Tải bản đầy đủ (.pdf) (66 trang)

SỰ điều CHỈNH CHÍNH SÁCH đối NGOẠI của HOA kỳ đối với MYANMAR TRONG GIAI đoạn cầm QUYỀN của TỔNG THỐNG b OBAMA (2009 – 2014)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (510.77 KB, 66 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: SƢ PHẠM LỊCH SỬ

SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR
TRONG GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA
TỔNG THỐNG B.OBAMA (2009 – 2014)

NGUYỄN QUANG HIỂN

Bình Dƣơng, 05/ 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NIÊN KHĨA 2011 – 2015

SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR
TRONG GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA
TỔNG THỐNG B.OBAMA (2009 – 2014)
Chuyên ngành

:SƢ PHẠM LỊCH SỬ

Giảng viên hƣớng dẫn :THS. LÊ THỊ BÍCH NGỌC


Sinh viên thực hiện

:NGUYỄN QUANG HIỂN

MSSV

:1156020007

Lớp

:D11LS01

Bình Dƣơng, 05/2015


LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành đề tài khóa luận “Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của
Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama
(2009 – 2014)”, tôi xin gửi lời cảm ơn đến người thân và gia đình đã ln động
viên, ủng hộ tơi, đến tất cả bạn bè đã giúp đỡ tôi trong việc tìm kiếm nguồn tài liệu
tham khảo và đưa ra những ý kiến đóng góp cho khóa luận của tơi được hồn thiện
hơn.
Đồng thời, tơi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả quý thầy cô trong khoa
Sử, trường Đại học Thủ Dầu Một đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong q trình học tập và
hồn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thạc sĩ Lê Thị Bích Ngọc –
người trực tiếp hướng dẫn tơi hồn thành khóa luận tốt nghiệp, cơ đã tận tình chỉ
bảo và từng bước hướng dẫn tơi trong suốt q trình từ soạn thảo đề cương cho đến
lúc hồn thiện khóa luận.
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu và khả năng nghiên cứu của bản thân

cho nên khóa luận sẽ khơng tránh khỏi những khiếm khuyết cần được góp ý, sửa
chữa. Kính mong được sự đóng góp ý kiến của q thầy cơ để khóa luận được hồn
thiện hơn.
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn!
Bình Dương, tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Quang Hiển


MỤC LỤC
Trang
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1.Lý do chọn đề tài ................................................................................................1
2.Mục đích nghiên cứu .........................................................................................2
3.Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................3
4.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................5
4.1Đối tƣợng nghiên cứu ..................................................................................5
4.2Phạm vi nghiên cứu .....................................................................................5
5.Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu .....................................................5
6.Đóng góp của đề tài ............................................................................................6
7.Bố cục của đề tài.................................................................................................6
NỘI DUNG ................................................................................................................8
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI
VỚI MYANMAR TRƢỚC GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG
B.OBAMA (1947 – 2008) ..........................................................................................8
1.1Vài nét về Myanmar ....................................................................................8
1.2Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong

giai đoạn 1947 – 1990 .....................................................................................11
1.3Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong
giai đoạn 1990 – 2008 .....................................................................................12
CHƢƠNG 2. SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ
ĐỐI VỚI MYANMAR TRONG GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG
THỐNG B.OBAMA (2009 – 2014) ........................................................................19
2.1 Cơ sở điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar
trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B. Obama (2009 – 2014).......19
2.1.1 Nhân tố bên trong................................................................................19
2.1.2 Nhân tố bên ngoài ...............................................................................21


2.2 Những nội dung điều chỉnh cơ bản trong chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống
B.Obama (2009 – 2014) ..................................................................................31
2.2.1 Lĩnh vực kinh tế ..................................................................................31
2.2.2 Lĩnh vực chính trị – ngoại giao ...........................................................34
2.2.3 Lĩnh vực an ninh – quân sự .................................................................38
CHƢƠNG 3. ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ VỀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI
NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRONG GIAI ĐOẠN CẦM
QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG B.OBAMA (2009 – 2014) VÀ TRIỂN VỌNG
THỰC THI CHÍNH SÁCH NÀY TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI...................41
3.1 Đánh giá sơ bộ về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối
với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama (2009
– 2014) ..............................................................................................................41
3.2 Triển vọng thực thi chính sách ở Myanmar trong thời gian sắp tới ...45
3.3 Một số kiến nghị về đối sách của Việt Nam trong những năm tới.......49
KẾT LUẬN ..............................................................................................................54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................57



NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Bình Dương, tháng 5 năm 2015
GV HƯỚNG DẪN
(Ký và ghi rõ họ tên)


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................

...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Bình Dương, tháng 5 năm 2015
GV PHẢN BIỆN
(Ký và ghi rõ họ tên)


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoa Kỳ là một quốc gia điển hình hướng tới phát huy các giá trị của mình trên
thế giới, thơng qua đó tạo dựng ảnh hưởng đến tồn cầu. Mỗi sự điều chỉnh chính
sách của Hoa Kỳ đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều thu hút sự quan tâm
đặc biệt của các nước khác. Khu vực Đông Nam Á trong mỗi giai đoạn Tổng thống
Hoa Kỳ khác nhau có chính sách đối ngoại với khu vực này khác nhau, khi Tổng

thống B.Obama cầm quyền đã có những điều chỉnh để phù hợp với sự thay đổi của
Hoa Kỳ trong bối cảnh mới theo hướng gia tăng coi trọng khu vực châu Á – Thái
Bình Dương nói chung, khu vực Đơng Nam Á nói riêng. Tổng thống B.Obama cho
rằng quan hệ với Đơng Nam Á mới có vai trị quan trọng đối với lợi ích của Hoa Kỳ
tại khu vực châu Á. Vậy nên Hoa Kỳ cần có một chiến lược lâu dài, ổn định đối với
Đông Nam Á mới là cơ sở cho chính sách thực tế và bền vững.
Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Myanmar không được thuận lợi phát triển từ sau khi
kết quả của cuộc bầu cử tại Myanmar vào năm 1990 với ưu thế thuộc về phe đối lập
khơng được chính quyền qn sự ở Myanmar chấp nhận. Tuy nhiên, trước những
cải cách dân chủ mạnh mẽ và những tiến bộ mà Myanmar đã đạt được từ đầu năm
2011 đến nay, do đó, Hoa Kỳ đã tuyên bố điều chỉnh chính sách đối với nước này.
Cụ thể là các cuộc viếng thăm Myanmar của các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ
diễn ra liên tục trong những năm gần đây, mà nổi bật nhất là chuyến thăm của Tổng
thống B.Obama vào ngày 19/11/2012. Đây được xem là biểu hiện của sự ủng hộ
mạnh mẽ của Hoa Kỳ đối với cuộc cải cách của Myanmar. Việc điều chỉnh chính
sách này cũng là một phần trong kế hoạch quay trở lại châu Á được Hoa Kỳ tuyên
bố tháng 11/2011.
Việc điều chỉnh chính sách của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm
quyền của Tổng thống B.Obama thực chất chỉ bắt nguồn từ việc Hoa Kỳ muốn giảm
dần ảnh hưởng và bành trướng của Trung Quốc đối với quốc gia này, nhằm ngăn
chặn một nước bất kỳ hoặc một khu vực nào có khả năng nổi lên nhằm thách thức
mục tiêu bá chủ toàn cầu của Hoa Kỳ. Sự điều chỉnh này giúp đưa ra những đánh
giá, nhận xét chính xác hơn, dự báo về triển vọng phát triển mối quan hệ này trong
tương lai, đem lại thời cơ nhất định và đồng thời cũng tạo ra những thách thức về sự

1


cạnh tranh giữa các cường quốc, điều mà các nước trong khu vực ASEAN nói riêng
và các nước trên thế giới nói chung đang quan tâm.

Trong nỗ lực triển khai điều chỉnh chính sách đối ngoại ở Myanmar nhằm
tranh thủ và tăng cường quyền lực ở nước này với các cường quốc khác. Điều chỉnh
này của Hoa Kỳ giúp Myanmar ngày càng nâng cao vị thế của chính nước này trong
tổ chức khu vực và quốc tế. Ngoài ra, điều chỉnh chính sách này khơng chỉ tác động
đến quan hệ hai nước Hoa Kỳ - Myanmar mà còn tác động đến quan hệ giữa
Myanmar với các nước khác. Chính điều này tạo điều kiện cho tăng cường hợp tác
giữa các nước trong khu vực với Myanmar mà Việt Nam là một bộ phận của khu
vực Đông Nam Á, nên Việt Nam đối mặt với cả thuận lợi lẫn khó khăn. Vì vậy,
Việt Nam cần vận động một cách khéo léo để đạt được nhiều lợi ích hơn, phải thận
trọng từng bước trong cả quan hệ với Hoa Kỳ, Myanmar.
Vậy liệu Hoa Kỳ dưới chính quyền B.Obama sẽ đi theo chiều hướng cởi mở,
thân thiện, đa phương hơn so với một Hoa Kỳ từng hết sức ngao mạn thời chính
quyền G. W. Bush? Chính sách này có tiếp tục thực hiện được khơng? Chính quyền
B.Obama sẽ thực hiện với những nội dung cụ thể nào trong quá trình thực thi? Và
sự điều chỉnh này có tác động gì đối với Myanmar, Hoa Kỳ? Tất cả những câu hỏi
này đã thôi thúc tơi quyết định chọn đề tài: “Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại
của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống
B.Obama (2009 – 2014)” làm đề tài nghiên cứu và bảo vệ khóa luận tốt nghiệp của
mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này thực hiện nhằm hướng tới các mục đích cụ thể sau:
Một là, khái quát chính sách Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn từ năm
1947 đến năm 2008, tìm hiểu và tiến tới phân tích những cơ sở, mục tiêu dẫn đến sự
điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm
quyền của Tổng thống B.Obama.
Hai là, tìm hiểu nội dung triển khai điều chỉnh chính sách đối ngoại đối với
Myanmar thời Tổng thống B.Obama từ năm 2009 đến 2014. Từ đó, đánh giá vị trí
và vai trị của Myanmar trong chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Nam Á.

2



Ba là, đưa ra một vài nhận xét, cũng như cái nhìn tổng quan về những bước
chuyển biến trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Myanmar từ năm 2009 đến năm
2014. Qua đó, bước đầu đánh giá tác động của việc điều chỉnh chính sách đối với
Myanmar và với Hoa Kỳ, triển vọng của việc điều chỉnh này đối với Myanmar
trong thời gian sắp tới. Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị về đối sách của Việt
Nam trong chuyển biến mới ở khu vực.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xuất phát từ tác động nhanh chóng và sâu sắc, chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ đối với các nước trên thế giới nói chung và với các nước Đơng Nam Á nói
riêng, đã và ln trở thành vấn đề được các nhà nghiên cứu hay các Viện khoa học
khơng chỉ trong nước và đặc biệt ở nước ngồi quan tâm. Có một số cơng trình đề
cập đến vấn đề này được xuất bản thành sách.
Một số cơng trình tiêu biểu như: “Quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN 2001 – 2020”
của GS. TS. Nguyễn Thiết Sơn, Nxb Từ điển Bách khoa, năm 2012, trong tác phẩm
này nêu quan hệ giữa Hoa Kỳ và ASEAN trong bối cảnh quốc tế và khu vực từ năm
2001 đến năm 2020, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với ASEAN trên các lĩnh
vực: kinh tế, chính trị, an ninh và triển vọng về mối quan hệ Hoa Kỳ – ASEAN
trong những năm tới.
“Các vấn đề nghiên cứu về Hoa Kỳ” của PGS. TS. Nguyễn Thái Yên Hương
và PGS. TS. Tạ Minh Tuấn, Nxb Giáo dục Việt Nam, năm 2011. Trong tác phẩm
này tập hợp nhiều bài viết, cơng trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu khoa
học xoay quanh vấn đề về Hoa Kỳ trọng tâm ở nhiều khía cạnh như: lịch sử, văn
hóa, xã hội Hoa Kỳ, chính trị, chính sách đối ngoại.
“Myanmar: Cuộc cải cách vẫn đang tiếp diễn” của PGS. TS. Nguyễn Duy
Dũng, Nxb Từ điển Bách khoa, năm 2013. Trong tác phẩm này cung cấp nhiều
thông tin về đất nước và con người Myanmar, nhất là về cuộc cải cách mà quốc gia
này đang tiến hành, dự báo xu hướng và triển vọng phát triển của Myanmar.
Ngồi ra cịn có các cơng trình: “Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong

và sau chiến tranh lạnh” của tác giả Lê Khương Thùy, Nxb Khoa học xã hội Hà
Nội, năm 2003. “Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ: động cơ của sự lựa chọn thế kỷ
XXI” của tác giả Bruce W. Jentlesson, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2004.

3


“Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ với Đông Nam Á sau Chiến tranh lạnh” của
PGS. TS. Nguyễn Hoàng Giáp, TS. Nguyễn Thị Quế, ThS. Nguyễn Thị Lệ,
“Mianmar lịch sử và hiện tại” của Đại sứ Chu Công Phùng, Nxb Chính trị quốc gia
– Sự thật, Hà Nội, năm 2011…
Bên cạnh đó, gần đây cũng có luận văn nghiên cứu liên quan đến chủ đề này
như “Vấn đề Myanmar trong quan hệ Mỹ – ASEAN” của tác giả Văn Trung Hiếu,
luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn TPHCM, năm 2010. Đề tài
này cung cấp cái nhìn tổng quan về chính sách Đơng Nam Á của Hoa Kỳ đầu thế kỷ
XXI, đồng thời tập trung phân tích nhân tố Myanmar trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và
ASEAN. “Đơng Nam Á trong chiến lược tồn cầu hóa của Mỹ thời kỳ chiến tranh
lạnh” của tác giả Trần Thị Thu, luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học xã hội & Nhân
văn TPHCM, năm 2009.“Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở khu vực
Đông Nam Á từ G.W.Bush đến B.Obama” (từ năm 2001 – nay) của tác giả Lê Thị
Bích Ngọc, luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn TPHCM, năm
2013. “Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Mi – an – ma từ 2009 đến 2013:
Nguyên nhân và tác động”, của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dung, Luận văn thạc sĩ
quan hệ quốc tế, Học viện Ngoại giao, năm 2014.
Ngồi ra tơi cịn tìm thấy những thơng tin, tư liệu bổ ích phục vụ cho việc
nghiên cứu được đăng trên các trang web Nghiên cứu Biển Đơng, tạp chí Nghiên
cứu quốc tế, tạp chí nghiên cứu Đơng Nam Á, tạp chí Châu Mỹ ngày nay…
Nhìn chung, qua các cơng trình, quan hệ giữa Hoa Kỳ với các nước Đông
Nam Á trong những năm đầu của thế kỷ XXI được phản ánh trên nhiều lĩnh vực.
Tuy nhiên riêng về đề tài tôi thực hiện về điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa

Kỳ với Myanmar chưa có một cơng trình nào nghiên cứu cụ thể, mà chỉ là những
bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học do các nhà nghiên cứu tìm hiểu. Những
bài viết này đều chỉ cung cấp về một khía cạnh cụ thể mà khơng có cái nhìn khái
qt và tồn diện về sự điều chỉnh chính sách ở Myanmar nói riêng và với khu vực
Đơng Nam Á nói chung. Vì đề tài này có phần liên quan đến sự điều chỉnh và biện
pháp thực hiện chính sách được triển khai của chính quyền B.Obama hiện nay nên
khi thực hiện đề tài tôi không thể tiếp cận một cách đầy đủ mà chủ yếu kế thừa từ
sách, báo, mạng Internet và báo chí trong nước. Vì vậy, tơi gặp chút khó khăn trong

4


việc tổng hợp và phân tích tài liệu nên khi đưa ra nhận xét, đánh giá thì tơi cần phải
cân nhắc để thể hiện được tính khách quan và khái quát nhất về vấn đề này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu và phân tích sự điều chỉnh chính sách đối
ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống
B.Obama. Trong đó, khóa luận tập trung vào sự điều chỉnh chính sách về lĩnh vực
kinh tế, chính trị – ngoại giao và an ninh – quân sự của Hoa Kỳ đối với Myanmar –
những lĩnh vực liên quan đến việc định hướng phát triển của Myanmar theo hướng
gần gũi với Hoa Kỳ.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận lấy mốc từ năm 2009 đến năm 2014 tương
ứng với giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama. Nội dung chính của khóa
luận sẽ tập trung phân tích điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với
Myanmar từ năm 2009 đến năm 2014.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Đề tài “Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar
trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống B.Obama (2009 – 2014)” dựa trên hệ

thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng về cơ sở lý luận của phương pháp nghiên cứu xun suốt trong q trình làm
khóa luận.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử kết hợp với phương
pháp logic nhằm làm nổi bật nội dung cốt lõi của vấn đề. Ngồi ra, tơi cịn dựa trên
những nguồn tài tài liệu sẵn có, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh đối chiếu… từ đó tơi đưa ra nhận xét, đánh giá riêng để làm rõ vấn đề, đồng
thời cũng giúp người đọc có cái nhìn khái qt về quan hệ giữa Hoa Kỳ và
Myanmar trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2014.
Nguồn tài liệu bao gồm có các sách chuyên khảo, cơng trình nghiên cứu, báo –
tạp chí khoa học, các luận văn thạc sĩ và tài liệu trên các trang web…

5


6. Đóng góp của đề tài
Thơng qua việc phân tích những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của
Hoa Kỳ đối với Myanmar thời kỳ Tổng thống B.Obama và thực tế triển khai chính
sách ở đây để cho thấy vai trị, vị trí quan trọng của Myanmar nói riêng và khu vực
Đơng Nam Á nói chung trong chiến lược tồn cầu mới của Hoa Kỳ. Đồng thời, còn
chỉ ra những tác động phức tạp trong quá trình thực hiện điều chỉnh chính sách đối
ngoại của Hoa Kỳ đối với các nước trong khu vực và đối với Việt Nam. Ngoài
những tác động của điều chỉnh chính sách này ra, cịn có triển vọng quan hệ Hoa Kỳ
và ASEAN trong những năm tới.
Qua những vấn đề mà tôi tập trung làm rõ, tôi mong muốn kết quả nghiên cứu
đạt được của khóa luận này có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai
muốn tìm hiểu và nghiên cứu về chính sách của Hoa Kỳ ở Myanmar nói riêng,
Đơng Nam Á và ở châu Á – Thái Bình Dương nói chung.
7. Bố cục của đề tài
Ngồi phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được

gồm có 3 chương như sau:
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ
ĐỐI VỚI MYANMAR TRƢỚC GIAI ĐOẠN CẤM QUYỀN CỦA TỔNG
THỐNG B.OBAMA (1947 – 2008)
Chương này chủ yếu tập trung cung cấp cái nhìn tổng quát về chính sách đối
ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar từ khi chính thức đặt quan hệ đối ngoại (năm
1947) đến trước nhiệm kỳ của Tổng thống B.Obama, tức là vào năm 2008, với hai
giai đoạn 1947 – 1990 và 1990 – 2008.
CHƢƠNG 2. SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA
KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRONG GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG
THỐNG B. OBAMA (2009 – 2014)
Chương này đề cập đến sự tất yếu phải điều chỉnh chính sách của Hoa Kỳ đối
với Đơng Nam Á nói chung và Myanmar nói riêng. Có thể kể đến sự điểu chỉnh này
xuất phát từ những yếu tố bên trong nội bộ Hoa Kỳ cũng như sự thay đổi của thế
giới, quan trọng là định hướng của chính quyền B.Obama và những bước phát triển

6


vượt bậc của Đông Nam Á, của Myanmar. Nội dung điều chỉnh của chính sách này
chủ yếu trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị – ngoại giao và an ninh – quân sự.
CHƢƠNG 3. ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ VỀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH
ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MYANMAR TRONG GIAI ĐOẠN
TỔNG THỐNG B.OBAMA (2009 – 2014) VÀ TRIỂN VỌNG THỰC THI
CHÍNH SÁCH NÀY TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI
Chương cuối cùng chủ yếu đánh giá những điều chỉnh và tổng hợp những tác
động của sự điều chỉnh này của Hoa Kỳ thời Tổng thống B.Obama đối với
Myanmar, với cả Hoa Kỳ. Qua đó, đưa ra những dự báo về triển vọng thực thi chính
sách này ở Myanmar trong thời gian sắp tới. Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị về
đối sách của Việt Nam để cần có biện pháp kịp thời trong những năm sắp tới.


7


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ
ĐỐI VỚI MYANMAR TRƢỚC GIAI ĐOẠN CẦM QUYỀN CỦA TỔNG
THỐNG B.OBAMA (1947 – 2008)
1.1 Vài nét về Myanmar
Điều kiện tư nhiên và tài nguyên thiên nhiên. Myanmar là đất nước nằm ở phía
Tây thuộc khu vực Đơng Nam Á lục địa. Với tọa độ 90 32’ – 280 31’ vĩ độ Bắc và
920 15’ – 1010 11’ kinh độ Đơng. Myanmar có diện tích khoảng 678.500 km2 nên
quốc gia này được xem là có vị trí địa chiến lược vơ cùng quan trọng. Phía Bắc tiếp
giáp với khu tự trị Tây Tạng và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc với chiều dài biên
giới 2185 km. Phía Đơng giáp Lào, Thái Lan. Phía Nam giáp biển Andaman và
vịnh Bengal. Phía Tây giáp Ấn Độ và Bangladesh. Đường bờ biển của Myanmar có
tổng chiều dài 2965 km. Với vị trí này, Myanmar thuận lợi điểm trung chuyển giao
lưu buôn bán qua Ấn Độ Dương.
Địa hình của Myanmar trải dài và thấp dần từ phía Bắc xuống phía Nam.
Vùng phía Bắc Myanmar với nhiều đồi núi và cao nguyên nằm sâu trong lục địa ở
phía Bắc, phía Đơng và phía Tây của Myanmar. Vùng phía Nam Myanmar bao gồm
tồn bộ vùng ven biển, những cánh rừng nhiệt đới và những vùng đồng bằng châu
thổ màu mỡ được các con sông Irrawaddy, Thanlwin… bồi đắp tạo thành. Sơng
ngịi ở Myanmar, có Irrawaddy là con sơng lớn nhất ở nước này, nó cũng là biểu
tượng cho thiên nhiên giàu có và tươi đẹp của đất nước này. Con sơng Irrawaddy
được hình thành do sự hợp dịng chảy của sơng Malihka và sơng Myahka, khởi
nguồn từ vùng núi Kachin ở phía Bắc. Sơng Irrawaddy chảy suốt chiều dài đất nước
và có vai trị quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của Myanmar. Mặt khác, nó
có vai trị như huyết mạch giao thơng, mà cịn cung cấp lượng nước cho cơng trình
thủy lợi, bồi đắp 260 triệu tấn/ năm phù sa cho đồng bằng châu thổ.

Sự chia cắt về địa hình tạo nên sự đa dạng của khí hậu Myanmar. Vì ảnh
hưởng của gió mùa nên khí hậu ở Myanmar có hai mùa chính trong một năm – một
mùa mưa và một mùa khô – và một mùa đơng chuyển tiếp. Với vị trí địa lý và độ
cao cũng góp phần tạo nên tính đối lập của khí hậu của quốc gia này. Khi vùng cực
Nam nước này gần xích đạo nên nóng quanh năm thì vùng cực Bắc thường xuyên

8


có tuyết. Vùng đồng bằng châu thổ miền Nam nằm hồn tồn trong vành đai nhiệt
đới nóng ẩm thì cao ngun Shan lại chịu ảnh hưởng của khí hậu ơn đới, giá lạnh
vào ban đêm. Nhiệt độ trung bình của miền Trung cao hơn những nơi khác ở
Myanmar do lượng mưa ít (dưới 1000 mm) và riêng tại cố đơ Bagan kể từ thế kỷ
XVIII đã diễn ra quá trình sa mạc hóa do sự can thiệp của con người.
Do sự đa dạng của địa hình và khí hậu góp phần tạo cho Myanmar một hệ
động thực vật đa dạng với gần 300 lồi thú, 300 lồi bị sát, 100 loài chim và 7000
loài thực vật. Cây gỗ Tếch là loại cây quý nhất ở Myanmar, chiếm 3/4 trữ lượng của
thế giới, được phân bố tập trung nhiều ở vùng cao nguyên Shan – nơi có lượng mưa
lớn trên 2280 mm. Vùng miền Nam có rất nhiều loại cây ăn quả nhiệt đới như ổi,
xoài, dừa, dứa, đu đủ… Những cánh rừng được phủ xanh vùng duyên hải và ở
những vùng ven biển, khu vực đảo Amanđa có rất nhiều dừa. Vùng đồng bằng châu
thổ là vựa lúa. Mặt khác, người nông dân Myanmar cũng gieo trồng nhiều loại cây
công nghiệp khác như lạc, ngô, bông, đay, chè… Tài nguyên khống sản của
Myanmar rất phong phú, đa dạng với chín loại đá quý và các loại khoáng sản khác
như dầu mỏ, khí đốt, than, kẽm, thiếc… với trữ lượng lớn.
Dân cư và tơn giáo. Tổng số dân của Myanmar tính đến tháng 7/2010 là 59,1
triệu người, với mật độ dân số trung bình khoảng 87 người/ 1 km2. Tỷ lệ tăng dân số
trung bình trong cả nước là 1,75%. Myanmar là quốc gia đa sắc tộc với 135 tộc
người khác nhau, chủ yếu là người Miến chiếm 68% tổng số dân – sống ở các khu
vực đồng bằng châu thổ sông Irrawaddy, sau nữa là người Shan chiếm 9% sống ở

phía Đơng Bắc và khu vực biên giới với Thái Lan, người Karen chiếm 8%, người
Kachin chiếm 7%, người Rakhine chiếm 4% và 4% các tộc người khác còn lại.
Phần lớn các dân tộc này chủ yếu đều di cư từ nơi khác đến và định cư tại
Myanmar. Trong đó, người Môn – Khmer là những người đầu tiên di cư đến
Myanmar, tiếp đến là người Tạng – Miến và người Thái Hán. Ngồi ra có khoảng 5
triệu người nước ngồi sinh sống tại Myanmar, trong đó đơng nhất là người Hoa,
người Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan.
Không chỉ là một quốc gia đa dang về tộc người, Myanmar còn là đất nước đa
dạng về tôn giáo, bao gồm đạo Phật chiếm 89,3% số dân, Thiên chúa giáo chiếm
5,6% số dân, đạo Hồi chiếm 3,8% số dân, đạo Hindu chiếm 0,5% số dân. Còn các

9


tôn giáo khác như đạo Do Thái…chiếm khoảng 0,8% số dân. Đạo Phật được Thủ
tướng U Nu tuyên bố là Quốc giáo của Myanmar năm 1961.
Những đặc điểm của Myanmar về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên,
dân cư và tôn giáo là yếu tố chi phối mạnh mẽ đến sự phát triển mạnh mẽ của
Myanmar từ khi thành lập quốc gia thống nhất cho đến nay. Tiến trình lịch sử của
Myanmar khá độc đáo dù thuở ban đầu mang nhiều nét tương đồng với các quốc gia
khác ở Đơng Nam Á trong nền văn hóa đá cũ, đá giữa, đá mới, đồng thau và sắt.
Vào đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, một vài tộc người đã đến định cư tại
Myanmar như người Pyu, người Môn và lập nên những nhà nước sơ khai đầu tiên,
đánh dấu Myanmar bước vào quỹ đạo văn minh. Vì sự đa dạng về tộc người nên
lịch sử Myanmar bị chi phối mạnh mẽ bởi quá trình đấu tranh sắc tộc, đặc biệt giữa
nhóm người Miến, người Mơn, người Pyu, người Shan với nhau. Cuộc đấu tranh đã
làm cho người Pyu tan biến vào cộng đồng người Miến và người Môn cũng dần
biến mất. Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh nội bộ từ năm này sang nay khác, một quá
trình vận động hòa hợp thống nhất cũng diễn ra ngay từ đế chế Bagan đầu tiên. Do
đó những khác biệt về văn hóa giữa các tộc người dần được thu hẹp và các tộc

người khác nhau càng hướng đến những giá trị chung. Trong thời phong kiến, Miến
Điện được xem là một đế quốc ở Đông Nam Á. Vua Miến Điện thuộc mỗi triều đại
đều thích chinh phục các lãnh thổ láng giềng và để khẳng định quyền lực của mình.
Vì thế, mục tiêu thống nhất đất nước không những không được thực hiện mà còn
nổi lên những cuộc nổi dậy đậm màu sắc tộc, đất nước bị chia cắt và bị xâm lược.
Chính sách chia để trị của thực dân Anh đã làm sâu sắc thêm sự chia cắt đó mà hậu
quả vẫn dai dẳng đến ngày nay.
Từ khi cuộc đấu tranh đòi thực dân Anh trao trả độc lập thành cơng đến nay,
người Myanmar đã khơng ngừng cố gắng tìm kiếm một cách thức phát triển và mơ
hình nhà nước phù hợp với đặc điểm của quốc gia này. Lịch sử hiện đại Myanmar
dù có lúc chậm lại nhưng vẫn theo kịp xu hướng phát triển chung của nhân loại.
Hiện nay, Myanmar được chia thành 7 bang (gồm có: bang Chin, bang Kachin,
bang Kayin, bang Kayah, bang Mon, bang Rakhine và bang Shan) và 7 vùng hành
chính (gồm có: vùng Ayeyarwady, vùng Bago, vùng Magway, vùng Mandalay,
vùng Sagaing, vùng Tanintharyi và vùng Yangon). Các vùng hành chính được chia

10


nhỏ tiếp thành các thành phố, khu vực và các làng. Các thành phố lớn được chia
thành các quận. Ngoài ra, các bang của Myanmar lại được chia thành các huyện,
trong đó bang Shan có nhiều huyện (với 11 huyện), bang Chin, bang Mon và bang
Kayah chỉ có hai huyện ở mỗi bang.
1.2 Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai
đoạn 1947 – 1990
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới từng bước có những chuyển
biến to lớn, tác động đến quan hệ quốc tế, từng nước, từng khu vực và đến cả trật tự
mới được thiết lập. Mặt khác, thông qua phân tích bối cảnh thế giới, Hoa Kỳ có thể
hoạch định chính sách đối ngoại phù hợp cần có sự cân nhắc và kết hợp với tình
trạng trong nước nhằm đạt được mục đích xuyên suốt của quốc gia trong tương lai.

Hoa Kỳ bước ra khỏi chiến tranh thế giới thứ hai với sức mạnh tăng lên, là nước
tham chiến sau cùng, đất nước không bị chiến tranh tàn phá, nên có cơ hội tập trung
phát triển kinh tế và khoa học - kỹ thuật. Hoa Kỳ chiếm khoảng 1/2 tổng sản lượng
công nghiệp và trên 70% dự trữ vàng của thế giới tư bản. Hoa Kỳ vượt trội hơn tất
cả các nước về kinh tế, chính trị và quân sự, nhờ những ưu thế này Hoa Kỳ hoàn
toàn có cơ sở để hoạch định chiến lược mới với mục tiêu làm bá chủ thế giới. Cũng
từ đây, Hoa Kỳ đã từ bỏ thông lệ hoạch định chiến lược quốc gia với phần chủ yếu
đề cập chính sách đối nội mà thay vào đó, năm 1947 Hoa Kỳ bắt đầu vạch chiến
lược an ninh quốc gia nhằm chủ yếu đối phó với các mối đe dọa và thách thức từ
bên ngồi đối với lợi ích tồn cầu của mình.
Quan hệ giữa Myanmar và Hoa Kỳ khá tốt đẹp ngay từ đầu chiến tranh thế
giới thứ hai. Khi đó Myanmar cho phép máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ sử dụng
bầu trời Myanmar cùng quân Đồng minh chống lại phát xít Nhật, cho phép quân đội
nhảy dù xuống vùng miền Bắc Myanmar phối hợp với lực lượng vũ trang Myanmar
tại Kachin chống Nhật. Một vị tướng Hoa Kỳ tên là Joe Stillwell đã chỉ huy quân
đội Hoa Kỳ xây dựng một con đường hậu cần xuyên qua khu rừng rậm Myanmar
đến biên giới Trung Quốc. Do xây dựng cơng trình nên hơn 1100 binh lính Hoa Kỳ
hi sinh. Vậy nên sau chiến tranh, Myanmar hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ để tìm
kiếm hài cốt lính Hoa Kỳ trong lãnh thỗ Myanmar. Năm 1947, Hoa Kỳ đã chính
thức cơng nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Myanmar. Đến năm 1948, hai nước

11


chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ. Vào đầu thập niên 1950, Hoa Kỳ
cử chuyên gia kinh tế sang khảo sát cơ sở kinh tế của Myanmar sau chiến tranh để
giúp Chính phủ của Thủ tướng U Nu xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế. Từ đó
đến năm 1962, quan hệ giữa hai nước phát triển mạnh, Hoa Kỳ còn cung cấp viện
trợ giúp Myanmar phát triển. Tuy nhiên, sự kiện đảo chính quân sự tại nước này vào
năm 1962 dẫn đến quan hệ Hoa Kỳ – Myanmar ngày càng xấu đi. Ngay khi Tướng

Ne Win lên cầm quyền, đã từ chối các khoản viện trợ phát triển của Hoa Kỳ, vì cho
rằng các khoản viện trợ này đi ngược lại lợi ích an ninh quốc gia và chính sách đối
ngoại khơng liên kết của Myanmar. Hoa Kỳ và Myanmar hợp tác về phòng chống
ma túy giúp quan hệ song phương ấm dần lên kể từ năm 1974. Myanmar đã nhận
hàng chục máy bay trực thăng chiến đấu mà Hoa Kỳ viện trợ cho nước này. Trong
những năm 1976 – 1977, Myanmar mở rộng quan hệ, nhận viện trợ từ các cơ quan
của Liên Hợp Quốc và Hoa Kỳ trong chiến dịch phòng chống tội phạm ma túy.
Bên cạnh việc Myanmar chấp nhận viện trợ phát triển của Hoa Kỳ, các phong
trào dân chủ phát triển theo, gây nên tình trạng bất ổn về chính trị. Các phong trào
dân chủ phát triển đến đỉnh điểm vào năm 1988, dẫn đến cuộc đảo chính quân sự do
Tướng Saw Maung dẫn đầu. Hoa Kỳ đã lên án gây gắt chính quyền quân sự của
Tướng Saw Maung và giảm dần viện trợ cho Chính phủ Myanmar, mà chuyển sang
ủng hộ các lực lượng đối lập với Chính phủ. Từ đây, Hoa Kỳ đã yêu cầu Myanmar
cần khôi phục dân chủ, nhân quyền, chống ma túy, giảm trồng cây thuốc phiện và
không sử dụng lao động vị thành niên. Chính quyền của Đảng Dân chủ và Đảng
Cộng hịa tại Hoa Kỳ chỉ giúp đỡ Myanmar trong lĩnh vực y tế cộng đồng, phòng
chống HIV/AIDS. Trong thời gian này, Hoa Kỳ đã viện trợ cho Myanmar tổng cộng
hơn 1 triệu USD trong lĩnh vực y tế cộng đồng.
1.3 Khái quát chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Myanmar trong giai
đoạn 1990 – 2008
Hoa Kỳ đã rút Đại sứ khỏi Myanmar sau cuộc bầu cử gây tranh cãi ở nước
này năm 1990 và kể từ đó đến tháng 5/2012, Hoa Kỳ chỉ có một đại diện tại
Yangon, thủ đơ cũ của Myanmar.
Chiến tranh lạnh kết thúc, Hoa Kỳ phải hứng chịu những tổn thất nhưng Hoa
Kỳ có ưu thế là trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới. Trên cơ sở bối cảnh thế

12


giới trong thời kỳ này, chính quyền Hoa Kỳ cho rằng với những ưu trội của mình

trên tất cả lĩnh vực, Hoa Kỳ cần chớp lấy thời cơ để có thể thiết lập một trật thế giới
mới với vai trò lãnh đạo thuộc về mình. Thật vậy, Hoa Kỳ sau chiến tranh lạnh có
được thuận lợi to lớn. Một là, xu thế hịa hỗn chiếm một ưu thế trong quan hệ quốc
tế khi chiến tranh lạnh kết thúc. Quan hệ giữa các nước lớn thay đổi nhanh chóng,
theo hướng tìm kiếm sự cân bằng mới, kiềm chế bất đồng, tránh xảy ra xung đột
mang tính đối kháng. Vì vậy, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt với
nhau, vừa thỏa hiệp và xung đột, mâu thuẫn luôn hiện diện như đặc trưng giữa quan
hệ các cường quốc, nhưng nhìn chung vì lợi ích của riêng mình, các nước đều tránh
đối đầu với Hoa Kỳ. Hai là, Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất còn lại. Tốc độ
phát triển GDP được duy trì ở mức 3 – 4% vào năm 1992 – 1994. Chính quyền Hoa
Kỳ dù có giảm chi phí nhưng việc chi cho quốc phịng của nước này vẫn cao, chiếm
hơn 40% trong tổng chi phí quốc phòng của thế giới.
Về khoa học – kỹ thuật, Hoa Kỳ dẫn đầu trong các ngành như lĩnh vực điện
tốn, xây dựng hệ thống tin học Internet. Ngồi ra, Hoa Kỳ cịn có vai trị trụ cột
trong tồn cầu hóa và tự do mậu dịch, giữ nhiệm vụ trong yếu trong các tổ chức thế
giới như WTO, WB và IMF. Ba là, sự sụp đổ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở
các nước Đông Âu và Liên Xơ là một tổn thất to lớn chưa từng có của phong trào
cách mạng và phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới. Theo cách nhìn của Hoa Kỳ,
đây chính là cơ hội lớn để khuếch trương và truyền bá ý thức hệ tư bản chủ nghĩa,
thúc đẩy dân chủ, tự do và các giá trị Hoa Kỳ trên toàn thế giới. Đồng thời, Hoa Kỳ
đẩy mạnh các biện pháp lơi kéo lực lượng để thực hiện diễn biến hịa bình chống
phá các nước xã hội chủ nghĩa cịn lại. Bên cạnh những cơ hội thuận lợi trên, Hoa
Kỳ còn phải đối mặt với khơng ít thách thức tác động đến hoạch định và triển khai
chính sách của Hoa Kỳ sau chiến tranh lạnh. Các trung tâm quyền lực khác, nhất là
các cường quốc có xu hướng trỗi dậy, khơng chấp nhận trật tự một cực do Hoa Kỳ
lãnh đạo. Chính vì lẽ đó, Hoa Kỳ cần phải thực hiện mọi biện pháp nhằm ngăn chặn
không cho cường quốc liên kết chống lại và thách thức vai trò của Hoa Kỳ trong
tương lại. Thách thức khác đến từ các nước vốn là đồng minh thân cận với Hoa Kỳ
như Nhật Bản và Tây Âu. Khi việc tập hợp lực lượng chống lại cộng sản khơng cịn
tồn tại đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn về lợi ích giữa các nước này với Hoa Kỳ, mà


13


mỗi quốc gia đều có tính tốn riêng phục vụ cho lợi ích của dân tộc mình. Hơn lúc
nào hết, Hoa Kỳ cần tập trung sự ủng hộ của đồng minh và quan hệ hợp tác nhằm
tìm kiếm sự thuận lợi trong việc thực hiện chiến lược toàn cầu của mình. Trong
lịng bản thân chế độ tư bản chủ nghĩa đã có đầy đủ những mâu thuẫn bên trong và
diễn ra khủng hoảng mang tính chu kỳ. Mặt khác, khi trật tự hai cực mất đi, nghĩa là
nó cũng mất đi giới hạn kiềm chế đối với xung đột khác, dẫn đến mọi cuộc xung đột
vũ trang, mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, tranh chấp về quyền lực, biên giới…giữa các
nước ngày càng tăng, vấn đề này đã đe dọa đến an ninh của Hoa Kỳ. Việc tranh cải
của các nhà lãnh đạo qua hai quan điểm theo chủ nghĩa biệt lập hoặc chủ nghĩa quốc
tế về vạch ra chiến lược đối ngoại của Hoa Kỳ. Qua đây, tình trạng nội bộ của nước
này đã khơng cịn sự thống nhất rộng rải về việc xây dựng chiến lược, chính sách
trong thời kỳ mới. Việc đấu tranh và dung hòa các quan điểm này sẽ tác động đến
việc hoạch định chính sách của Hoa Kỳ đối với trong nước và các nước khác, trong
đó có cả Đơng Nam Á và Myanmar. Với những khó khăn về kinh tế mà Hoa Kỳ
phải gánh chịu khi chạy đua vũ trang với Liên Xô đã tốn rất nhiều tiền của tập trung
cho lĩnh vực quân sự mà buông lỏng việc phát triển lĩnh vực khác như kinh tế hay
khoa học – kỹ thuật.
Thời kỳ sau chiến tranh lạnh, nguy cơ nổ ra chiến tranh thế giới suy giảm đi,
Hoa Kỳ tăng cường lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào cơng việc
nội bộ của các nước có vấn đề, trong đó có Myanmar. “Trước năm 2009, Mỹ ln
áp dụng chính sách cấm vận kinh tế và cơ lập chính trị Mi-an-ma nhằm gây sức ép
về tình trạng vi phạm dân chủ, nhân quyền của nước này” [30; tr.36]. Hoa Kỳ đã
thực thi nhiều biện pháp cứng rắn để góp phần vào chính sách cấm vận đối với
Myanmar.
Về chính trị, Hoa Kỳ cũng sử dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tự do tôn
giáo, ủng hộ phái dân chủ chống đối chính quyền Myanmar, mưu toan ngăn cản

ASEAN và ASEM kết nạp Myanmar làm thành viên. Các biện pháp mà Hoa Kỳ đã
sử dụng để chống đối Myanmar bao gồm: cấm cấp visa vào Hoa Kỳ cho các quan
chức cao cấp trong Chính phủ Myanmar cùng những người trong gia đình họ; các
quan chức quản lý các doanh nghiệp thuộc nhà nước quản lý; phong tỏa tài sản của
Chính phủ Myanmar và các nhà lãnh đạo hàng đầu của nước này tại Hoa Kỳ; chống

14


lại việc cho Myanmar vay tiền từ ADB, WB, IMF; cấm nhập khẩu hàng hóa sản
xuất ở Myanmar… Hơn thế nữa, sau cuộc bầu cử tháng 5/1990 ở Myanmar, Hoa
Kỳ chính thức cùng Liên Hợp Quốc và một số nước phương Tây tiến hành thực
hiện lệnh bao vây cấm vận và trừng phạt kinh tế đối với Myanmar. Chính quyền
quân sự không chấp nhận kết quả bầu cử vào tháng 5/1990 do Đảng NLD giành
thắng lợi với 59% tổng số phiếu và 81% ghế trong nghị viện. Hoa Kỳ càng gia tăng
biện pháp trừng phạt Myanmar. Trước tiên, Hoa Kỳ đã hạ cấp quan hệ ngoại giao từ
Đại xứ xuống đại biện lâm thời, cùng với đó là phối hợp với các nước phương Tây
mạnh mẽ thực hiện chính sách cấm vận và trừng phạt kinh tế Myanmar, gia hạn các
lệnh cấm đến năm 1997. Năm 1992, Quốc hội Hoa Kỳ khơng phê chuẩn đại sứ
được chính quyền Hoa Kỳ cử sang Myanmar, với lý do chính quyền quân sự
Myanmar vi phạm nhân quyền. Sau năm 1997, Hoa Kỳ áp đặt thêm biện pháp trừng
phạt, từ đây, Hoa Kỳ hạn chế cấp thị thực cho một số quan chức quân sự Myanmar
và gia đình của họ; Tổng thống B. Clinton đã thông qua sắc lệnh cấm tất cả công ty
tư nhân Hoa Kỳ tiến hành đầu tư mới ở nước này. Vào 6 tháng trong một năm sẽ có
một báo cáo từ Bộ Ngoại giao của Hoa Kỳ trình lên Quốc hội về tình hình của nước
Myanmar. Trong báo cáo này, Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền qn sự cơng nhận kết
quả bầu cử vào tháng 5/1990, giải tán Chính phủ hiện tại và chuyển giao quyền lực
cho bà Aung San Suu Kyi và Đảng NLD. Khi ASEAN kết nạp Myanmar vào Hiệp
hội các nước Đơng Nam Á (ASEAN) thì Hoa Kỳ đã vận động mạnh mẽ quan hệ
nhằm tác động đến ASEAN bãi bỏ việc làm này.

Những năm đầu thế kỷ XXI, thế giới vẫn còn đang trong giai đoạn chuyển tiếp
từ trật tự hai cực sang một trật tự mới theo hướng đa cực. Các cường quốc điều
chỉnh chính sách đối ngoại theo cách tiếp cận của mình đối với các vấn đề quốc tế,
mà chúng ta phát triển theo hướng đan xen, phức tạp, có tác động nhiều đến quan hệ
song phương, đa phương của các quốc gia dân tộc. Các mâu thuẫn vẫn tiếp tục tồn
tại trong chính nội tại của quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Ngoài ra,
Myanmar là thành viên của ASEAN gây ra ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình
hợp tác của ASEAN với Hoa Kỳ. Sự kiện ngày 11/09/2001, Hoa Kỳ điều chỉnh
chính sách đối ngoại nhằm tập trung hơn vào cuộc chiến chống khủng bố trên tồn
cầu và khu vực Đơng Nam Á mà trọng tâm là các phần tử khủng bố và cơ sở huấn

15


luyện ở đây. Chính quyền Myanmar phải đường đầu với “phần tử ly khai và Hồi
giáo cực đoan ở khu vực biên giới phía Bắc” [30; tr.37], dẫn đến hợp tác giữa
Myanmar và Hoa Kỳ sau một thời gian dài để truy tìm nhóm khủng bố Hồi giáo cư
trú tại Myanmar. Tháng 3/2002, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua nghị quyết thắt chặt
hơn nữa chính sách cấm vận đối với Myanmar.
Sau sự kiện đoàn xe của Aung San Suu Kyi bị tấn công ngày 30/05/2003, Hoa
Kỳ cấm vận tất cả quan hệ thương mại của Myanmar giao dịch bằng đôla của Hoa
Kỳ. Ngày 28/07/2003, Bộ Ngoại giao và Bộ Tài chính Hoa Kỳ ra chỉ thị hành pháp
số 13319, lập danh sách các quan chức Myanmar cấm nhập cảnh vào Hoa Kỳ, đóng
băng tài sản của tất cả các quan chức Myanmar trong danh sách này. Vậy nên, cho
đến năm 2004, Hoa Kỳ hầu như cắt đứt mối quan hệ thương mại đối với Myanmar.
Vào tháng 9/2004, khi chính quyền Myanmar thay thế Bộ trưởng Ngoại giao
và Thủ tướng, Hoa Kỳ vẫn khơng hài lịng. Đây là những biểu hiện của sự can thiệp
thô bạo vào công việc nội bộ của Myanmar từ phía Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã có chủ
trương vừa duy trì sức ép từ bên ngồi, u cầu Myanmar tiến hành cải cách triệt
để, vừa xây dựng khả năng và ý chí chính trị cho sự thay đổi bên trong đất nước để

buộc Myanmar phụ thuộc vào Hoa Kỳ. Tổng thống G. W. Bush đã tập trung chuyển
hướng sang Myanmar vào năm 2004. Việc Hoa Kỳ làm ầm ĩ đối với Myanmar thực
sự chỉ là sự đe dọa, được khốc bên ngồi cái vỏ dân chủ cho đẹp mà trên thực tế
Hoa Kỳ sử dụng những tiêu chuẩn dân chủ khác nhau. Tuy nhiên, khi thực hiện
chiến lược mới với chính sách dân chủ nhân quyền, Hoa Kỳ đã thuyết phục Liên
Hợp Quốc áp dụng biện pháp trừng phạt kinh tế và chính trị đối với chính quyền
quân sự Myanmar, đồng thời cũng lên án Myanmar và ép ASEAN phải gây áp lực
buộc Myanmar giải quyết vấn đề dân chủ, nhân quyền làm cho nội bộ ASEAN đã
có nhìn nhận khác nhau về vấn đề Myanmar. Năm 2007, Myanmar có cuộc cải tổ
Chính phủ. Theo đó, Thủ tướng được giao cho Trung tướng Thein Sein kết hợp với
Hội đồng hịa bình và phát triển quốc gia (SPDC) Myanmar đưa ra lộ trình 7 bước
cho việc tiến hành cải cách Hiến pháp và chính trị, bao gồm việc triệu tập một hội
nghị toàn quốc để tiến hành dự thảo Hiến pháp mới.
Về kinh tế, từ sau chính biến năm 1988, chính quyền quân sự lãnh đạo đất
nước Myanmar đã bị Hoa Kỳ chỉ trích về vấn đề nhân quyền và tiến hành bao vây

16


cấm vận đối với nước này, nhiều cơng ty xí nghiệp lớn của Hoa Kỳ bị cấm đầu tư
vào nước này. Lệnh trừng phạt buôn bán chống Myanmar của Quốc hội Hoa Kỳ
xiết chặt sau khi bà Aung San Suu Kyi bị bắt. Hoa Kỳ cho rằng, Myanmar là điểm
tắc thực sự, nơi đây nếu Hoa Kỳ tạo được chỗ đứng sẽ ngăn chặn được ảnh hưởng
của Trung Quốc, Ấn Độ. Ngày 22/10/2004, Tổng thống G. W. Bush tuyên bố ngưng
một số viện trợ của Hoa Kỳ dành cho Myanmar, lên tiếng thúc đẩy dân chủ ở
Myanmar như Hoa Kỳ từng làm ở nước khác như Iraq, Afghanistan và cả khu vực
Trung Đông. Minh chứng cụ thể, việc Hoa Kỳ cam kết chống HIV/AIDS nhưng mà
Hoa Kỳ lại ngăn cấm viện trợ cho Myanmar chống lại căn bệnh này. Do vậy, cuộc
khủng hoảng HIV/AIDS tại Myanmar được coi là tồi tệ nhất khu vực Đông Nam Á.
Hoa Kỳ ngăn cấm các nhà hoạt động chính trị, quân sự và kinh tế của chính nước

này đến thăm Hoa Kỳ. Ngồi ra, lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ đối với Myanmar đã
làm cho xuất khẩu của nước này sang Hoa Kỳ giảm sút, thậm chí xuống bằng
khơng. Xuất khẩu của Myanmar sang Hoa Kỳ đạt 456 triệu USD chiếm 19% tổng
kim ngạch xuất khẩu của nước này vào năm 2001. Trong đó, hơn 70% hàng xuất
khẩu sang Hoa Kỳ là dệt may, nhưng mà con số này bị giảm xuống bằng không vào
năm 2004. Hệ quả tất yếu của biện pháp này đã chấm dứt hoạt động trao đổi kinh tế
thương mại giữa hai nước vào năm 2004, nhưng quan hệ ngoại giao vẫn duy trì dù
chỉ là cấp đại biện lâm thời. Thực hiện áp đặt lệnh trừng phạt buôn bán chống
Myanmar, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mở rộng diện không cấp thị thực đối với toàn bộ
thành viên của mọi tổ chức liên quan đến chính quyền quân sự Myanmar. Tiếp đến
Ủy ban đối ngoại của Hạ viện của Hoa Kỳ đã thống nhất thông qua điều luật về tăng
cường hơn nữa các biện pháp trừng phạt về thương mại và kinh tế đối với
Myanmar. Vì vậy, do toan tính riêng, Hoa Kỳ đã tìm cách gây sức ép, can dự vào
Myanmar, khi mà lực lượng cầm quyền được xem là dân chủ gần gũi với Hoa Kỳ
đã bị lật đổ, nguy cơ đe dọa lợi ích của Hoa Kỳ bởi sự ủng hộ của Trung Quốc, Ấn
Độ, Bangladesh, đặc biệt là các nước thành viên trong ASEAN đối với Myanmar.
Mặt khác, tình trạng vi phạm dân chủ, nhân quyền tại Myanmar ngày càng
tăng, đặc biệt từ việc đàn áp tàn bạo cuộc biểu tình các nhà sư vào năm 2007. Hoa
Kỳ phản ứng đối với sự kiện này qua biện pháp thắt chặt hơn những chính sách cấm
vận đối với quốc gia này. Có thể nói đến việc hạn chế nhập khẩu ngọc bích và rubi

17


có nguồn gốc từ Myanmar, cấm người dân Hoa Kỳ giúp đỡ người khác đầu tư vào
Myanmar, Hoa Kỳ đã vận dụng ảnh hưởng to lớn của mình trong tổ chức quốc tế
như IMF, WB… phủ quyết mọi khoản vay hoặc viện trợ tài chính cho Myanmar.
Tóm lại, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn từ năm 1947 – 1990
đối Myanmar có những lúc thăng trầm những vẫn duy trì quan hệ giữa hai nước một
cách ổn định. Do chính quyền qn sự Myanmar khơng chấp nhận kết quả cuộc bầu

cử vào năm 1990 nên trong giai đoạn 1990 – 2008, Hoa Kỳ đã thực hiện, duy trì và
gia tăng cấm vận về kinh tế, đầu tư của nước ngồi, viện trợ đối với Myanmar. Phần
lớn chính sách cấm vận Myanmar của Hoa Kỳ chủ yếu là do vị phạm dân chủ, nhân
quyền nghiêm trọng. “Chính sách này đã phần nào ảnh hưởng đến chính sách và
quan hệ của Mỹ, phương Tây với ASEAN” [30; tr. 40]. Hơn nữa, Myanmar tham
gia ASEAN cũng là một cách giúp khối này cân bằng các mối quan hệ trong khu
vực dù quan hệ ASEAN và phương Tây xấu đi. Do đó, chính sách cấm vận tồn
diện của Hoa Kỳ đối với Myanmar có tác động tích cực, nhưng về cơ bản thì những
lệnh cấm vận này có nhiều hạn chế nên chính quyền qn sự vẫn duy trì việc thống
trị của mình ở Myanmar dù có những thay đổi. Với mục đích của mình là lãnh đạo
thế giới nên Hoa Kỳ cần có biện pháp cụ thể trong chính sách đối ngoại dựa trên các
yếu tố, trong đó có dân chủ, nhân quyền. Đây là hai yếu tố mà Hoa Kỳ cho rằng
Myanmar vi phạm nghiêm trọng và nước này cần có sự thay đổi hướng để Hoa Kỳ
sẽ có những chính sách mới phù hợp với Myanmar. Chính sách cấm vận của Hoa
Kỳ đối với Myanmar góp phần chuyển hướng tới Myanmar thành lập một chính
quyền mới dân chủ, hướng tới phương Tây và Hoa Kỳ. Điều này giúp tăng cường
ảnh hưởng và quyền lợi của Hoa Kỳ ở nước Myanmar nói riêng, khu vực Đơng
Nam Á nói chung.

18


×