Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (235.08 KB, 11 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span>PHÒNG GD-ĐT THĂNG BÌNH TRƯỜNG THCS HUỲNH THÚC KHÁNG. ****************. Đề tài:. mét vµi kinh nghiÖm gióp häc sinh häc tèt từ vựng thông qua việc kiểm tra đánh giá. Tác giả Tổ Đơn vị Năm học. : Ng« v¨n minh : Ngoại ngữ : Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng : 2010 – 2011. I. TÊN ĐỀ TÀI: MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT TỪ VỰNG THÔNG QUA VIỆC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ II. ĐẶT VẤN ĐỀ:.
<span class='text_page_counter'>(2)</span> 1. Lý do chọn đề tài: Tiếng Anh, với tư cách là môn học Tiếng nước ngoài, là môn văn hoá cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông. Nó là công cụ giao tiếp quan trọng để tiếp thu những tri thức khoa học, kĩ thuật tiên tiến, hay tìm hiểu các nền văn hoá đa dạng trên thế giới, giúp ta dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế. Cùng với những môn học và hoạt động giáo dục khác, môn Tiếng Anh còn góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông được thực hiện hiệu quả. Nói như vậy để thấy được sức hấp dẫn và tầm quan trọng của môn học. Tuy nhiên, là một ngoại ngữ - Tiếng Anh có những đặc thù riêng biệt khác với những môn học khác. Kết quả thu được không phải một sớm một chiều, và mức độ bền chặt của nó tuỳ thuộc rất lớn ở niềm say mê, sự hứng khởi, kiiên trì và được rèn luyện liên tục của người học. Trong việc dạy và học ngoại ngữ, muốn giúp học sinh học tốt tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Tuy nhiên từ vựng là lĩnh vực không thể thiếu được. Học sinh muốn phát triển được những kỹ năng nghe - nói – đọc – viết thì bắt buộc phải có vốn từ vựng nhất định. nếu không có từ vựng thì không thể xây dựng được bất cứ kỹ năng nào cho học sinh. Nếu vốn từ ở các em hạn chế thì không thể thúc đẩy việc giao tiếp ở các em được. Nhưng nếu vốn từ của các em chỉ đơn thuần là từ ngữ một cách máy móc không gắn với thực tế cuộc sống cũng không thể giúp các em phát triển ngoại ngữ theo hướng giao tiếp được. Chính vì vậy phát triển từ vựng trong học sinh luôn là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu. Làm thế nào để giúp các em phát triển vốn từ vựng một cách tốt nhất, đó là niềm trăn trở không chỉ của riêng tôi mà đối với bất kỳ một giáo viên giảng dạy môn Tiếng Anh nào. Qua thực tế giảng dạy, kết hợp với phương pháp mới tôi xin được trình bày đề tài : MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT TỪ VỰNG THÔNG QUA VIỆC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ. 2. Giới hạn đề tài: a. Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài, tôi chỉ đi sâu, tìm hiểu phần từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc THCS. b. Đối tượng thực nghiệm: Học sinh các lớp 8.1, 8.2, 8.3 3. Các phương pháp được sử dụng: - Nhóm phương pháp đơn giản: quan sát, trò chuyện, sưu tầm tư liệu. - Nhóm phương pháp phức tạp: Phân tích lý luận, thực nghiệm sư phạm, hệ thống hoá..
<span class='text_page_counter'>(3)</span> III. CƠ SỞ LÝ LUẬN: Theo quan điểm về đổi mới phương pháp trong việc dạy và học Tiếng Anh là làm sao phát huy được tính tích cực, chủ động của người học. Tạo điều kiện tối ưu cho người học rèn luyện, phát triển khả năng sử dụng ngôn ngữ vào mục đích giao tiếp chứ không phải là việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ thuần tuý. Nghĩa là học sinh có khả năng sử dụng Tiếng Anh như một công cụ giao tiếp đồng thời hình thành các kỹ năng học tiếng và phát triển tư duy. Vì vậy việc kiểm tra, đánh giá môn học phải căn cứ vào mục tiêu trên. Cụ thể hơn, cùng với các kiến thức ngôn ngữ khác từ vựng phải đồng thời được kiểm tra, đánh giá ở 4 kĩ năng: nghe – nói – đọc – viết. Và việc kiểm tra này trong khuôn khổ nội dung các chủ đề, chủ điểm được giới hạn trong chương trình. Các hình thức kiểm tra, đánh giá linh hoạt, phong phú có thể là kiểm tra miệng, viết trong thời gian ngắn hay một tiết. Có thể kiểm tra vào đầu giờ học, trong quá trình học hay cuối tiết học… Làm sao đó vẫn tuân thủ theo quy định chung của Bộ GD-ĐT nhưng đồng thời hết sức linh hoạt, uyển chuyển trong điều kiện thực tế để thúc đẩy việc học tập ở các em một cách hiệu quả nhất. Trong chương đề này tôi xin được trình bày những nội dung sau: 1. Giáo dục cho các em thấy được sự cần thiết của từ vựng trong môn học cũng như trong cuộc sống. 2. Kiểm tra, đánh giá mức độ tiếp thu của học sinh khi vừa giảng dạy từ vựng trên lớp. 3. Hướng dẫn và kiểm tra học sinh học tập từ vựng ở nhà. 4. Kiểm tra, đánh giá qua những bài kiểm tra 15 phút, một tiết. IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN: Môn học Tiếng Anh với những đặc trưng riêng, khác so với những môn học bằng tiếng mẹ đẻ. Biệc hiểu, nhớ để nghe, nói, đọc, viết một cách chính xác từ vựng không phải dễ dàng đối với học sinh. Học sinh, các em bị chi phối bởi nhiều môn học khác nhau, thời gian học trên lớp chỉ gói gọn trong một vài tiết học. Bên cạnh đó, là người Việt học ngoại ngữ nên các em rất dễ quên bởi môi trường tiếp xúc không thường xuyên. Các em thường chỉ nhớ những từ vừa mới học còn những từ đã gặp trước đó thì không. Một số em khác thì chỉ viết được mà không thể đọc được và ngược lại. Có em học những từ riêng lẻ thì khá tốt nhưng khi bắt gặp từ trong đoạn văn thì không thể nào nhớ được nghĩa. Hoặc khi vận dụng vào bài tập thì khá mơ hồ, lúng túng. Điều này khiến các em thiếu tự tin khi rèn luyện những kỹ năng, nhất là khi thực hiện việc giao tiếp. Thực tế đó, một phần phát xuất từ cách kiểm tra, đánh giá chưa khoa học, hợp lý của một số giáo viên. Một số giáo viên còn xem nhẹ việc kiểm tra.
<span class='text_page_counter'>(4)</span> đánh giá mảng từ vựng mà chỉ chú trọng vào ngữ pháp hoặc các kiến thức ngôn ngữ khác. Tác động không ít đến kết quả học tập của học sinh còn chính do bản thân các em. Nhiều học sinh chưa xác định được động cơ học tập đúng đắn. Còn thơ ơ, lười biếng với việc học tập bộ môn, học một cách máy móc hoặc theo kiểu đối phó. Nhiều gia đình chưa quan tâm đến sự học của con em mình. Hơn nữa cuộc sống thực tế ở địa phương còn khá nhiều khó khăn, các em về nhà còn phải giúp gia đình do đó thời gian, điều kiện cho các em học tập ở nhà hạn chế. Xuất phát từ thực trạng trên cùng với yêu cầu về đổi mới của sự nghiệp giáo dục, tôi nghĩ muốn nâng cao chất lượng giáo dục môn Tiếng Anh ở bậc THCS, đặc biệt muốn phát triển vốn từ vựng cho các em cần phải chú trọng đến khâu kiểm tra, đánh giá ở lĩnh vực này. V. NỘI DUNG ĐỀ TÀI: 1. Giáo dục cho các em thấy được sự cần thiết của từ vựng trong môn học cũng như trong cuộc sống: Có thể nói kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình giảng dạy, nhưng để có được kết quả tốt thì trước hết phải giáo dục cho các em thấy được sự cần thiết của từ vựng trong môn học cũng như trong cuộc sống. Mục đích học từ là nhu cầu không thể thiếu trong quá trình học tập tiếng Anh. Việc học từ vựng rất quan trọng, vốn từ càng nhiều thì ngôn ngữ càng phong phú, lúc đó các em thực hiện được các yêu cầu cần đặt ra của môn học một cách dễ dàng. Từ vựng cũng giống như một kho báu của người học tiếng Anh. Nếu kho báu càng dồi dào và các em biết cách bảo tồn và phát triển nó thì càng ngày các em càng học giỏi tiếng Anh. Ngược lại nếu học sinh không biết cách trao đổi, luyện tập thì vốn từ càng ngày càng mai một, lúc đó sự chán nản bộ môn sẽ đến với các em. Hậu quả, các bài kiểm tra thấp, thất bại trong việc thực hiện những yêu cầu môn học. Nói như vậy để một lần nữa khẳng định sự cần thiết vô cùng của việc học từ vựng đối với học sinh. Giáo viên có thể giúp các em thấy được phải duy trì, bổ sung và phát triển vốn từ vựng của mình thường xuyên như: Thường xuyên lấy những ví dụ minh hoạ trong và ngoài nhà trường. Nêu những gương học sinh học tốt bộ môn cũng như những học sinh chây lười dẫn đến hỏng kiến thức môn học. Nêu lên tính liên tục của vốn từ trong môn học, nó không chỉ bổ trợ cho các em một giai đoạn hay một năm học mà thậm chí theo các em suốt quá trình học tập từ bậc THCS, THPT hay lên Đại học, Cao đẳng và cao hơn nữa… Lấy những ví dụ từ cuộc sống xung quanh. Các em có thể quan sát những bảng hiệu, panô, bao bì sản phẩm từ thực tế… với những từ vựng Tiếng Anh. Hoặc các em có thể xem những chương trình truyền hình, những chương trình hay những hướng dẫn trên máy vi tính, internet… mà trong đó không thể.
<span class='text_page_counter'>(5)</span> thiếu Tiếng Anh. Giáo viên cũng có thể cho các em tham quan ở những địa điểm thường xuyên có du khách nước ngoài (Mỹ Sơn) để các em thấy được sự quan trọng đến nhường nào của môn học nói chung và vốn từ nói riêng. từ đó, tự bản thân các em xác định được động cơ học tập đúng đắn, nghiêm túc nhất và hình thành sự yêu thích môn học ở các em. 2. Kiểm tra, đánh giá mức độ tiếp thu của học sinh khi vừa giảng dạy xong từ vựng trên lớp. Khi giới thiệu ngữ liệu mới giáo viên thường giới thiệu từ vựng mới. Có thể giáo viên sử dụng nhiều thủ thuật giới thiệu từ vựng khác nhau như: Visuals, Mine, Realia, Situation, Explanation, Example, Sunonym, Antonym, Translation… Miễn làm sao các từ được ngữ cảnh hoá cao giúp các em dễ tiếp thu và dễ nhớ lâu từ. Giáo viên giới thiệu từ vựng luôn phải tuân thủ nguyên tắc đi từ gợi mở (elicit) đến nghe rồi đọc, viết, nắm nghĩa của từ. Và thường những từ vựng xuất hiện theo các chủ đề (topic) được xây dựng theo các đơn vị bàn học (unit). Tuy nhiên, để biết được học sinh nắm từ đến đâu, có chỗ nào cần bổ sung hay điều chỉnh. Những học sinh yếu còn lúng túng nhất ở khâu nào, các em có dễ nhầm lẫn với các từ khác không. Đồng thời giúp các em nhanh chóng nắm từ, thậm chí thuộc ngay từ vựng trên lớp ta cần có những thủ thuật để kiểm tra lại xem. Những thủ thuật được các giáo viên sử sụng phổ biến đó là: - Rub out and Remember. - What and Where - Matching - Bingo - Jumble words - Nought and Crosses - Slap the board … Những thủ thuật nào cơ bản khá nhanh chóng, ngắn gọn, dễ bố trí trong lớp học cũng như trong một tiết học và nó cũng giúp ta kiểm tra được đồng thời các kỹ năng của học sinh về từ là nghe – nói – đọc – viết – ngữ âm – ngữ nghĩa. Tuy nhiên, cần lưu ý ta nên thay đổi nhiều thủ thuật kiểm tra từ khác nhau để làm phong phú cho tiết học và tạo nên sự hưng phấn mới cho các em. tránh việc chỉ sử dụng “Rub out and Remember” hay lúc nào cũng “What and Where”. Cũng cần lưu ý đến các đối tượng học ính ở các khối lớp khác nhau mà sử dụng các thủ thuật cho phù hợp. Ví dụ: Các em họpc sinh lớp 6, 7 khá hiếu.
<span class='text_page_counter'>(6)</span> động, ưa những hoạt động mang tính chất di chuyển, náo nhiệt ta nên sử dụng những thủ thuật như: Slap the board, Bingo, Noughts and Croses… Hoặc thỉnh thoảng có thể dùng “Finding Friends” khi gặp bài học dạy những nhóm từ và tiết học không quá nặng. Còn những học sinh khối 8, 9 đã bắt đầu biết e ngại, có vẻ “chững chạc” hơn nên dùng những thủ thuật “trầm” hơn. Có như vậy việc kiểm tra từ vựng của giáo viên mới hiệu quả. Giáo viên cũng nên linh hoạt khi tổ chức các hoạt động, có khi thực hiện theo nhóm lớn, có khi chỉ nhóm nhỏ hoặc từng cá nhân. Chúng ta cũng nên chú ý sửa lỗi cụ thể cho học sinh và khen ngợi khi các em làm đúng. Có thể giáo viên cho “điểm tốt” để khuyến khích cac em tham gia hoạt động. Tránh việc chê bai hay chỉ trích khi các em làm sai, điều này sẽ khiến những em học yếu “ngại” tham gia vào các hoạt động, gây phản giáo dục. 3. Hướng dẫn và kiểm tra học sinh học tập từ vựng ở nhà. a. Hướng dẫn và kiểm tra học sinh chuẩn bị bài mới: Muốn kiểm tra đánh giá có hiệu quả thì giáo viên trước hết phải làm tốt việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới ở nhà. Hướng dẫn các em gạch chân những từ mới (highlight) trong bài text hoặc dialogue. Cố gắng tìm hiểu nghĩa, cách đọc, cách viết của từ trong vở soạn bài bằng cách tra từ điển, hỏi bạn bè, người thân hoặc tham khảo sách hướng dẫn. Nếu gia đình em nào có vi tính thì có thể dùng phần mềm từ điển Lạc Việt để tra cứu… Cố gắng làm sao nắm được ngữ cảnh của bài. Còn những bài tập trong sách các em phải nhất thiết tìm hiểu yêu cầu của câu hỏi, nội dung đề ra và thử giải quyết xem. Trong lớp tôi thường cho các em học ở nhà theo nhóm, hoặc theo cặp (có thể nhờ giáo viên chủ nhiệm phân công). Vào tiết học tôi thường yêu cầu các tổ trưởng báo cáo xem các bạn có thực hiện đúng yêu cầu của giáo viên hay không thông qua việc truy bài 15 phút đầu giờ. Sau đó tôi thường kiểm tra xác xuất lại một vài em. Ghi tên những em không thực hiện đúng yêu cầu để có hướng khắc phục. b. Hướng dẫn và kiểm tra việc học từ vựng ở nhà của học sinh: b.1. Luyện từ: Đối với việc học từ ở nhà, nhất thiết phải làm sao cho các em vừa ôn tập được cách đọc, viết và nắm được nghĩa của từ một cách chính xác nhất. Muốn thực hiện được điều này thì việc hướng dẫn các em học tập ở nhà hết sức quan trọng nhất là những học sinh mới vừa làm quen với môn học. Tôi thường yêu cầu các em luyện một từ ít nhất là ba dòng. Từ đầu tiên phải viết sang nghĩa Tiếng Việt. Khi viết từ phải nhẩm đọc lại từ đó sao cho nhớ được cách đọc. Sau đó đặt một câu đơn giản hoặc một cụm từ đơn giản với từ vừa luyện. Đối với những học sinh yếu, các em có thể đặt câu không hoàn chỉnh lắm miễn là các em nắm được chính xác nghĩa của từ..
<span class='text_page_counter'>(7)</span> Ví dụ: Các em vừa được giới thiệu từ “Delta” (vùng châu thổ) thì trong vở luyện từ các em sẽ trình bày từ đó như sau: Delta (n) vùng châu thổ Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Delta. Ex: Cuu Long Delta is in Viet Nam. / Cuu Long Delta. Và vở này tôi yêu cầu các em phải luôn mang theo khi kiểm tra bài cũ hoặc khi giáo viên yêu cầu. b.2. Làm phiếu ôn tập: Ngoài việc chép từ vào vở luyện từ, học sinh sẽ viết từ đó lên các phiếu để có thể dễ dàng ôn lại bất kỳ lúc nào. Các em sẽ viết từ mới trên một mặt của phiếu và mặt còn lại viết phần nghĩa bằng tiếng Việt, số phiếu này tương ứng với số từ vựng đã học trên lớp. Ví dụ: Mặt trước (1), mặt sau (2) (1). (2). (1). Symptom (n). triệu chứng. Stomachache (n). (1). (2). (1). Heachache (n) đau đầu. (2) đau dạ dày (2). Flu (n). bệnh cúm. Như vậy, với việc thực hiện đều đặn số phiếu này, học sinh có một số phiếu nhất định. Khi nào có thời gian rỗi các em rút bất kỳ một phiếu nào ra để kiểm tra xem có còn nhớ nghĩa từ cũ không. Vốn từ vựng của các em ngày càng được nâng cao lên qua những lần viết và kiểm tra như vậy. b.3. Hệ thống hoá từ vựng theo chủ đề: Sau khi có một vốn từ nhất định, chúng tôi thường xuyên hướng dẫn cho các em hệ thống hoá các từ vựng đã học. Điều này có nghĩa là tất cả các từ có liên quan với nhau về mặt nghĩa cần được xếp thành các nhóm theo một chủ đề nào đó. Một số biểu đồ minh hoạ cho sự sắp xếp đó như sau: Ví dụ: Play. Sports. soccer. do Swimming. go. Exercise.
<span class='text_page_counter'>(8)</span> tennis badminton fishing hiking curtain. Living chair. Bedroom house Sedge mat. televison cushion. kitchen Dish. bathroom shower. table. fub. cubboard. sink Từ các bài luyện tập và từ thực tế tổ chức các đơn vị bài học theo các chủ đề đã chứng minh cho sự cần thiết của việc hệ thống hoá này. Nếu các em thành lập nhóm học và thường xuyên so sánh trao đổi với nhau sẽ giúp các em nâng cao vốn từ vừa nhẹ nhàng vừa lý thú. b.4. Kiểm tra thường xuyên: Trong một tiết học thời gian rất ngắn cho nên việc kiểm tra từ cũng hết sức linh hoạt và tuỳ thuộc vào các đối tượng học sinh khác nhau. Tôi có thể kiểm tra vào đều giờ học hoặc cũng có thể trong quá trình học. Nếu kiểm tra vào đầu giờ học, tôi thường viết khoảng 5 từ vào một mảnh giấy nhỏ. Năm từ này không theo thứ tự trong vở ghi, có thể cho biết nghĩa Tiếng Việt hoặc Tiếng Anh. Nếu là cho nghĩa Tiếng Việt thì học sinh phải viết sang Tiếng Anh và ngược lại. Hoặc có thể tôi copy một đoạn văn trong bài học (nhất là những bài đọc hiểu), gạch chân 5 từ và yêu cầu các em cho nghĩa chính xác của từ. Sau đó có thể yêu cầu học sinh đọc lại từ mới hoặc đặt câu đơn giản với một trong những từ vừa ghi. Tuỳ thuộc vào học sinh giỏi, khá hay trung bình, yếu mà cho mức độ kiểm tra khác nhau. Điều này giúp các em thoát khỏi cách học máy móc, ứng phó mà phải đầu tư thật sự vào từ mới. Đồng thời cũng tránh việc nhắc bài trong học sinh nhưng vẫn hướng sự chú ý đến các em vì các em không biết là thầy cô sẽ kiểm tra từ nào,.
<span class='text_page_counter'>(9)</span> mức độ ra sao. Với cách kiểm tra bài này, không mất nhiều thời gian trong tiết học và có thể phân luồng học sinh một cách khoa học. Về phía giáo viên, có thể giữ những phiếu này để kiểm tra cho những lớp khác nhau. Và có thể dùng chúng để kiểm tra cho nhiều em cùng một lúc nếu như là tiết Revision sau mỗi Unit mà không tốn nhiều thời gian. Giáo viên chỉ cần một bì thư và những phiếu giấy nhỏ thế là đủ. Nếu kiểm tra trong quá trình trình bày một ngữ liệu mới thì có thể linh hoạt thông qua những trò chơi nhỏ như giải ô chữ (crossword), đoán từ (guesing game), nối từ với nghĩa (matching), kích thích từ mới theo chủ đề (brainstorming), từ xáo (jumble words)… Đặc biệt ta có thể kiểm tra việc làm phiếu từ cũng như thực hiện hệ thống hoá các từ vựng theo chủ đề ở các em dựa vào các trò chơi này. Tuy nhiên thỉnh thoảng giáo viên cũng phải thu thập một số phiếu hoặc sơ đồ để kiểm tra xem các em có thực hiện ở nhà hay không. Nếu như các em thực hiện đúng theo yêu cầu và hướng dẫn của giáo viên trong việc ôn luyện từ ở nhà thì các em sẽ thực hiện tốt những yêu cầu này. Nhưng nhất thiết phải cho điểm khuyến khích các em khi các em thực hiện tốt các yêu cầu để khuyến khích các em học tập tốt hơn. 4. Kiểm tra, đánh giá qua những bài kiểm tra 15 phút, một tiết. Tuân thủ theo yêu cầu chung của Phòng Giáo dục, trong những bài kiểm tra 15 phút, một tiết bao giờ tôi cũng dành những câu hỏi cho phần từ vựng. Tôi chú ý ra nhiều dạng bài tập khác nhau để làm phong phú hơn trong việc kiểm tra như: Gap – fill, Give the correct from of the word, Matching, Find the words different from the others… Tôi chú ý cho các em tự sửa lỗi sai của mình sau khi phát bài chứ không trực tiếp sửa lỗi cho các em. Điều này giúp các em nhớ lỗi của mình lâu hơn và không lặp lỗi sai lần trước. Để thực hiện điều này, trong những bài kiểm tra của các em tôi chỉ làm dấu đúng hay sai rồi sửa bài chung cho các em trên lớp. Sau đó yêu cầu các em tự sửa bài của mình bằng bút khác màu và bút chì. Cuối giờ hoặc sau khi sửa bài tôi thu lại bài của một vài em để kiểm tra xác xuất. VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: Qua việc nghiên cứu, thực hiện đề tài tôi đã giúp các em học sinh ở bậc THCS nhanh chóng làm quen với môn học và dễ dàng nắm bắt được khối lượng từ vựng phong phú, đa dạng trong chương trình hơn. Đồng thời vốn từ vựng của các em ngày càng được trau dồi và bền vững. Kết quả kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ của các em có phần chuyển biến tích cực. Các em tự tin hơn khi diễn đạt những tình huống giao tiếp đơn giản bằng vốn từ của chính mình. Và nhiều em đã vươn lên khá, giỏi ở môn học này..
<span class='text_page_counter'>(10)</span> Tuy mới áp dụng phương pháp này thời gian gần đây nhưng tôi nhận thấy kết quả chuyển biến khác tốt ở các lớp tôi giảng dạy qua bài kiểm tra như sau: Bài kiểm tra số 1 (Trước khi áp dụng phương pháp) Lớp 8.1 8.2 8.3. Sỉ số 34 34 34. Giỏi SL TL 1 2 1. Khá SL TL 6 7 7. TB SL 17 13 15. TL. Yếu SL TL 14 13 16. TB trở lên SL TL 20 58,8 21 61,7 18 52,9. Bài kiểm tra số 2 (Trước khi áp dụng phương pháp) Lớp 8.1 8.2 8.3. Sỉ số 34 34 34. Giỏi SL TL 8 7 6. Khá SL TL 10 11 12. TB SL 13 12 12. TL. Yếu SL TL 6 5 6. TB trở lên SL TL 28 82,4 29 85,3 28 82,4. Như vậy, chỉ qua một thời gian không dài, kết quả học tập của học sinh đã tăng lên một cách rõ ràng. Hầu hết các lớp tỉ lệ học sinh đạt trung bình trở lên đều tăng từ 24% đến 30%. Chưa kể số lượng học sinh khá giỏi cũng chuyển biến nhiều ở các lớp. VII. KẾT LUẬN: VIII. ĐỀ NGHỊ:. VII. MỤC LỤC.
<span class='text_page_counter'>(11)</span> 1. Tên đề tài. Trang 1. 2. Đặt vấn đề. Trang 1. 3. Cơ sở lý luận. Trang 2. 4. Cơ sở thực tiễn. Trang 2. 5. Nội dung nghiên cứu. Trang 3. 6. Kết quả nghiên cứu. Trang 8. 7. Kết luận. Trang. 8. Đề nghị. Trang. 9. Tài liệu tham khảo. Trang. 10. Mục lục. Trang. 11. Phiếu đánh giá, xếp loại. Trang.
<span class='text_page_counter'>(12)</span>