BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH THẢO NHI
GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM:
NGHIÊN CỨU SO SÁNH LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LIÊN BANG NGA VÀ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM:
NGHIÊN CỨU SO SÁNH LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LIÊN BANG NGA VÀ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Định hướng nghiên cứu
Mã số: 60380104
Người hướng dẫn khoa học: Ts. Lê Huỳnh Tấn Duy
Học viên: Nguyễn Thanh Thảo Nhi
Lớp: Cao học Luật, khóa 27
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn và giúp đỡ của Tiến sĩ Lê Huỳnh Tấn Duy. Các trích dẫn trong luận văn
đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những tài liệu tham khảo sử dụng
trong luận văn đều được liệt kê đầy đủ, cụ thể. Những kết luận khoa học của luận
văn chưa từng được ai cơng bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Thảo Nhi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
BLTTHS
CQĐT
CQTHTT
KSV
KTVAHS
TNHS
TTHS
VKS
VKSND
: Bộ luật hình sự
: Bộ luật tố tụng hình sự
: Cơ quan điều tra
: Cơ quan tiến hành tố tụng
: Kiểm sát viên
: Khởi tố vụ án hình sự
: Trách nhiệm hình sự
: Tố tụng hình sự
: Viện kiểm sát
: Viện kiểm sát nhân dân
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ SO SÁNH LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT
NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG
NGA VÀ VIỆT NAM.............................................................................................. 8
1.1. Một số vấn đề lý luận về so sánh luật.......................................................... 8
1.1.1. Lợi ích của việc so sánh luật....................................................................8
1.1.2. Lý do lựa chọn, đối tượng và phạm vi so sánh với pháp luật tố tụng hình
sự Liên bang Nga............................................................................................. 11
1.2. Khái niệm, phân loại nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự........16
1.2.1. Khái niệm nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự......................... 16
1.2.2. Phân loại nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự..........................21
1.3. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giải quyết nguồn tin về tội phạm
trong tố tụng hình sự......................................................................................... 27
1.3.1. Khái niệm giải quyết nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự.........27
1.3.2. Đặc điểm của giải quyết nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự .. 28
1.3.3. Vai trò của giải quyết nguồn tin về tội phạm.......................................... 30
Kết luận Chương 1................................................................................................ 34
CHƯƠNG 2. SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LIÊN BANG NGA VÀ VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI
PHẠM.................................................................................................................... 35
2.1. Thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm......................................... 35
2.1.1. Thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng hình
sự Liên bang Nga............................................................................................. 35
2.1.2. Thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam...................................................................................................... 43
2.1.3. So sánh quy định về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm theo
pháp luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga và Việt Nam.................................... 45
2.2. Các hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm...................................... 49
2.2.1. Các hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng
hình sự Liên bang Nga..................................................................................... 49
2.2.2. Các hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam.............................................................................................. 55
2.2.3. So sánh quy định về các hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm theo
pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và Việt Nam..................................... 57
2.3. Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm..............59
2.3.1. Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp
luật tố tụng hình sự Liên bang Nga.................................................................. 59
2.3.2. Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam........................................................................... 62
2.3.3. So sánh trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm
theo pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và Việt Nam.............................66
Kết luận Chương 2................................................................................................ 69
CHƯƠNG 3. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM TRÊN CƠ SỞ
HỌC TẬP PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA..................70
3.1. Đánh giá quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga về giải
quyết nguồn tin tội phạm.................................................................................. 70
3.1.1. Ưu điểm của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga về giải quyết
nguồn tin tội phạm........................................................................................... 70
3.1.2. Hạn chế của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga về giải quyết
nguồn tin tội phạm........................................................................................... 74
3.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
về giải quyết nguồn tin về tội phạm.................................................................. 77
Kết luận Chương 3................................................................................................ 88
KẾT LUẬN............................................................................................................ 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
LỜI NĨI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết nguồn tin về tội phạm giữ vai trò rất quan trọng trong việc quyết
định có hay khơng dấu hiệu tội phạm, là căn cứ quan trọng để khởi động quá trình
giải quyết vụ án hình sự, đồng thời mang ý nghĩa then chốt, tiền đề cho các cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ
án được thuận lợi, hạn chế tối đa tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm, hạn chế được
số vụ án phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, giữ gìn sự nghiêm minh của pháp luật.
Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh
thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/01/2002 của Bộ chính trị về “một số nhiệm
vụ trọng tâm của cải cách tư pháp trong thời gian tới” đã nêu rõ “Nâng cao chất
lượng công tác điều tra, thực hiện tốt công tác tiếp nhận xử lý tố giác, tin báo tội
phạm…” nhằm không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Tiếp đó Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020” mặc dù không trực tiếp đề cập đến công tác này, cũng đã nhấn
mạnh đến việc “hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp”, trong đó có thủ tục giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đồng thời yêu cầu các cơ
quan có thẩm quyền phải hoàn thành các nhiệm vụ mà Nghị quyết 08 trước đó đã đề
ra.
Nhằm thể chế hóa chiến lược cải cách tư pháp của Bộ chính trị, BLTTHS 2015
đã có những thay đổi tiến bộ trong nội dung cũng như cách thức quy định đối với
công tác giải quyết nguồn tin tội phạm như: quy định chi tiết các khái niệm; bổ sung
cơ quan có thẩm quyền, đồng thời tăng thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố; bổ sung một số quyết định mới: quyết định tạm đình chỉ,
quyết định phục hồi hoạt động giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi
tố; cùng một số quy định khác liên quan đến hoạt động này.
Tuy nhiên, với các quy định của pháp luật hiện hành vẫn chưa xây dựng một
cơ chế giải quyết nguồn tin về tội phạm hữu hiệu, chặt chẽ giữa các CQĐT thuộc
lực lượng Công an nhân dân và giữa CQĐT có thẩm quyền với các cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; giữa các cơ quan có thẩm quyền
tiếp nhận với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố. Bên cạnh đó, một số vấn đề như: Quy định bổ sung thêm VKS là
chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
(điểm c khoản 3 Điều 145) nhưng lại chưa hướng dẫn chi tiết đối với các trường
hợp này, gây ra khó khăn cho VKS khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố, ảnh hưởng đến hiệu quả phịng ngừa tội phạm và lợi ích của người bị
2
hại. Bên cạnh đó, q trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố,
cần thực hiện một số các hoạt động điều tra (Điều 147 khoản 3) mà VKS không
phải cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực này, vậy làm thế nào để cơ quan này thực
hiện có hiệu quả chức năng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố? việc phối hợp với các cơ quan tiến hành điều tra thế nào? vấn đề này hiện nay
vẫn cần được nghiên cứu thêm.
Một quy định khác cũng gây ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm là quy định về trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm của
công an xã sau khi tiếp nhận, tiến hành xác minh sơ bộ ban đầu phải chuyển ngay tố
giác, tin báo đến CQĐT có thẩm quyền, nhưng không quy định cụ thể là bao nhiêu
ngày. Mặt khác Công an cấp xã theo quy định của BLTTHS năm 2015 không thuộc
CQĐT hay cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Chính
vì vậy chủ thể này không chịu sự kiểm sát của VKS dẫn đến trên thực tế có những
vụ, việc sau hơn 10 ngày Công an cấp xã mới chuyển lên CQĐT có thẩm quyền
hoặc Cơng an cấp xã khơng chuyển tin dẫn đến gây nhiều bất cập cho việc giải
quyết nguồn tin về tội phạm hoặc bỏ lọt tội phạm.
Ngoài ra, một số vấn đề như: không lấy được lời khai của đối tượng có liên
quan đến vụ việc phạm tội (do đối tượng bỏ trốn hoặc chưa xác định được đối
tượng) mà đã hết thời hạn giải quyết; thẩm quyền Viện Kiểm sát giải quyết tố giác,
tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố..
Những hạn chế này phần nào ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động giải quyết
nguồn tin về tội phạm, dẫn đến hậu quả hành vi vi phạm pháp luật hình sự khơng bị
phát hiện và xử lý kịp thời, gây bức xúc, làm mất niềm tin của nhân dân đối với vai
trò quản lý của Đảng và Nhà nước.
Việc nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện
hành về công tác giải quyết nguồn tin về tội phạm để làm sáng tỏ về mặt khoa học,
đồng thời nghiên cứu, so sánh pháp luật tố tụng hình sự nước ngồi nhằm học tập,
đưa ra giải pháp hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam, nâng cao hiệu quả của việc áp
dụng các quy định trên thực tiễn có ý nghĩa quan trọng. Qua tìm hiểu các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự nước ngồi về vấn đề giải quyết nguồn tin tội phạm,
tác giả nhận thấy Liên bang Nga có nhiều nét tương đồng trong cách xây dựng, tổ
chức hệ thống tư pháp hình sự với Việt Nam, bên cạnh đó có nhiều điểm tiến bộ
trong vấn đề vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Chính vì những lý do nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Giải quyết
nguồn tin về tội phạm: Nghiên cứu so sánh luật tố tụng hình sự Liên bang Nga
và Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giải quyết nguồn tin tội phạm không phải vấn đề mới trong khoa học pháp luật
TTHS Việt Nam, tuy nhiên đến những năm gần đây vấn đề này mới thật sự chính thức
được quan tâm nhiều hơn. Ngày càng có nhiều bài viết, cơng trình nghiên cứu, tạp chí
khoa học của các chuyên gia luật học bàn luận về vấn đề này như:
Bài báo cơng bố trên các tạp chí khoa học:
Lê Ra (2012), “Cần thống nhất về nhận thức về các khái niệm tố giác, tin báo tội
phạm, kiến nghị khởi tố và các nguồn thông tin về tội phạm”, Tạp chí kiểm sát, số 20,
tr. 32-37. Bài viết làm rõ các khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
và các nguồn thông tin về tội phạm, đồng thời có sự phân biệt rạch rịi giữa nguồn tin tố
giác, tin báo với các loại nguồn tin tội phạm, cụ thể theo tác giả nguồn tin tố giác, tin
báo tội phạm chỉ bao gồm các nguồn tin: Do công dân trực tiếp đến VKS, CQĐT để tố
giác và báo tin về tội phạm; tin báo của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội; tin báo qua
phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài…; người phạm tội tự
thú. Còn loại nguồn tin về tội phạm do CQĐT, VKS; Bộ đội biên phòng, Hả quan,
Kiểm lâm, Lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân
đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát
hiện dấu hiệu của tội phạm, không gọi là nguồn tố giác, tin báo tội phạm mà gọi là
nguồn tin về tội phạm. Tóm lại, Nguồn tin về tội phạm có tính bao qt, rộng hơn
nguồn tố giác, tin báo tội phạm, việc phân loại này giúp ích cho q trình giải quyết
nguồn tin về tội phạm được chính xác, khách quan và thuận lợi hơn.
Hồng Duy Hiệp (2015), “Góp ý chế định về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa
đổi)”, Tạp chí kiểm sát, số 07, Tr.31-34. Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả về
vấn đề tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (thẩm
quyền, quyết định tạm đình chỉ giải quyết…) trong bản dự thảo BLTTHS sửa đổi.
Phạm Văn Gòn (2015), “Một số ý kiến góp ý các quy định trong dự thảo Bộ luật
tố tụng hình sự (sửa đổi) về tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố” , Tạp chí
kiểm sát, số 09, Tr. 36-38. Bài viết thể hiện ý kiến của tác giả về các vấn đề liên quan
đến tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong dự thảo BLTTHS (sửa đổi).
Trương Văn Chung (2015), “Thực tiễn và những khó khăn vướng mắc trong
việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố”, Tạp chí kiểm sát, số
10, Tr.24-27. Bài viết đề cập đến những vấn đề khó khăn vướng mắc mà nghành
kiểm sát gặp phải trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị
khởi tố, từ đó nêu ra quan điểm của tác giả về phương hướng giải quyết, khắc phục
các khó khăn, vướng mắc trên.
4
Mai Đắc Biên (2015), “Vấn đề giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến
nghị khởi tố trong dự thảo bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi”, Tạp chí kiểm sát, số 17,
Tr. 27-32. Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả về vấn đề tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đặc biệt về thủ tục và thời hạn của
hoạt động này theo quy định của dự thảo BLTTHS sửa đổi kết hợp nghiên cứu, so
sánh một số điểm tiến bộ của tố tụng hình nước ngồi. Qua đó khẳng định vai trị
của hoạt động giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố và đưa ra
những kiến nghị phù hợp.
Vũ Văn Giang (2015), “Những nét cơ bản trong Bộ luật tố tụng hình sự một
số nước về tiếp nhận, giải quyết, tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố”,
Tạp chí kiểm sát, số 22, Tr. 53-55. Bài viết tổng cách quy định về vấn đề tiếp nhận,
giải quyết, tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của một số BLTTHS nước
ngồi, trong đó có Liên Bang Nga (quốc gia mà tác giả chọn để so sánh với Việt
Nam làm đề tài luận văn thạc sỹ).
Phạm Thái (2016), “Một số điểm mới về tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp
lý, trường Đại học Luật Tp.HCM, số 08, Tr. 56-62. Bài viết phân tích những hạn
chế của BLTTHS 2003 và tóm tắt, đánh giá những điểm mới trong việc tiếp nhận và
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định của BLTTHS năm 2015.
Luận án, luận văn:
Nguyễn Trọng Nga (2016), Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân,
Luận án tiến sĩ, Hà Nội. Luận án thể hiện quan điểm của tác giả về các hoạt động
tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm
quyền của CQĐT trong quân đội nhân dân. Phân tích các điểm mới của BLHS 2015
và đề xuất các giải pháp tăng cường tính hiệu quả của hoạt động tiếp nhận và giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền của CQĐT
trong quân đội nhân dân.
Nguyễn Quang Hòa (2017), Thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở thực tiễn
địa bàn tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận
văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; các nguyên tắc tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Luận văn đánh giá thực trạng pháp
luật về thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
tại tỉnh Phú Thọ và kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015
5
về thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cũng
như đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định này.
Tuy đã có một số luận văn, luận án và các bài báo, tạp chí khoa học bàn luận về
hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên đa số chỉ
tạm dừng lại ở một số vấn đề thuộc hoạt động này, vẫn chưa có các cơng trình nghiên
cứu khoa học, luận văn nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện vấn đề. Bên cạnh đó, việc giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cũng mới chỉ là một phần của hoạt
động giải quyết nguồn tin tội phạm và sự ra đời của BLTTHS năm 2015 cùng nhiều
quy định mới đã mở ra nhiều vấn đề xung quanh hoạt động giải quyết nguồn tin tội
phạm cần được nghiên cứu sâu như thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tiến hành,
cùng các quyết định liên quan đến hoạt động này. Chính vì vậy, việc nghiên cứu hoạt
động giải quyết nguồn tin về tội phạm dưới góc độ so sánh luật mà tác giả thực hiện là
cần thiết và khơng bị trùng lắp với các cơng trình nghiên cứu đã đề cập.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận
văn Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá, so sánh các quy định của pháp luật TTHS
Liên bang Nga và Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm, luận văn đưa ra
các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến việc giải
quyết nguồn tin về tội phạm trong TTHS.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm
vụ sau:
Thứ nhất, khái quát và hệ thống các vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm,
vai trò, ý nghĩa của hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm ở Liên bang Nga và
Việt Nam.
Thứ hai, nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của BLTTHS Liên bang
Nga và Việt Nam hiện hành về thẩm quyền, các hoạt động, trình tự, thủ tục thời hạn
giải quyết nguồn thông tin về tội phạm. So sánh, đánh giá quy định về các vấn đề
này trong BLTTHS của hai nước.
Thứ ba, phát hiện và đánh giá ưu, nhược điểm các quy định giải quyết nguồn thông
tin về tội phạm ở Liên bang Nga và Việt Nam. Từ đó nghiên cứu, đưa ra một số kiến nghị,
giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm ở Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận
văn Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của BLTTHS Liên bang Nga
và Việt Nam đối với việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.
6
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu và đánh giá những vấn đề xung quanh việc
giải quyết nguồn tin về tội phạm (bao gồm thẩm quyền, hoạt động, thủ tục và thời
hạn) tại Liên bang Nga và Việt Nam dưới góc độ các quy định của pháp luật TTHS
hai nước (chủ yếu là BLTTHS).
Về không gian và thời gian: Luận văn nghiên cứu BLTTHS Liên Bang Nga
hiện hành và BLTTHS Việt Nam (trọng tâm là BLTTHS 2003 và 2015), luận văn
không nghiên cứu thực tiễn hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm của các cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ở hai quốc gia.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp này cho phép tác giả nhận thức rõ hơn về bản
chất của vấn đề giải quyết nguồn tin tội phạm.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như:
Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, đối chiếu; Phương pháp lịch sử; Phương
pháp thống kê. Việc sử dụng các phương pháp này cho phép tác giả nhìn nhận, xem
xét và đánh giá vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau để có cái nhìn tồn diện, khách
quan và sâu sắc vấn đề mà mình nghiên cứu.
Cụ thể các phương pháp nghiên cứu được sửa dụng ở từng chương như sau:
Chương 1: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp
nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài và các
vấn đề chung về giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của luật TTHS Liên
bang Nga và Việt Nam, bao gồm khái niệm nguồn tin về tội phạm, giải quyết nguồn
tin về tội phạm; đặc điểm của việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; vị trí, vai trị và
ý nghĩa của việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng
phương pháp nghiên cứu so sánh, tổng hợp, để đánh giá nội dung từng mục.
Chương 2: Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp phân tích, nghiên cứu so sánh
với phương pháp tổng hợp, thống kê nhằm mục đích phân tích, so sánh và đánh giá
những quy định của pháp luật TTHS Nga và Việt Nam dựa trên các nội dung: Thẩm
quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, các hoạt động được thực hiện để giải quyết
nguồn tin về tội phạm, trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm. Từ
đó làm sáng tỏ những điểm giống và khác trong cách quy định ở hai quốc gia, làm tiền
đề cho nhiệm vụ phân tích ưu, nhược điểm của các quy định này trong chương 3.
Chương 3: Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, mục
đích để đánh giá những ưu, nhược điểm của luật TTHS Nga trong các quy định đối
với việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp
7
hiệu quả nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về giải quyết
nguồn tin về tội phạm.
6. Đóng góp của luận văn
Về các phương diện: lập pháp, áp dụng pháp luật và nghiên cứu, giảng dạy,
học tập.
Luận văn là cơng trình khoa học đầu tiên nghiên cứu nghiên cứu so sánh quy
định đối với vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm trong luật tố tụng hình sự Nga
và Việt Nam. Luận văn có những đóng góp mới như sau:
- Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về giải quyết nguồn tin về
tội phạm theo quy định của luật tố tụng hình sự Nga và Việt Nam.
- Nghiên cứu toàn diện và đầy đủ những quy định của luật tố tụng hình sự Nga
và Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm trên các nội dung cụ thể được quy
định tại luật tố tụng hình sự của hai nước.
- Trên cơ sở phân tích, đối chiếu, tổng hợp các quy định của luật tố tụng hình
sự Nga và Việt Nam, luận văn đã so sánh, đánh giá những điểm giống và khác nhau
ở hai nước, từ đó tìm ra những điểm còn hạn chế trong quy định của luật tố tụng
hình sự Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm.
- Ngồi ra, Luận văn đã có những phát hiện, đánh giá được những điểm tiến
bộ, ưu việt của pháp luật tố tụng hình sự Nga trong quy định đối với vấn đề giải
quyết nguồn tin về tội phạm và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện
những quy định pháp luật của Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm được
rút ra dựa trên quan điểm cá nhân và kết quả nghiên cứu của tác giả.
- Cuối cùng, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo luật. Luận
văn cũng là tài liệu đóng góp bổ ích đối với việc hồn thiện pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam và áp dụng pháp luật của cán bộ làm công tác thực tiễn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, nội dung luận văn được
bố cục thành ba chương:
Chương 1. Lý luận chung về so sánh luật và giải quyết nguồn tin về tội phạm
trong tố tụng hình sự Liên bang Nga và Việt Nam
Chương 2. So sánh quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và
Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm
Chương 3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về giải
quyết nguồn tin về tội phạm trên cơ sở học tập pháp luật tố tụng hình sự
Liên bang Nga
8
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ SO SÁNH LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ
TỘI PHẠM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA VÀ VIỆT NAM
1.1. Một số vấn đề lý luận về so sánh luật
So sánh luật là một trong những phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa
học pháp lý. Phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài hướng đến nhà
nước và quy phạm pháp luật ở các hệ thống pháp luật khác với hệ thống pháp luật
mà người ngiên cứu được học tập, đào tạo hoặc giữa các mơ hình nhà nước khác
nhau, nhằm mục đích phân tích, đối chiếu các hệ thống pháp luật để tìm ra sự tương
đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật đó hướng đến mục tiêu giải thích
nguồn gốc, đánh giá giải pháp của các đối tượng so sánh, phục vụ cho mục đích lý
giải và hồn thiện hệ thống pháp luật của các quốc gia được so sánh. Nghiên cứu so
sánh pháp luật được hiểu là hoạt động nghiên cứu có tính hệ thống về những quy
định pháp luật và truyền thống pháp lý cụ thể trên nền tảng so sánh hoặc làm sáng
tỏ thông tin liên quan giữa hai hay nhiều hệ thống pháp luật, lý giải sự khác biệt và
tăng tính hiểu biết của người nghiên cứu về các mơ hình pháp luật thuộc đối tượng
1
nghiên cứu . Nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngồi là nguồn thơng tin cho hoạt
động so sánh luật, ngược lại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, luật so sánh
chính là động lực, ý nghĩa của phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật nước
ngoài; nhờ có các hoạt động đối chiếu, phân tích đánh giá, các thơng tin có được từ
2
nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngồi trở nên có giá trị hơn .
Một luận văn nghiên cứu so sánh luật nước ngồi địi hỏi phải có sự kết hợp
của nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó so sánh chính là hoạt động chủ đạo.
Việc tìm hiểu về các giá trị, lợi ích khi nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài, lựa
chọn đối tượng pháp luật phù hợp để nghiên cứu so sánh và giới hạn phạm vi
nghiên cứu là rất cần thiết nhằm giúp cho tác giả có các hướng đi đúng đắn trong
việc nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn.
1.1.1. Lợi ích của việc so sánh luật
Hoạt động chính của so sánh luật nước ngoài là nghiên cứu về sự khác biệt và
tương đồng giữa luật pháp của các quốc gia khác nhau. Cụ thể hơn, nó liên quan đến
việc nghiên cứu các hệ thống pháp luật khác nhau đang tồn tại trên thế giới, bao gồm
tất cả hệ thống luật chung, thông luật, dân luật và luật tôn giáo. Nó bao gồm việc mơ tả
và phân tích các hệ thống pháp lý nước ngồi, ngay cả khi khơng có việc so sánh rõ
1 Đỗ Minh Khơi, Dương Hồng Thị Phi Phi, Phạm Thị Phương Thảo (2016), Phương pháp, quy trình và kỹ
thuật nghiên cứu cơ bản trong khoa học pháp lý, NXB Đại học quốc gia TP.HCM, Tr 54,56.
2 Trần Thị Ngọc Hà, Đỗ Thị Mai Hạnh, Nguyễn Thị Hằng, Phan Hồi Nam, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Ngơ
Kim Hoàng Nguyên (2017), Luật so sánh, tài liệu hướng dẫn học tập, NXB Lao động, tr. 41, 42.
9
3
ràng được thực hiện . Trong thời đại chủ nghĩa quốc tế, tồn cầu hóa kinh tế và dân chủ
hóa hiện nay tầm quan trọng của luật so sánh đã tăng lên rất nhiều, khơng chỉ vì mục
đích củng cố mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới mà cịn bởi những lợi
ích mà nó đem lại. Một số lợi ích của việc nghiên cứu và so sánh luật nước ngoài:
Thứ nhất, mang lại giá trị tri thức nói chung, tạo cơ sở giúp hiểu biết sâu hơn
về nội luật.
Có thể nói bất kỳ ngành khoa học nào trên thế giới cũng lấy tri thức là điểm
đến trên con đường nghiên cứu của mình. Tương tự như vậy, nghiên cứu, so sánh
pháp luật nước ngoài trước hết nhằm cung cấp tri thức khoa học. Tri thức về các
lĩnh vực khoa học sẽ phát triển hơn rất nhiều thơng qua q trình so sánh.
Trước hết nghiên cứu pháp luật nước ngồi cho chúng ta cái nhìn tồn diện về
hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới thơng qua việc tìm hiểu, phân tích
các mơ hình pháp luật. Tiếp theo đó, bằng lý thuyết về phân nhóm hệ thống pháp
luật thành các mơ hình khác nhau và nghiên cứu các mơ hình pháp luật cơ bản,
nghiên cứu so sánh sẽ giúp cho người nghiên cứu có một bức tranh tồn cảnh về các
hệ thống pháp luật trên thế giới cũng như có những nhận định chung về hệ thống
pháp luật của mỗi quốc gia mà mình đang so sánh. Từ đó, xác định được những
điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật.
Bên cạnh đó nghiên cứu so sánh luật nước ngồi không chỉ giúp nhà nghiên
cứu bổ sung tri thức về các hình thái, hệ thống pháp luật mới mà cịn nâng cao sự
hiểu biết của những tri thức có sẵn ở các mức độ khác nhau. Đồng thời giúp các nhà
nghiên cứu tiếp cận hệ thống pháp luật của nước mình theo cách thức khác với
những gì đã quá quen thuộc với họ. Ngoài những tri thức và hiểu biết về pháp luật,
luật so sánh còn cung cấp những tri thức của nhiều lĩnh vực khoa học khác. Trong
quá trình tiến hành so sánh pháp luật, để hiểu được một cách đúng đắn các quy định
của pháp luật nước ngoài cũng như phục vụ cho mục đích học tập, tìm ra các giải
pháp pháp lý cho hệ thống luật của mình, người nghiên cứ buộc phải tìm hiểu các
nhân tố ảnh hưởng đối với pháp luật như: chính trị, xã hội, lịch sử, điều kiện kinh tế,
vị trí địa lý; ngơn ngữ… Hơn nữa q trình so sánh luật cịn đòi hỏi người ngiên
cứu phải đưa ra các kết luận về điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống
pháp luật mà nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tương đồng và khác biệt đó chính
là do sự khác biệt hoặc tương đồng về kinh tế, chính trị, xã hội, tơn giáo, lịch sử, địa
lí… Chính vì vậy kiến thức có được từ những lĩnh vực khoa học khác vừa có ý
nghĩa là nền tảng cho việc so sánh các hệ thống pháp luật nước ngoài đồng thời
3
Ratno Lukito, Comparative law, truy cập ngày
19/08/2019.
10
cũng là những giá trị mà thơng qua q trình phân tích, nghiên cứu, đối chiếu pháp
luật, các nhà nghiên cứu so sánh, bổ sung và hoàn thiện được.
Thứ hai, hội nhập và thống nhất pháp luật.
Hài hịa hóa pháp luật và nhất thể hóa pháp luật là hai phương diện của quá
trình liên kết pháp luật giữa các quốc gia khác nhau nhằm loại bỏ sự khác biệt giữa
4
các lĩnh vực pháp luật cụ thể trong quá trình quốc tế hố pháp luật . Trong đó, hài
hồ hố pháp luật là quá trình nhằm làm giảm đi những khác biệt trong các lĩnh vực
pháp luật cụ thể giữa các hệ thống pháp luật bằng cách xây dựng các luật mẫu và
thực hiện các biện pháp để khuyến khích các quốc gia tiếp nhận và áp dụng. Nhất
thể hoá pháp luật là q trình theo đó các quy phạm pháp luật mâu thuẫn của các hệ
thống pháp luật khác nhau được thay thế bởi các quy phạm pháp luật chung nhất.
Nói cách khác là hội nhập và thống nhất pháp luật.
Có thể nói hội nhập và thống nhất pháp luật là q trình hết sức khó khăn và phức
tạp, ngồi rào cản về địa lý, văn hoá, lịch sử, kinh tế chính trị, tâm lý liên quan đến tự
tơn dân tộc cũng gây ra các trở ngại không nhỏ cho các nhà nghiên cứu, bởi việc chấp
nhận các quy tắc hài hồ hố và nhất thể hố đồng nghĩa với việc các quốc gia sẽ phải
từ bỏ các quy phạm pháp luật trong hệ thống của mình. Những rào cản này khi xuất
hiện, chính là lúc vai trị của nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài được phát huy.
Trước hết phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài hỗ trợ các nhà nghiên
cứu tiếp cận hệ thống quy phạm pháp luật nước ngồi thơng qua việc thu thập các
thông tin, tri thức pháp luật khác với hệ thống pháp luật mà họ được tiếp thu, học tập,
giúp họ bước đầu nhận diện các khó khăn về kỹ thuật pháp lý. Tiếp theo, bằng cách xác
định các điểm chung và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, vận dụng các kiến thức
có được từ hoạt động nghiên cứu pháp luật trước đó lý giải nguyên căn của sự khác
biệt, tìm ra các phương pháp giải quyết, đề xuất pháp lý nhằm loại bỏ chúng, từ đó tạo
nền tảng cho việc xây dựng hệ thống luật mẫu hoặc các quy phạm chung được áp dụng.
Quan trọng hơn nữa, nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngồi cịn cung cấp các tri
thức pháp lý, kỹ năng, giúp các luật gia hiểu sâu sắc hơn về cả quá trình hình thành và
góc nhìn, tư duy luật của các quốc gia, giúp cho việc đàm phán được thuận lợi, cũng
như dễ dàng tìm tiếng nói chung trong việc xây dựng hệ thống pháp luật chung. Mặt
khác, yêu cầu khách quan của hoạt động nghiên cứu, so sánh đòi hỏi các luật gia phải
cân nhắc cẩn thận trong việc xây dựng hệ thống quy phạm chung, sao cho kết quả hệ
thống lý thuyết về các lĩnh vực pháp luật có thể áp dụng được ở bất kỳ quốc gia nào và
dung hoà được lợi ích các bên tham gia đàm phán, từ đó tránh được các quan điểm tiêu
4Bùi Xuân Nhự (2007), “Vấn đề nhất thể hố pháp luật và hài hồ hố pháp luật trong tư pháp quốc tế”, Tạp
chí luật học, số 02, tr.41.
11
cực về mối lo ngại tự tôn dân tộc hay tâm lý khó chấp nhận các rủi ro của việc hội
nhập. Mục đích của nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngồi khơng chỉ dừng lại ở
việc khám phá, tiếp thu các tri thức pháp lý mới mà còn phục vụ cho mục đích xây
dựng nhận thức của các quốc gia trên thế giới về nền tảng của các quy phạm pháp
luật được áp dụng phù hợp với các quốc gia khác nhau ngay cả khi các quốc gia đó
khơng cùng chung nền kinh tế, chính trị, lịch sử và xã hội. Cuối cùng đi đến sự đồng
thuận các quy tắc được áp dụng nhằm hội nhập và thống nhất pháp luật.
Thứ ba, hồn thiện pháp luật.
Mục đích của nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngồi ln nhằm hướng đến
việc tiếp cận sâu sắc và có quy mơ các hiện tượng pháp luật, các quy phạm, hệ
thống chế định của các quốc gia trên thế giới. Việc nghiên cứu, đánh giá các hệ
thống pháp luật nước ngoài bao giờ cũng được đặt trong mối quan hệ với sự phát
triển nội luật của các quốc gia cụ thể, bao gồm quốc gia mà người nghiên cứu được
học tập hoặc các quốc gia khác nằm trong đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngồi địi hỏi phải có sự liên hệ giữa các
nguyên nhân, đặc thù sự phát triển các tập quán, hiện tượng pháp luật; hay những
nhân tố làm thay đổi, ảnh hưởng đến việc soạn thảo những văn bản quy phạm pháp
luật mới và thay đổi các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành; cũng như
các điều kiện thúc đẩy, kìm hãm hoặc cản trở việc thực hiện pháp luật cũng cần
được nghiên cứu một cách tồn diện và có hệ thống.
Bên cạnh đó, nghiên cứu so sánh các cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật ở nước
ngoài như thẩm quyền xây dựng và áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền được quy định như thế nào và mức độ hiệu quả của các cơ quan này khi
thực hiện quyền hạn của mình; hoạt động của các cơ quan tư pháp, của các cơ quan trợ
giúp pháp lý, hỗ trợ tư pháp; thậm chí cả mức độ an tồn xã hội và tình hình tội phạm
cũng được thể hiện qua q trình nghiên cứu so sánh. Chính vì vậy, nghiên cứu, so
sánh pháp luật nước ngồi, tham khảo các kinh nghiệm pháp lý sẽ giúp các nhà nghiên
cứu có cái nhìn tổng qt về những khó khăn và hạn chế của nội luật, vẽ ra bức tranh
toàn diện, cũng như dự đốn xu hướng phát triển; tính thích nghi của cơng dân đối với
các quy phạm pháp luật hiện hành trong tương lai, làm cơ sở cho việc hoạch định các
kế hoạch phát triển phù hợp và hoàn thiện pháp luật.
1.1.2. Lý do lựa chọn, đối tượng và phạm vi so sánh với pháp luật tố tụng hình
sự Liên bang Nga
1.1.2.1. Lý do lựa chọn pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga để so sánh
Thứ nhất, nhu cầu hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự giữa Việt Nam và
Liên bang Nga.
12
Tích cực hội nhập quốc tế là một trong những định hướng mang tính chiến lược
của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước, trong đó hợp tác
quốc tế về TTHS là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất. Đảng và Nhà nước đã
sớm nhận thức tầm quan trọng về ý nghĩa chính trị - xã hội cũng như pháp lý của hợp
tác quốc tế trong TTHS, tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị đã
xác định nhiệm vụ: “Tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã
tham gia. Tiếp tục ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với các nước khác, trước hết là
với các nước láng giềng, các nước trong khu vực... Tăng cường sự phối hợp chung
trong hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm có yếu tố quốc tế và khủng
bố”... Tiếp đó, năm 2010, Chỉ thị số 48-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác phịng, chống tội phạm trong tình hình mới được ban hành, trong Chỉ
thị này Bộ chính trị nhấn mạnh: “Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác
phòng, chống tội phạm, trước hết là với các nuớc láng giềng, các nước có quan hệ
truyền thống, các nước trong khu vực ASEAN. Tổ chức thực hiện tốt các công ước quốc
tế, hiệp định Tương trợ tư pháp, hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạm mà Nhà
nước ta đã ký kết hoặc gia nhập. Tiếp tục nghiên cứu tham gia, ký kết các điều ưóc
quốc tế khác liên quan đến cơng tác phịng, chống tội phạm”. Để thực hiện có hiệu quả
nhiệm vụ trên của Bộ chính trị, trước hết cần phải xây dựng bộ máy tổ chức quản lý,
các cơ quan có thẩm quyền chuyên trách, cùng với các chức năng, quyền hạn đặc thù
trong lĩnh vực hình sự, phịng chống ngăn ngừa tội phạm là điều kiện tất yếu.
Trên phương diện pháp lý, hợp tác quốc tế trong TTHS góp phần nâng cao
hiệu quả các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các vụ án hình
sự có yếu tố nước ngồi. Đặc biệt trong bối cảnh tình hình tội phạm đang diễn ra
ngày càng phức tạp về mức độ có tổ chức, quy mơ xun quốc gia, hợp tác quốc tế
TTHS chính là xu thế tất yếu mà mỗi quốc gia khi tham gia vào khối phát triển
chung toàn cầu cần và buộc phải thực hiện. Để hợp tác có hiệu quả và trên ngun
tắc “đơi bên đều có lợi” việc nghiên cứu và hiểu rõ hệ thống pháp luật giữa các
nước tham gia hợp tác là ưu tiên hàng đầu của các nhà lãnh đạo, thể hiện qua các
nội dung về nguyên tắc, phạm vi điều chỉnh, mức độ tương đồng, khác biệt khi áp
dụng các quy phạm pháp luật…
Quan hệ Việt Nam và Liên bang Nga ngày nay kế thừa quan hệ Việt – Xô, bắt
nguồn từ sự tương trợ trong chiến tranh giành độc lập của Việt Nam từ sau năm
1950, sự hỗ trợ về kinh tế, chính trị và qn sự của Liên Xơ cũ là động lực to lớn
giúp nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước vào năm 1975. Sau chiến tranh, Liên Xô đóng vai trị là người thầy
dẫn dắt Việt Nam trong q trình xây dựng, củng cố chính phủ mới, nhiều cán bộ,
13
chuyên gia, nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực được sang Liên Xơ đào tạo đã trở
thành đội ngũ nịng cốt trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước của Việt Nam.
Với truyền thống quý báu cùng những thành quả to lớn của tình hữu nghị và hợp tác
khởi nguồn từ những năm trước, Việt Nam và Liên bang Nga đã phát triển mối quan
hệ Đối tác chiến lược nhiều năm từ 2001, nâng cấp lên quan hệ Đối tác chiến lược
toàn diện từ 2012 đến nay. Qua gần hai thập kỷ, Việt Nam và Liên bang Nga đã
thiết lập nhiều chính sách phát triển chung về kinh tế và chính trị - xã hội trên cơ sở
hợp tác song phương, trong đó bao gồm cả về phương diện lập pháp; nhiều tài liệu
học thuật, cơng trình nghiên cứu khoa học ở Liên bang Nga được dịch sang tiếng
Việt sử dụng cho mục đích tham khảo, học tập.
Trong quá trình xây dựng BLTTHS Việt Nam năm 2015, bên cạnh một số các
BLTTHS của Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc… thì BLTTHS của
Liên bang Nga được ban soạn thảo đánh giá là có nhiều quan điểm phù hợp với yêu
5
cầu và đường lối hoàn thiện BLTTHS Việt Nam của Đảng và Nhà nước . Bên cạnh
đó, đối với hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm, ban soạn thảo cũng đánh giá
BLTTHS Liên bang Nga quy định cụ thể, chặt chẽ về trình tự, thủ tục, thẩm quyền,
trách nhiệm của các cơ quan trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố: “…Điều này phù hợp với yêu cầu hoàn thiện BLTTHS và thực
tiễn hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm nước ta thời gian
6
qua. Do đó đề xuất tiếp thu và quy định trong Dự thảo Bộ luật” .
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu BLTTHS 2015 đối với vấn đề giải quyết
nguồn tin về tội phạm, tác giả nhận thấy vẫn có nhiều sự khác biệt, quan điểm đáng chú
ý trong cách quy định về vấn đề này ở hai quốc gia mang giá trị học thuật cao cần được
phân tích làm rõ. Một số quy định về hoạt động, thẩm quyền, thời hạn, vấn đề bảo vệ
chủ thể cung cấp thông tin về tội phạm cũng như một số các thủ tục trình tự giải quyết
nguồn thơng tin về tội phạm ở BLTTHS 2015 vẫn chưa được cụ thể, dẫn đến các nguy
cơ tiêu cực, khó khăn trong q trình áp dụng. Chính vì vậy việc nghiên cứu thêm chế
định giải quyết nguồn tin về tội phạm ở Liên bang Nga là cần thiết.
Thứ hai, mức độ tương đồng và khác biệt giữa pháp luật TTHS Việt Nam và
Liên bang Nga đối với vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Cùng là các quốc gia theo mơ hình TTHS pha trộn (hỗn hợp), chính vì vậy
Liên bang Nga và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng trong cách xây dựng pháp
5
Tài liệu báo cáo quốc hội, B16.08 />=2&ved=2ahUKEwj58L2awvzkAhVIPnAKHQ0GAJEQFjABegQIAhAC&url=http%3A%2F%2Fduthaoonline.
quochoi.vn%2FDuThao%2FLists%2FDT_TAILIEU_COBAN%2FAttachments%2F1935%2FB16.08_TLTK_ph
ap_luat_hinh_su_mot_so_nuoc.doc&usg=AOvVaw1gPod-KUIm9sd22Ai8NzYU, truy cập ngày 02/10/2019.
6Tài liệu báo cáo quốc hội, B16.08, tlđd (5), tr.11.
14
luật TTHS, thể hiện qua hệ thống các nguyên tắc, cơ chế kiểm tra, giám sát giữa các
cơ quan có thẩm quyền cũng như một số các quyền và nghĩa vụ của người tham gia
tố tụng… Bên cạnh đó, dựa trên mối quan hệ hợp tác song phương, toàn diện và lâu
dài, nên giữa Liên bang Nga và Việt Nam có nhiều nét tương đồng trong đường lối
phát triển và các quan điểm lập pháp. BLTTHS Liên bang Nga hướng đến mục tiêu
vừa phòng chống, ngăn ngừa tội phạm, đảm bảo tính thượng tơn pháp luật, lợi ích
7
của nhà nước vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân . Tương tự,
BLTTHS Việt Nam 2015 cũng thể hiện tư tưởng chủ đạo của TTHS, tập trung hai
nhóm nguyên tắc cơ bản nhất là bảo đảm, bảo vệ quyền con người và các nguyên
tắc chỉ đạo, chi phối các hoạt động TTHS đẩy mạnh đấu tranh phòng chống, ngăn
ngừa tội phạm. Đối với vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm, cả hai BLTTHS
đều quy định đây là hoạt động thuộc giai đoạn KTVAHS mà hệ quả của nó là việc
xác định có hay khơng các dấu hiệu thực hiện tội phạm của các hành vi bị tố giác
thơng qua các hình thức luật định. Liên bang Nga và Việt Nam đều có sự phân biệt
các loại thông tin về tội phạm từ các nguồn khác nhau tương ứng với mỗi loại
nguồn này là nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền chuyên biệt. Bên
cạnh đó là nguyên tắc kiểm tra giám sát giữa các cơ quan có thẩm quyền tố tụng, hệ
thống cơ quan kiểm sát (Việt Nam) / công tố (Liên bang Nga) đóng vai trị chỉ đạo,
giám sát đối với các hoạt động của (trong đó có giải quyết nguồn tin về tội phạm)
được nhấn mạnh, thể hiện qua cơ chế kiểm tra, báo cáo chặt chẽ và chức năng giám
sát tư pháp.
Mặt khác, do đặc điểm về tình hình kinh tế - chính trị và q trình hình thành,
phát triển lịch sử pháp lý, TTHS Liên bang Nga và Việt Nam vẫn mang những nét đặc
thù riêng. Cùng thuộc mô hình TTHS pha trộn, tuy nhiên thay vì mang đậm tính thẩm
vấn như ở Việt Nam, bắt đầu từ BLTTHS năm 2001 (thay thế cho BLTTHS năm 1960
thời Xô Viết), pháp luật TTHS Liên bang Nga đã cho thấy sự chuyển đổi mang tính
cách mạng và cơ bản của mơ hình tư pháp hình sự từ một hệ thống tố tụng thẩm vấn
chính thống sang hệ thống pha trộn. Sau các lần bổ sung, hoàn thiện, đến năm 2006,
pháp luật TTHS Nga đã ngày càng khẳng định các biểu hiệu là một mơ hình TTHS hỗn
hợp thiên về hướng tranh tụng, thể hiện qua hệ thống các nguyên tắc cũng như cách tổ
chức, trình tự, thủ tục trong hoạt động xử lý các vấn đề về hình sự khác xa mơ hình xét
hỏi. Do có định hướng về bản chất tố tụng khác Việt Nam, nên cơ cấu tổ chức các cơ
quan có thẩm quyền ở Liên bang Nga được xây dựng theo cơ chế phân định rõ nét chức
năng buộc tội, bào chữa và xét xử. Điều này dẫn đến một số các quan điểm pháp luật
hình sự, các trình tự, thủ tục giải quyết vụ
7Article 6.1, Criminal Procedural Code of the Russia Federation 2001: “Purpose of Criminal court proceedings”.
15
án hình sự hay cách quy định, sắp xếp, phân chia nhiệm vụ, quyền hạn ở các cơ
quan có thẩm quyền ở Liên bang Nga cũng khác biệt so với Việt Nam. Điển hình là
8
hệ thống các CQĐT , Cơ quan có thẩm quyền Kiểm tra, giám sát hoạt động tư pháp
(ở Liên bang Nga là Viện công tố, ở Việt Nam là VKS). Tuy nhiệm vụ có điểm
tương đồng, nhưng bản chất của hai cơ quan này là không giống nhau).
Đối với vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng vậy, BLTTHS Liên bang
Nga có cách quy định về trình tự, thủ tục xác minh nguồn tin tội phạm, thời hạn,
thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm rất cụ
thể, chặt chẽ, đáng chú ý hơn là cơ chế bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm và tài sản của người cung cấp thông tin về tội phạm, cùng những người thân
thích của họ, cũng như việc giải thích về trách nhiệm của người tố giác nếu họ cung
cấp thông tin sai sự thật. Tuy nhiên về kỹ thuật trình bày, trong khi BLTTHS Việt
Nam quy định tập trung theo giai đoạn TTHS thì BLTTHS Liên bang Nga lại có
điểm hạn chế, đó là việc giải quyết nguồn tin về tội phạm được quy định rải đều
trong các quy định về hoạt động điều tra hoặc trong phần thẩm quyền, khiến việc
nghiên cứu, áp dụng gây nhiều khó khăn.
Chính các điểm tương đồng và khác biệt trong cách quy định vấn đề giải quyết
nguồn tin về tội phạm cùng với nhu cầu hợp tác quốc tế về TTHS giữa Việt Nam và
Liên bang Nga đã tạo nên động lực cho tác giả lựa chọn BLTTHS của hai quốc gia
làm đối tượng nghiên cứu, so sánh trong luận văn của mình.
1.1.2.2. Đối tượng và phạm vi so sánh với pháp luật tố tụng hình sự Liên bang
Nga
Một luận văn nghiên cứu so sánh pháp luật ln có đối tượng nghiên cứu liên
quan đến pháp luật và luật pháp trong phương pháp nghiên cứu so sánh được hiểu là
các quy định pháp luật, khái niệm luật định, án lệ và các thiết chế pháp lý và trong
một số trường hợp có thể bao hàm các điều kiện, bối cảnh của các điều kiện pháp
luật cụ thể trong phạm vi chừng mực giới hạn. Tuy nhiên trong phần lớp các đối
8 Liên bang Nga có cách quy định Thẩm quyền điều tra tuỳ thuộc vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội, thông qua việc phân loại hoạt động điều tra dự thẩm hoặc điều tra chuyên trách. Các cơ quan có thẩm
quyền điều tra dự thẩm bao gồm Bộ Nội vụ, Cảnh sát thuế vụ, Lực lượng biên phòng, Cơ quan thi hành án,
Hải quan, Cơ quan cứu hỏa quốc gia và Viện công tố; các cơ quan có thẩm quyền điều tra chun trách bao
gồm: Viện cơng tố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên bang và Cảnh sát thuế vụ.
Cịn cơng tố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên bang và Cảnh sát công tố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên
bang và Cảnh sát thuế vụ, Hải quan, Cơ quan cứu hỏa quốc gia và V(tý lucông tố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an
ninh liên bang và Cảnh sát thuế vụ, Hải quan, Cơ quan cứu hỏa quốc gia và Viện công tốn loại hoạt động” .
Bên công tố, Bộ Nội Cơ quan đitố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên bang có thquan đitố, Bộ Nội vụ, Cơ quan
an ninh liên bang và Cảnh sát thuế vụ, Hải quan, Cơ quan cứu hỏa quốc gia và Viện công tốn loại hoạt động
điều tra dự th trên có nhn đitố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh li [bài gin đitố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên
bang và Cảnh sát, 201545023.html, truy ckiemsat.vn/noi.
16
tượng được so sánh trong luận văn nghiên cứu so sánh chính là các quy phạm pháp
9
luật (cấp độ nghiên cứu, so sánh thứ nhất) .
Khơng nằm ngồi phạm vi đó, đối tượng mà tác giả hướng đến khi trình bày
luận văn này là các quy phạm pháp luật của TTHS Liên bang Nga và Việt Nam về
giải quyết nguồn tin về tội phạm. Nghiên cứu so sánh các quy phạm này trong phạm
vi các vấn đề như thẩm quyền, trình tự, thủ tục và các loại hoạt động mà cơ quạn
tiến hành tố tụng Liên bang Nga được phép tiến hành để kiểm tra, xác minh các
nguồn tin về tội phạm, từ đó đối chiếu với các quy định của TTHS Việt Nam trong
cùng vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm, phân tích ưu, nhược điểm của Liên
bang Nga làm cơ sở để học tập, đề xuất cho Việt Nam.
1.2. Khái niệm, phân loại nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự
1.2.1. Khái niệm nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự
Đối tượng của hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm chính là các nguồn dữ
kiện mà trong đó có chứa đựng các thông tin, dữ liệu về hành vi xâm phạm đến các mối
quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ. Chính vì vậy, để có thể nghiên cứu một cách
đúng đắn và toàn diện bản chất pháp lý của vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm,
trước hết cần hiểu rõ thế nào là “nguồn tin về tội phạm” theo khoa học TTHS.
Khái niệm nguồn tin về tội phạm:
Trong khoa học hình sự, “nguồn tin về tội phạm” là cơ sở quan trọng chứa
đựng các thông tin về hành vi trái pháp luật hình sự, là tiền đề quyết định các hoạt
động chứng minh, truy tố, xét xử và phòng ngừa tội phạm hiệu quả. Trong hoạt
động điều tra tội phạm, những thơng tin này có thể tồn tại ở cả hình thức vật chất và
ý tưởng (tư tưởng phạm tội) tạo ra sự đa dạng của những dấu vết do tội phạm để lại
10
trong môi trường xung quanh .
Khái niệm nguồn tin về tội phạm ở Việt Nam:
BLTTHS năm 2015, tại Điều 4 khoản 1 điểm d, giải thích từ ngữ “nguồn tin về
tội phạm” dưới dạng liệt kê các loại nguồn có chứa thơng tin về tội phạm: “Nguồn tin
về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức,
cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện” và mặc dù khơng có quy định cụ
11
thể khái niệm thế nào là “nguồn tin về tội phạm” nhưng ở các căn cứ KTVAHS ,
BLTTHS Việt Nam đã ghi nhận “Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu
tội phạm. Việc xác định các dấu hiệu tội phạm dựa trên các căn cứ…”, sau đó liệt kê
9 Đỗ Minh Khơi, Dương Hồng Thị Phi Phi, Phạm Thị Phương Thảo (2016), tlđd (1), tr 56.
10
Lê Ra (2012), “Cần thống nhất về nhận thức về các khái niệm tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị
khởi tố và các nguồn thông tin về tội phạm”, Tạp chí kiểm sát, số 20, tr.33.
11
Điều 143 BLTTHS Việt Nam 2015.
17
các nguồn tin về tội phạm như đã đề cập tại Điều 4 khoản 1 điểm d. Cách quy định
này thể hiện quan điểm lập pháp của Việt Nam: Nguồn tin về tội phạm là cơ sở cho
12
việc xác định dấu hiệu tội phạm làm căn cứ cho KTVAHS .
Việc sử dụng hình thức liệt kê của BLTTHS năm 2015 khiến cho khái niệm
“nguồn tin về tội phạm” trong khoa khoa học pháp lý vẫn chưa thật sự thống nhất
và tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này:
Theo Giáo sư Hoàng phê, chủ biên cuốn Từ điển tiếng Việt: “Nguồn tin về tội
phạm được thể hiện dưới dạng các tố giác, tin báo về tội phạm. Tố giác, tin báo về
tội phạm luôn được coi là nguồn quan trọng cung cấp thơng tin để xác định có hay
khơng có dấu hiệu tội phạm”.
13
Khái niệm này thể hiện được vai trò của “nguồn tin
14
về tội phạm” , tuy nhiên quan điểm “nguồn tin về tội phạm được thể hiện dưới
dạng các tố giác, tin báo về tội phạm” có phần chưa đầy đủ. Bởi căn cứ quy định tại
BLTTHS, “nguồn tin về tội phạm” không chỉ giới hạn dưới dạng tố giác, tin báo về
tội phạm mà còn bao gồm các nguồn khác như: Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà
nước; Các thông tin mà cơ quan có thẩm quyền thơng qua hoạt động của mình thu
thập được (CQĐT, VKS, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực
lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện). Trong
quan điểm của mình, tác giả Hoàng Phê đã đồng nhất khái niệm “nguồn tin về tội
phạm” và “nguồn tố giác, tin báo về tội phạm”. Đây là hai loại nguồn tin mang cùng
vai trò nhằm xác định các dấu hiệu tội phạm nhưng khác nhau về bản chất. “Nguồn
tố giác, tin báo về tội phạm” bao gồm tin báo của cá nhân; tố giác của cơ quan, cá
nhân, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, về một hành vi có
15
dấu hiệu tội phạm đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, xử lý và
một dạng đặc biệt là tin báo của một người về tội phạm do chính họ thực hiện
16
(người phạm tội tự thú) . Đối với dạng thông tin về tội phạm do các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trực tiếp phát hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền
12
Vấn đề về cơ sở và căn cứ KTVAHS, không phải trọng tâm của đề tài. Tuy nhiên, do giải quyết nguồn
tin về tội phạm là một hoạt động thuộc giai đoạn KTVAHS, nên tác giả nhận thấy cần làm rõ hai khái niệm cơ sở
và căn cứ KTVAHS, theo đó: “Cơ sở Khởi tố vụ án hình sự là những nguồn tin mà dựa vào đó cơ quan có thẩm
quyền khởi tố xác định có dấu hiệu tội phạm”; “Căn cứ Khởi tố vụ án hình sự là dấu hiệu tội phạm đã được xác
định trên những cơ sở khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật” [Phạm Văn Huân (2013), Cơ sở và căn
cứ khởi tố vụ án hình sự, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, tr 15,18.] Như vậy, cách quy định tại Điều
143 BLTTHS 2015 có phần chưa chuẩn xác về mặt từ ngữ theo quan điểm của khoa học pháp lý hình sự, nói
cách khác BLTTHS 2015 đã “đánh đồng căn cứ và cơ sở Khởi tố vụ án hình sự ” [Lê Huỳnh Tấn Duy]
13
Theo Hoàng phê (chủ biên) (2002), Từ điển Tiếng Việt, tái bản lần 8, NXB Đà Nẵng.
14
“Nguồn tin về tội phạm” có vai trị quan trọng để xác định có hay khơng có dấu hiệu tội phạm, là
căn cứ đầu tiên quyết định có hay khơng có việc xâm hại các khách thể của pháp luật hình sự.
15
Điều 144, khoản 1,2 BLTTHS Việt Nam 2015.
16
Lê Ra (2012), tlđd (10),tr 37.
18
hạn và các thông tin từ kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đây
khơng phải “nguồn tố giác, tin báo tội phạm” mà là các “nguồn tin về tội phạm” nói
17
chung , các loại nguồn tin này mang tính nghiệp vụ cao, địi hỏi chủ thể phát hiện
phải là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chun mơn và kiến thức pháp luật.
Chính vì vậy, khái niệm trên tuy đã thể hiện được vai trò của “nguồn tin về tội
phạm” nhưng vẫn chưa chuẩn xác về mặt nội dung và bản chất vấn đề.
Theo quan điểm của Thạc sĩ Lê Ra: “Nguồn thông tin về tội phạm có thể được
18
hiểu là phương tiện chứa đựng, cung cấp thông tin về tội phạm”. Khái niệm này quá
rộng, chưa thể hiện được vai trò, chủ thể và các loại nguồn thơng tin về tội phạm.
Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của trường Đại học Luật TP.HCM dựa trên
quy định của BLTTHS năm 2015 đưa ra khái niệm nguồn tin về tội phạm là “những
cơ sở ban đầu để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh nhằm xác định dấu
19
hiệu của tội phạm”. Khái niệm này đã thể hiện được vai trò của “nguồn tin về tội
phạm” nhưng thiếu các chủ thể.
Thạc sĩ Hồ Thị Hiền thì cho rằng: “Nguồn tin về tội phạm là những thông tin
về tội phạm được qui định trong BLHS do cá nhân, cơ quan Nhà nước… cung cấp
bằng các hình thức khác nhau hoặc thơng qua đưa tin trên các phương tiện thông
tin đại chúng bằng văn bản, bằng miệng của người bị hại, người biết việc, của cơ
quan, tổ chức, pháp nhân hoặc do người phạm tội tự thú cho cơ quan nhà nước có
20
thẩm quyền trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo qui định của BLTTHS” .
Cũng giống với tác giả Hoàng Phê, khái niệm trên chỉ mới đề cập đến “nguồn tố
giác, tin báo tội phạm” bao gồm “cá nhân, cơ quan Nhà nước… cung cấp… hoặc
thông qua đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng… hoặc do người phạm
tội tự thú…” thiếu các “nguồn tin về tội phạm” nói chung thuộc phạm vi của các
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiệm nhiệm vụ, quyền
hạn của mình phát hiện được, bên cạnh đó khái niệm cũng chưa thể hiện được vai
trò của “nguồn tin về tội phạm” trong TTHS.
Nhìn chung, mỗi quan điểm có những đóng góp riêng, tuy nhiên vẫn chưa đầy
đủ, chuẩn xác. Từ việc phân tích những quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm
“nguồn tin về tội phạm” như sau:
“Nguồn tin về tội phạm là nơi chứa đựng những thông tin làm căn cứ cho việc
xác định có hay khơng dấu hiệu tội phạm, được cung cấp bởi cá nhân, tổ chức, cơ
17
18
19
Lê Ra (2012), tlđd (10), tr. 37
Lê Ra (2012), tlđd (10), tr. 36
Đại học Luật TPHCM (2018), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Võ Thị Kim Oanh, nxb
Hồng Đức, tr. 368.
20
Nguyễn Thị Hiền (2018), “Kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm trong luật tố tụng hình
sự Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP.HCM, tr 8.
19
quan Nhà nước bằng các hình thức khác nhau của tố giác, tin báo, kiến nghị cho cơ
quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết theo qui định của BLTTHS
hoặc do chính cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp phát hiện trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Nguồn tin về tội phạm là cơ sở của khởi
tố vụ án hình sự”
Khái niệm nguồn tin về tội phạm ở Liên bang Nga:
BLTTHS Liên bang Nga quy định tại Điều 5, khoản 43 giải thích: “Thơng tin
về tội phạm: tố giác, tin báo về tội phạm, người phạm tội tự thú hoặc báo cáo về
21
việc phát hiện tội phạm từ các nguồn khác” . Để làm rõ quy định này, khoản 1
Điều 140 cũng có đề cập các lí do và căn cứ KTVAHS gồm có: “tố giác về tội
phạm; người phạm tội tự thú; Báo cáo từ những nguồn khác về tội phạm đã được
thực hiện và chuẩn bị thực hiện và quyết định chuyển toàn bộ tài liệu về vụ việc có
dấu hiệu tội phạm cho CQĐT để xác minh các căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Căn
cứ để khởi tố vụ án hình sự là có đủ những thông tin về các dấu hiệu của tội
22
phạm” .
Theo đó, ngồi tố giác, tin báo về tội phạm giống quy định của TTHS Việt
Nam, BLTTHS Liên bang Nga còn ghi nhận thêm loại nguồn tin là Báo cáo từ
những nguồn khác về tội phạm đã được thực hiện và chuẩn bị thực hiện và quyết
định chuyển toàn bộ tài liệu về vụ việc có dấu hiệu tội phạm cho CQĐT để xác
minh các căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.
Nhìn chung, cả hai BLTTHS của Việt Nam và Liên bang Nga khá tương đồng
trong cách quy định vấn đề “nguồn tin về tội phạm” tuy có tồn tại một số điểm khác
biệt trong cách lựa chọn thuật ngữ và nội dung. Về thuật ngữ, thay vì “nguồn tin về
tội phạm” như Việt Nam, Liên bang Nga sử dụng “thông tin về tội phạm”
(communication on a crime). Về cơ bản “nguồn tin về tội phạm” và “thông tin về
tội phạm” đều hướng đến đối tượng là các thông tin, dữ liệu về những hành vi có
dấu hiệu tội phạm, tuy nhiên trong khi “nguồn thông tin về tội phạm” thể hiện bao
quát, (“Nguồn” là một nơi cung cấp, chứa đựng các thơng tin), thì “Thơng tin về tội
phạm” có phần hướng vào chi tiết nội dung, đề cập trực tiếp về các thơng tin hành
vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự. Trong quá trình dự thảo BLTTHS Việt
Nam, các nhà làm luật cũng đã từng đề cập đến một thuật ngữ tương tự “Thông tin
21
Article 5.43 Criminal Procedure Code of the Russia Federation 2001: “communication on a crime
- the statement about a crime, the surrender or the report on the exposure of a crime;”.
22
Article 140 Criminal Procedure Code of the Russia Federation 2001 “Reasons and Grounds for
the Institution of a Criminal Case 1. The following shall serve as the reasons for the institution of a criminal
case: 1) an application on a crime: 2) giving oneself up; 3) communication on the committed or the prepared
crime, received from other sources; 2. Seen as the ground for the institution of a criminal case shall be the
existence of the sufficient data, pointing to the signs of a crime”.