau nương
rẫy, rừng thứ sinh trên núi
đá vôi

Tuyến 04

0592498/2412497

6

rừng thứ sinh trên núi đá vôi

0592108/2416248
Tuyến 05

0592850/2412368

5

0599735/2411215


2,5

0599245/2411287
Tuyến 07

Rừng thứ sinh trên núi đất,
rừng thứ sinh trên núi đá vôi

0595032/2414110
Tuyến 06

Rừng thứ sinh trên núi đất,

Rừng thứ sinh trên núi đá
vôi

0599735/2411213

5

0599760/2411280

Rừng thứ sinh trên núi đá
vôi, rừng nguyên sinh trên
núi đá vôi

20



Bản đồ 01: bản đồ tuyến điều tra

21


Để điều tra hiện trạng và phân bố của quần thể thú, tiến hành lập các
tuyến điều tra trong khu vực nghiên cứu. Trước hết sử dụng bản đồ hiện trạng
rừng kết hợp với phân bố của thảm thực vật và kết quả phỏng vấn phân chia
ra các dạng sinh cảnh (ở đây đồng nghĩa với kiểu rừng theo các cách phân
chia của Thái Văn Trừng 1978) khác nhau và đánh dấu trên bản đồ.
Trên cơ sở điều tra sơ thám kết hợp với bản đồ vạch ra các tuyến điều
tra và các điểm quan sát.
Dựa vào kết quả điều tra sơ thám kết hợp với bản đồ tỷ lệ 1/50000 tôi
vạch ra các tuyến điều tra và các điểm quan sát. Tôi đã cố gắng chọn tuyến đi
để làm sao thỏa mãn yêu cầu là tương đối đại diện qua các dạng sinh cảnh
trong khu vực nghiên cứu.
Tuyến được lập đi qua các dạng sinh cảnh khác nhau. Tuyến thiết kế ưu
tiên nơi dễ dàng tiếp cận, dễ nhận biết như từ hệ thống đường lớn, đường mịn
sẵn có hoặc gần các con suối, khu vực có độ ẩm cao. Song tuyến điều tra
không được trùng với đường hay sơng suối đó.
Các lồi thú có thời điểm hoạt động kiếm ăn khác nhau. Nên thời gian
quan sát trên tuyến cũng được bố trí theo các pha khác nhau trong ngày, có
thể quan sát ngày hoặc quan sát đêm. Chính vì vậy tiến hành quan sát và thu
thập số liệu trên tuyến vào 2 khoảng thời gian trong ngày là ban ngày và ban
đêm.
Điều tra theo 7 tuyến, mỗi tuyến dài khoảng 2 - 3km, mỗi tuyến điều tra
2 lần, tốc độ di chuyển khoảng 2 - 3km/h. Tùy từng dạng địa hình mà có thể
lập ra các tuyến điều tra loài thú quý hiếm.
Trên các tuyến điều tra quan sát tỉ mỉ bằng mắt thường, ống nhòm để
phát hiện con vật. Đồng thời trong quá trình điều tra trên tuyến tơi cịn quan

sát kỹ hai bên tuyến để xác định các dấu vết để lại của con vật như: dấu chân,
vết nằm, vết ăn, phân,…Tất cả các dấu hiệu này được đo đếm kích thước, mơ
tả hình thái cẩn thận để làm cơ sở xác định loài.

22


Số liệu, mẫu vật sau khi thu thập được trên tuyến điều tra, tra bảng danh
lục các loài thú quý hiếm để nhận biết lồi thú đó, hoặc tham khảo ý kiến của
người dân và các cán bộ kiểm lâm khu bảo tồn để nhận biết lồi thú đó.
Các thơng tin quan sát trong quá trình điều tra theo tuyến được ghi vào
mẫu biểu sau: (Phụ lục 2)
Chú ý:
Trên tuyến được đánh dấu chia đoạn theo cự ly 100m bằng các vật liệu
khơng bị phai mờ do mưa gió như buộc băng nilon đỏ lên cành cây, viết sơn
đỏ lên cây gỗ, phiến đá tảng… để thuận tiện cho việc điều tra lặp lại vào các
thời điểm khác nhau trong ngày.
Tuyến điều tra giám sát trên hiện trường được lập bằng địa bàn và cọc
tiêu.
Biểu điều tra của từng ngày để riêng để khi xử lý số liệu dễ dàng hơn.
3.4.3. Phân bố của các loài thú tại khu vực nghiên cứu
Sử dụng GPS, địa bàn và bản đồ được sử dụng để xác định phân bố của
các loài trong khu vực nghiên cứu. Các thông tin ghi nhận trong quá trình
điều tra bao gồm: Địa điểm bắt gặp, sinh cảnh gặp và thời gian gặp. Các điểm
bắt gặp các loài sẽ được chuyển tải lên bản đồ số để xây dựng bản đồ phân bố
cho các loài Thú quý hiếm.
Kết quả điều tra thực địa được tổng hợp trong biểu sau: (Phụ lục 2)
3.4.4. Đánh giá mối đe doạ đối với khu hệ thú :
Quan sát trực tiếp và phỏng vấn người dân các thông tin về mức độ tác
động của con người vào tài nguyên rừng như: Săn bắt động vật hoang dã, khai

thác gỗ, đốt nương làm rẫy, chăn thả gia súc,... các thông tin thu thập được
ghi vào mẫu biểu sau: (Phụ lục 2)

23


3.4.5. Phương pháp đánh giá nhận thức của người dân.
Qua giao tiếp, và thu thập số liệu từ người dân nhận xét về nhận thức
bảo vệ các loài thú của người dân nơi đây trong việc bảo vệ các loài thú quý
hiếm ở khu bảo tồn. Đánh giá đời sống của người dân nếu khơng có hoạt động
săn bắt cũng như tác động vào sinh cảnh rừng thế nào. Trình độ văn hóa của
người dân đã được nâng cao chưa, từ đó cũng đưa ra được nhận xét về nhận
thức của người dân.
3.4.6. Phương pháp nội nghiệp
Kết quả thu thập được phân tích và xử lý theo từng nội dung nghiên
cứu, trong q trình phân tích và xử lý số liệu chúng tơi có sử dụng một số
phần mền nhý Excel, Photoshop và MapInfo. Ví du: Excel dùng để thống kê
tọa độ trong q trình điều tra trên tuyến, tính tổng điểm cho các mối đe dọa,
Photoshop dùng để chỉnh sử hình ảnh và MapInfo để thiết kế các tuyến điều
tra, xây dựng bản đồ phân bố các loài thú Linh trưởng và bản đồ phân cấp
mức độ đe dọa .

24


Chƣơng 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Thành phần khu hệ thú quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần
Sa – Phƣợng hoàng
Kết quả thu thập được về thành phần thú quý hiếm tại khu bảo tồn dựa

vào các nguồn thông tin khác nhau: Quan sát trực tiếp, quan sát mẫu vật,
phỏng vấn và tham khảo nguồn tài liệu. Kết quả được trình bày ở bảng 4.1
Bảng 4.1. Thành phần các loài thú quý hiếm tại KBTTN Thần Sa –
Phƣợng Hồng
Tên lồi
TT

1
2
3
4
5

6
7
8
9
10

Tên
phổ
thơng
Cu li
lớn
Khỉ
mặt đỏ
Khỉ
vàng
Khỉ
mốc

Voọc
đen má
trắng
Voọc
mũi
hếch
Vượn
đen
Gấu
ngựa
Rái cá
thường

Nguồn
thơng
tin

Tên khoa học

Tình trạng

SĐVN

IUCN

NĐ32

CITES

(3), (4)


VU

VU

IB

II

(1), (2),
(3), (4)

VU

VU

IIB

II

(1), (2),
(3), (4)

LR

LC

IIB

II


(3), (4)

VU

NT

IIB

II

Trachypithecus
francoisi

(1), (2),
(3), (4)

EN

EN

IB

I

Rhinopithecus
avunculus

(3), (4)


CR

CR

IB

II

Nycticebuscouc
ang
Macaca
arctoides
Macaca
mulatta
Macaca
assamensis

Nomascus
hainanus
Ursus
thibetanus

(4)

CR

CR

IB


II

(1), (3),
(4)

EN

VU

IB

I

Lutra lutra

(3), (4)

VU

NT

IB

I

(4)

VU

VU


IB

II

Rái cá
Aonyx cinerea
vuốt bé

25


×