LÀNG XÃ VIỆT NAM.
-
-
-
-
-
1. Khái niệm:
Làng là một đơn vị cư trú và một hình thức tổ chức xã h ội quan tr ọng c ủa
nông thôn ở Việt Nam.
Suốt nhiều thế kỷ, làng là đơn vị tụ cư cổ truyền lâu đời ở nông thôn người
Việt và là nhân tố cơ sở cho hệ thống nhà nước quân chủ tại Việt Nam. Từ
thời Hùng Vương, làng được gọi là chạ. Đơn vị này có th ể coi tương đương
với sóc của người Khơme, bản (của các dân tộc thi ểu s ố phía B ắc), bn
(của người Ê Đê), làng (của các tộc người bản địa tỉnh Kon Tum và Gia Lai).
2. Cấu trúc của làng xã :
Làng truyền thống điển hình thời trung và cận đại là một tập hợp nh ững
người có thể có cùng huyết thống, cùng phương kế sinh nhai trên một vùng
nhất định. Làng được xem có tính tự trị, khép kín, độc lập, là một vương
quốc nhỏ trong vương quốc lớn nên mới có câu "Hương đảng, tiểu tri ều
đình". Là tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng gi ềng, cùng s ống trên
một khu vực gồm một khu đất để làm nhà ở và một khu đất để tr ồng tr ọt,
một tập hợp những gia đình nhỏ sản xuất và sinh hoạt độc lập”.
Trải qua quá trình phát triển, làng dần trở thành m ột đơn v ị xã h ội c ơ b ản.
Với sự hình thành các mối quan hệ về huyết thống, s ự liên k ết nh ững ng ười
cùng sinh sống theo địa vực, chống chọi với thiên nhiên, khai phá đ ồng b ằng
đã tạo nên tính cộng đồng riêng biệt của làng xã. Làng tr ở thành m ột đ ơn v ị
hành chính cấp cơ sở (xã) từ thế kỷ VII dưới thời thu ộc nhà Đường. Đến th ế
kỷ thứ XIX có tới 12 loại đơn vị hành chính cấp cơ s ở ở vùng Đồng bằng Bắc
Bộ như xã, thơn, phường, giáp, trang trại, xóm… Tuy nằm trong các đ ơn vị
hành chính khác nhau nhưng làng vẫn là một đơn vị xã hội cơ bản. Tên g ọi
làng xã Làng truyền thống là đơn vị xã hội cơ bản, xã là đơn v ị hành chính có
thể bao gồm 1 làng hoặc nhiều làng. Dưới xã có các thơn, dưới làng có các
xóm. Có xã 1 thơn thì làng, xã, thơn là một. Có khi nhi ều xã h ợp l ại thì m ột xã
lại trở thành thơn. Tuy xã là đơn vị hành chính, có th ể có nh ững thay đ ổi qua
các giai đọan nhưng làng vẫn là đơn vị cơ bản của xã. Nói làng xã là đã bao
hàm đầy đủ ý nghĩa của điểm dân cư truyền thống.
Cấu trúc xã hội Quy mô dân cư Thời Lê Thánh Tông, đại xã có 500 h ộ tr ở lên,
khi nào số dân vuợt quá số ấn định ấy 100 hộ thì được tách ra lập xã mới.
Cũng theo P.Gouru (1936) trung bình mỗi làng có 1000 dân, làng l ớn trên
5000 dân, thậm chí có làng trên 10.000 dân, diện tích trung bình khoảng 200
ha, làng nhỏ dưới 50 ha, làng lớn đến 500 ha.
Hiện nay số dân một xã vào khoảng từ 5000-12000 dân, mỗi xã có từ 1 đến 5
làng. Cơ cấu tổ chức và quan hệ xã hội Làng xã truyền th ống có mối quan h ệ
cộng đồng rất cao với các mối quan hệ xã hội nh ư: Gia đình và dịng h ọ: Giai
đoạn phong kiến, với sự ảnh hưởng của Nho giáo, người trưởng họ có uy
quyền lớn trong dịng tộc. Sự tơn trọng dịng họ, muốn dịng họ có uy thế
-
trong làng xã hiện còn ảnh hưởng rõ nét đến ngày nay. Vai trị của người đàn
ơng trong gia đình được đề cao, người phụ nữ phải tuân theo “tam tịng t ứ
đức”. Quan hệ láng giềng ngõ xóm: Làng được chia thành nhi ều xóm, xóm
được chia thành nhiều ngõ. Tuy xóm ngõ chỉ là một bộ phận về mặt cư trú
nhưng có một cuộc sống riêng. Sự giúp đỡ ma chay cưới xin và s ự h ỗ tr ợ
trong lao động sản xuất thường diễn ra giữa những người cùng xóm ngõ.
Quan hệ hàng xóm láng giềng tiêu biểu cho mối quan hệ cộng đ ồng làng xã,
người làng thường có câu “Bán anh em xa, mua láng gi ềng gần”. Quan h ệ
nghề nghiệp: Thông qua các phường hội nghề thủ công. Quan hệ gi ữa những
người cùng hệ về học hành, bằng cấp, tuổi tác: Trong làng có nhi ều h ội: h ội
Tư văn, Tư võ, hội đồng môn, đồng niên… Như vậy, một cá nhân trong làng xã
có nhiều mối quan hệ ràng buộc: Trong gia đình, trong dịng h ọ, trong m ối
quan hệ với người làng, mối quan hệ với các đồng nghiệp, đồng mơn, quan
hệ với chính quyền. Các mối quan hệ này đan xen, tác động l ẫn nhau. Ng ười
làng làm gì cũng phải nhìn vào nhiều mối quan hệ để ứng xử.
Thể chế xã hội: Thời Pháp, chính quyền vẫn cùng chế độ phong ki ến duy trì
làng xã tự quản. Làng xã có Hội đồng kỳ mục, h ội đ ồng xã, lý tr ưởng, tu ần
đinh… thực hiện các nghĩa vụ quản lý Nhà nước. Nhưng đồng th ời làng cũng
có lệ làng riêng (Hương ước) với sức mạnh chi phối cuộc sống xã h ội c ủa
cộng đồng, đôi khi vượt lên cả sự chi phối của luật pháp qu ốc gia. Ng ười dân
thường nói “Phép vua thua lệ làng”. Vẫn có th ể thấy sức mạnh của l ệ làng
qua các bản Hương ước cịn lưu giữ đến ngày nay. Tơn giáo tín ngưỡng:
Người dân vùng Đồng bằng Sơng Hồng chịu ảnh hưởng của các dịng tơn giáo
như Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo. Thời thuộc Pháp cịn có s ự du nhập của
đạo Thiên Chúa và một số dịng khác. Có sự hịa đ ồng c ủa các tơn giáo k ết
hợp với các tín ngưỡng bản địa như thờ người anh hùng, thờ Mẫu, th ờ Thành
Hoàng, những người theo đạo Thiên chúa cũng không coi đ ạo khác là tà đ ạo.
Việc thờ cây, thờ đá cũng có tác dụng bảo vệ thiên nhiên: “Thần cây Đa, ma
cây Gạo, cú cáo cây Đề’ Hoạt động kinh tế Hoạt động nông nghi ệp tr ồng lúa
nước với nền sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp là đặc đi ểm cơ bản của n ền kinh
tế làng xã thời phong kiến. Nhà nước phong kiến chống lại việc s ở h ữu l ớn
ruộng đất. Đạo luật năm 1708 cấm các quan chức và các nhà hào phú l ợi
dụng sự nghèo khó hay sự lưu tán của dân làng đ ể cưỡng mua nhiều ru ộng
đất và lập nên trang trại lớn. Thời Pháp ở Bắc Ninh ch ỉ có 8% s ố ch ủ đ ất có
từ 3-10 mẫu. Sản xuất nhỏ tự cung tự cấp và đặc biệt chế độ ru ộng cơng
(ruộng quan, ruộng đình, ruộng chùa, ruộng họ…) ln được duy trì ở m ột
mức độ nhất định càng củng cố thêm tâm lý lối sống cộng đồng khép kín,
tính tự trị ở làng xã. Nhìn chung, các quan hệ xã hội và th ể ch ế xã h ội n ổi b ật
của làng xã truyền thống đó là mối quan hệ cộng đồng đan xen, nhi ều chi ều
và tính tự trị rõ nét. Điều này đã tạo nên sức mạnh c ủa c ộng đ ồng, đ ảm b ảo
-
-
sự tồn tại của làng xã hàng ngàn năm, tạo nên những giá tr ị văn hóa truy ền
thống.
Cấu trúc không gian làng xã truyền thống Các làng xã vùng Đồng b ằng Sơng
Hồng có cấu trúc tương tự như nhau. Nhìn tổng thể làng nằm trong m ột khu
vực đất cao ráo có luỹ tre bao bọc, xung quanh là đ ồng ru ộng. Các thành
phần chủ yếu của làng có Lũy tre, cổng – Nhà ở – Cơng trình cơng c ộng (đình,
điếm, qn, văn chỉ…) – Cơng trình tơn giáo (chùa, mi ếu, ph ủ…) – Gi ếng, Ao
làng – Cây xanh trong làng – Đồng ruộng – Nghĩa địa. Hệ th ống đ ường giao
thông làng phân nhánh kiểu cành cây hoặc ki ểu răng lược. C ấu trúc phân
nhánh kiểu cành cây là phổ biến hơn cả. Những làng có cấu trúc ki ểu răng
lược là những làng ven sông, hồ như làng Nghi Tàm (Tây H ồ – Hà N ội) n ằm
ven hồ Tây, hay làng Khúc Thủy, Cự Đà (Thanh Oai) nằm ven sơng Nhu ệ.
Trong làng thường có trục đường chính (đường làng), dưới là các xóm, ngõ.
Xóm là tên gọi chỉ một khu vực các hộ gia đình đi chung một đường ngõ chính
nối với đường làng. Rất ít các ngõ nối thông v ới nhau, h ầu h ết là ngõ c ụt. Vì
thế, thường có tình trạng “Gần nhà, xa ngõ”. Nhiều làng có cổng của ngõ
(xóm).
Làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây hiện cịn các xóm: xóm Sui, xóm Sải, xóm Đình,
Xóm Miễu, xóm Giang… Làng thường chỉ có 1, 2 cổng chính nối v ới đường
liên xã, còn lại là cổng của đường ra cánh đồng. Hệ th ống đường dựa trên
phương tiện giao thông đi bộ. Đường làng thường rộng 2,4-3,5m, đường
chính rộng khoảng 5m (phần đường lát 3-3,5m). Đường lát gạch đỏ, gạch lát
nghiêng, có thể vận chuyển lúa, nông sản bằng phương ti ện xe trâu bị kéo.
Các kiến trúc khơng thể thiếu trong một làng Bắc Bộ là: cổng làng, đình làng,
lũy tre, chùa, miếu, phủ, đền, văn chỉ, văn mi ếu, nhà th ờ h ọ, ch ợ, gi ếng làng,
ao làng ….
3. Tổ chức hành chính và tổ chức xã hội của làng xã VN:
3.1 . Tổ chức hành chính:
Trong làng xã Việt Nam cổ truyền, Hội đồng kỳ mục nắm toàn b ộ quy ền
quyết định và điều hành mọi hoạt động của làng xã như phân bổ thu ế, s ưu
dịch, lính tráng, bầu cử tổng lý và thi hành khốn ước phân cấp cơng đi ền, s ử
dụng quỹ làng, bàn việc sửa chữa, xây dựng đình chùa, trường học, tổ ch ức
đình đám, khao vọng... Tình trạng ẩn lậu về dân đinh và đi ền th ổ vẫn ti ếp
tục diễn ra dẫn đến sự không ki ểm soát được nguồn thu sưu thu ế. Thành
phần của Hội đồng kỳ mục gồm các cựu quan lại, những người khoa bảng,
khoa sinh, ấm sinh, viên tử, các cựu chức dịch hàng xã. Quy ền l ực c ủa chính
quyền Trung ương phải dừng lại ở phía ngồi cổng làng “phép vua thua l ệ
làng”. Đứng đầu Hội đồng kỳ mục là Tiên chỉ và Thứ chỉ, tùy theo phong tục
của từng làng mời người có chức tước, phẩm hàm hoặc cao tu ổi nhất ra làm.
Giúp Hội đồng kỳ mục thực hiện các quyết định, có bộ ph ận ch ức d ịch g ồm:
Lý trưởng, Phó lý và Trương tuần (hay xã đồn). Lý trưởng là người gi ữ quan
hệ giữa làng xã và cấp trên.
3.2. Tổ chức xã hội:
Xóm ngõ
Làng xã ở nơng thơn đồng bằng Bắc Bộ gồm nhiều xóm, ngõ. Mỗi xóm có th ể
gồm từ 1 đến nhiều ngõ. Xóm khơng phải là một đơn vị hành chính mà ch ỉ là
một địa bàn chung sống của một số người, cùng đi một lối v ề nhà, có quan
hệ giúp đỡ nhau trong sinh hoạt, trong canh tác và trong b ảo vệ an ninh. C ư
dân trong xóm có quan hệ với tư cách là những người láng gi ềng “tắt l ửa t ối
đèn có nhau”. Họ quan hệ với nhau về mặt tình cảm theo ph ương châm “bán
anh em xa, mua láng giềng gần”. Mỗi khi gặp khó khăn nh ư m ất mùa, đói
kém, dịch bệnh và tai nạn thì người trong xóm có trách nhiệm giúp đỡ nhau
vượt qua trở ngại, giúp đỡ một cách tự nhiên, chứ không phải là nhiệm v ụ
của họ, của làng, của giáp. Ngoài phạm vi bảo vệ an ninh, chính quy ền qu ản
lý làng xã khơng can thiệp vào mối quan hệ làng xóm. Cộng đồng xóm, đ ến
ngày nay vẫn cịn có ý nghĩa quan trọng không ch ỉ trong cu ộc s ống hàng ngày
mà cịn có ý nghĩa quan trọng trong nông nghiệp, đặc biệt là đối v ới nh ững
làng có nghề thủ cơng truyền thống. Chính cộng đồng xóm, một đ ơn vị bé
nhỏ nhưng chặt chẽ, đầm ấm đã, đang và sẽ cịn lâu dài. Vì đây là t ổ ch ức
nông thôn gắn liền với người nông dân kể cả người nơng dân sản xu ất hàng
hóa.
Dòng họ
Làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ, ban đầu là địa bàn tụ cư c ủa nh ững người dân
theo quan hệ huyết thống, nhiều gia đình trong một họ rủ nhau đi khai phá,
sinh cơ lập nghiệp trên một vùng đất mới. Họ quây quần sinh sống bên nhau
trên một vùng thổ cư, nơi đây trở thành trung tâm của làng, ban đ ầu cịn nh ỏ
và ít dân. Các gia đình hạt nhân (hai thế hệ gồm hai vợ chồng và con cái ch ưa
vợ, chưa chồng của họ) ngày càng nhiều, dân làng trở nên đông đúc, ph ạm vi
cư trú ngày càng lan rộng, phân chia thành những xóm, ngõ. Theo th ời gian,
quan hệ huyết thống ngày một nhân rộng, anh em chú bác, chi trên chi d ưới
ngày càng nhiều.
Các giáp
Nếu họ là tập hợp tự nhiên những người dân trong làng theo huy ết th ống thì
giáp là một hình thức tổ chức tập hợp theo gi ới tính, ch ỉ dành riêng cho nam
giới, theo nguyên tắc cha vào giáp nào thì con trai sinh ra cũng vào giáp ấy,
khơng phân biệt nơi cư trú theo xóm ngõ trong làng. Các đinh nam (v ừa l ọt
lòng cho đến những người già) được xếp theo 3 lớp tuổi: từ l ọt lòng đ ến 17
tuổi là hạng dự bị, từ 18 tuổi đến 50 tuổi là hạng tráng đinh, từ 50 tu ổi tr ở
lên (có làng từ 60 tuổi) là hạng bơ lão. Một làng có nhi ều giáp. Ch ẳng h ạn,
làng Tương Mai trước đây thuộc huyện Thanh Trì có 4 giáp: giáp Đơng Thái,
giáp Đơng Thịnh, giáp Đồi Nhất, giáp Đoài Tiên; làng Ngọc Tr ục huy ện T ừ
Liêm có 4 giáp: giáp Đại Thuận, giáp Ti ền Hữu, giáp Trung H ậu, giáp D ương
Thịnh; làng Thổ Khối có 6 giáp; làng Trung Tựu huy ện Từ Liêm có 2 giáp... S ố
lượng giáp trong làng khơng cố định ít nhất 2 giáp và nhi ều nhất lên tới 18
giáp. Việc đặt tên giáp cũng không theo nguyên tắc nào, tùy theo t ừng làng
mà có tên gọi khác nhau. Ở một số làng, s ố họ nhiều nhưng số giáp ít, m ột
giáp có thể gồm nhiều họ.
Các nhịng
Bên cạnh hình thức tổ chức giáp, những cơng dân nam trong làng khi ra đình
tế lễ thần thánh và ăn cỗ, được sắp xếp vào trong các nhịng, có n ơi g ọi là
dịng, dõng. Tùy từng làng khác nhau mà chia thành 3, 4 ho ặc 5 nhòng, nh ững
hạng người nào được xếp trong nhòng nào cũng khác nhau.
Hương ước làng Thanh Trì tỉnh Hà Đơng chia làm 3 nhịng. Hương ước làng
Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đơng chia làm 4 nhịng và l ệ vào các nhòng:
ba nhòng là Tư Văn, Hòa Nhạc, Trạ (Hương ước làng Tây Mỗ, huyện Từ Liêm,
tỉnh Hà Đơng). Người 3 nhịng này là những người có thứ vị ở trong đình, tr ực
tiếp hương ẩm ở đình.
Hội tư văn
Trong các làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ thường có nhiều tổ chức xã h ội khác
nhau như hội, phường, phe... nhưng có ảnh hưởng nhiều hơn cả về mặt tinh
thần là Hội tư văn cũng có nơi gọi là ban tư văn, nhịng tư văn, phe tư văn...
Hội tư văn gồm những người có học (trước là Nho học) và sau này là theo
Tây học. Ngồi ra Hội tư văn cịn gồm các chức s ắc trong làng. Khi th ực hi ện
chính sách cải lương hương chính, thành phần tham gia trong Hội tư văn cịn
được mở rộng hơn vì “những người trong làng từ 30 tuổi có biết chữ và
khơng can khoản gì, thì được dự vào hội tư văn gọi là nhiêu t ế, ph ải v ọng 60
đồng” (Điều 50, Hương ước làng Phúc Xá, tổng Phúc Lâm, huyện Hoàn Long,
tỉnh Hà Đơng).
Hội tư văn có ảnh hưởng đến nhiều mặt trong sinh hoạt của làng xã, nh ất là
về đời sống tinh thần. Những việc của làng như tổ chức hội làng, hiếu, h ỉ,
hay cả việc đặt tên con, làm nhà... đều có hỏi ý kiến của Hội tư văn. Thành
viên của Hội là những người thấm nhuần giáo lý Nho giáo, là nịng c ốt trong
việc duy trì những phong tục, nghi lễ, là trụ cột tinh thần trong làng. Tuy
nhiên, thành viên chủ chốt của Hội tư văn lại là những người có chân trong
các Hội đồng kỳ mục, tộc biểu và là chức dịch qu ản lý đi ều hành m ọi m ặt
sinh hoạt của làng xã, do đó cóthểnóiởmộtmặtnàođóHộitưvăn cũng là một
hậu thuẫn cho tầng lớp thống trị trong làng xã.
Kết luận
Thiết chế tổ chức làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ được kết hợp chặt chẽ, nhuần
nhuyễn, có sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Đó là tổ chức cu ối cùng trong b ộ
máy chính quyền thuộc địa, có vai trị quyết định mọi vi ệc về thu ế khóa,
ruộng đất, binh dịch... Bộ máy quản lý làng xã thường là những người có h ọc
thức và được dân làng tín nhiệm, hợp với phong tục tập quán của làng xã.
Người dân sẽ phản ứng lại bộ máy quản lý làng xã do chính quyền cấp trên
chỉ định.
4. Hương ước của làng xã VN:
5. Tính tự trị và tính cộng đồng – đặc trưng cơ bản của làng xã VN:
5.1. Việc tổ chức nông thôn đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau
tạo nên tính cộng đồng làng xã
- Tính cộng đồng chính là sự liên kết giữa các thành viên trong làng v ới nhau,
mọi người đều hướng về nhau tạo nên đặc trưng dương tính, hướng ngoại
+ Tính cộng đồng được hình thành và phát triển nhờ nhi ều yếu tố khác nhau
cấu thành có thể kể đến như:
. Dân ta bao đời nay có truyền thống trồng lúa nước, chính vì th ế dân ta ăn
cùng nhau, ngủ cùng nhau, lao động cùng nhau, chia s ẻ nh ững th ứ nh ỏ nh ặt
nhất dù trong lúc khó khăn hay sung sướng. Bởi lẽ đó mà ơng cha ta m ới đúc
kết được những câu thành ngữ rất hay đó là: “Hàng xóm tắt l ửa t ối đèn có
nhau” hoặc “Bà con xa không bằng láng giềng gần”.Qua nh ững câu thành ngữ
trên ta thấy được tính cộng đồng của nông thôn Việt Nam được xây dựng
một cách rất chặt chẽ và có chiều sâu.
-
Sản phẩm của tính cộng đồng chính là những tập thể làng xã mang bản s ắc
và tính tự trị riêng biệt
+ Vào thời kì phong kiến của nước thì việc các làng tự tạo ra những lu ật l ệ
riêng bên cạnh luật lệ của nhà nước ban hành là chuy ện không hi ếm, m ỗi
làng chính là 1 “Vương Quốc” riêng và những luật l ệ mà họ quy định v ới nhau
thì được gọi là “hương ước” và chính sự biệt lập ấy tạo nên câu nói n ổi ti ếng
đó là: “Phép vua còn phải thua lệ làng”.Sự khác bi ệt này đã tạo nên 1 m ối
quan hệ vô cùng đặc biệt giữa các làng và nhà nước phong ki ến ở Vi ệt Nam.
- Và trong lịch sử của nước ta đã hơn 1 lần các nhà nước phong ki ến cố gắng
kiểm soát bộ máy của các làng tuy nhiên tất cả đều th ất bại có th ể k ể đ ến
như: Vua Trần Thái Tông (1255-1258) đã cử ra các “xã quan” đ ể đại di ện cho
chính quyền kiểm sốt nhưng vẫn khơng đạt được như ý muốn. Hoặc gần
đây nhất có thể kể đến thực dân Pháp trong công cuộc xâm lược n ước ta
cũng đã cố gắng để xóa bỏ hệ thống “nhà nước riêng” đáng nói hơn những c ố
gắng này khơng những khơng thể xóa bỏ được bộ máy này, thậm chí nó cịn
có xu hướng phát triển rộng hơn nữa, khi vào năm 1927 Pháp đã ban b ố 1
nghị định có lợi hơn nữa đối với các “bộ máy làng xã” ở nước ta.
- Tính cộng đồng và tự trị chính là 2 đặc trưng bao trùm nh ất,quan tr ọng
nhất và tồn tại song song như 2 mặt của vấn đề bên cạnh vi ệc đem l ại rất
nhiều mặt tích cực thì nó cũng có phần tiêu cực.
Ưu điểm:
+Tính cộng đồng :
- Do đồng nhất nên người Việt ln sẵn sàng đồn kết, giúp đ ỡ l ẫn nhau, coi
mọi người trong cộng đồng như anh em ruột trong nhà.
- Người Việt Nam ln có tính tập thể rất cao, hoà nh ập vào cu ộc s ống
chung.
- Là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ, bình đẳng, bộc lộ trong các nguyên
tắc tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, theo nghề nghiệp, theo giáp.
+ Tính tự trị :
- Do sự khác biệt, cơ sở của tính tự trị tạo nên tinh thần tự l ập cộng đồng:
mỗi người phải tự lo liệu lấy mọi việc => truyền thống cần cù.
-Nếp sống tự cấp, tự túc: mỗi làng đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của mình,
mỗi nhà đều trồng rau, nuôi gà, thả cá => đảm bảo nhu cầu về ăn; có b ụi tre,
rặng xoan, gốc mít => đảm bảo nhu cầu về ở.
Nhược điểm
+ Tính cộng đồng :
- Ý thức về con người cá nhân bị thủ tiêu: người Việt Nam ln hồ tan vào
các mối quan hệ xã hội, giải quyết xung đột theo lối hoà cả làng.
- Hay dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể: "nước trơi thì bèo trơi", tình tr ạng cha
chung khơng ai khóc.
- Tư tưởng cầu an, cả nể, làm gì cũng sợ "rút dây động rừng".
- Thói đồ kị, cào bằng, khơng muốn ai hơn mình.
=> Cái tốt nhưng tốt riêng sẽ trở thành cái xấu. Ngược lại, cái x ấu nhưng x ấu
tập thể thì trở thành cái tốt.
=> Khái niệm giá trị trở nên hết sức tương đối. - Ĩc tư h ữu ích k ỉ: "bè ai
người nấy chống, ruộng nhà ai người nấy đắp bờ".
+ Tính tự trị
- Óc bè phái, địa phương cục bộ, làng nào bi ết làng ấy, ch ỉ lo vun vén cho đ ịa
phương mình: "trống làng nào làng ấy đánh. Thánh làng nào làng ấy thờ".
- Óc gia trưởng - tơn ti: Tính tơn ti, sản phẩm của ngun tắc tổ ch ức nơng
thơn theo huyết thống, tự thân nó khơng xấu, nhưng khi nó gắn liền v ới óc
gia trưởng tạo nên tâm lí "quyền huynh thế phụ", áp đặt ý muốn của mình
cho người khác, tạo nên tư tưởng thức bậc vơ lí, thì nó tr ở thành m ột l ực c ản
đáng sợ cho sự phát triển xã hội.
=> Tất cả những cái tốt và những cái xấu ấy cứ đi thành từng cặp và đ ều t ồn
tại ở Việt Nam, bởi lẽ tất cả đều bắt nguồn từ hai đặc trưng g ốc trái ng ược
nhau là tính cộng đồng và tính tự trị.
Ảnh hưởng
- Tính cộng động : Tính cộng đồng đặc trưng cho tinh thần đồn kết tương
trợ;tình tập thể hồ đồng;nếp sống dân chủ bình đẳng.Tuy nhiên l ại dẫn
đến sự thủ tiêu vai trị cá nhân; thói dựa dẫm ỷ l ại; thói đ ố k ỵ , tính c ộng
đồng tạo nên những tập thể làng xã khép kín mang tính tự trị, cho nên làng
xã Việt Nam tồn tại khá biệt lập với nhau và độc l ập v ới tri ều đình phong
kiến
- Tính tự trị : Tính tự trị có hệ quả tốt là tinh thần cần cù tự l ập; nếp sống tự
cấp tự cung.Nhưng dẫn đến óc tư hữu ích kỉ;óc bè phái, địa phương; óc gia
trưởng tơn ty. Tính tự trị khẳng định sự độc lập của làng xã, ít liên h ệ v ới bên
ngồi làng:làng nào biết làng ấy.
6. Vai trò của Làng:
- Làng xã truyền thống có lịch sử hàng ngàn năm, đặc bi ệt là làng xã truy ền
thống ĐBSH, là nơi chứa đựng nhiều giá trị di sản văn hóa quý giá của dân
tộc. Có các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú.
- Làng xã truyền thống là tế bào của xã hội người Việt. Làng xã truy ền th ống
là hình mẫu về việc tổ chức mơi trường cư trú bền vững với khả năng tồn
tại lâu dài, sự gắn kết mật thiết giữa các cấu trúc xã hội và cấu trúc không
gian.
- Làng xã truyền thống có nhiều cơng trình có giá tr ị về ki ến trúc, ngh ệ
thuật, xây dựng (Đình, chùa, phủ, miếu, nhà cổ, gi ếng, ao...). Trong đó Đình,
chùa, nhà cổ là những cơng trình có giá trị ki ến trúc đ ặc s ắc, tiêu bi ểu cho
kiến trúc truyền thống của dân tộc.
- Làng xã truyền thống có các giá trị văn hóa phi vật th ể phong phú, có ý
nghĩa lịch sử. Tiêu biểu là lối sống cộng đồng, quan hệdòng họ, hoạt động lễ
hội, truyền thuyết, văn hóa ẩm thực, nghề truyền thống.
- Các làng truyền thống chứa đựng các giá trị tiêu bi ểu về vi ệc s ử d ụng các
vật liệu truyền thống trong xây dựng. Việc sử dụng hợp lý, kinh tế, gắn bó
với mơi trường, có tính thẩm mỹ cao.
- Các làng truyền thống có giá trị về tổ chức khơng gian và cảnh quan đ ặc s ắc
với khơng gian đình, chùa, đường làng, ngõ xóm, cổng làng, đồng ru ộng, ao
hồ, địa hình cảnh quan sơng, kênh mương, cây xanh, mặt nước đẹp, phong
phú.
- Các làng truyền thống là mô hình cư trú dân cư nơng nghiệp có
mối quan hệ sinh thái nhân văn phát tri ển bền v ững. Quan h ệ dân c ư - đ ồng
ruộng, ở - sinh hoạt - sản xuất, con người - thiên nhiên rất mật thi ết và có
tác động tương hỗ trong quá trình tồn tại phát triển lâu dài.
* Hội làng khơng chỉ có ý nghĩa liên k ết cộng đồng dân c ư trong làng mà cịn
có ý nghĩa trong cả vùng.
Việt Nam là một dân tộc đã có hàng ngàn năm l ịch s ử. Cũng gi ống nh ư nhi ều
quốc gia khác trên thế giới Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc rất
riêng. Chính những nét riêng đó đã làm nên nh ững c ốt cách và b ản s ắc c ủa dân
tộc Việt Nam. Trong kho tàng văn hóa c ủa dân tộc Vi ệt Nam, sinh ho ạt l ễ h ội
là một loại hình văn hóa đặc trưng. Lễ hội là sinh ho ạt văn hóa dân gian có
mặt ở hầu khắp các làng quê Việt Nam. Trong b ối c ảnh tồn c ầu hóa nh ư
hiện nay khi mà khoảng cách giữa các quốc gia dần d ần b ị thu h ẹp thì bên
cạnh những thuận lợi trong việc giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa c ủa
nhân loại cũng đặt ra cho nền văn hóa Việt Nam rất nhi ều thách th ức. B ắc
Ninh được coi là cái nôi của lễ hội, quê hương của sinh ho ạt văn hoá dân gian
đặc sắc và phát triển tới đỉnh cao. Hầu như làng nào cũng có l ễ h ội, trong đó
có nhiều lễ hội tiêu biểu cả vùng, cả nước như hội xem hoa mẫu đơn chùa
Phật Tích, hội rước pháo Đồng Kỵ, hội đền Lý Bát Đế, đền Bà Chúa Kho, h ội
Chùa Dâu, chùa Bút Tháp... và một trong những lễ hội đ ộc đáo c ủa vùng đ ất
Bắc Ninh cũng cần phải kể đến đó là lễ hội làng V ọng Nguy ệt. Đây là m ột l ễ
hội lớn, độc đáo của người dân làng Vọng Nguyệt, xã Tam Giang, huy ện Yên
Phong, tỉnh Bắc Ninh. Nhắc tới Bắc Ninh, không thể không nh ắc t ới làng V ọng
Nguyệt nằm ở bên bờ Nam sông Cầu, là vùng quê có phong c ảnh th ơ m ộng tr ữ
tình với một quần thể di tích đình, đền, chùa đ ẹp n ổi ti ếng đ ất Kinh B ắc x ưa.
Từ bao đời nay nơi đây vẫn có nghề trồng dâu ni t ằm gắn bó với cu ộc s ống
và tình yêu lao động của mỗi một người dân.