Tải bản đầy đủ (.doc) (47 trang)

Đề tài tìm hiểu về basel

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.47 MB, 47 trang )

Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................................3
CHƯƠNG I: HIỆP ƯỚC VỐN BASEL........................................................................4
1.2.4.2.Về mục đích.......................................................................................................27
2.2.2.Lộ trình ứng dụng Basel II tại một số nước trên thế giới........................................30

KẾT LUẬN.................................................................................................................46

1

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

DANH SÁCH NHĨM
Họ tên

Lớp

Trần Văn Cảm 0968347928

2

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel




Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu hướng hội nhập và tồn cầu hoá mạnh mẽ, hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam cần phải chủ động nhận thức và sẵn sàng thàm gia và q trình hội nhập
để có thể biến những thách thức thành cơ hội, biến những khó khăn thành lợi thế thì
mới có thể đứng vững trên thị trường. Để làm được điều đó, Ngân hàng thương mại
Việt Nam cần tuân thủ theo một số hiệp ước quốc tế. Một trong những hiệp ước quốc
tế được các nhà quản trị ngân hàng quan tâm là hiệp ước vốn Basel về an toàn vốn
trong hoạt động ngân hàng. Hiệp ước này đã được rất nhiều quốc gia, trong đó có Việt
Nam áp dụng làm chuẩn mực để đánh giá và giám sát hoạt động của hệ thống ngân
hàng nước mình.
Trên thực tế, hiệp ước Basel có rất nhiều quy tắc và chuẩn mực liên quan đến quy
trình giám sát hoạt động ngân hàng, đặc biệt là các chuẩn mực giám sát hoạt động của
các tập đồn tài chính – ngân hàng. Tuy nhiên, Trong phạm vi đề tài “Tìm hiểu về
Basel” này, trong điều kiện nghiên cứu của mình, nhóm chỉ thực hiện tìm hiểu và giới
thiệu ngắn gọn về hiệp ước Basel, lộ trình áp dụng Basel ở các nước. Do khả năng còn
hạn chế, nên dù đã cố gắng nhưng bài làm của nhóm khơng thể tránh khỏi những sai
sót. Nhóm rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của thầy để bài làm được hồn
thiện hơn. Nhóm xin chân thành cảm ơn!

3

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel



Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

CHƯƠNG I: HIỆP ƯỚC VỐN BASEL
1.1. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking
supervision - BCBS)
1.1.1. Giới thiệu về BCBS
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một diễn đàn cho sự hợp tác thường
xuyên về các vấn đề liên quan đến giám sát hoạt động ngân hàng. Mục tiêu của Ủy ban
là hiểu rõ hơn về các vấn đề mấu chốt trong việc giám sát hoạt động ngân hàng và
nâng cao chất lượng giám sát hoạt động ngân hàng trên toàn cầu. Để đạt được mục tiêu
đó, Ủy ban trao đổi các thơng tin về các vấn đề giám sát hoạt động ngân hàng của các
quốc gia, các phương pháp và kỹ thuật với phương châm là để có một sự hiểu biết
đồng nhất về các vấn đề đó. Trên cơ sở đó, Ủy ban dùng sự hiểu biết đồng nhất này để
xây dựng các văn bản hướng dẫn và tiêu chuẩn trong các lĩnh vực mà họ cho là cần
thiết. Ủy ban Basel được biết đến trên khắp thế giới về các thông lệ quốc tế mà họ đưa
ra về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; các nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hiệu
quả; và Thỏa ước về giám sát hoạt động ngân hàng xuyên biên giới.
Ủy ban khuyến khích các nước thành viên cũng như các cơ quan giám sát hoạt
động của các ngân hàng liên kết và hợp tác với nhau. Ủy ban đã ban hành nhiều
nguyên tắc và chuẩn mực quan trọng về giám sát hoạt động ngân hàng và được hầu hết
các cơ quan giám sát ngân hàng trên thế giới thừa nhận và áp dụng rộng rãi. Nhằm đẩy
mạnh hơn nữa sự hợp tác quốc tế giữa các cơ quan giám sát ngân hàng, Ủy ban tổ
chức Hội nghị quốc tế về giám sát hoạt động ngân hàng (International Conference of
Banking Supervisors - ICBS) diễn ra hai năm một lần. ICBS mới nhất vừa được tổ
chức ở Singapore vào mùa thu năm 2010.
1.1.2.

Lịch sử hình thành Ủy ban


Uỷ ban Basel được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung
ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ
nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Ủy
ban được nhóm họp 4 lần trong một năm. Chủ tịch hiện tại của Ủy ban là ông Stefan
Ingves - thống đốc của Ngân hàng Trung Ương Thụy Điển - người kế tục ông Nout
Wellink từ 01/07/2011.
Thành viên của Ủy ban là Ngân hàng trung ương hoặc cơ quan giám sát ngân
hàng của các quốc gia như Argentina, Úc, Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức,
4

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

Hồng Kơng, Ấn Độ, In-đơ-nê-xia, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan,
Nga, Ả Rập Xê Út, Singapore, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ
Kỳ, Anh và Mỹ.
Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel được đề xuất bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc
tế tại thành phố Basel, Thụy Sỹ, gồm 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động
ngân hàng chuyên nghiệp được biệt phái tạm thời từ các tổ chức tín dụng tài chính
thành viên. Ủy ban Basel và các tiểu ban sẵn sàng đưa ra những lời tư vấn cho các cơ
quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả các nước. Tổng thư ký của Uỷ ban Basel là
ông Stefan Walter.
Ủy ban Basel khơng có bất kỳ một cơ quan giám sát nào và những kết luận của
Uỷ ban này khơng có tính pháp lý và u cầu tn thủ đối với việc giám sát hoạt động
ngân hàng. Thay vào đó, Ủy ban Basel chỉ xây dựng và cơng bố những tiêu chuẩn và

những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất
trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp
chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ. Theo cách này, Ủy ban
khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng
can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên.
Ủy ban báo cáo đến các thống đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát
hoạt động ngân hàng của nhóm G10. Từ đó tìm kiếm sự hậu thuẫn cho những sáng
kiến của Ủy ban. Những tiêu chuẩn bao quát một dải rất rộng các vấn đề tài chính. Một
mục tiêu quan trọng trong cơng việc của Ủy ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc
tế trên hai nguyên lý cơ bản là: (1) khơng ngân hàng nước ngồi nào được thành lập
mà thốt khỏi sự giám sát; và (2) việc giám sát phải tương xứng. Để đạt được mục tiêu
đề ra, từ năm 1975 đến nay, Ủy ban Basel đã ban hành rất nhiều văn bản, tài liệu liên
quan đến vấn đề này.
Trong quá trình hoạt động, Uỷ ban đã xây dựng và xuất bản hai nhóm ấn phẩm
chủ yếu: 1) Bộ các nguyên tắc cơ bản cho việc giám sát hoạt động của ngân hàng một
cách có hiệu quả; và 2) Bộ sách hướng dẫn (được cập nhật định kỳ) với các khuyến
nghị hiện nay của Uý ban Basel, các hướng dẫn và tiêu chuẩn.
1.2. Hiệp ước vốn Basel
Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó
được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I. Hệ
5

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%.

Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến
ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế. Đến năm 1996, Basel I
được sửa đổi với rất nhiều điểm mới. Tuy vậy, Hiệp ước vẫn có khá nhiều điểm hạn
chế.
Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban Basel đã đề xuất
khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa
Basel I; (ii) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ
chức tài chính; (iii) sử dụng hiệu quả của việc công bố thông tin nhằm làm lành mạnh
kỷ luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát. Đến ngày 26/6/2004,
bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành.
Với nỗ lực ngăn chặn sự tái diễn của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008,
ngày 12/9/2010, Hiệp định Basel III với những quy định nghiêm ngặt hơn dành cho
các ngân hàng thuộc 27 thành viên đã được Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel ban
hành.



Lịch sử ngắn gọn của Hiệp ước vốn Basel
Năm 1974: BCBS được thành lập từ nhóm G10 Ngân hàng Trung ương.
Năm 1988: Hiệp ước vốn Basel đầu tiên (Basel I) ra đời và có hiệu lực từ

1992.


Năm 1996: Được sửa đổi bổ sung thêm rủi ro thị trường (có hiệu lực từ

1997).


Tháng 6/1999: Đề xuất một khung mới – chương trình tư vấn lần thứ nhất


(First Consultative Package – CP1).

Tháng 1/2001: Chương trình tư vấn lần thứ hai (CP2).

Tháng 4/2003: Chương trình tư vấn lần thứ ba (CP3).

Q 4/2003: Phiên bản hồn thiện của Hiệp ước Basel mới.

Tháng 1/2007: Hiệp ước vốn Basel mới (Basel II) có hiệu lực.

Năm 2010: Chấm dứt q trình chuyển đổi.

Tháng 9/2010: Hiệp định Basel III được ban hành.

Tháng 6/2011: Phiên bản sửa đổi của Basel III
1.2.1. Basel I
1.2.1.1. Nội dung cơ bản của Basel I
Mục tiêu của Basel I:
- Chuẩn mực hóa hoạt động ngân hàng trong trào lưu tồn cầu hóa nhằm củng cố
sự ổn định của tồn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế.
- Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm
cạnh tranh khơng lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế.
6

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao


GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

Nhằm chuẩn mực hóa hoạt động ngân hàng trong trào lưu tồn cầu hóa, Uỷ ban
Basel về giám sát ngân hàng đã xây dựng chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả
trong hoạt động ngân hàng. Tiêu chí đầu tiên đánh giá khả năng tham gia vào thị
trường vốn quốc tế là mức độ tuân thủ chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu, đây là nội dung
nền tảng của Basel I.
Ngồi ra, Ủy ban Basel cịn đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất
về vốn của ngân hàng. Theo đó, vốn của ngân hàng được chia thành vốn cấp 1, vốn
cấp 2 và vốn cấp 3. Trong đó:
- Vốn cấp 1 (vốn cơ bản) là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phịng được
cơng bố, như là khoản dự phịng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu vĩnh
viễn; Dự trữ công bố (Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các
cơng ty con, có hợp nhất báo cáo tài chính; Lợi thế kinh doanh (goodwill).
- Vốn cấp 2 (Vốn tự có bổ sung) gồm tất cả các vốn khác như: Lợi nhuận giữ lại
không cơng bố; Dự phịng đánh giá lại tài sản; Dự phịng chung/dự phịng thất thu nợ
chung; Cơng cụ vốn hỗn hợp; Vay với thời hạn ưu đãi; Đầu tư vào các cơng ty con tài
chính và các tổ chức tài chính khác.
- Vốn cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn
 Tiêu chuẩn này quy định: Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3; nợ thứ cấp tối
đa bằng 50% vốn cấp 1; dự phịng chung tối đa bằng 1,25% tài sản có rủi ro; dự trữ tài
sản đánh giá lại được chiết khấu 55%; thời gian đáo hạn còn lại của nợ thứ cấp tối
thiểu là 5 năm; vốn ngân hàng không bao gồm vốn vơ hình (goodwill).
Như vậy, tổng vốn cấp 1 và cấp 2 chính là vốn tự có hay vốn cơ bản của tổ chức
tín dụng. Dựa trên cách tính vốn tự có này, Basel I đưa ra chỉ tiêu tỷ lệ an tồn vốn tối
thiểu (CAR) (hay cịn gọi là Tỉ lệ vốn dựa trên rủi ro - “Tỉ lệ Cook”) mà đối tượng ban
đầu là những ngân hàng hoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn
120 quốc gia. Mục đích của tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) là củng cố hệ thống ngân hàng
quốc tế. Theo tiêu chuẩn này, ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của rổ
tài sản, được tính tốn theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào độ rủi ro

của chúng. Đây là một biện pháp dự phòng bắt buộc nhằm đảm bảo rằng các ngân
hàng có khả năng khắc phục tổn thất mà khơng ảnh hưởng đến lợi ích của người gửi
tiền. Việc tính tốn lượng vốn pháp định được dựa trên hướng dẫn của Ủy ban giám
sát ngân hàng Basel (Basel 1). Hướng dẫn này được Ủy ban Basel giới thiệu đầu tiên
7

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

vào năm 1988 và sửa đổi năm 1996 bổ sung thêm rủi ro thị trường. Được thực hiện ở
EU thông qua một quy định gián tiếp của EU; và thực hiện ở Anh thông qua các quy
định của Cơ quan giám sát tài chính FSA.
Ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích
hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và
thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%.
Cơng thức tính như sau:

Trong đó: Tài sản đã điều chỉnh rủi ro (RWA) = Tổng (Tài có nội bảng x Hệ số
rủi ro) + Tổng (Tài sản ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro) . Mọi tài sản có
đều được cơ quan giám sát tài chính FSA chỉ định một hệ số rủi ro phản ảnh mức độ
rủi ro của tài sản. Basel I đưa ra hệ số rủi ro gồm 4 mức: 0%, 20%, 50% và 100%. Hệ
số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại này.
Bảng 1.1: Hệ số rủi ro của tài sản có rủi ro theo Basel I
Hệ số rủi ro
0%


Khoản mục
(a) Tiền mặt
(b) Tiền gửi tại ngân hàng nhà nước và Chính phủ nước sở tại
bằng đồng bản tệ.
(c) Các khoản phải địi đối với Chính phủ Trung ương và
ngân hàng trung ương của các nước thuộc khối OECD
(d) Các khoản phải đòi được đảm bảo bởi chứng khốn của
Chính phủ Trung ương hoặc bảo lãnh bởi Chính phủ trung

ương của các nước thuộc OECD
0%, 10%, 20%, 50% (a) Khoản phải đòi đối với các tổ chức thuộc khu vực kinh tế
(tuỳ mỗi quốc gia)

công trong nước, ngoại trừ khoản phải địi tại tổ chức Chính
phủ trung ương và các khoản vay được bảo lãnh bằng chính tổ

20%

chức này.
(a) Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng phát triển đa
phương (IBRD, IADB, AsDB, EIB) và các khoản phải đòi
được của ngân hàng này bão lãnh hoặc được bảo đảm bởi
chứng khoán do các ngân hàng này phát hành.
(b) Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập
8

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao


GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

tại các nước thuộc khối OECD và các khoản vay được bảo
lãnh bởi các ngân hàng này.
(c) Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập
ở các nước ngồi OECD với thời hạn cịn lại dưới 1 năm và
các khoản vay thời hạn dưới 1 năm được các ngân hàng này
bảo lãnh.
(d) Các khoản phải đòi đối với tổ chức thuộc khu vực công
của các nước ngồi khối OECD, ngoại trừ Chính phủ trung
ương và các khoản vay được bảo lãnh bởi các tổ chức này.
50%

(e) Các khoản tiền mặt đang thu
(a) Các khoản vay được đảm bảo hoàn toàn bởi tài sản thế

100%

chấp hoặc tài sản gắn liền với tài sản thế chấp.
(a) Các khoản phải đòi từ khu vực tư nhân.
(b) Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập
ở các nước khơng thuộc khối OECD với thời hạn cịn lại từ 1
năm trở lên.
(c) Các khoản phải đòi đối với chính quyền trung ương của
các nước khơng thuộc khối OECD, trừ trường hợp cho vay
bằng đồng bản tệ và nguồn gốc cho vay cũng bằng đồng bản
tệ của các nước đó.
(d) Các khoản phải địi đối với các cơng ty thương mại sở hữu
bởi khu vực công.

(e) Nhà cửa, đất đai, cây trồng, các trang thiết bị và các tài
sản cố định khác.
(f) Bất động sản và khoản đầu tư khác (bao gồm phần vốn
góp đầu tư khơng hợp nhất vào các công ty khác).
(g) Công cụ vốn phát hành bởi các ngân hàng khác (ngoại trừ
khoản giảm trừ từ vốn)

(h) Tất cả tài sản khác.
(Nguồn: International Convergence of Capital Measurement & Capital Standards)
1.2.1.2. Những hạn chế của Basel I

9

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm 1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự
chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động kinh doanh chuyên
hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đến năm 1996, Bsael I đã được
sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường. Mặc dù vậy, các nhà
hoạch định chính sách của ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước mới
chỉ nhìn nhận ra một số vấn đề nên Basel I vẫn có khá nhiều điểm hạn chế.
Thứ nhất, Basel I chỉ đề cập đến rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro lãi
suất. Nó khơng đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ
ngày càng tăng lên, đó là rủi ro hoạt động (khơng có u cầu vốn dự phòng rủi ro hoạt
động).

Thứ hai, Basel I phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản vay. Hệ số rủi ro
chưa chi tiết cho rủi ro theo đối tác (ví dụ khả năng tài chính của khách hàng) hoặc
theo đặc điểm của khoản tín dụng (ví dụ như theo thời hạn). Nghĩa là, một khoản nợ
đối với tổ chức xếp hạng AAA được coi như một khoản nợ đối với tổ chức xếp hạng B.
Điều này chỉ ra rằng có thể các ngân hàng có cùng tỷ lệ an toàn vốn nhưng sẽ đối mặt
với các loại rủi ro khác nhau, ở mức độ khác nhau.
Thứ ba, Basel I chưa tính đến lợi ích của đa dạng hóa hoạt động. Các lí thuyết về
đầu tư chỉ ra rủi ro sẽ giảm thơng qua đa dạng hóa danh mục đầu tư. Tuy nhiên, theo
Basel I, quy định về vốn tối thiểu khơng khác biệt giữa một ngân hàng có hoạt động
kinh doanh đa dạng (ít rủi ro hơn) và một ngân hàng kinh doanh tập trung (nhiều rủi ro
hơn). Một khoản nợ riêng lẻ yêu cầu một lượng vốn giống như một danh mục đầu tư
được đa dạng hóa với cùng một giá trị (ví dụ khơng có sự khách biệt nào giữa một
khoản vay $100 và 100 khoản vay $1).
Thứ tư, một số quy tắc do Basel I đưa ra chỉ có thể vận dụng trong trường hợp
ngân hàng hoạt động theo kiểu ngân hàng đơn, không dựa trên một sự sáp nhập hay
hoạt động theo kiểu tập đoàn ngân hàng, ngân hàng mẹ, ngân hàng – chi nhánh. Xu thế
phát triển hiện nay là các ngân hàng dần dần sáp nhập với nhau để tạo thành những tập
đồn lớn có khả năng cạnh tranh cao và có tiềm lực mạnh về tài chính, cơng nghệ. Các
ngân hàng khơng cịn hoạt động trong phạm vị lãnh thổ quốc gia mà luôn vươn ra tầm
quốc tế, mở rộng mạng lưới ngân hàng dưới hình thức hoạt động của ngân hàng quốc
tế. Chính vì vậy, một số quy định trong Basel I đã khơng cịn phù hợp khi áp dụng tại
10

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng


những ngân hàng này, địi hỏi phải có sự cải tiến toàn diện trong việc xây dựng các
chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi ro và giám sát hoạt động ngân hàng.
1.2.1.3. Bộ 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng của Basel I
Tiếp theo sau Hiệp ước Basel I, để đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng của
các tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối với những ngân hàng lớn có phạm vi hoạt động
quốc tế, từ năm 1999, Uỷ ban Basel đã đề ra 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân
hàng hữu hiệu. Bộ nguyên tắc cơ bản bao hàm một số nội dung chủ yếu liên quan đến
việc giám sát ngân hàng, bao gồm:
-

Nguyên tắc về điều kiện cho việc giám sát ngân hàng hiệu quả: nguyên tắc 1
Nguyên tắc về cấp phép và cơ cấu: từ nguyên tắc 2 đến 5
Nguyên tắc về quy định và yêu cầu thận trọng: từ nguyên tắc 6 đến 15
Nguyên tắc về giám sát nghiệp vụ ngân hàng: từ nguyên tắc 16 đến 20
Nguyên tắc về yêu cầu thông tin: nguyên tắc 21
Nguyên tắc về quyền hạn hợp pháp của chuyên gia giám sát: nguyên tắc 22
Nguyên tắc về ngân hàng xuyên biên giới: từ nguyên tắc 23 đến 25

Các nguyên tắc này đã được thiết kế cho các chuyên gia giám sát, nhóm giám sát
khu vực và thị trường nói chung theo nguyên tắc dễ áp dụng và kiểm chứng. Uỷ ban
Basel sẽ cùng với các tổ chức liên quan khác đóng vai trị nhất định trong việc giám
sát tiến độ áp dụng các nguyên tắc trên đây của các quốc gia nhằm xây dựng hệ thống
giám sát đủ mạnh. Bộ nguyên tắc cơ bản bao hàm một số nhóm nội dung chủ yếu sau:
- Các Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về điều kiện tiên quyết cho việc giám sát
ngân hàng hiệu quả: cụm chủ đề này được thể hiện bởi nguyên tắc 1. Nguyên tắc chỉ
ra điều kiện của một hệ thống giám sát nghiệp vụ ngân hàng có hiệu quả là: i) phải có
một khung pháp lý phù hợp; ii) phân định mục tiêu, nguồn lực và trách nhiệm rõ ràng
giữa các cơ quan giám sát; iii) quy định về chia sẻ và bảo mật thông tin.
- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề cấp phép và cơ cấu: bao gồm từ nguyên tắc 2
đến nguyên tắc 5, với các nội dung chính: i) xác định rõ ràng các hoạt động tổ chức tài

chính được phép làm và chịu sự giám sát; ii) quyền đưa ra các tiêu chí và bác bỏ đơn
xin thành lập nếu khơng đạt yêu cầu của cơ quan cấp phép; iii) quyền rà soát và từ chối
bất kỳ một đề xuất nào đối với việc chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát ngân
hàng hiện tại cho các bên khác.
- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về các quy định và yêu cầu thận trọng: cụm
chủ đề bao gồm từ nguyên tắc số 6 đến số 15. Nội dung chính của nhóm ngun tắc là
11

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

đưa ra các chuẩn mực mà các chuyên gia giám sát nghiệp vụ ngân hàng được làm và
nhất thiết phải biết xử lý trong hoạt động của mình ví dụ như: yêu cầu về an toàn vốn
cho các ngân hàng, xác định rõ những khu vực nào của vốn ngân hàng chịu rủi ro;
đánh giá các chính sách, thực tiễn hoạt động, các thủ tục cho vay vốn, đầu tư, việc
kiểm soát vốn vay hiện tại và hồ sơ đầu tư của ngân hàng đó; đánh giá chất lượng tài
sản và tính thích hợp của các điều khoản chống thất thoát và quĩ dự trữ thất thoát
khoản vay.
- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về giám sát nghiệp vụ ngân hàng hiện nay:
bao gồm từ nguyên tắc số 16 đến nguyên tắc số 20. Nhóm nguyên tắc này quy định
yêu cầu đối với một hệ thống giám sát nghiệp vụ ngân hàng hiệu quả bao gồm cả các
hình thức giám sát từ xa và giám sát tại chỗ. Cơ quan giám sát cần thường xuyên liên
hệ với Ban giám đốc ngân hàng để hiểu rõ về hoạt động của NH, xây dựng phương
pháp phân tích báo cáo thống kê và có biện pháp thẩm định độc lập thơng tin giám sát
thông qua kiểm tra tại chỗ.
- Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề yêu cầu về thông tin: chủ đề này có 1 nguyên tắc

số 21 chỉ ra cán bộ giám sát phải biết chắc mỗi ngân hàng có hệ thống lưu trữ tài liệu
phù hợp cho phép chuyên gia giám sát có thể tiếp cận và thấy được tình hình tài chính
thực tế của ngân hàng.
- Ngun tắc thuộc cụm chủ đề quyền hạn hợp pháp của chuyên gia giám sát:
cụm chủ đề này có 1 nguyên tắc số 22 chỉ ra các biện pháp giám sát bắt buộc để có thể
đưa ra được hành động can thiệp kịp thời khi ngân hàng không đáp ứng được những
yêu cầu cơ bản (ví dụ tỷ lệ an tồn vốn tối thiểu không đảm bảo, năng lực quản trị điều
hành yếu...). Trong trường hợp khẩn cấp, hoạt động can thiệp này bao gồm cả việc thu
hồi giấy phép lập tức hoặc đề nghị thu hồi giấy phép hoạt động.
- Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề nghiệp vụ ngân hàng xuyên biên giới: cụm chủ đề
này bao gồm từ nguyên tắc số 23 đến nguyên tắc số 25 với nội dung hướng dẫn giám
sát đối với các nghiệp vụ giao dịch ngân hàng quốc tế, yêu cầu các ngân hàng nước
ngoài hoạt động theo đúng các tiêu chuẩn cao bằng tiêu chuẩn của các ngân hàng trong
nước và thiết lập quan hệ và hệ thống trao đổi thông tin với các chuyên gia giám sát
khác, đặc biệt là với chuyên gia giám sát của nước sở tại.
1.2.2. Basel II
1.2.2.1. Nội dung cơ bản của Basel II
12

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

Mục tiêu của Basel II:
- Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế
- Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên
bình diện quốc tế

- Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý
rủi ro.
Hai mục tiêu đầu của Basel II là những mục tiêu chủ chốt của Hiệp ước vốn
Basel I. Mục tiêu cuối cùng là mới, đó là dấu hiệu của việc bắt đầu chuyển dần từ cơ
chế điều tiết dựa trên tỷ lệ, mà đó chỉ là một phần của khung mới, hướng đến một sự
điều tiết mà sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thơng lệ và các mơ hình.
Mặc dù có rất nhiều điểm mới nhưng Hiệp ước Basel I với bản sửa đổi năm 1996
vẫn có khá nhiều điểm hạn chế. Để khắc phục những hạn chế này, tháng 6/1999, Uỷ
ban Basel đã đề xuất khung đo lường mới. Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế
về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành gồm 3 trụ cột chính:
Bảng 1.2: Basel II dựa trên 3 trụ cột
BASEL II
Trụ cột 1
Yêu cầu về vốn tối thiểu:

Trụ cột 2
Trụ cột 3
Quy trình đánh giá hoạt Nguyên tắc thị trường:

động thanh tra giám sát:
CAR vẫn bằng 8%; cách Trụ cột 2 đưa ra các yêu Yêu cầu sự minh bạch thị
tính mới đối với rủi ro tín cầu đối với ngân hàng và trường đối với các thông
dụng dựa trên phương pháp nhà quản lý, đặc biệt là đối tin vầ cơ chế quản lý rủi
tiếp cận SA, IRBF, IRBA; với nhà quản lý.

ro, mức độ rủi ro, cơ cấu

cải cánh trong cách tính rủi

vốn, mơ hình quản lý rủi


ro thị trường dựa trên 2

ro,…

phương pháp tiếp cận SA,
IMA; thêm mới yêu cầu vốn
đối với rủi ro hoạt động.

13

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

Hình 1.1. Cơ cấu của hiệp ước Basel II
3 nội dung của Basel II

Vốn tối thiểu

Giám sát thị trường

Quy tắc thị trường

Vốn cấp I
Tài sản có rủi
ro


Định nghĩa về
vốn
Vốn cấp II

Rủi ro tín dụng

Rủi ro hoạt động

Rủi ro thị trường

Phương pháp chuẩn
hoá

Phương pháp chuẩn
hoá

Phương pháp chuẩn
hoá

Phương pháp đánh giá
nội bộ cơ bản

Phương pháp chỉ số
cơ bản

Phương pháp mơ
hình nội bộ

Phương pháp đánh

giá nội bộ nâng cao

Phương pháp tính
tốn cao cấp

Lưu ý:
Các vấn đề đã được đề cập trong Basel I
Các vấn đề mới được đề cập trong Basel II

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel

14


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

Theo đó:
a. Trụ cột thứ I – u cầu về vốn tối thiểu
Tương tự như Basel I, Basel II vẫn quy định tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR)
vẫn là 8% được xác định bằng cách lấy tổng vốn chia cho tài sản có rủi ro.

Tổng vốn: xác định giống như Basel I
Tài sản có rủi ro (RWA): Ngồi rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường đã được
quy định tại Basel I, Basel II bổ sung thêm một loại rủi ro nữa là rủi ro hoạt động.
Ngồi ra, cách tính RWA trong Basel II cũng phức tạp hơn Basel I, và có khả năng
đánh giá chính xác hơn mức độ an toàn vốn:
+ RWABasel I = tài sản * hệ số rủi ro (không đề cập đến xếp hạng tín dụng)
+ RWArủi ro tún dụng phương pháp chuẩn Basel II= tài sản * hệ số rủi ro (đề

cập đến xếp hạng tín dụng)
+ RWABasel II = vốn yêu cầu tối thiểu đối với từng rủi ro (K) * 12,5
Theo Basel II, có các phương pháp đo lường rủi ro sau:
Các phương pháp đo lường rủi ro tín dụng:
o Phương pháp chuẩn hố: phụ thuộc vào đánh giá của các tổ chức xếp hạng
tín nhiệm độc lập.
o Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ cơ bản: Các ngân hàng đưa
ra những khoản rủi ro ngầm định.

15

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

o Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ nâng cao: Các ngân hàng
đưa ra một loạt thông tin đầu vào về rủi ro.
Các phương pháp đo lường rủi ro hoạt động:
o Phương pháp chỉ tiêu cơ bản: Một chỉ tiêu áp dụng cho một quy định.
o Phương pháp chuẩn hoá: Nhiều chỉ tiêu áp dụng cho một quy định.
o Phương pháp đo lường nội bộ nâng cao: Các ngân hàng áp dụng các mơ
hình nội bộ.
Các phương pháp đo lường rủi ro thị trường:
o Phương pháp chuẩn hoá: Do cơ quan quản lý ngân hàng thiết lập.
o Phương pháp sử dụng các mơ hình nội bộ: Các ngân hàng áp dụng các mơ
hình nội bộ.
i.


Rủi ro tín dụng

Theo Basel II, để đo lường và tính tốn hệ số rủi ro đối với các khoản mục tài sản
có rủi ro tín dụng có 3 phương pháp có thể lựa chọn: Phương pháp chuẩn
(Standardized), hương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ (cơ bản F – IRB), phương pháp
xếp hạng nội bộ nâng cao (A – IRB).
Phương pháp chuẩn đánh giá rủi ro tín dụng:
RWAphương pháp chuẩn của Basel II = Tài sản * Hệ số rủi ro
Phương pháp này gần giống như Basel I. Ttuy nhiên, điểm khác biệt là Basel II
so với Basel I trong phương pháp này là:
- Basel I: không đề cập đến xếp hạng tín dụng, các khoản cho vay tương ứng
với từng hệ số rủi ro.
- Basel II: đề cập đến xếp hạng tín dụng, khơng áp đặt hệ số rủi ro rõ rang
cho từng khoản mục mà còn tuỳ thuộc vào việc khoản mục đó được thực hiện với chủ
thể nào, uy tín và xếp hạng tín dụng của chủ thể. Việc xếp trọng số bao nhiêu tuỳ thuộc
vào mức độ tín nhiệm (xếp hạng tín dụng) của chủ nợ (từ AAA đến B- và không xếp
hạng) do các cơ quan xếp hạng tín nhiệm quy định như cơ quan S&P.
- Điểm khác biệt nữa trong Basel II là: nợ được chia thành 5 nhóm, có thêm
hệ số 150%. Trọng số lần lượt là 0%, 20%, 50%, 100% và 150%.
Phương pháp xếp hạng nội bộ đánh giá rủi ro tín dụng:

16

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng


Ngồi phương pháp chuẩn, Basel II cho phép ngân hàng có thể lựa chọn phương
pháp đánh giá xếp hạng tín nhiệm nội bộ của mình để xác định dư nợ của khách, xác
suất vỡ nợ, kỳ đáo hạn hiệu dụng, tỷ trọng tốn thất tín dụng. Từ đó, tính tốn tài sản có
rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, ngân hàng muốn áp dụng phương pháp nội bộ này cần có
sự chấp thuận của cơ quan giám sát ngân hàng (như thanh tra ngân hàng hoặc ngân
hàng nhà nước).
Theo phương pháp xếp hạng nội bộ này, thì vốn yêu cầu tối thiểu đối với rủi ro
tín dụng sẽ được xác định chính xác hơn, và có sự phân biệt về vốn yêu cầu tối thiểu
giữa các khoản cho vay đối với các đối tượng khách hàng khác nhau.
RWAphương pháp IRB của Basel II = 12,5 * EAD * K
EAD: tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ.
K: tỷ lệ vốn cần thiết để dự phịng những trường hợp rủi ro tín dụng khơng lường
trước nhưng lại xảy ra.
RWA – Tài sản có rủi ro, được xác định cụ thể cho từng hình thức cho vay, RWA
khác biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ với các khoản cho vay đối với doanh
nghiệp lớn.
ii. Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động là rủi ro tổn thất xảy ra do các hoạt động quản lý nội bộ, do con
người, do hệ thống, hoặc do các sự cố bên ngồi khơng phù hợp hoặc bị hỏng; bao
gồm cả rủi ro pháp lý, nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro thương hiệu.
Các ngân hàng được lựa chọn một trong ba cách tính nhu cầu vốn cần thiết dự
phòng rủi ro hoạt động với mức độ phức tạp và nhạy cảm với rủi ro tăng dần bao gồm:
phương pháp chỉ số cơ bản (BIA – The Basic Indicator Approach), phương pháp chuẩn
(TSA – The Standardized Approach), phương pháp nâng cao (AMA – Advanced
Measurement Approaches). Khi hoạt động của ngân hàng các phức tạp thì cần phải áp
dụng phương pháp có độ phức tạp cao hơn. Đồng thời, không cho phép các ngân hàng
chuyển ngược trở lại phương pháp đơn giản, một khi đã chấp nhận sử dụng các
phương pháp nâng cao. Ngược lại, nếu các ngân hàng được đánh giá là không đủ điều
kiện để tiếp tục sử dụng phương pháp nâng cao thì cần phải quay trở về phương pháp

cơ bản cho đến khi đáp ứng được những yêu cầu này.
Phương pháp chỉ số cơ bản BIA:
17

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

Các ngân hàng sử dụng phương pháp này cần phải nắm giữ mức vốn để dự
phòng rủi ro hoạt động bằng mức bình quân tổng thu nhập hằng năm ( > 0 ) của thời
kỳ ba năm trước đó, nhân với tỷ lệ phần trăm cố định (gọi là alpha).

Với điều kiện, GIn > 0, và α = 15%.
KBIA : vốn yêu cầu phải dự phòng cho rủi ro hoạt động theo phương pháp BIA
GI: thu nhập hằng năm ( > 0 ) của 3 năm trước đó
N: số năm có thu nhập hằng năm > 0
Phương pháp chuẩn TSA:
Áp dụng theo phương pháp chuẩn, hoạt động ngân hàng được chia làm 8 nhóm
nghiệp vụ, mỗi nhóm nghiệp vụ có hệ số Beta tương ứng.
Bảng 1.3: Hệ số β trong phương pháp chuẩn đối với rủi ro hoạt động
Nghiệp vụ
Hệ số beta (β)
Tài trợ doanh nghiệp (β1)
18%
Giao dịch và bán hàng (β2)
18%
Ngân hàng bán lẻ (β3)

12%
Nghiệp vụ NHTM (β4)
15%
Dịch vụ thanh toán (β5)
18%
Dịch vụ đại lý (β6)
15%
Quản trị tài sản (β7)
12%
Môi giới (β8(
12%
(Nguồn: International Convergence of Capital Measurement & Capital Standards
p140)
Trong mỗi nhóm, tổng thu nhập là một chỉ số phổ biến, coi như một thước đo cho
hoạt động và cũng là căn cứ xác định mức độ rủi ro hoạt động. Thu nhập hằng năm
được đo cho từng loại nghiệp vụ.

KTSA là yêu cầu vốn dự phòng cho rủi ro hoạt động theo phương pháp chuẩn
GI là thu nhập hằng năm đối với từng nhóm nghiệp vụ trong số 8 nhóm.
Phương pháp nâng cao:
Sự lựa chọn hiện đại nhất cho đến ngày nay khi tính tốn nhu cầu vốn dự phịng
cho rủi ro hoạt động chính là sử dụng phương AMA. Theo phương pháp này, yêu cầu
18

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng


vốn được tính dựa trên hệ thống nội bộ đánh giá rủi ro hoạt động cơ bản của ngân
hàng. Hệ thống không chỉ thống kê thiệt hại bên trong và bên ngồi thực tế, mà cịn
phân tích theo trình tự thời gian các yếu tố liên quan đến môi trường kinh doanh cũng
như mơi trường kiểm sốt nội bộ của ngân hàng. Ngân hàng muốn sử dụng phương
pháp nâng cao AMA cần phải được cơ quan giám sát chủ quản đồng ý và được sự hỗ
trợ của cơ quan này. Do đó, phương pháp AMA này trở nên ít thông dụng hơn so với
phương pháp chuẩn TSA.
iii. Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường là rủi ro tổn thất xảy ra trong bảng cân đối do giá cả biến động
thất thường. Rủi ro thị trường gắn liền với bốn loại rủi ro cơ bản, đó là: rủi ro lãi suất
(rủi ro do lãi suất thay đổi); rủi ro trạng thái vốn (rủi ro do giá chứng khoán thay đổi);
rủi ro tỷ giá (rủi ro do giá các loại ngoại tệ thay đổi); rủi ro hàng hoá (rủi ro do giá
hàng hoá thay đổi).
Vốn yêu cầu đối với rủi ro thị trường: ngồi vốn tự có theo quy định của Basel I
bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2, khi đánh giá rủi ro thị trường cho phép các ngân
hàng tính thêm phần vốn cấp 3 gồm các khoản nợ phụ thuộc ngắn hạn với mục đích dự
trữ.
Phương pháp chuẩn:
Yêu cầu vốn đối phó với rủi ro thị trường theo phương pháp chuẩn sẽ được xem
xét đối với từng yếu tố rủi ro bao gồm: rủi ro lãi suất, rủi ro trạng thái vốn, rủi ro tỷ giá
và rủi ro hàng hố.
Phương pháp mơ hình nội bộ:
Để có thể sử dụng phương pháp mơ hình nội bộ khi đánh giá rủi ro thị trường,
các NHTM cần được sự chấp thuận từ phía cơ quan giám sát ngân hàng. Yêu cầu tối
thiểu mà mỗi ngân hàng phải đáp ứng bao gồm: phải có hệ thống quản trị rủi ro tương
thích, hiện đại và đầy đủ dữ liệu cần thiết; có đủ số lượng chuyên viên được trang bị
kỹ năng sử dụng các mơ hình phức tạp khơng chỉ trong giao dịch mà cịn trong quản trị
rủi ro, kiểm tốn; mơ hình của ngân hàng được cơ quan giám sát đánh giá có chất
lượng, đã qua kiểm định về tính hợp lý và chính xác khi đo lường rủi ro. Một khi đã

được chấp thuận thực hiện phương pháp mơ hình nội bộ, các ngân hàng sẽ xây dựng
mơ hình quản trị rủi ro theo các tiêu chuẩn như:
19

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

- Đối với rủi ro lãi suất: phải xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất của
mỗi đồng tiền liên quan đến danh mục đầu tư của ngân hàng trên cơ sở nhạy cảm rủi
ro lãi suất, kể cả các khoản mục trong và ngoài bảng cân đối kế toán.
- Đối với rủi ro tỷ giá (bao gồm cả biến động giá vàng), hệ thống quản trị rủi
ro phải kết hợp các nhân tố rủi ro liên quan đến từng loại tiền riêng lẻ.
- Đối với sự biến động giá cả của các loại hàng hố: ít nhất phải thiết kế được
hệ thống theo dõi biến động giá cả loại hàng hố đó trên phạm vị thế giới, vị thế mua
bán hoặc lời lỗ đối với từng loại giao dịch liên quan đến sự biến đông này.
Trên cơ sở những tiêu chuẩn về mơ hình quản trị rủi ro này, các ngân hàng sẽ xác
định được giá trị VaR của mỗi giao dịch, của các danh mục và của toàn bộ hoạt động
ngân hàng. Độ tin cậy của việc tính tốn này u cầu phải đạt tối thiểu 99%
b. Trụ cột thứ II - Thanh tra, giám sát ngân hàng
Các ngân hàng cần phải đánh giá một cách đúng đắn về những loại rủi ro mà họ
đang phải đối mặt và đảm bảo rằng những giám sát viên sẽ có thể đánh giá được tính
đầy đủ của những biện pháp đánh giá này. Ngoài ra, trụ cột thứ II cịn liên quan tới
việc hoạch định chính sách ngân hàng, cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách
những công cụ tốt hơn so với Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp
cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, gồm rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro
pháp lý, rủi ro thanh khoản, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại

(residual risk). Với cột trụ này, Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát
giám sát:
+ (1) Các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn
của họ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì
mức vốn đó.
+ (2) Các giám sát viên nên rà sốt và đánh giá lại quy trình đánh giá về mức vốn
nội bộ cũng như về các chiến lược của ngân hàng. Họ cũng phải có khả năng giám sát
và đảm bảo tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu. Theo đó, giám sát viên nên thực hiện một số
hành động giám sát phù hợp nếu họ khơng hài lịng với kết quả của quy trình này
+ (3) Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối
thiểu theo quy định

20

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

+ (4) Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân
hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập
tức nếu mức vốn khơng được duy trì trên mức tối thiểu.
c. Trụ cột thứ III – Nguyên tắc thị trường và minh bạch thông tin
Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc
thị trường. Với cột trụ này, Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân
hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn
đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín
dụng, rủi ro thị trường, rủi ro tác nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với

từng loại rủi ro này.
1.2.2.2.

Những sửa đổi của hiệp ước vốn Basel II so với Basel I

- Quá trình phát triển của Basel mà BCBS đưa ra, các ngân hàng thương mại
càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng
ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro.
- Basel II vẫn quy định mức an toàn vốn tối thiểu là 8% và chỉ thay đổi cách tính
ở mẫu số trong thức tính tỷ lệ đủ vốn. Theo đó, mẫu số phải bao gồm cả ba loại rủi ro:
rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động. Trong khi đó, Basel I có cơng thức
tính CAR với mẫu số chỉ gồm rủi ro tín dụng, chỉ tập trung vào rủi ro tín dụng.
- Basel II đưa ra nhiều phương pháp đo lường để lựa chọn, phức tạp hơn nhưng
đánh giá chính xác mức độ an toàn vốn. Điều này cũng cho phép quyền tự quyết rất
lớn trong giám sát hoạt động ngân hàng. Đối với rủi ro tín dụng, nếu Basel I đưa ra
một phương pháp chung thì Basel II lại đưa ra lựa chọn. Cụ thể, 2 phương pháp được
đề xuất: Phương pháp chuẩn và phương pháp phân hạng nội bộ.
+ Phương pháp chuẩn: Phương pháp tiếp cận này đo lường rủi ro tín dụng tương
tự như Basel I, nhưng ở mức độ nhạy cảm với rủi ro hơn vì sử dụng xếp hạng tài chính
do các tổ chức phân hạng độc lập cung cấp làm hệ số khi tính tốn tài sản điều chỉnh
theo rủi ro.
+ Phương pháp đánh giá nội bộ: Phương pháp này chủ yếu dựa vào đánh giá nội
bộ của ngân hàng về hệ số rủi ro để xác định tỷ lệ vốn cần thiết. Tuy nhiên, vẫn dựa
vào hướng dẫn của Ủy Ban Basel để xác định rủi ro cho từng loại tài sản, bao gồm:
Yếu tố cấu thành rủi ro, Phương trình rủi ro, Mức yêu cầu vốn tối thiểu.
21

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel



Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

- Basel II phân định các mức rủi ro trên cơ sở xếp hạng. Do đó, các ngân hàng sẽ
phải phụ thuộc chủ yếu vào kết quả xếp hạng và đánh giá độ tín nhiệm của các tổ chức
độc lập như Moody, S&P.
- Xét về phạm vi áp dụng nói chung của Basel II rộng hơn so với Basel I, bao
gồm không chỉ các ngân hàng quốc tế mà cả các công ty mẹ, hay thay đổi định nghĩa
về tài sản có rủi ro. Basel I chỉ có thể vận dụng ở ngân hàng theo kiểu đơn thuần tuý.
 Hữu ích của Basel II trong quản trị rủi ro ngân hàng:
Hiệp ước Basel II là một loạt các quy tắc nhằm điều chỉnh hoạt động ngân hàng
đa quốc gia. Ngày nay, dường như khơng một ngân hàng nào có thể tách rời mà khơng
có mối liên hệ với các ngân hàng trên thế giới. Do vậy, hiểu biết và áp dụng những quy
định Basel II sẽ là rất quan trọng đối với phát triển và hoạt động ổn định của các ngân
hàng.
Basel II đưa ra nhiều quy định để các ngân hàng tránh khỏi những rủi ro về mặt
dữ liệu và thơng tin ngân hàng có thể phát sinh từ khái niệm, quy tắc đến so sánh, kết
hợp những yếu tố quản lý như một chìa khố để giảm thiểu rủi ro. Ứng dụng Basel II
giúp các ngân hàng quản trị rủi ro ngân hàng tốt hơn.
1.2.2.3. Hạn chế của Basel II
Dù được coi như một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố toàn bộ
cơng tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại
đã cho thấy những thiếu sót, bất cập của Basel II.
Thứ nhất, việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến chưa có các tiêu
chuẩn có thể được chấp nhận rộng rãi.
Thứ hai, các phương pháp giám sát, đánh giá rủi ro chưa tính đến các hoạt động
của chu kỳ kinh doanh.
Thứ ba, các cơ quan quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển mạnh mẽ những sản
phẩm dịch vụ có khoa học cơng nghệ cũng như mức độ rủi ro cao.

1.2.3. Basel III
1.2.3.1. Nội dung cơ bản của Basel III
Mục tiêu của Basel III:
- Khắc phục những hạn chế về qui định vốn tăng cường quản lý rủi ro thơng qua
việc gia tăng tiêu chuẩn về an tồn vốn và đưa ra các tiêu chuẩn về thanh khoản của hệ
thống ngân hàng thương mại để tăng cường khả năng ứng phó, tự giải thốt của các
22

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

ngân hàng trước những khủng hoảng tài chính mà khơng cần phải nhờ đến gói cứu trợ
từ Chính phủ.
Để đối phó với những thiếu sót trong các qui định của Basel II, đồng thời nỗ lực
ngăn chặn sự tái diễn của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, BCBS đã phát triển
Hiệp ước vốn Basel II thành Hiệp ước vốn Basel III với những quy định nghiêm ngặt
hơn dành cho 27 ngân hàng thành viên(gồm Argentina, Úc, Bỉ, Brazil, Canada, Trung
Quốc, Pháp, Đức, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Luxembourg,
Mexico, Hà Lan, Nga, Ả Rập Xê Út, Singapore, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển,
Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ) ký kết hôm 12/9/2010 tại Thành phố Basel, Thụy
Sỹ. Như vậy, mục tiêu gói cải cách của BCBS là nhằm cải thiện khả năng của lĩnh vực
ngân hàng để hấp thụ những cú sốc phát sinh từ sự căng thẳng tài chính và kinh tế, bất
kể nguồn gốc, do đó giảm nguy cơ khủng hồng tràn từ khu vực tài chính cho các nền
kinh tế.
Basel III với những quy định mới về khái niệm và các tiêu chuẩn tối thiểu cao
hơn, cùng phương pháp giám sát an tồn vĩ mơ được đánh giá là sự thay đổi lịch sử

trong quy định về hoạt động ngân hàng. Bộ tiêu chuẩn này được coi là khá ngặt nghèo
đối với hệ thống ngân hàng trên thế giới nói chung và đối với một số nước mới tham
gia vào WTO nói riêng. Basel III với nhiều đề xuất mới về vốn, địn bẩy và các tiêu
chuẩn về tính thanh khoản để củng cố các quy định, giám sát và quản lý rủi ro của
ngành ngân hàng. Các tiêu chuẩn vốn và các vùng đệm vốn mới sẽ đòi hỏi các ngân
hàng giữ vốn nhiều hơn và chất lượng cao hơn so với mức vốn theo quy định hiện
hành Basel II. Các địn bẩy mới và tỷ lệ tính thanh khoản giới thiệu một biện pháp phi
rủi ro nhằm bổ sung các yêu cầu về vốn tối thiểu dựa trên rủi ro và các biện pháp để
đảm bảo đủ kinh phí được duy trì trong trường hợp xảy ra khủng hoảng. Cụ thể,. Basel
III cũng quy định đối với tất cả các khoản vay có mức độ rủi ro cao cần phải đạt hệ số
rủi ro cao nhất là 150% (nghĩa là khi ngân hàng tính tốn tài sản có rủi ro sẽ nhân với
1.5 ).
Lộ trình để thực hiện Basel III bắt đầu từ tháng 1/2013 và hoàn thành vào cuối
năm 2018.
1.2.3.2. Những điểm mới cơ bản của Basel III
a) Thứ nhất, nâng cao chất lượng vốn.
Chất lượng vốn tốt hơn đồng nghĩa với việc khả năng bù đắp các khoản lỗ tốt
hơn, điều này giúp cho ngân hàng “khỏe” hơn, do đó có khả năng chống đỡ tốt hơn
23

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

trong thời kì khó khăn. Theo quy định này, vốn cổ phần thông thường được quy định
chặt chẽ hơn. Theo quy định hiện tại, những tài sản có chất lượng kém sẽ phải khấu trừ
vào vốn (bao gồm cả vốn cấp 1 và vốn cấp 2). Theo Basel III, việc khấu trừ sẽ nghiêm

ngặt hơn, khấu trừ thẳng vào vốn cổ phần thông thường. Hơn nữa, định nghĩa vốn cấp
1 cũng quy định chặt chẽ hơn bao gồm vốn thường và các cơng cụ tài chính có chất
lượng theo những tiêu chuẩn chặt chẽ.
b) Thứ hai, yêu cầu các ngân hàng bổ sung thêm vốn.
Theo quan điểm của Basel, chất lượng vốn tốt hơn vẫn chưa đủ. Rút kinh nghiệm
từ bài học của cuộc khủng hoảng tài chính, Ủy ban Basel cho rằng khu vực ngân hàng
cần nhiều vốn hơn nữa. Do đó, những tiêu chuẩn về hạn mức tối thiểu về vốn của các
ngân hàng sẽ tăng mạnh trong những năm tới. Theo quy định này, các ngân hàng phải
duy trì mức vốn phù hợp trên mức vốn tối thiểu tùy vào mức độ rủi ro, mơ hình kinh
doanh, điều kiện kinh tế. Khả năng đưa ra các quy định chặt chẽ về vốn của cơ quan
giám sát quốc gia sẽ là yếu tố quan trọng trong các nguyên tắc của Basel III.
Theo Basel III, tỷ lệ an tồn vốn tối thiểu khơng thay đổi vẫn là 8%, nhưng tỷ lệ
của loại vốn có chất lượng cao được nâng lên, cụ thể:
Tỷ lệ Vốn cấp 1 tăng từ 4% trong Basel II lên 6% trong Basel III.
Tỷ lệ Vốn của cổ đông thường (common equity) cũng được tăng từ 2% lên 4,5%.
Bên cạnh đó, những tài sản “Có” với chất lượng vốn có vấn đề cũng sẽ được loại
trừ dần khỏi vốn cấp 1 và vốn cấp 2, như các khoản đầu tư vượt quá giới hạn 15% vào
các tổ chức tài chính.
Bổ sung phần vốn đệm dự phịng tài chính đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu 2,5%.
Tùy theo bối cảnh của mỗi quốc gia, một tỷ lệ vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm theo
chu kỳ kinh tế có thể được thiết lập với tỷ lệ từ 0 - 2,5% và phải được đảm bảo bằng
vốn chủ sở hữu phổ thông (common equity). Phần vốn dự phịng này chỉ địi hỏi trong
trường hợp có sự tăng trưởng tín dụng nóng, nguy cơ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt
động tín dụng một cách có hệ thống.
c) Thứ ba, giới thiệu phương pháp giám sát an toàn vĩ mô hệ thống để các ngân
hàng áp dụng.
Yếu tố quan trọng thứ 3 của quy định mới về vốn là phương pháp giám sát an
tồn vĩ mơ đề cập tới rủi ro hệ thống. Theo Ủy ban, có hai việc cần làm để hạn chế rủi
ro hệ thống hiệu quả. Một là giảm mức độ khuyếch đại của khủng hoảng theo chu kỳ
kinh tế. Đó là xu hướng hệ thống tài chính có thể làm khuyếch đại giai đoạn thăng

trầm của nền kinh tế thực. Hai là mối quan hệ phụ thuộc và những rủi ro chung của các
24

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


Môn: Quản trị ngân hàng nâng cao

GVHD: PGS. TS Lâm Chí Dũng

tổ chức tài chính, đặc biệt đối với những ngân hàng có vai trị quan trọng trong hệ
thống. Như vậy, Basel III là một bước ngoặt trong việc xây dựng các quy định tài
chính. Lần đầu tiên trong các quy định tài chính đề cập tới các thước đo giám sát an
tồn vĩ mơ được sử dụng để bổ sung cho phương pháp giám sát an tồn vi mơ của từng
tổ chức tín dụng. Ủy ban Basel đang nghiên cứu các thước đo đối với những tổ chức
có tầm quan trọng đối với hệ thống.
d) Thứ tư, quy định về tiêu chuẩn thanh khoản đối với các ngân hàng.
Basel III đưa ra tiêu chuẩn về thanh khoản. Đây là điều đặc biệt quan trọng chưa
có tiêu chuẩn quốc tế nào quy định về vấn đề này. Tỷ lệ thanh khoản sẽ được ban hành
vào 1/1/2015, giúp ngân hàng có khả năng chống đỡ ngắn hạn tốt hơn với những căng
thẳng thanh khoản. Quy định này yêu cầu ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh
khoản cao và có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu chi trả trong những trường hợp
khó khăn. Thực tế, việc quản lý rủi ro thanh khoản rất khác nhau tại từng quốc gia. Ủy
ban Basel sẽ sử dụng nhiều quy trình báo cáo để theo dõi các tỷ lệ trong quá trình
chuyển đổi để đảm bảo các tiêu chuẩn được tính tốn như dự kiến.
Các tiêu chuẩn của Basel III khơng có hiệu lực ngay lập tức. Chúng bắt đầu có
hiệu lực từ năm 2013, được thực hiện theo một lộ trình đến hết năm 2018 và sẽ thực
hiện đầy đủ vào ngày 1/1/2019.
Bảng sau sẽ cho thấy lộ trình cụ thể của việc thực thi hiệp ước Basel III:
Đơn vị tính %

Chỉ tiêu/Năm
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu
Vốn đệm dự phòng
Vốn chủ sở hữu tối thiểu cộng vốn
đệm dự phòng
Loại trừ khỏi vốn chủ sở hữu các
khoản vốn không đủ tiêu chuẩn
Tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu
Tỷ lệ tổng vốn tối thiểu
Tổng vốn tối thiểu cộng vốn đệm dự
phòng bắt buộc
Loại trừ khỏi vốn cấp 1 và cấp 2 các
khoản khơng đủ tiêu chuẩn
Vốn dự phịng chống hiệu ứng chu
kỳ

2013
3,5

2014
4.0

2015
4,5

2016 2017
4,5
4,5
0,625 1.25


2018
4,5
1,875

2019
4,5
2,5

3,5

4

4,5

5,125

5,76

6,375

7

20

40

60

80


100

100

4,5
8

5,5
8

6,0
8

6,0
8

6,0
8

6,0
8

6,0
8

8

8

8


9,875

10,5

8,625 9,125

Thực hiện theo lộ trình 10 năm bắt đầu từ năm 2013
Tuỳ theo điều kiện của quốc gia: mức từ 0% - 2,5%
(Nguồn: />
1.2.3.3.

Hạn chế của Basel III
25

Nhóm 14 – Tìm hiểu về Basel


×