Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (155.72 KB, 19 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span>tần thuỷ hoàng( 259 TCN - 210 TCN) ( cai trị 221 TCN-210 TCN) Tần Thuỷ Hoàng ( hay Tần Thuỷ Hoàng đế hiệu của vua Tần Doanh Chính, hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc thống nhất. Doanh chính trên danh nghĩa là con của Trang Tương Vương nước Tần, nhưng nhiều sử liệu lại cho rằng cha của Doanh Chính là Lã Bất Vi, một thương nhân và sau trở thành tướng quốc nước Tần. Khi Trang Tương Vương còn là công tử Tử Sở (hay Dị Nhân), làm con tin của Tần ở nước Triệu, đã lấy một người thiếp của Lã Bất Vi là Trịnh Cơ, sinh ra Doanh Chính (có người nghi là Trịnh Cơ khi đó đã có mang với Lã Bất Vy, cho nên Doanh Chính là con của Lã Bất Vy). Nhờ sự giúp đỡ của Lã Bất Vy, Tử Sở trở về Tần được lên ngôi vua, hiệu là Trang Tương Vương. Năm 246 TCN, Trang Tương Vương mất, Doanh Chính lên ngôi vua, hiệu là Tần vương Chính. Khi đó, Tần vương Chính mới có 13 tuổi, công việc triều chính đều nằm trong tay thừa tướng Lã Bất Vy. Năm 26 tuổi, Tần Vương Chính làm lễ đội vương miện, đeo gươm ở miếu Đức Công, tự mình nắm chính quyền. Tần vương đã đàn áp cuộc nổi loạn của Lao ái, một tên hoạn quan của Thái Hậu ( tức Trịnh Cơ). Việc bổ dụng Lao ái có liên quan đến Lã Bất Vy, cho nên Lã Bất Vy bị cách chức và bị đầy sang đất Thục. Lã Bất Vy đã uống thuốc độc tự tử. Tần vương bổ dụng Lý Tư làm Thừa tướng, Uý Liêu làm Đại tướng…, bố trí lại chiến lược, sách lược thống nhất Trung Quốc. Chỉ trong vòng 10 năm, từ 230 TCN221TCN, Tần vương đã lần lượt chinh phục các nước Hàn ( 230TCN), Triệu(228 TCN), Nguỵ (225 TCN), Sở (223 TCN), Yên (222 TCN), Tề (221 TCN) chấm dứt thời kỳ phân tranh cát cứ kéo dài 550 năm ( thời Xuân Thu- Chiến Quốc, 770 TCN - 221 TCN). Sau Khi thống nhất đất nước, năm 221 TCN, Doanh Chính xưng làm Hoàng đế, lấy hiệu là Thuỷ Hoàng đế ( Hoàng đế đầu tiên) của nhà Tần. Sự thống nhất Trung Quốc của Tần Thuỷ Hoàng đã đảm bảo cho nhân dân được yên ổn làm ăn. Những chính sách cai trị của Tần Thuỷ Hoàng được áp dụng trong toàn quốc như chia nước thành quận huỵên do quan lại của triều đình cử xuống cai trị, pháp luật, tiền tệ, chế độ đo lường… được thống nhất trong toàn quốc. Tuy nhiên, trong khi xây dựng bộ máy nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền, Tần Thuỷ Hoàng lại dùng pháp luật khắc nghiệt để cai trị nhân dân. Các học giả phái nho gia phê phán chính sách tàn bạo của vua Tần bị đàn áp tàn khốc (460 học trò phái nho gia bị chôn sống)..
<span class='text_page_counter'>(2)</span> Tần Thuỷ Hoàng mở nhiều cuộc chiến tranh xâm lược ra bên ngoài, đánh đuổi người Hung Nô ở phương Bắc, xâm lược đất đai và dùng ách đô hộ các tộc bách Việt ở phương Nam. Để thoả mãn cuộc sống xa hoa , Tần Thuỷ Hoàng đã bắt nhân dân lao dịch cực khổ xây nhiều công trình đồ sộ như Vạn Lý trường thành ở biên giới phía Bắc, lăng Ly Sơn và cung A phòng ở kinh đô Hàm Dương và hơn 700 hành cung rải rác khắp cả nước. Năm 221 TCN, Tần Thuỷ Hoàng chết trong một cuộc tuần du địa phương. Thi hài của ông được chôn cất nghiêm mật ở lăng Ly Sơn. Vua kế nghiệp Tần nhị thế ra lệnh chôn theo Tần Thuỷ Hoàng tất cả những cung phi chưa có con, đồng thời lấp kín hầm mộ, không cho những người làm nhiệm vụ chôn cất Tần Thuỷ Hoàng ra khỏi hầm mộ để giữ bí mật lăng vua. Sau khi Tần Thuỷ Hoàng chết, nhân dân Trung Quốc căm phẫn, oán giận sự thống trị tàn bạo của nhà Tần, đã nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi, lật đổ ách thống trị của nhà Tần.. Mohammed( k. 570 hay580-632) Mohammed (hay Muhammad) - người sáng lập đạo Hồi trên bán đảo ả rập. Mohammed sinh vào khoảng năm 570 hay 580 tại thành phố Mecca, một thành phố thánh địa ở bán đảo ả rập. Mohammed mồ côi cha mẹ từ năm 6 tuổi, phải đi chăn lạc đà để sống. Năm 12 tuổi, Mohammed đã theo chú đi buôn bán ở Palestine, Syria, Ai Cập. Nhờ đi lại nhiều nơi, nên ông đã tiếp xúc với nhiều bộ lạc ả rập khác nhau, hiểu biết các phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng của các bộ lạc. Ông cũng đã mục kích những cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn, cướp bóc lẫn nhau giữa các bộ lạc ả rập và những trận chiến đấu ác liệt giữa hai đế quốc lớn nhất thời bấy giờ là đế quốc Bizantium và đế quốc Ba Tư. Năm 25 tuổi, ông kết hôn với một người đàn bà goá tên là Khaditija, chủ một cơ sở kinh doanh vận tải bằng lạc đà, hơn ông 15 tuổi. Từ đó, ông trở thành giàu có không phải làm việc khó nhọc, do đó có thì giờ nhàn rỗi, suy nghĩ những điều đã thấy trong xã hội và nghiên cứu các tôn giáo đang thịnh hành thời bấy giờ như đạo Do Thái, đạo Kitô... Năm 610, Mohammed sáng lập ra tôn giáo mới gọi là đạo Hồi (tiếng ả rập là " Islam", có nghĩa là "thuận tòng", "tin theo" tức là thuận tòng Thánh Allah tối thượng và duy nhất, tuân theo vị sứ giả của Thánh Allah là Mohammed). Theo tôn giáo mới này thì chỉ có một thần tối cao duy nhất là Thánh Allah, mà ông là sứ giả.
<span class='text_page_counter'>(3)</span> của Thánh, được giao cho sứ mệnh truyền bá tín ngưỡng của Thánh. Những bài thuyết giáo của Mohammed về sau được viết lại thành Kinh Koran. Mohammed bắt đầu truyền giáo ở Mecca. ở đây, ông không thu được mấy kết quả. Bọn quý tộc và thương nhân ở Mecca được hưởng nhiều lợi lộc trong việc duy trì tín ngưỡng tôn giáo cũ, nên chúng phản đối tôn giáo mới. Chúng đã chế riễu, chửi bới, doạ nạt, định bắt và giết ông. Suốt mười năm truyền giáo ở Mecca, ông chỉ thu được 52 tín đồ trong đó có vợ ông (bà Khaditja), bố vợ Abu Bakr, Omar, con rể Ali và hai người bạn Omar và Othman( Abu Bakr, Omar, Othman và Ali sau này là những người kế nghiệp Mohammed làm Khaliph - có nghĩa là" người thay mặt sứ giả", tức là giáo chủ của đạo Hồi). Thành thị Yatreb là nơi chống đối lại thành thị Mecca, đã mời ông đến. Ngày 16-7-622, để tránh sự khủng bố của bọn quý tộc Mecca, Mohammed và những đồ đệ của ông phải rời sang Yatreb (thành phố này từ đó đổi tên là Medina, có nghĩa là "thành phố của nhà Tiên tri" hay "nơi trú ngụ của Sứ giả") Mười bảy năm sau, khi Khaliph Omar xây dựng lịch Hồi giáo, đã lấy ngày 16 tháng 7 làm ngày Nguyên đán và năm 622 làm năm bắt đầu của kỷ nguyên Hồi giáo. Khi đến Medina, Mohammed tìm đủ mọi cách phát triển thế lực Hồi giáo. Ông dùng chính sách liên hiệp mềm dẻo và dùng vũ lực để thu phục những bộ lạc địa phương. Ông trở thành nhà lãnh đạo tôn giáo, lại vừa là người cầm đầu chính quyền kiêm chỉ huy quân sự tối cao, vừa là nhà lập pháp kiêm chánh án toà án tối cao. Bọn quý tộc Mecca mang quân sang đánh Medina, nhưng vì đường xa, thiếu nước, nên phải rút lui. Nhân dân Medina cho là Mohammed được thần giúp sức, đánh thắng thù, nên uy tín của ông càng lên mạnh. Năm 630, Mohammed đứng đầu đạo quân mấy nghìn người, đến chân thành Mecca. Dưới áp lực quân sự hùng mạnh như nước vỡ bờ bọn quý tộc Mecca phải đầu hàng và chấp nhận theo Hồi giáo Mohammed tuyên bố Mecca là thành phố thánh địa của đạo Hồi; đền miếu Kaaba được coi là Thánh đường Hồi giáo, "tảng đá đen" được coi là thánh vật của Hồi giáo, còn các tượng thần khác đều bị phá huỷ. Năm sau, tất cả các bộ lạc trên bán đảo ả rập lần lượt biểu lộ sự quy thuận theo Hồi giáo. Mùa xuân năm 632, đại hội Hồi giáo lần đầu tiên được triệu tập tại Mecca, tụ họp tới mười vạn tín đồ. Trở về Medina được ít ngày, Mohammed lâm bệnh. Ngày 8-6-632, Mohammed qua đời và an táng tại medina, hưởng thọ 63 tuổi. Hoàng sào( khởi nghĩa 875- 884).
<span class='text_page_counter'>(4)</span> Hoàng Sào - thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân thời Đường (Trung Quốc) Hoàng Sào xuất thân gia đình buôn bán muối, giao thiệp rộng, thích làm những việc nghĩa hiệp, giỏi cưỡi ngựa, bắn cung. Khi trẻ, ông có được đi học nhưng thi mấy lần không đỗ. Năm 874, Vương Tiên Chi lãnh đạo nông dân ở Sơn Đông hưởng ứng. Nhân dân vùng hạ lưu Hoàng Hà tham gia đội quân khởi nghĩa rất đông, chỉ vài tháng, quân khởi nghĩa đã tới mấy vạn người. Năm 878, Vương Tiên Chi bị hy sinh, Hoàng Sào lên thay, tự xưng là "Xung thiên đại tướng quân". Triều đình nhà Đường kêu gọi phiên trấn mang quân về giúp, đàn áp cuộc khởi nghĩa. Để tránh bị bao vây, Hoàng Sào quyết định rút quân xuống miền Nam Trung Quốc. Trong suốt cuộc hành quân từ Hà Nam xuống tới Quảng Đông, quân đội Hoàng Sào đã tiêu diệt nhiều quan lại tham nhũng, cường hào ác bá, chia của cải và ruộng đất cho người nghèo. Nhưng nghĩa quân là người miền Bắc không quem khí hậu miền Nam, bị ốm bệnh và chết rất nhiều, Hoàng Sào lại quyết định kéo quân trở về miền Bắc và trực tiếp tấn công vào kinh đô Trường An, vua Đường Hy Tôn phải bỏ chạy sang Thành Đô, Tứ Xuyên, Hoàng Sào lên ngôi hoàng đế đặt tên nước là Đại Tế. Chính quyền của Hoàng Sào chưa kịp củng cố thì đã lục đục chia rẽ. Giai cấp thống trị Đường đã lôi kéo được một số tướng tá của nghĩa quân chống lại Hoàng Sào trong đó có Chu Ôn (sau này đổi tên là Chu Toàn Trung), đồng thời tiến hành bao vây, cắt đứt đường tiếp tế của nghĩa quân. Quân phiên trấn ở các nơi kéo về giúp quân Đường, tấn công quân khởi nghĩa, chiếm lại Trường An. Năm 883, Hoàng Sào phải bỏ Trường An , chạy về Sơn Đông. Sau nhiều lần bị tấn công, tập kích, quân của Hoàng Sào bị thất bại nặng nề và hầu như tan rã. Tháng 6 năm 884, Hoàng Sào tự sát tại Lang Hồ Cốc ( Thái Sơn). Cuộc khởi nghĩa nông dân cuối đời Đường do Hoàng Sào lãnh đạo đã kéo dài tới mười năm (875-884), tuy bị thất bại, nhưng đã giáng một đòn mạnh mẽ vào nền thống trị thối nát của nhà Đường. Triều đình nhà Đường được khôi phục lại, nhưng hơn 20 năm sau thì bị diệt vong.. jayavarman vii (1125-1215) (cai trị 1181-1215) Jayavaman VII - vua nổi tiếng trong thời kỳ thịnh trị của vương quốc Campuchia Angkor..
<span class='text_page_counter'>(5)</span> Jayavaman VII sinh năm 1125, là con trai của vua Dharanindra Varman II. Khi anh ông là Yasovarman II lên ngôi, ông là tướng lĩnh của nhà vua. Năm 1165, một cận thần ám hại Yasovarman II và cướp ngôi, khi đó Jayavaman VII đang cầm quân đánh giặc ở một nơi xa, không kịp về ứng cứu, đành náu mình đợi thời cơ. Năm 1177, lợi dụng sự rối ren trong triều đình Angkor, vua Champa đã cho quân sang cướp phá kinh đô Angkor, giết vua và thống trị Campuchia trong 4 năm. Năm 1181, Jayavaman VII đã khởi binh đánh lại Champa và giành lại nền độc lập cho vương quốc Campuchia Angkor. Sau khi lên ngôi, Jayavaman VII bắt tay vào việc xây dựng bộ máy nhà nước vững mạnh, đặc biệt chú trọng xây dựng quân đội, nhất là thuỷ quân. Để trả thù việc Champa xâm chiếm và tàn phá đất nước mình năm 1190, Jayavaman VII đã đem quân tiến đánh Champa, bắt vua Champa làm tù binh đưa về Angkor và đặt ách thống trị lên Champa. Nhưng chỉ được hai năm, Champa lại giành lại độc lập. Jayavaman VII còn cho quân đi chinh phục cả vùng đất ở thượng lưu sông Mekong, lưu vực sông Menam và sông Irawadi. Jayavaman VII tiến hành xây dựng lại kinh đô Angkor Thom bị tàn phá bởi chiến tranh. Kinh đô mới rộng hơn 4 lần so với kinh đô cũ (hiện nay Angkor Thom với hệ thống đền đài, tháp thần 4 mặt thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan). Ông còn cho xây dựng đền tháp Ta Prohm để tôn vinh mẹ ông và preah Khan để tôn vinh bố ông. Jayavaman VII sùng bái đạo Phật Đại thừa, nhưng vẫn tôn trọng truyền thống cũ và đạo Bà la môn tồn tại từ trước. Với lòng nhân ái, ông đã cho xây dựng 102 bệnh viện ở khắp đất nước để chữa bệnh cho mọi tầng lớp nhân dân và thường xuyên xây dựng, tu bổ đường sá, đặt trạm nghĩ chân để cho nhân dân đi lại dễ dàng. Jayavaman VII là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Campuchia. Sau khi Jayavaman VII mất (1215) thì người con thứ ba của ông là Indaravarman II nối ngôi. genghis khan (thành cát tư hãn) (1155-1227) (cai trị 1206-1227) Genghis Khan (hay Tchingiz) (Thành Cát Tư Hãn), tên hiệu của Temudjin (Thiết Mộc Chân) ( 1155-1227) - Đại Khan đầu tiên của Hãn quốc Mông Cổ, nổi tiếng trong lịch sử trung đại về tài quân sự thao lược, cũng như về tàn bạo..
<span class='text_page_counter'>(6)</span> Temudjin (Thiết Mộc Chân) sinh vào khoảng năm 1155 (hoặc 1162, 1167) trong một gia đình quý tộc thị tộc Mông Cổ, con trai thứ hai của Yesukhei (Dã Tộc Cai), thủ lĩnh bộ lạc Kiyad (Ki Dát). Temudjin sống thời thơ ấu cực kỳ vất vả. Năm 9 tuổi, cậu phải đến sống gia đình vợ tương lai và sống ở đó cho đến khi đủ tuổi kết hôn là 14 tuổi. Một thời gian ngắn sau đó, cha anh bị đầu độc bởi bộ lạc Tartar (Thát Đát) láng giềng trên đường trở về nhà và đáng lẽ Temudjin được nối nghiệp cha, trở thành thủ lĩnh của bộ tộc của mình. Nhưng vì anh còn quá trẻ, nên bộ tộc của anh không chấp nhận. Trong những năm sau đó, anh và gia đình phải sống một cuộc đời lang thang nghèo khó, săn bắn động vật để sống. Temudjin là người thông minh, khôn khoan, dũng cảm, nhưng cũng hết sức lạnh lùng, tàn nhẫn. Cuộc sống vất vả đã rèn luyện ông thành con người sắt đá. Đồng thời ông cũng nhận thấy sự cần thiết phải liên minh với các người khác mới có thể làm nên nghiệp lớn. Ông đã đi tìm gặp bạn của cha mình là Toghril (Tô Ha Rin), một thủ lĩnh ở địa phương, đồng thời là một lái buôn có quan hệ rộng rãi với nhiều bộ lạc. Nhờ sự ủng hộ của Toghril và nhờ những trận chiến thắng của ông đánh bại người Tartar, năm 1202, Temudjin đã được thừa nhận là người kế vị chức thủ lĩnh bộ lạc của cha mình trước kia. Năm 1206, Temudjin đã liên kết thành công các bộ lạc Mông Cổ-Tatar đang bị chia rẽ, cho nên trong hội nghị Kurultai (hội đồng của các thủ lĩnh Mông Cổ), Temudjin đã được bầu làm thủ lĩnh tối cao của liên minh bộ lạc (gọi là Đại Khan hay Đại Hãn, Hãn Vương). Temudjin lấy biệt hiệu Genghis Khan ("Vua của những người dũng cảm" hay "Vua của cả thế giới"). Sau khi nắm quyền hành, Genghis Khan xây dựng Liên minh bộ lạc Mông Cổ- Tartar thành một quốc gia phong kiến tập trung hùng mạnh. Genghis Khan đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức và huấn luyện quân đội, biến những người dân du mục thành những kỵ binh ưu tú. Genghis Khan đã mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược bằng cuộc tấn công Tây Hạ và Kim (hai nước ở miền Bắc Trung Quốc, rất giàu có), biến các nước này thành chư hầu, phải nộp cống nạp và cung cấp binh lính cũng như hậu cần cho các chiến dịch trong tương lai của ông. Năm 1218, đế quốc Mông Cổ bắt đầu mở rộng về phía Tây. Quân đội Mông Cổ đã tiêu diệt vương quốc Khorezm, một quốc gia Hồi giáo trải dài từ biển Caspienne ở phía Tây tới vịnh Ba Tư, biển ả rập ở phía Nam. Sau đó quân đội Mông Cổ chia làm hai đạo quân, Genghis Khan chỉ huy một đạo quân tràn vào Afghanistan và Bắc ấn độ, đạo quân kia do tướng Subedei (hay Subutai) ( Tốc Bất Đài) chỉ huy tiến vào lãnh thổ Armenia và Azerbaijan. Năm 1225, cả hai cánh quân.
<span class='text_page_counter'>(7)</span> đều quay trở lại Mông Cổ. Khi đạo quân của Subedei trở về Mông Cổ, họ đã giao tranh với đạo quân 80.000 người của đại công quốc Nga Kiev do đại công tước Mstitslav chỉ huy trong trận chiến trên sông Kalka (1223) và đã đánh bại đạo quân của Mstitislav. Quân đội Mông Cổ đi đến đâu, tàn phá, giết chóc, cướp bóc khủng khiếp đến đó. Nhiều thành thị, làng mạc bị thiêu trụi, biến thành đống gạch vụn, xác chất cao như núi. Nhân dân nhiều nơi đã nổi dậy, kháng chiến anh dũng, chống trả quyết liệt quân xâm lược Mông Cổ. Ngày 18-8-1227 trên đường viến chinh chinh phục Tây Hạ, Genghis Khan lâm bệnh rồi chết. Trước khi chết, Genghis Khan đã chia đế chế của ông cho bốn người con trai: Joci (Truật Xích) là con lớn nhất, nhưng đã chết, các con của Joci là Batu ( Bạt Đô), thủ lĩnh của bộ lạc Xanh và Orda, thủ lĩnh của bộ lạc Trắng được chia cho vùng lãnh thổ phía Tây của đế quốc. Chagatai (Sát Hợp Đài) là con trai thứ hai, nhưng là người nóng nảy được chia vùng Trung á và Bắc Iran. Ogodei (Oa Khoát Đài), con trai thứ ba được nhận danh hiệu Đại Khan và cai quản miền Bắc Trung Quốc. Tului (hay Tolui) ( Đà Lôi), trẻ nhất, cai trị Mông Cổ. Những người kế nghiệp của Genghis Khan này tiếp tục những cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo để bành trướng, mở rộng đế quốc Mông Cổ. Sau này, nhà Nguyên đã truy phong Genghis Khan là Nguyên Thái Tổ. khubilai (hốt tất liệt) (1214-1294) nguyên thế tổ (cai trị 1271-1294) Khubilai (hay Kublai) (Hốt Tất Liệt) - Đại Khan thứ năm và cũng là Đại Khan cuối cùng của Hãn quốc Mông Cổ (1260-1294), hoàng đế đầu tiên của nhà Nguyên, hiệu là Nguyên Thế Tổ (1271-1294), người sáng lập triều đại Nguyên (1271-1368) ở Trung Quốc. Khubilai sinh ngày 23-9-1215, là con trai thứ hai của Tului, em trai của Mongke, cháu nội của Genghis Khan. Hồi nhỏ, Khubilai học văn hoá Trung Quốc và rất say mê nền văn minh Trung Quốc. Khi Mongke lên làm Đại Khan thì Khubilai được giao cho cai quản vùng đất miền Nam của đế quốc Mông Cổ (tức là vùng lãnh thổ của nước Kim cũ). Ông đã quan tâm đến khôi phục phát triển kinh tế nông nghiệp, nên được người Trung Quốc tin cậy. Khi Ogodei kéo quân xuống xâm lược Nam Tống, Khubilai được giao cho cầm đầu một đạo quân vòng xuống phía Nam để tạo thành thế bao vây Nam Tống. Năm 1253, Khubilai đã tấn công và tiêu diệt vương quốc Đại Lý (Dali) ở Vân.
<span class='text_page_counter'>(8)</span> Nam. Khi đang bao vây Ngạc Châu (Hồ Bắc), nghe tin Mongke tử trận (1259), Khubilai đồng ý đề nghị giảng hoà của Nam Tống với điều kuện Nam Tống phải xưng thần và nộp tiền cho Mông Cổ. Khubilai rút quân về Bắc để tranh ngôi Đại Khan. Đại hội Kurultai họp ở kinh đô Mông Cổ Karakorum (Hoà Lâm) đã bầu người em út của Mongke (cũng là em của Khubilai) là Arik Boke (A Lý Bất Ca) lên ngôi Đại Khan. Năm 1260, Khubilai cũng tự ý triệu tập những người thân tín họp Hội nghị Kurultai tại Khai Bình (Nội Mông Cổ) để công nhận ông ta làm Đại Khan. Cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa Khubilai và Arik Boke đã diễn ra trong 4 năm, cuối cùng Khubilai giành được thắng lợi. Năm 1267, Khubilai dời đô từ Karakorum xuống Trung Đô, đổi là Yên kinh, sau gọi là Đại Đô ( Bắc Kinh ngày nay). Khubilai là người chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn minh Trung Quốc, nên năm 1271, đã đổi xưng hiệu Đại Khan thành Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Nguyên, truy tôn Genghis Khan miếu hiệu Nguyên Thái Tổ, còn mình là Nguyên Thế Tổ. Năm 1274, Nguyên Thế Tổ (Khubilai) sai tướng đem đại quân đi chinh phục Nam Tống. Năm 1276, kinh đô của Nam Tống là Lâm An (Hàng Châu) bị chiếm đóng, vua Tống Cung Đế bị bắt, đưa về Bắc. Cuộc khnág chiến của quân dân Nam Tống còn kéo dài đến năm 1279 mới bị tan rã. Đất nước Trung Hoa bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, Nguyên Thế Tổ (Khubilai) được bọn Hán gian giúp sức, đã tôt chức lại bộ máy nhà nước giống như như các triều đại phong kiến Trung Hoa trước, những người Mông Cổ và các dân tộc khác đi theo Mông Cổ vào xâm lược Trung Quốc được dành quyền ưu dãi. Mâu thuẫn dân tộc kết hợp với mâu thuẫn giai cấp đã tồn tại trong suốt thời kỳ thống trị của Nhà Nguyên. Sau khi chinh phục Nam Tống xong, Nguyên Thế Tổ (Khubilai) tiếp tục bành trướng ra bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Năm 1274 và 1281,Nguyên Thế Tổ (Khubilai) sai tướng đem chiến thuyền đánh Nhật Bản, nhưng cả hai lần đều thất bại, Nguyên Thế Tổ (Khubilai) cũng cho quân xâm lược Mianma đến ba lần (1277,1283,1287) mới được thần phục Mianma. Năm 1282, quân Nguyên do Toa Đô chỉ huy, vượt biển, xâm chiếm Champa. Năm 1285 và năm 1287 - 1288, hai lần quân Nguyên do Thoát Hoan, con trai của Khubilai, cầm đầu kéo vào xâm lược Đại Việt. Nhưng những cuộc xâm lược của quân Nguyên vào Champa và Đại Việt đều thất bại. Năm 1293, thuỷ quân của nhà Nguyên cũng kéo sang Indonesia. Lúc đầu do ở Java có nội loạn, nên quân Nguyên tạm thời thu được thắng lợi. Sau đó, Rajen Vijaya tổ chức phản công, buộc quân Nguyên phải rút về nước..
<span class='text_page_counter'>(9)</span> Một số thương nhân Châu Âu đã sang Trung Quốc vào thời Nguyên, trong đó có Marco Polo (1254 - 1324), một thương nhân thành Venezia (Italia) đã làm quan tại triều đình Nguyên Thế Tổ (Khubilai) và sống ở Trung Quốc tới 16 năm (12751291). Khi về nước, ông đã kể lại những điều mắt thấy tai nghe trong cuốn du ký "Những điều kỳ lạ" của mình. Nguyên Thế Tổ (Khubilai) mất ngày 18-2-1294 tại Đại đô (Bắc Kinh). fa ngum (1316-1374) (cai trị 1354-1373) Fa Ngum (hay Fa Ngừm) - vua đầu tiên của vương quốc Lào Lan Xang (đất nước Triệu Voi). Fa Ngum sinh năm 1316 tại Muang Sua (Mường Xoa) ( sau đổi là Luang Prabang), là cháu nội của Souvanna Khamphong, thủ lĩnh vùng Xieng Dong Xieng Thong. Bố của Fa Ngum phạm lỗi bị vua cha đuổi đi ( có tài liệu nói rằng ông dụ dỗ một vương phi của vua cha nên bị đuổi đi). Bố đưa Fa Ngum láng sang Angkor. Fa Ngum được nuôi dạy trong triều đình Angkor và được vua Campuchia Angkor gả con gái cho. Thời gian này, nước lào đang bị phân chia thành nhiều tiểu quốc và bị vương quốc Sukhothai (vương quốc cổ Thái Lan) khống chế. Năm 1349, nhân lúc vương triều Sukhothau bị vương quốc âyuthy (vương quốc Thái Lan ngày nay) tấn công uy hiếp, Fa Ngum được vua Campuchia giúp đở trở về nước, chinh phục các tiểu quốc cát cứ và giành lại ngôi báu. Ngoài việc thu phục các mường ngoài Lào, Fa Ngum còn chinh phục được cả Lan Na (thượng lưu sông Menam) và vùng Khorat. Năm 1353, Fa Ngum lên ngôi vua nước lào thống nhất ở Vientiane (Viêng Chăn). Fa Ngum là người đầu tiên xây dựng bộ máy hành chính tập trung và quân đôi thống nhất ở Lào. Fa Ngum đã tiếp nhận và truyền bá đạo Phật Tiểu thừa từ Campuchia vào Lào. Một tượng Phật (Prabang) do vua Campuchia Angkor tặng, được đặt tại Muang Soa, từ đó Muang Soa đổi thành Luang Prabang, trở thành kinh đô của nước Lào Lan Xang. Về quan hệ đối ngoại, ngoài mối quan hệ tốt đẹp sẵn có với Campuchia, Fa Ngum còn đặt quan hệ hoà hiếu với vương quốc Ayuthay và lập quan hệ thân hữu với Đại Việt. Năm 1373, những người trong hoàng gia và quý tộc đại thần, không rõ nguyên nhân gì, đã trục xuất ông. Ông mất trên đường lánh nạn tại Muang Nan năm 1374. Con trai ông là Un Heuan (thường gọi là Samsenthai) kế vị ngôi vua Lan Xang..
<span class='text_page_counter'>(10)</span> chu nguyên chương (1328-1398) (minh thái tổ) (cai trị 1368-1398) Chu Nguyên Chương, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân Hồng cân cuối đời Nguyên, lập ra nhà Minh, hiệu là Minh Thái Tổ ( 1368-1398). Chu Nguyên Chương sinh năm 1328 tại Hào Châu (Phượng Dương, tỉnh An Huy), xuất thân từ gia đình bần nông. Năm 17 tuổi, cha và anh đều chết vì bệnh dịch. Chu Nguyên Chương phải đi làm sự khất thực một thời gian. Năm 1352, ông tham gia cuộc khởi nghĩa nông dân Hồng Cân ở An Huy do Quách Tử Hưng lãnh đạo. Chiến đấu dũng cảm, có nhiều mưu lược và tài tổ chức, ông được Quách Tử Hưng phong làm tướng và gả con gái cho. Năm1355, Quách Tử Hưng chết, ông trở thành người lãnh đạo chủ chốt của cánh quân này. Năm 1356, Chu Nguyên Chương thành lập chính quyền ở Nam Kinh, xưng là Ngô Quốc Công, năm 1364, xưng là Ngô Vương. Quân đội của Chu Nguyên Chương đã tiêu diệt được chủ lực của quân Nguyên và các thế lực quân phiệt người Hán ở Giang Nam, thống nhất cả vùng trung du và hạ du sông Trường Giang. Năm 1367, Chu Nguyên Chương sai tướng đem quân lên miền Bắc, lật đổ triều Nguyên. Mùa thu năm 1368, quân Chu Nguyên Chương tiến đánh Đại Đô (kinh đô của nhà Nguyên, nay là Bắc Kinh), triều đình nhà Nguyên bỏ chạy. Cùng năm đó, Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế ở Nam Kinh, đặt tên nước là Minh, hiệu là Minh Thái Tổ. Khi lên ngôi vua, Minh Thái Tổ ban hành nhiều chính sách, biện pháp nhằm khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định tình hình xã hộ, trừng trị tham quan ô lại, giảm bớt nỗi cực khổ cho nhân dân. Sự phồn thịnh của Trung Quốc được khôi phục lại dưới triều đại Minh (1369 - 1644) Minh Thái Tổ (Chu Nguyên Chương) mất năm 1398 tại Nam Kinh, thọ 70 tuổi. Vì người con cả chết sớm, nên cháu đích tôn là Chu Duẩn Văn lên nối ngôi, hiệu là Huệ Đế (1399-1403). Người con thứ tư của Minh Thái Tổ (Chu Nguyên Chương) là Yên Vương Chu Đệ đã khởi binh chống lại. Cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn kéo dài trong 4 năm. Năm 1403, Chu Đệ chiếm được kinh đô (Nam Kinh), phế truất Huệ Đế, lên ngôi hoàng đế, hiệu là Thành Tổ (1403 - 1424), một ông vua nổi tiếng của triều Minh. AKBAR (1542 - 1605) (cai trị 1556 - 1605).
<span class='text_page_counter'>(11)</span> Akbar (tên đầy đủ Jalaludin Muhammad Akbar) - Hoàng đế hùng cường nhất của đế Moghol ở ấn Độ. Akbar sinh ngày 14 - 10 - 1542 tại Umarkot, trong lúc vua cha là Humayun đang trên đường đi lánh nạn. Từ nhỏ, Akbar đã biểu lộ một tư chất đặc biệt về thể thao và võ nghệ. Khi Humayun khôi phục lại được ngôi báu, Akbar mới 13 tuổi đã được phong làm tổng trấn xứ Pendjap và năm 14 tuổi, khi vua cha mất, lên ngôi hoàng đế ở Delhi (1556). Thời gian đầu, ông bị viên giám hộ Bairam Khan làm nhiếp chính, nhưng năm 1560, ông quyết định giải thoát khỏi sự giám hộ của Bairam Khan và chấm dứt chế độ nhiếp chính. Bairam Khan không chấp nhận bị loại bỏ, đã nổi loạn, nhưng bị dẹp yên nhanh chóng. Lúc đầu, Akbar mới cai trị thực tế miền Bắc ấn Độ, ông nhanh chóng mở rộng đế quốc: xâm chiếm Goujerat (1573), Bengale (1576), Sind (1590), Orissa (1592) và Balouchistan (1594). Khi anh ông là Hakim, vua xứ Kaboul mất (1585), ông đã được thừa kế Cachemire. Ông còn mở rộng cuộc xâm lược xuống miền Nam. Akbar một mặt thiết lập chính quyền chuyên chế tập trung cao độ, tiến hành chinh phục và đàn áp khốc liệt các vùng lân cận không chịu quy thuận; mặt khác, lại thi hành chính sách khoan dung, đối với mọi tôn giáo. Tuy là một tín đồ trung thành của đạo Hồi, ông đã có một thái độ rất độ lượng đối với mọi tôn giáo đang tồn tại ở ấn Độ. Ông đã ra lệnh bãi bỏ "thuế đầu người" hay "thuế ngoại đạo", một thứ thuế đánh vào bất cứ người dân nào không theo đạo Hồi. Ông khuyến khích quý tộc Mông Cổ kết thân với quý tộc ấn Độ theo ấn giáo. Chính Akbar cũng lấy một công chúa xứ Rajputana theo ấn Giáo làm vợ và tuyển cung phi là con gái các gia đình quý tộc ở ấn Độ. Akbar thực hiện chính sách trọng đãi người tài, tuyển dụng cả những người ấn Độ theo ấn giáo vào những chức vụ cao trong chính quyền. Do đó, Akbar đã đưa đế quốc Moghol trở thành đế quốc hùng cường nhất trong lịch sử ấn Độ. Tuy bản thân không biết chữ, nhưng Akbar rất trọng đãi các trí thức và văn nghệ sỹ. Trong cung điện của Akbar thường tổ chức những buổi bình luận của các học giả. Nhà vua hăng hái tham gia thảo luận với họ về các vấn đề văn học, triết học, tôn giáo. Akbar đã cho thành lập một thư viện lớn gồm hàng vạn cuốn sách chép tay và những bản dịch sách cổ ấn Độ sang tiếng Ba Tư (ngôn ngữ được sử dụng ở triều đình Moghol) Một sử gia đã gọi Akbar là "nhà vua học giả uyên bác không biết chữ" Akbar mất ngày 15-10-1605 tại Agra, thủ đô của đế quốc Moghol..
<span class='text_page_counter'>(12)</span> alexandoros đại đế (356 tcn - 323 tcn) (cai trị 336 TCN - 323 TCN) Alexandros Đại đế (hay Alexandros Macedonia) (A: Alexander the Great, P: Alexandre le Grand) - Vua của nước Macedonia, một nhà quân sự nổi danh của thế giới cổ đại. Alexandros sinh vào tháng 7- 356 TCN, là con của vua Macedonia Philip II và vợ thứ tư của nhà vua là công chúa Olympias xứ Epirus. Alexandros được hưởng thụ một nền giáo dục toàn diện, không chỉ giỏi về võ nghệ mà còn rất yêu thích văn học. Ông được nhà triết học nổi tiếng nhất thời cổ đại là Aristoteles (A: Aristotle, P: Aistote) bồi dưỡng cho những tinh hoa của nền văn hoá Hy Lạp cổ đại. Năm 336 TCN, Philip II bị ám sát chết, Alexandros lên kế nghiệp vua cha, năm 20 tuổi. Ông là một người chỉ huy quân sự tài giỏi, một nhà chính trị và tổ chức giàu năng lực. Sau khi đàn áp các cuộc khởi nghĩa của các thành bang Hy Lạp, ông đã đem quân đội liên minh Hy Lạp - Macedonia chinh phục đế quốc Ba Tư. Quân đội của ông thực hiện chiến thuật "Phương trận" (Phalange) hay hình khối ô vuông. Bộ binh xếp thành từng khối dày đặc, hàng trước mang giáo ngắn, hàng sau mang giáo dài (có ngọn giáo dài tới 5 mét) Tua tủa như những con nhím. Binh sỹ còn có mộc che bảo vệ. Kỵ binh tinh nhuệ được bố trí hai bên sườn của bộ binh. Khi tác chiến, bộ binh có nhiệm vụ công kích chính diện, còn kỵ binh nhanh nhẹn thì vòng sang hai bên đối thủ và bao vây đằng sau lưng nhằm tiêu diệt hoàn toàn quân địch. Nhờ có một đội quân tinh nhuệ và một chiến thuật tiên tiến nhất thời bấy giờ, trong vòng 4 năm ( từ 334 TCN đến 331 TCN) Ông đã tiêu diệt toàn bộ đế quốc Ba Tư, xâm chiếm một lãnh thổ rộng lớn từ Ai Cập đến Ba Tư. Ông còn kéo quân vào Tây Bắc ấn Độ, nhưng không dành được thắng lợi phải quay trở về đóng kinh đô tại Babylone. Alexandros tích cực truyền bá nền văn hoá Hy Lạp cổ đại sang phương Đông và xây dựng nhiều thành thị kiểu Hy Lạp tại đây ( thành thị đều mang tên Alexandria). Hai nền văn hoá Đông- Tây đã hoà hợp với nhau, tạo thành một nền văn hoá rực rỡ mới gọi là nền văn hoá Hy Lạp hoá. Trong khi đang chuẩn bị cuộc viễn chinh mới, thì Alexandros bị mắc bệnh sốt ác tính, và mất ở Babylone lúc mới 33 tuổi (323 TCN). Sau khi ông mất, không có con thừa kế, đế quốc đã bị các tướng tranh giành và cuối cùng xé thành ba vương quốc: Hy Lạp - Macedonia, Ai Cập và Ba Tư..
<span class='text_page_counter'>(13)</span> clovis (466-511) (cai trị 481 - 511) Clovis I - vua đầu tiên của Vương quốc Frank, một quốc gia tiền thân của các vương quốc phong kiến Pháp, Đức và Italia sau này. Clovis I sinh vào khoảng năm 466, là con thủ lĩnh quân sự tối cao của bộ lạc Frank Salian Childeric I thuộc bộ tộc Germane vùng ven biển Hắc Hải. Thuở nhỏ, Clovis nổi tiếng thông minh, mưu trí, dũng cảm. Năm 481, khi vua cha Childéric I mất, ông đã được hội nghị quý tộc thị tộc bầu làm thủ lĩnh quân sự tối cao của bộ lạc Frank Salian và Frank Ripuaire. Ông lên ngôi vua, lập ra vương quốc Frank, mở đầu triều đại Mérovinggiens. Lúc này, đế quốc La Mã đang sụp đổ, Xứ Gaule (hay Galia, nước Pháp ngày nay) trước kia là một tỉnh của đế quốc La Mã, nay bị phân chia thành nhiều vùng độc lập. Viên thống đốc đế quốc La Mã xứ Gaule là Syagrius xưng vương, chiếm cứ miền Bắc xứ Gaule. Còn miền Đông và Nam xứ Gaule bị các bộ lạc Alaman, Burgonde và Wisigoth (hay Tây Goth) thuộc bộ tộc Germane chiếm giữ. Năm 486, Clovis tấn công vương quốc Sygarius, thôn tính cả miền Bắc xứ Gaule. Để lôi kéo nhân dân La Mã ở xứ Gaule là những người theo đạo Kitô, Clovis đã tiếp nhận đạo Kitô làm quốc giáo. Ông là vua "man tộc" đầu tiên theo đạo Kitô. Ông đã nhận lễ rửa tội từ tay giám mục Sain Rémi ở nhà thờ Reims vào năm 496. Các giám mục và linh mục của giáo hội Kitô ở xứ Gaule trở thành đẳng cấp quý tộc tăng lữ, một bộ phận của giai cấp thống trị vương quốc Frank. Sau khi củng cố và ổn định vương quốc Frank ở Miền Bắc xứ Gaule, Clovis lại tiếp tục mở rộng cuộc chiến tranh bành trướng, chiếm cứ đất đai của các bộ lạc Alaman, Burgonde ở miền Đông và đánh đuổi người Wisigoth ra khỏi miền Nam xứ Gaule, trở thành vương quốc "man tộc" mạnh nhất ở Tây Âu thời bấy giờ. Sau khi ông mất, lãnh thổ của vương quốc Frank còn được tiếp tục mở rộng, nhất là dưới thời hoàng đế Charlemagne, bao gồm cả nước Pháp, Đức và Italia ngày nay. Clovis I mất ngày 27-11-1511 tại Paris ( Thủ đô vương quốc Frank). elizabeth i ( 1533-1603) (cai trị 1558-1603) Elizabeth I - nữ hoàng vương quốc Anh của triều đại Tudor, thời cai trị của bà được gọi là "Thời đại hoàng kim Elizabeth"..
<span class='text_page_counter'>(14)</span> Elizabeth sinh ngày 7-9-1533, tại lâu đài Placentia ở Greenwich, là con gái của vua Henry VIII và hoàng hậu Anne Boleyn. Năm 1536, hoàng hậu Anne Boleyn bị thất sủng vì không sinh được con trai, bị gán cho tội phản bội và ngoại tình, bị cầm tù, rồi bị hành quyết. Khi đó Elizabeth mới lên ba, bị tuyên bố con bất hợp pháp, bị tước mất danh hiệu công chúa và cũng không được hưởng tài sản của mẹ. Cô được một số bà quý tộc bảo hộn, dậy bảo cho những kiến thức khoa học thời bấy giờ. Cô rất thông minh, ham thích học hỏi, một người đa tài, kiên định. Cô tin theo đạo Tin Lành. Năm 1547, Henry VIII mất, truyền ngôi cho con trai là Edward VI. Nhưng nhà vua trẻ tuổi này bệnh tật từ khi còn nhỏ, trị vì được có 7 năm (1547-1553) thì qua đời ở tuổi 15. Chị của Elizabeth là Mary (con của Henry VIII và hoàng hậu đầu tiên Catherine xứ Aragon) lên nối ngôi. Mary là một người theo đạo Thiên Chúa, dự định kết hôn với Hoàng tử Philippo của Tây Ban Nha ( sau này trở thành vua Tây Ban Nha Philippo II). Nhân dân Anh không muốn liên minh với Tây Ban Nha, chống đối lại quyết liệt. Mary thẳng tay đàn áp những người Tin Lành, bị nhân dân gán cho biệt danh "Mary đẫm máu". Mary cho là Elizabeth có dính líu vào vụ nổi loạn chống bà ta, đã bắt giam Elizabeth vào Tháp London (nhà tù chính ở London) (1554). Nhưng sau hai tháng bị giam giữ thì Elizabeth được trả tự do và quản thúc tại gia. Bốn năm sau, nữ hoàng Mary I Tudor (1553-1558) chết, Elizabeth được đưa lên ngôi Nữ hoàng Anh quốc (hiệu là Elizabeth I) (1558), khi đó cô 25 tuổi. Elizabeth I là người cương quyết và khôn ngoan, trở thành một nữ hoàng mạnh mẽ và gần gũi quân chúng, bà đã mạng lại hòa bình và thịnh vượng cho nước Anh trong 45 trị vì của bà. Một trong những mối quan tâm hàng đầu của Elizabeth I là vấn đề tôn giáo. Nhận biết thần dân muốn Nữ hoàng khước từ quyền lực của Giáo hoàng và ảnh hưởng của Tây Ban Nha, bà quyết định khôi phục lại Anh giáo ( Anglicanism) mà vua cha Henry VIII đã đề xướng. Năm 1559, đạo luật Quyền tối thượng được Nhị viện Anh ban bố, Nữ hoàng được nhận danh hiệu "Giáo chủ tối cao của Giáo hội Anh". Năm 1563, Nghị viện Anh lại thông qua 39 điều khoản hoàn thiện tổ chức Giáo hội Anh. Một đối thủ nguy hiểm của Elizabeth là người em họ của bà là Nữ hoàng xứ Scotland Mary Stuart (theo đạo thiên chúa) và là vợ vua Pháp Frangois II. Năm 1559, với sự ủng hộ của nước Pháp, Mary tuyên bố là Nữ hoàng Anh. Để chống lại âm mưu của người Pháp chiếm đóng Scotland, Elizabeth đã gửi quân sang Scotland giúp đỡ những người Tin Lành ở đây chống lại Mary. Giới quý tộc Scotland buộc Mary phải thoái vị và lập con trai bà là James kế vị. Mary trốn sang Anh để tìm sự.
<span class='text_page_counter'>(15)</span> bảo hộ của Elizabeth, lại bị lôi cuốn vào những âm mưu của những người Thiên chúa giáo chống lại Elizabeth. Nữ hoàng Elizabeth miễn cưỡng phải ra lệnh xử tử hình Mary (1587). Chính sách đối ngoại của Elizabeth là đề phòng hiểm hoạ từ Pháp và Tây Ban Nha. Elizabeth đã đồng minh với phe Huygenot (phe Tin Lành ở Pháp) để chống lại phe Công giáo ở Pháp. Bà đã ký kết Hiệp ước với Hà Lan để chống lại Tây Ban Nha. Elizabeth dừng sức mạnh của Hạm đội Anh để đột kích những hải cản và hạm đội của Tây Ban Nha và tăng cường xâm chiếm thuộc địa ở Châu Mỹ. Không chấp nhận để cho nước Anh lấn át mình và giúp đỡ Hà Lan thoát khỏi ách thuộc địa của mình, tháng 7-1558, Philippo II đã phái Hạm đội vô địch (The Spanish Armada) gồm 128 tàu chiến, 10.000 thuỷ thủ và 30.000 binh lính để tấn công vào bờ biển Đông Nam nước Anh. Hạm đội Anh do Đô đốc Francis Drake (1540-1596) chỉ huy chống trả quyết liệt Hạm đôi vô địch Tây Ban Nha. Người Anh đã dùng những con tàu lửa (thuyền chứa vật liệu bắt lửa, phóng hoá và lao vào hạm đội của địch) đốt được một số tàu của Tây Ban Nha gây ra sự kinh hoàng cho Hạm đội vô địch. Sự mất tinh thần của người Tây Ban Nha đã gây va chạm cho các tàu của họ và bảo biển lại làm chìm thêm một số tàu nữa. Hạm đội Tây Ban Nha phải rút lui, chỉ còn 67 tàu quay trở về Tây Ban Nha, trên tàu chở đầy xác chết. Việc đánh bại hạm đội lừng danh của Tây Ban Nha đã nâng cao thế của Elizabeth. Mặc dù chịu sự đe doạ của bên ngoài và sự bất ổn tôn giáo trong nước, bà đã giành được sự trung thành và sự ngưỡng mộ của thần dân của bà. Bà đã cố gắng cải thiện đời sống cho những người nghèo, như năm 1597 đã ra lệnh khôi phục lại mọi đất đai bị chiếm đoạt của nông dân và chấm dứt việc rào đất, nhưng không kết quả. Người thất nghiệp được trợ cấp, nhưng bộ luật cũng có biện pháp khắt khe đối với những người ăn xin. Thời kỳ cai trị của Elizabeth cũng là thời kỳ huy hoàng của nền Văn hoá phục hưng Anh. Triều đình của Nữ hoàng là trung tâm tập hợp các nhà thơ, văn sỹ (nhà viết kịch) và nhạc sỹ. Một số nhà văn hoá lớn của Anh đã xuất hiện ở thời kỳ này như Francis Bacon (1561-1626), thuỷ tổ của triết học duy vật và tinh thần khoa học thực nghiệm Anh, Thomas Hobbs (1588-1679), nhà triết học duy vật Anh, William Shakespeare (1564-1616), nhà thơ và nhà viết kịch lớn nhất của nền Phục Hưng Anh. Sau thời Elizabeth, vẫn còn nổi lên một số nhà văn hoá tên tuổi như John Locke (1632-1704), nhà triết học Anh, Isaac Newton (1642-1727), nhà khoa học và triết học Anh..
<span class='text_page_counter'>(16)</span> Nhiều cuộc Phát kiến địa lý và xâm chiếm thuộc địa cũng được tiến hành dưới thời trị vì của bà như năm 1580, sau hơn ba năm lênh đênh trên biển, nhà hàng hải Anh Francis Drake là người thứ hai (sau Magellan) đi vòng quanh trái đất. Drake được Nữ hoàng phong tước Hầu (hiệp sỹ). Walter Raleight đã thực hiện nhiều cuộc du hành qua Đại Tây Dương và tiến hành nhiều cuộc thăm dò, tìm kiếm thuộc địa ở Bắc Mỹ và đã chiếm một số thuộc địa ở Bắc Mỹ đặt tên là Virginia để vinh danh Nữ hoàng Virgin Elizabeth( Virgin có nghĩa là "Trinh nữ", vì Nữ hoàng Elizabeth không lấy chồng, nên có biệt hiệu là "Trinh nữ". Tháng 3-1603, Elizabeth ngã bệnh và mất vào nữa đêm ngày 24-3 tại lâu đài Richmond và an tán tại Điện Westminter (London). pyotr đại đế (1672-1725) (cai trị 1696-1725). Pyotr Đại đế hay Pyotr I ( Pyotr Alekseyevich Romanov) - Sa hoàng của đế quốc Nga, nhà cải cách kiệt xuất đầu tiên của Đế chế Nga, người có công lao to lớn tạo nên sự hùng mạnh về quân sự và kinh tế của nước Nga. Pyotr Alekseyevich Romanov sinh ngày 10-6-1672 tại Moskva (đế quốc Nga) là con thứ hai của Sa hoàng Aleksei I ( Aleksei Mikhailovich Romanov) và bà thứ phi Natalia Kirilovna. Khi vua cha qua đời, Pyotr mới lên bốn. Kế vị ngai vàng là Thái tử Fyodor III, bị khuyết tật và làm vua được sáu năm thì qua đời. Một cuộc tranh giành nối kế vị đã diễn ra quyết liệt với kết cục Công chúa Sofia (Sofia Alekseyevna) thắng thế . Công chúa đã đưa hoàng tử Ivan (em ruột của Fyodor), 17 tuổi, lên làm hoàng đế thứ nhất, còn hoàng tử Pyotr (em cùng cha khác mẹ với Fyodor) mới 10 tuổi, làm hoàng đế thứ hai, công chúa Sofia làm Phụ chính, nhưng thực tế bà ta nắm mọi quyền hành. Trong thời gian Sofia điều hành việc nước, Pyotr cùng mẹ rời khỏi Moskva, sống ở nơi thôn dã. Tại đây, Pyotr thường cùng bọn trẻ chơi trò chơi đánh trận và tổ chức thành các đơn vị quân đội. Pyotr được một thương nhân Hà Lan là Fanz Timmeman dạy cho số học, hình học cách tính đạn đạo...và học lái thuyền (ông bắt đầu quan tâm đến xây dựng lực lượng hải quân). Năm 1689, sau khi lấy vợ, Pyotr được một phe trong triều giúp lật đổ Sofia và giam quản thúc công chúa lộng hành vào tu viện. Ivan và Pyotr tiếp tục trị vì bên nhau.Tuy nhiên, Pyotr hoàn toàn dửng dưng với chính sự, để hoàng đế Anh là Ivan cầm quyền ở kinh đô, còn mình tiếp tục sống với bạn bè ở nơi thôn dã và tìm hiểu việc xây dựng hải quân..
<span class='text_page_counter'>(17)</span> Năm 1696, Sa Hoàng Ivan thình lình qua đời ở tuổi 29, từ đó Pyotr trở thành Sa hoàng duy nhất, người trị vì tối cao đế quốc Nga, lấy biệt hiệu là Pyotr I, sau đó được Thượng viện Nga trao tặng tước vị "Pyotr Đại đế, Hoàng đế và cha của đất nước Nga". Pyotr là một người lực lưỡng, tầm vóc cao lớn (cao hơn 2 mét), đi đứng nhanh nhẹn, hoạt bát. Ông là vị hoàng đế đặc biệt có đôi bàn tay chai sạn, vì ông ưa lao động chân tay. Điều trăn trở lớn nhất của nhà vua trẻ là xây dựng một nước Nga hùng mạnh, có đường thông ra biển. Một năm trước, năm 1695, Pyotr đã gây chiến với đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman, nhưng vì không có hải quân nên quân Nga đã không đánh thắng được Thổ Nhĩ Kỳ. Pyotr liền gấp rút xây dựng hải quân ở gần Veronese. Chỉ một năm sau, nước Nga đã có một hạm đội hải quân khá mạnh và đánh bại hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ, chiếm lược đường ra biển Azov. Từ bài học xây dựng hải quân trên, Pyotr I thấy cần thiết phải mở cửa bang giao với các nước ngoài và cử người đi học hỏi khoa học kỹ thuật tiên tiến của các nước Tây Âu để về xây dựng và bảo vệ đất nước. Năm 1696, Pyotr đi theo đoàn, giả dạng là một nhân viên của các đại sứ. Pyotr đã học kỹ thuâth đóng tàu ở Hà Lan, học kỹ thuật đúc súng đại bác ở Đức, học nghề đi biển ở Anh và học được nhiều nghề thủ công khác. Ông còn quan tâm tìm hiểu cách tổ chức bộ máy nhà nước ở các nước Tây Âu và nghiên cứu nhiều môn khoa học xã hội như lịch sử, chính trị, kinh tế, tôn giáo, nghệ thuật... Năm 1698, Pyotr trở về nước, mang theo những nhà thông thái ở nhiều lĩnh vực của Tây Âu về để tiến hành cuộc cải cách toàn diện cho đất nước Nga rộng lớn và đang lạc hậu so với các nước Tây Âu. Pyotr cũng đã tập hợp được xung quanh mình một lớp người Nga tiến bộ có trí thức, có tài năng thực sự để giúp cho những cải cách của Pyotr Đại đế đạt kết quả. Năm 1700, Pyotr I tuyên chiến với Thuỵ Điển nhằm đoạt lại một số vùng đất ở ven biển Bantique đang bị Thuỵ Điển chiếm giữ. Vua Thuỵ Điển Karl XII hãy còn rất trẻ (mới 18 tuổi), nhưng là nhà chỉ huy quân sự có tài và dũng mãnh, thời gian đầu đã đánh bại Pyotr I. Năm 1707, khi quân Thuỵ Điển đột nhập vào nội bộ nước Nga, quân đội Nga mới đánh bại được quân Thuỵ Điển tại Poltava (một thị trấn nhỏ án ngữ Moskva), lật ngược được thế cờ. Năm 1721, Nga và Thuỵ Điển ký hoà ước, Thuỵ Điển phải cắt nhường cho Nga vùng Litva, Ingra và Estonia. Để cũng cố vùng đất phía Bắc, Pyotr I cho xây dựng thành phố Petersburg trên bờ sông Niva. Ngày 28-1-1725, Pyotr Đại đế mất tại Sankt Petersburg (đế quốc Nga), sau 43 năm cầm quyền, hưởng thọ 53 tuổi..
<span class='text_page_counter'>(18)</span> khuất nguyên (340 tcn-278 tcn) Khuất Nguyên - chính trị gia, nhà thơ yêu nước nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại. Khuất Nguyên, tên thật là Bình, tự là Nguyên, hiệu Linh Quân, sinh vào khoảng năm 340 TCN, mất vào khoảng năm 278 TCN, thuộc dòng dõi quý tộc nước Sở, nổi tiếng là một người học rộng tài cao, giỏi về chính trị, lại có tài văn chương. Khuất Nguyên được Sở Hoài Vương yêu mến và đặc biệt tin dùng, giao cho ông chức Tả Đồ, một chức quan rất gần gũi với nhà vua - cùng vua bàn tính việc nước, soạn thảo pháp lệnh, tiếp khách và ứng đối với các sứ thần... Khuất Nguyên lòng dạ ngay thẳng, trung thực, căm ghét bọn gian thần nịnh bợ, ton hót; bị bọn gian thần ghen ghét, hùa nhau lập kế hoạch hãm hại, gièm pha. Mù quáng và cả tin bọn gian thần, Sở Hoài Vương đã dần dần bỏ rơi ông, không sử dụng trong các công việc hệ trọng của triều đình, lại bắt đi sứ nước Tề. Trong khi đó, Sở Hoài Vương nghe theo bọn quyền thần cầu an thoả hiệp, mạo hiểm đến họp với Tần Chiêu vương ở Vũ Quan, bị Tần lừa bắt, rồi chết ở bên Tần. Vua Sở mới lên ngôi là Khoảng Tương Vương ( con trai Sở Hoài Vương) lại càng nhu nhược, ngu tối, tin dùng Tử Lan, theo đuổi chính sách thân Tần. Bọn gian thần lại tiếp tục gièm pha, hãm hại ông đến nỗi Khoảng Tương Vương đã khép ông tội khi quân và đày ông xuống Giang Nam (phía Nam sông Dương Tử). Khi nghe tin quân Tần do Bạch Khởi chỉ huy kéo vào đất Sở (năm 278 tr. C.N.), tàn phá đô thành nước Sở là Sính Đô, huỷ hoại tôn miếu phần mộ của các vua Sở, Khuất Nguyên đã không nén nổi phẫn uất đau thương, gieo mình xuống dòng sông Mịch La tự tận. Tương truyền, ông qua đời vào ngày 5 tháng 5 (âm lịch), được nhân dân thương nhớ và kỷ niệm ngày mất của ông bằng ngày tết Đoan Ngọ, khi đó ông mới 62 tuổi. Sáng tác của Khuất Nguyên phong phú, đồ sộ. Ông đã tiếp thu ca dao và thần thoại trong dân gian nước Sở, nâng cao thành một hình thức thơ ca mới, gọi là "Sở từ". Ông vận dụng thần thoại, truyền thuyết một cách tài tình, kết hợp khéo léo với trí tưởng tượng phong phú để phản ánh những mâu thuẫn trong đời sống hiện thực, nêu bật những nguyện vọng thiết tha của nhân dân, biểu hiện rỏ rệt phẩm chất cao quý và tinh thần đấu tranh kiên cường cho lý tưởng và chính nghĩa của ông..
<span class='text_page_counter'>(19)</span> Các tác phẩm chủ yếu của ông là Ly Tao (Sầu ly biệt), Cửu ca (những bài ca tế thần và những anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước), Thiên vấn (những câu hỏi về các vấn đề thiên văn, địa lí, lịch sử, thánh nhân, đạo đức...), Cửu chương (chín bài thơ phản ánh tâm tình bi phẫn của Khuất Nguyên trên đường đi đày)... Thơ ca của ông chan chứa tình yêu nước thương dân. Tác phẩm của ông là mẫu mực của sự kết hợp chủ nghĩa hiện thực với chủ nghĩa lãng mạn..
<span class='text_page_counter'>(20)</span>