Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

Ngành Công nghiệp chế biến sữa Việt Nam Giai đoạn 2005 – 2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (323.7 KB, 27 trang )

MỤC LỤC

PHẦN 1 - MỞ ĐẦU
Ngành sữa Việt Nam phát triển từ những năm 1970 với tốc độ phát triển khá nhanh.
Nếu những năm 1990 chỉ có 1-2 nhà sản xuất, phân phối sữa thì hiện nay thị trường sữa
Việt Nam tăng lên 72 doanh nghiệp. Thị trường sữa Việt Nam khá tập trung với 90% thị
phần nằm trong tay tám công ty dẫn đầu gồm Vinamilk, Dutch Lady, Nestle Việt Nam,
Nutifood Bình Dương, Đường Quảng Ngãi, TH Milk, Sữa Mộc Châu và IDP, theo báo
cáo của StoxPlus (Thị phần sữa Việt Nam năm 2017 (Nguồn: StoxPlus)). Bên cạnh đó là
sự thâm nhập của các thương hiệu sữa nước ngoài như Abbott, Babysan, Dumex,
Friesland Campina (Dutch Lady), Meiji, Nestlé… Cũng theo nghiên cứu của Công ty
ACNielsen, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành sữa tại Việt Nam là từ
12% - 15%1. Ngành sữa Việt Nam được kỳ vọng là mảnh đất màu mỡ trong tương lai.
Hơn nữa, Người tiêu dùng Việt Nam rất quan tâm và sẵn sàng chi tiêu cho các sản phẩm
liên quan đến sức khỏe, dinh dưỡng là yếu tố quan trọng khiến thị trường sữa dinh
dưỡng tại Việt Nam càng thêm hấp dẫn. Với một thị trường đầy tiềm năng nhưng cũng
có không ít đối thủ cạnh tranh đã tạo ra không ít thách thức cũng như cơ hội cho các
công ty trong ngành.

1 Bản cáo bạch, Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Dinh Dưỡng Đông Tâm, 2013


PHẦN 2- NỘI DUNG
Ngành phân tích: Ngành Cơng nghiệp chế biến sữa Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2005 – 2018
1. Định nghĩa ngành công nghiệp chế biến sữa

Ngành công nghiệp chế biến sữa là ngành công nghiệp thực phẩm thiết yếu phục vụ
đời sống nhân dân. Các sản phẩm của ngành được chế biến từ nguồn nguyên liệu chính là
sữa động vật (sữa bò, sữa dê) và các nguyên liệu khác. Chính vì thế, sản phẩm có hàm
lượng dinh dưỡng cao thực sự cần thiết cho con người trong suốt quá trình tồn tại từ khi


sinh ra, trưởng thành và cho tới khi già yếu. Ngành công nghiệp sữa cũng là một trong số
các ngành có sự đòi hỏi cao về công nghiệp chế biến cũng như vè máy móc, thiết bị hiện
đại nhằm tạo ra một sản phẩm sữa có chất lượng và đảm bảo yếu tố vệ sinh an toàn thực
phẩm. 2
2. Các nhân tố toàn cầu có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngành
Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế cùng sự phát triển của khoa học công nghệ, sự thay
đổi trong các chính sách quản lý của các quốc gia với việc mở cửa thị trường cho giao
thương quốc tế cũng như gia nhập vào các tổ chức quốc tế và khu vực, việc hạn chế và dỡ
bỏ các hàng rào thương mại và hàng rào thuế quan đã làm thay đổi căn bản bức tranh
thương mại toàn cầu. Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn thì nền kinh tế của mỗi quốc gia
khơng cịn là một nền kinh tế độc lập khép kín mà đã trở thành một bộ phận của nền kinh
2 Mai Tuấn Anh ,2016


tế toàn cầu. Chính vì vậy mà các hoạt động cạnh tranh trong mỗi nền kinh tế khơng cịn
chỉ bị giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia mà luôn hướng đến việc mở rộng sang
phạm vi thị trường của các quốc gia khác. Xu hướng toàn cầu đem lại nhiều yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến ngành công nghiệp sản xuất Sữa của Việt Nam:
Thứ nhất, Khi tham gia sân chơi toàn cầu Việt Nam thực hiện các cam kết Hiệp định
ưu đãi thuế quan trong Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (cam kết CEPT/AFTA) và cam
kết với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Việc đưa ra chính sách cắt giảm thuế quan,
bãi bỏ các rào cảm thương mại, đã tạo điều kiện cho các DN Sữa nước ngoài dễ dàng
xâm nhập thị trường Việt Nam. Chính vì vậy, các hãng sản xuất sữa trong nước đang chịu
sức ép cạnh tranh ngày một gia tăng.
Thứ hai, Hội nhập kinh tế quốc tế cũng mang đến khá nhiều cơ hội cho ngành sản
xuất sữa của Việt Nam, thông qua rất nhiều phương thức như tái cấu trúc lại sản xuất, giải
thể, mua bán hoặc sát nhập các doanh nghiệp kém hiệu quả nhằm tạo ra các doanh nghiệp
lớn hơn, có tiềm lực hơn.
Thứ ba, Xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế giúp các DN sản xuất sữa dễ dàng tiếp
cận với tiến bộ khoa học công nghệ trong quy trình chăn nuôi và sản xuất sữa, nhằm nâng

cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, góp phần đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng của người tiêu dùng.
3. Phân tích mơi trường vĩ mô
3.1. Môi trường nhân khẩu học
Đặc điểm nổi trội của môi trường nhân khẩu học việt Nam là quy mơ dân số đơng cơ cấu
dân số trẻ.
• Quy mơ dân số đông và ngày càng tăng
Mặc dù dân số năm 2005 là 63,12 triệu người nhưng tính đến tháng 11/2013 dân số
Việt Nam đạt ngưỡng 90 triệu người, xếp thứ 14 trên thế giới và là quốc gia có dân số
đông thứ 3 tại khu vực Đông Nam Á 3. Hiện nay, dân số Việt Nam mỗi năm tăng hơn 1
3 Dương Quốc Trọng - Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình,2013


triệu người và sẽ đạt quy mô cực đại vào năm 2050 với khoảng 110 triệu dân. Đây là thị
trường lớn và hấp dẫn.


Cơ cấu dân số trẻ
Cơ cấu dân số Việt Nam thuộc nhóm “cơ cấu dân số trẻ” đây được cho là cơ cấu vàng.

Theo số liệu của Tổng cục dân số tại thời điểm năm 2005, số người thuộc nhóm dướu 19
tuổi chiếm 22,4% thì đến năm 2013, số người thuộc nhóm tuổi dưới 19 tuổi chiếm
31,2%, trong đó nhóm tuổi dưới 15 tuổi chiếm tỷ lệ 23,7%. Tổng cục dân số kế hoạch
hóa gia đình cũng đưa ra số liệu dự báo nhóm tuổi dưới 15 tuổi chiếm tỷ lệ 22,7% vào
năm 2019. Đây là độ tuổi tiêu thụ mạnh sản phẩm sữa.
Với quy mô dân số đông và tốc độ tăng tương đối và cơ cấu dân số trẻ đem lại cho
cho các công ty sữa tại Việt Nam thị trường rộng lớn, tạo cơ hội tăng lượng tiêu thụ sản
phẩm và tăng doanh thu.



Di cư dân số từ nông thôn lên thành thị
Theo số liệu của Tổng cục thống kê , đến cuối năm 2005 dân số Việt Nam là 63,12

triệu người với dân số thành thị chiếm 27,12%. Năm 2013, trong tổng dân số Việt Nam,
dân cư thành thị là 29,03 triệu người chiếm tỷ lệ 32,36% dân số, dân số khu vực nông
thôn là 60,68 triệu người, chiếm tỷ lệ 67,64%. 4 Trong những năm đây, tỷ lệ dân số ở khu
vực thành thị ngày càng tăng. Tỷ lệ dân số đô thị Việt Nam đã tăng từ 23,7% năm 1999
lên 29,6% năm 2009 và đến năm 2013 là 32,36%. Đây chính là cơ hội không nhỏ cho sự
tăng trưởng của ngành sữa khi mà dân số tại khu vực thành thị - thị trường chủ yếu- ngày
càng tăng và phần lớn các nhà phân phối sữa đều tập trung tại khu vực này. Bên cạnh đó,
các công ty cũng cần phải xây dựng chiến lược để phát triển sản phẩm đến người tiêu
dùng tại khu vực nông thôn.
3.2. Môi trường kinh tế
• Kinh tế ổn định nhưng vẫn cịn nhiều khó khăn

4 Tổng cục thống kê, 2013.


Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam ước đạt 8,4%, vượt xa con số
7,8% của năm 2004. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 9 năm qua kể từ năm
19975. Từ đầu năm 2007, việc Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO) đã đánh dấu bước ngoặt mới cho ngành dệt may Việt Nam. Dệt may Việt
Nam có cơ hội ngang bằng với các nước trên thế giới trong việc xuất khẩu hàng dệt may
sang tất cả các thị trường trên thế giới 6. Bước qua năm 2007 mức GDP biến động nhẹ và
tuột dốc mạnh vào năm 2008 do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Năm 2013, kinh tế Việt Nam đạt được những dấu hiệu phục hồi khởi sắc, tăng trường
GDP 5,42% so với năm 2012, lạm phát được kiềm chế ở mức 6,04% thấp nhất trong 10
năm qua. Kinh tế vĩ mô từng bước được ổn định mở ra cơ hội tăng trưởng cho các doanh
nghiệp chế biến sữa Việt Nam. Cái gọi là sự ổn định của nền kinh tế được thể hiện ở một
vài chỉ báo quan trọng, chẳng hạn như lạm phát được duy trì ở mức thấp so với mục tiêu

7-8%; lãi suất có xu hướng giảm thấp và ổn định, không còn tình trạng chạy đua lãi suất
phức tạp như những năm trước; tỷ giá nhìn chung được duy trì khá ổn định trong thời
gian dài.
Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro và cũng tồn tại không ít kho khăn cho
hoạt động của các doanh nghiệp. Đầu tiên, có thể nhận thấy mức tăng trưởng kinh tế đã
không đạt muc tiêu so với kế hoạch đề ra. Năm 2013, có khoảng 60.737 doanh nghiệp
ngừng hoạt động, tăng 11,9% so với năm 2012, trong đó gần 9.818 doanh nghiệp chính
thức giải thể hẳn.Trong khi đó, tiếp cận vốn của doanh nghiệp còn nhiều trở ngại dù lãi
suất ngân hàng đã có xu hướng giảm, tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 11% so với mục
tiêu 12%. Tỷ lệ nợ xấu cao của ngân hàng và tình trạng khốn khó tài chính của doanh
nghiệp khiến cho các khoản vay được các ngân hàng kiểm soát chặt chẽ hơn trước. Khó
khăn tài chính là một thách thức không nhỏ tác động tiêu cực đến chiến lược kinh doanh
của công ty, chất lượng các hoạt động marketing của công ty cũng bị ảnh hưởng ít nhiều.

5 TS. Đinh Văn Ân, Kinh tế việt Nam năm 2001-2005 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006-2010.
6 Theo năm 2007: Dệt may Việt Nam bứt phá


Năm 2017 tăng trưởng kinh tế đạt 6,81%, vượt chỉ tiêu 6,7% do Quốc hội đề ra, và là
mức tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua, theo số liệu mới công bố của Tổng cục
thống kê. Đặc biệt, nền kinh tế trong hai quý cuối năm đều ghi nhận mức tăng trưởng trên
7%.7
Tình hình kinh tế ngày càng tăng trưởng và đi vào ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp trong ngành phát triển.

Hình 2.1.Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong 10 năm gần đây
• Mức sống chi tiêu của người dân có xu hướng co lại
Trong giai đoạn 2005 – 2010, mức chi tiêu của người dân có xu hướng co lại một
phần quan trọng do thu nhập, sức mua có khả năng thanh toán của dân cư giảm, nhất là
những người bị mất việc hoặc thiếu việc làm ở những doanh nghiệp bị ngừng hoạt động,

giải thể, thu hẹp sản xuất kinh doanh do ảnh hưởng chung của khủng hoảng kinh tế toàn
cầu. Mặt khác, một bộ phận quan trọng trong dân cư đã xuất hiện trở lại tâm lý “thắt lưng
buộc bụng”, rẻ thì mua, đắt thì mua ít, thậm chí không mua. Điều này ảnh hưởng lớn đến
hoạt sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

7 Tổng cục thống kê, 2017


Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người nước ta năm 2013 đạt khoảng 1.960USD 8,
mức thu nhập vẫn tăng cao so với các thời kỳ trước. Đến năm 2017, GDP bình quân đầu
người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD so với năm
20169. Hơn nữa, cộng với xu hướng tiêu dùng của cơ cấu dân số trẻ, với mong muốn bổ
sung nhiều chất dinh dưỡng cần thiết mà trong đó sữa là một mặt hàng quan trọng. Do đó,
nhu cầu về các sản phẩm từ sữa vẫn tăng cao, mở ra cho các doanh nghiệp trong ngành
nhiều cơ hội hơn.
3.3. Mơi trường chính trị - pháp luật
Việt Nam là nước có chế độ chính trị ổn định, hệ thống pháp luật thơng thống, tạo
điều kiện thuận lợi cho môi trường đầu tư. Cùng với việc gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO, trong những năm gần đây chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính
sách phù hợp với quá trình hội nhập toàn cầu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu
tư. Bên cạnh đó việc giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0% cho các sản phẩm sữa giúp sữa
ngoại có điều kiện thâm nhập dễ dàng vào thị trường Việt Nam. Điều này tạo ra nhiều
nhiều thách thức trong việc cạnh tranh cho các công ty sữa nội. Bên cạnh đó, nguồn
nguyên liệu chính của Nutifood cũng giống như các công ty khác trong ngành đều được
nhập khẩu từ nước ngoài, việc tham gia vào WTO tạo điều kiện hợp tác quốc tế giữa các
DN sữa Việt Nam với các cơng ty cung cấp ngun liệu nước ngồi thuận lợi hơn. Mở ra
cơ hội hợp tác liên doanh để học hỏi kinh nghiệm và khai thác những mặt về trong hoạt
động tiếp thị của các doanh nghiệp lâu năm trong ngành công nghiệp sữa thế giới.
Hệ thống pháp luật kinh doanh của Việt Nam đang từng bước được hoàn thiện. Các cơ
quan chức năng ban hành ngày càng nhiều những quy định khắt khe về chất lượng sản

phẩm, kiểm soát chặt chẽ hoạt động quảng cáo và xúc tiến thương mại, cùng với đó là
những quy định bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, lợi ích cộng đồng và bảo vệ môi
trường. Đây chính là thách thức khơng nhỏ, đặt ra bài tốn khó địi hỏi các doanh nghiệp
phải tạo ra những sản phẩm chất lượng và xây dựng chiến lược marketing vừa mang lại
8 Diễn đàn VDPF, năm 2013
9 Tổng cục thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2017


hiệu quả trong kinh doanh vừa phải tuân theo những quy định pháp luật ngày càng chặt
chẽ.
Nổi cộm trong ngành sữa là vụ bê bối sữa nhiễm Melamine năm 2008. Sự kiện này đã
gây ra nhiều thiệt hại cho ngành sữa. Ngày 6/10/2008 đã có hơn 400 mẫu sữa và sản
phẩm sữa được kiểm nghiệm, trong đó 23 mẫu có phát hiện thấy melamine 10. Cơ quan
quản lý đã yêu cầu các nhà nhập khẩu khẩn trương thu hồi những sản phẩm này trên thị
trường. Tiến hành kiểm tra các sản phẩm sữa có mặt trên thị trường một cách nghiêm
ngặt. Chính vì vậy, khó khăn nhất của những công ty thực phẩm là phải đảm bảo hàm
lượng dinh dưỡng và quy trình sản xuất theo như quy định.
Mới đây, Bộ tài chính ban hành quy định áp trần giá sữa cho 25 mặt hàng sữa giành
cho trẻ em dưới 6 tuổi (quy định có hiệu lực từ ngày 1/6/2014). Danh sách 25 sản phẩm
này thuộc 5 doanh nghiệp có thị phần lớn trên thị trường gồm: Công ty cổ phần sữa Việt
Nam (Vinamilk), Công ty TNHH Nestle Việt Nam, Công ty TNHH Friesland campina
Việt Nam, Công ty TNHH dinh dưỡng 3A, Công ty Mead Johnson Việt Nam. Những sản
phẩm của Nutifood không nằm trong danh sách áp giá trần, nên hoạt động sản xuất kinh
doanh của Nutifood không chịu ảnh hưởng từ quy định này. Mặc khác, Nutifood còn
được hưởng lợi từ việc người tiêu dùng xem xét chuyển sang sử dụng Sản phẩm của
mình do hoạt động lách luật của các doanh nghiệp có sản phẩm bị áp giá trần. Chẳng hạn
như, trường hợp của công ty Mead Johnson để lách luật công ty ngừng sản xuất và lưu
hành sản phẩm Enfamil A+ (SP trong danh sách bị áp giá trần) trên thị trường thay vào đó
là tung ra dòng sản phẩm mới thay thế là Enfamil A+ 360* Brain Plus với mức giá
600.000 đồng/hộp 900g, trong khi Enfamil A+ chỉ có giá 550.000 đồng/hộp 900g. Hành

động này ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng về sản phẩm và công ty, từ đó khách
hàng có xu hướng chuyển sang dùng sản phẩm sữa của Vinamilk và Nutifood với giá chỉ
bằng một nửa sản phẩm ngoại.
3.4. Môi trường văn hóa
10 Bộ Y tế Việt Nam, 2008


Việt Nam không phải là nước có truyền thống sản xuất sữa, vì vậy đại bộ phận dân
chúng chưa có thói quen tiêu thụ sữa. Việc chưa có thói quen tiêu thụ sữa của người Việt
Nam hiện nay đã hạn chế không nhỏ khả năng phát triển thị trường và tăng doanh thu của
các doanh nghiệp trong ngành sữa. Theo số liệu thống kê đầu năm 2014, mức tiêu thụ các
sản phẩm sữa dạng nước trên đầu người của người Việt Nam hiện ở mức khiêm tốn 15
lít/năm khi so vơi 34 lít/năm ở Thái Lan, 25 lít/năm ở Trung Quốc hay 112 lít/năm ở
Anh11. Đến năm 2017, mức tiêu thụ sữa bình quân tại Việt Nam là 26 lít/người . Cùng với
tốc độ tăng trưởng cao hiện nay cho thấy thị trường sữa Việt Nam thực sự là mảnh đất
màu mỡ.
Bên cạnh đó, tâm lý tiêu dùng của người Việt Nam vẫn chuộng tiêu dùng những
sản phẩm ngoại hơn là sản phẩm nội, vì niềm tin về chất lượng họ luôn cho rằng sản
phẩm ngoại có chất lượng tốt hơn so với sản phẩm của những công ty trong nước. Tâm lý
tiêu dùng của người dân đặt ra thách thức lớn cho các công ty sữa Việt Nam trong công
tác quản lý chất lượng sản phẩm và quảng bá thương hiệu đến người tiêu dùng.
3.5. Môi trường công nghệ
Nguồn nguyên liệu đầu vào của ngành sữa Việt Nam còn thiếu, đa số nguyên liệu
để sản xuất sữa trong nước nhập khẩu từ nước ngoài. Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng
Quốc gia, sữa hoàn nguyên (hay sữa pha lại) có nguyên liệu từ sữa bột nhập và chất
lượng không thể so sánh với sữa tươi sạch. Cũng theo Tổ chức Nông lương Thế giới
(FAO), xu hướng tại các nước tiên tiến trên thế giới, người dân hầu hết đều dùng sữa tươi
sạch, trong đó chủ yếu là sữa tươi thanh trùng. Tuy nhiên tại Việt Nam, 70% thị trường
sữa nước là sữa hồn ngun pha lại12, với giá bán đơi khi còn đắt hơn cả sữa tươi sạch.
Trong bối cảnh ngành chăn ni bị sữa - chế biến sữa tươi sạch tại Việt Nam vẫn

chưa có quy hoạch đồng bộ và chưa xây dựng được quy chuẩn chất lượng sữa nguyên
liệu cũng như cụ thể hóa tiêu chuẩn về chăn nuôi…thì việc ứng dụng công nghệ cao trong

11 Theo Báo Người lao động, 2014
12 />

lĩnh vực này chính là thực hiện“đi tắt đón đầu” để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững
ngành sữa và chăn ni bị sữa Việt Nam.
Việc ứng dụng cơng nghệ vào quy trình chăn nuôi – chế biến sữa để tạo ra sản
phẩm sữa sạch đáp ứng tiêu chuẩn và yêu cầu của người tiêu dùng sẽ mang đến cho
doanh nghiệp lợi thế không nhỏ trong cuộc đua chiếm lĩnh thị phần tăng doanh số. Đây là
điều dễ dàng nhận ra nhưng trong không phải công ty nào trong ngành sữa Việt Nam
cũng đủ nguồn lực để thực hiện. Hơn nữa chi phí đầu tư một dây chuyền chăn ni – chế
biến sữa bị ứng dụng cơng nghệ hiện đại quá cao chính là một trở ngại lớn để các công ty
trong ngành sữa Việt Nam tiếp cận.
3.6. Môi trường tự nhiên
Trong những năm gần đây, môi trường tự nhiên trên thế giới và của Việt Nam biến
đổi nhanh chóng. Thiên tai, hạn hán, bão lũ xuất hiện ngày càng nhiều với hậu quả để lại
ngày càng lớn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân và hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Đối với các công ty hoạt động trong ngành sữa,
môi trường tự nhiên biến đổi theo chiều hướng tiêu cực ảnh hưởng đến hoạt việc chăn
ni bị sữa cung cấp nguồn nguyên liệu, việc đóng gói bảo quản sản phấm nhất là sản
phẩm sữa tươi.
Theo thống kê từ Cục chăn nuôi, đàn bò sữa trong nước năm 2005 là 31.582 con,
tính đến năm 2013 đạt 184.216 con, mới chỉ có thể cung cấp 420.000 tấn sữa nguyên
liệu, chỉ đáp ứng khoảng 28% tổng nhu cầu sản xuất năm 2013. Đến năm 2017, tổng đàn
bò sữa trong nước lên đến 326.000 con, đáp ứng 46% nhu cầu trong nước. Con số này
cho thấy, ngành sữa Việt Nam hiện đối mặt với sự mất cân bằng cung - cầu sữa tươi
nguyên liệu nghiêm trọng.
Đứng trước thách thức bất ổn về nguồn nguyên liệu đầu vào, các DN như TH

Truemilk, Vinamilk , Nutifood,… phải đầu tư vào xây dựng trang trại ni bị và nhà máy
chế biến sữa tươi nhằm ổn định đầu vào cho tương lai.


4. Phân tích ngành
Michael Porter giải thích rằng có năm lực lượng quyết định tính hấp dẫn và tính bền
vững của ngành. Năm lực lượng cạnh tranh đó là: Rào cản gia nhập ngành; Sức mạnh
thương lượng của người mua; Sức mạnh thương lượng của các nhà cung cấp; Mối đe
dọa thay thế; Mức độ cạnh tranh trên thị trường hiện tại. Qua phân tích cạnh tranh,
chúng ta có thể thấy được ngành công nghiệp chế biến sữa trong nước có hay không khả
năng sẽ duy trì được đà tăng trưởng trong dài hạn.
4.1. Phân tích mơ hình 5 lực lượng cạnh tranh trong ngành sữa tại Việt Nam
 Đối thủ cạnh tranh trong ngành
Hiện nay, Ngành sữa Việt Nam có khoảng 72 công ty sản xuất, nhập khẩu, kinh
doanh sữa, chưa kể có hàng trăm tổng đại lí phân phối sữa. Cũng theo EMI, hai mảng
chính dẫn dắt sự tăng trưởng của ngành sữa trong nước là sữa nước và sữa bột với tổng
giá trị thị trường vào khoảng 75%, trong đó giá trị sữa bột chiếm 45%. Thị phần sữa bột
phần lớn do các doanh nghiệp nước ngoài như Abbott, Friesland Campina Vietnam và
Mead Johnson nắm giữ. Trong khi đó đối với sữa nước, ngoài Vinamilk chiếm hơn 50%
thị phần còn có sự góp mặt của nhiều doanh nghiệp khác như TH Milk, Nutifood, IDP,
Hanoi Milk… Như vậy, có thể thấy các doanh nghiệp trong nước đang bị yếu thế một
cách tương đối trước các đối thủ nước ngoài, đặc biệt là ở các phân khúc có sức tiêu thụ
mạnh và biên độ lợi nhuận cao (chẳng hạn như phân khúc sữa bột công thức)13
Theo Nielsen 14, các dòng sản phẩm sữa chính được người dân Việt Nam tiêu thụ
nhiều đó là sữa bột công thức (55% giá trị thị trường), sữa nước (20%), sữa chua (16%),
sữa đặc (6%), và các loại khác (3%). Trong đó, sữa bột và sữa nước chiếm tỷ lệ cao nhất,
ước tính khoảng 75% giá trị thị trường sữa. Theo kết quả điều tra của IPSARD 15, người
tiêu dùng có xu hướng lựa chọn mua sữa bột của các hãng sữa ngoại như Abbott, Mead

13 Nguyễn Thị Diệu Hiền, 2016

14 The Nielsen Company là một công ty nghiên cứu thị trường và truyền thơng tồn cầu
15 Điều tra của trung tâm Phát triển nông thôn


Johnson… trong khi ưa thích các loại sữa tiệt trùng của các công ty nội địa, đặc biệt là
sản phẩm của công ty Vinamilk.
 Năng lực thương lượng của người mua

Việt Nam được đánh giá là thị trường tiêu thụ sữa tiềm năng. Điều này là bởi Việt
Nam là một quốc gia đông dân, cơ cấu dân số trẻ với mức tăng dân số cao khoảng
1,2%/năm, tỷ lệ tăng trưởng GDP 6-8%/năm, thu nhập bình quân đầu người tăng
14,2%/năm. Những yếu tố này kết hợp với xu thế cải thiện thiện sức khỏe và tầm vóc của
người Việt Nam khiến cho nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa luôn giữ mức tăng trưởng
cao.


Áp lực của các khách hàng cuối cùng

Hiện tại các sản phẩm sữa rất đa dạng và có thể thay thế cho nhau, và yếu tố giá cả
không phải là quan trọng nhất đối với người tiêu dùng khi lựa chọn các sản phẩm sữa.
Thị trường sữa hiện tập trung ở một số nhà sản xuất lớn: Vinamilk và một số nhà sản xuất
trong nước như HNM, IDP, Mộc Châu, Long Thành, TH Milk, các sản phẩm nhập khẩu
như Abbott, Nestle, Mead Johnson, Dumex... Các công ty phải cạnh tranh với nhau bằng
chất lượng, sự đa dạng của sản phẩm, sức mạnh thương hiệu… rồi mới đến cạnh tranh
bằng giá cả.


Các khách hàng trực tiếp là các đại lý phân phối nhỏ lẻ, các trung tâm dinh
dưỡng…có khả năng tác động đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng.
Các công ty sữa trong nước và các đại lý độc quyền của các hãng sữa nước ngoài


phải cạnh tranh để có được những điểm phân phối chiến lược, chủ yếu thông qua chiết
khấu và hoa hồng cho đại lý bán lẻ. Các điểm phân phối như trung tâm dinh dưỡng, bệnh
viện, nhà thuốc…có thể giành được sức mạnh đáng kể trước các hãng sữa, vì họ có thể
tác động đến quyết định mua sản phẩm sữa nào của các khách hàng mua lẻ/ cuối cùng
thông qua tư vấn, giới thiệu sản phẩm.
 Điều này cho thấy năng lực thương lượng của người mua cuối cùng trong ngành hàng


sữa là cao, Chi phí chuyển đổi của người mua là thấp.
 Năng lực thương lượng của nhà cung cấp
• Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp nguyên liệu sữa trong nước hạn chế.

Xét về quy mô ngành chăn ni bị sữa, 95% số bị sữa được ni tại các hộ gia
đình, chỉ 5% được nuôi tại các trại chuyên biệt với qui mô từ 100-200 con trở lên và
con số này tăng dần lên với quy mô hơn 300 con vào năm 2017 16. Điều này cho thấy
người dân ni bị tự phát, dẫn đến việc khơng đảm bảo số lượng và chất lượng và làm
giảm khả năng thương lượng của các nhà cung cấp trong nước. Việc thiếu kinh nghiệm
quản lý, quy mô trang trại nhỏ, tỷ lệ rối loạn sinh sản và mắc bệnh của bò sữa cịn ở
mức cao… khiến người nơng dân ni bị sữa rất bất lợi. Do đó, các công ty sữa trong
nước nắm thế chủ động trong việc thương lượng giá thu mua sữa trong nước. 17

Hình 2.2. Quy mơ đàn bị sữa theo các năm
• Phụ thuộc nhiều vào diễn biến giá cả nguồn nguyên liệu nước ngoài.

16 Báo cáo ngành sữa năm 2010, HabuBank Securities
17 Báo cáo The Nielsen 2017


Nguyên liệu sữa đầu vào của ngành sữa hầu như đều nhập khẩu từ các quốc gia xuất

khẩu nguyên liệu sữa hàng đầu trên thế giới như Úc, New Zealand, Châu Âu,… Do đó,
giá nguyên liệu sữa tăng hoặc giảm phụ thuộc vào cán cân cung cầu trên thế giới. Trong
khi nhu cầu tiêu dùng trên thế giới ngày càng tăng cao, nguồn cung trong những năm gần
đây thường xuyên bị mất mùa do hạn hán, thiên tai,… Chính vì lẽ đó, sự biến động giá
nguyên liệu đầu vào luôn tạo áp lực lên giá thành sản phẩm và đồng thời gây không ít
khó khăn cho các công ty trong việc hoạch định chiến lược về giá, cũng như các hoạch
định về doanh thu, lợi nhuận.
Tuy nhiên các nhà cung cấp nêu trên là những nhà sản xuất hàng đầu thế giới và Việt
Nam và các nhóm hàng trên được mua thông qua việc ký hợp đồng từng quý/năm để có
được sự ổn định về nguồn nguyên liệu, đồng thời Công ty có được giá mua tốt nhất.
 Sức mạnh thương lượng của nhà cung cấp nội địa không cao nhưng các công ty trong
ngành sữa bị ảnh hưởng bởi các nhà cung cấp bên ngoài.
 Sản phẩm thay thế

Do đặc thù sữa là một loại đồ uống có lợi cho sức khỏe mang lại nguồn dinh
dưỡng quý giá trong chế độ chăm sóc sức khỏe cho người tiêu dung, đặc biệt, sữa là
nguồn dinh dưỡng không thể thiếu giúp hoàn thiện thể chất và trí tuệ cho tầng lớp trẻ em.
Chính vì vậy nên các sản phẩm thay thế của sữa như các loại thực phẩm chức năng,
ngũ cốc, nước tăng lực, ca cao, … tuy nhiên chưa có sản phẩm nào có thể thay thế vai trò
đặc biệt của sữa. Mặc dù vậy, sẽ có sự cạnh tranh về thị phần giữa sữa và các sản phẩm
khác nhau trong ngành.
 Nguy cơ của sản phẩm thay thế không cao
 Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng

Đặc điểm ngành sữa là tăng trưởng ổn định, lợi nhuận cao, thị phần đã tương đối ổn
định; để gia nhập ngành đòi hỏi các công ty mới phải có tiềm lực vốn lớn để vượt qua các
hàng rào gia nhập như:


- Đặc trưng hóa sản phẩm: Hiện nay, thị trường sữa Việt Nam hiện nay đã có mặt của

hầu hết các hãng sữa lớn trên thế giới, và các hãng sữa lớn đã có một thị phần nhất định
và ít thay đổi trong thời gian qua. Do đó, các đối thủ mới muốn gia nhập phải đầu tư
mạnh mẽ để thay đổi sự trung thành của các khách hàng hiện tại.
- Yêu cầu về vốn: Các công ty mới gia nhập ngành cần có số vốn phải đủ lớn để cho
nhu cầu quảng cáo, nghiên cứu và phát triển.
- Kênh phân phối: các kênh phân phối sản phẩm hiện tại của ngành sữa đã được các
doanh nghiệp hiện có sử dụng. Do đó, các đối thủ khi gia nhập phải thuyết phục các kênh
phân phối này bằng cách chấp nhận chia sẻ nhiều hoa hồng cho các nhà phân phối, dẫn
đến chi phí tăng cao hơn.
 Như vậy những công ty khác muốn gia nhập ngành sữa sẽ phải chịu sức ép không
nhỏ về nguyên liệu, công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng cũng như khó mà thu hút được
những khách hàng hiện tại khi họ đang hướng về những hãng sữa uy tín trong nước và
hàng nhập ngoại. Do đó, có thể kết luận rằng Rào cản gia nhập ngành tương đối cao; áp
lực từ những đối thủ mới là không đáng kể, mà cạnh tranh chủ yếu sẽ diễn ra trong nội bộ
ngành hiện tại.
4.2. Phân tích nhóm ngành
Thị trường sữa Việt Nam khá tập trung với 90% thị phần nằm trong tay tám công ty
dẫn đầu gồm Vinamilk, Dutch Lady, Nestle Việt Nam, Nutifood Bình Dương, Đường
Quảng Ngãi, TH Milk, Sữa Mộc Châu và IDP, theo báo cáo của StoxPlus (Thị phần sữa
Việt Nam năm 2017 (Nguồn: StoxPlus)).
Nhóm chiến lược trong ngành sữa được phân loại dựa vào 2 tiêu chí chủ yếu bao
gồm: Mức độ bao phủ thị trường (Thị phần) và Chi phí quảng cáo, khuyến mãi.


Cao
M
ức
độ
ba
o

ph

thị
trư
ờn
g

Vinamilk, Dutch Lady, TH true milk

Long Thành, Mộc Châu, Ba Vì, Nutifood
Hà Nội Milk, Nestle Việt Nam, Quảng Ngãi sugar

Các cơng ty nhỏ khác
Thấp

Thấp

Chi phí quảng cáo, khuyến mãi

Cao

Hình 2.3. Bản đồ nhóm chiến lược ngành sữa
Nhóm 1: Nhóm dẫn đạo ngành gồm các công ty Vinamilk, Dutch Lady, TH true milk
và Nutifood. Các công ty này đi theo chiến lược nhanh chóng lấp đầy các khoảng trống
thị trường và tăng chi phí quảng cáo và khuyến mãi để chiếm lĩnh thị phần. Năm 2017, cứ
mỗi ngày Vinamilk chi 5,5 tỉ đồng cho hoạt động quảng cáo và nghiên cứu thị trường.
Chi phí khuyến mại còn vượt xa con số đó, mỗi ngày tiêu tốn hết 21 tỉ đồng của doanh
nghiệp sữa lớn nhất Việt Nam. Việc phủ sóng của Vinamilk trên các phương tiện truyền
thông có được nhờ chính sách chi mạnh tay này. Quảng cáo sữa dành cho trẻ em của



Vinamilk trên kênh Youtube là video quảng cáo hấp dẫn nhất châu Á, theo bảng xếp hạng
được Google công bố hồi tháng 9 năm ngối. Ngồi ra, để đảm bảo tăng trưởng,
Vinamilk đã ra mắt các sản phẩm mới như sữa đậu nành hạt óc chó, sữa tươi organic, dự
kiến kết hợp với Dược Hậu Giang sản xuất thực phẩm chức năng.…
Bên cạnh đó TH Milk, một doanh nghiệp sữa với quy mơ hàng chục nghìn bị sữa,
cũng đang đa dạng hóa sản phẩm với các sản phẩm mới. Tháng 8.2017, công ty ra mắt
sản phẩm thức uống thảo dược, hồn tồn khơng có thành phần sữa tươi. Tháng 3.2018,
TH Milk bắt đầu bán sản phẩm sữa hạt óc chó và hạt macca, thêm thành phần sữa hạt vào
sản phẩm sữa tươi quen thuộc. Cùng với sự đa dạng về sản phẩm là chi phí quảng cáo,
khuyến mãi tăng lên đáng kể.
Nhóm 2, trong ngành sữa là các cơng ty Nutifood, Long Thành, Mộc Châu, Ba Vì. Dù
đang xếp ở vị trí nhóm 2, nhưng các công ty này vẫn đặt tham vọng làm chủ thị trường
sữa bằng cách đầu tư khá nhiều cho các hoạt động quảng cáo, khuyến mãi.
Tuy nhiên, thương hiệu Long Thành bước ra khỏi sân nhà ngay lập tức nhạt nhòa,
chìm nghỉm giữa các tên tuổi khác. Hay nói cách khác sữa Long Thành chỉ có sức ảnh
hưởng tại địa phương, tương tự như sữa Ba Vì hay Mộc Châu.
Với tham vọng lớn, Công ty cổ phần Sữa Quốc tế (IDP) - chủ thương hiệu LIF, LIF
KUN - đang nỗ lực xây dựng một thương hiệu lớn mạnh ở trong nước và một tầm nhìn
hướng về thị trường quốc tế. Từng kỳ vọng vào cái tên Ba Vì, với chiến lược xây dựng
trong tâm trí khách hàng về một sản phẩm xanh và sạch, nhưng mức độ thành cơng vẫn
chưa đạt như kỳ vọng.
Nhóm 3 gồm các công ty Hà Nội Milk, Nestle Việt Nam, Quảng Ngãi sugar. Nhóm
này theo đuổi chiến lược cố gắng mở rộng thị phần. Tuy nhiên, chi phí dành cho quảng
cáo, khuyến mãi là một hạn chế lớn. Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi, hiện đang sở
hữu 2 thương hiệu sữa đậu nành Vinasoy và Fami cũng chi tới 187 tỷ đồng, bao gồm 148
tỷ đồng cho quảng cáo và 39 tỷ đồng cho khuyến mãi năm 2017. Mức chi này giảm 12%


so với năm trước đó. Đối với Hanoimilk, trong 9 tháng gần đây mặc dù doanh thu có tăng

nhẹ nhưng chi phí bán hàng lại tăng tới 18,3%18.
Nhóm cuối gồm các công ty vừa và nhỏ với tổng thị phần gần 10% thị phần ngành
sữa, những công ty này đang loay hoay tìm chỗ đứng trong ngành. Nhưng vì hạn chế về
tài chính nên chi phí đầu tư cho quảng cáo khún mãi khơng cao.
4.3. Phân tích chu kỳ ngành
Trong sự phát triển của mình, các ngành phải trải qua các giai đoạn từ tăng trưởng
đến bão hòa và cuối cùng là suy thoái. Ngành sữa là một trong những ngành có tính ổn
định cao, ít bị tác động bởi chu kỳ kinh tế.
Giai đoạn 2005 – 2015: Tăng trưởng nhanh. Sản xuất sữa trong nước tại Việt Nam
không thể bắt kịp với nhu cầu gia tăng trong nước. Từ năm 2005 – 2014, sản xuất sữa
trong nước tăng trưởng 26,6%/năm, đạt 456.400 tấn năm 2013, chỉ đủ đáp ứng 28% nhu
cầu trong nước và đạt 549.500 tấn vào năm 2014. Hai mảng chính dẫn dắt sự tăng trưởng
của toàn ngành sữa trong nước và cũng là 2 mặt hàng quan trọng nhất là sữa nước và sữa
bột. Riêng tổng giá trị trường của 2 mảng này đã chiếm gần 3/4 giá trị thị trường, trong
đó, giá trị sữa bột chiếm 45% và sữa nước 30%. 19
Thị phần sữa bột phần lớn do các doanh nghiệp nước ngoài như Abbott, Friesland
Campina Vietnam và Mead Johnson nắm giữ do người tiêu dùng Việt Nam vẫn sẵn sàng
trả giá cao cho thương hiệu sữa ngoại. Trong khi đó, đối với mặt hàng sữa nước, ngồi
Vinamilk chiếm trên 50% thị phần, cịn có sự góp mặt của nhiều doanh nghiệp khác như
TH Milk, Nutifood, IDP, Hanoi Milk…
Tính chung giai đoạn 2010-2015, sản lượng sản xuất sữa tươi tăng trung bình
16%/năm, từ mức 520,6 triệu lít năm 2010 lên 1.093 triệu lít năm 2015; Sữa bột có lượng
sản xuất đã trở lại đà tăng sau năm 2014 bị giảm, đạt 97,3 nghìn tấn, tăng 19,5% so với
năm 2013, sản lượng sản xuất sữa bột tăng trung bình 10,5%/năm, từ mức 58,9 ngàn tấn
18 Theo Báo cáo của Cơng ty TNHH Chứng khốn Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) 2018
19 Nguồn: Tổng cục thống kê, 2016


năm 2010 lên mức 97,1 ngàn tấn năm 2015. Theo Tổng Cục Thống kê, năm 2015 ngành
sữa Việt Nam đã ghi nhận mức sản lượng sản xuất sữa các loại cao nhất trong giai đoạn

2005- 2015. Trong đó, chủ yếu tập trung vào những tên tuổi như: Vinamilk, Công ty CP
Thực phẩm Sữa TH, Công ty CP Thực phẩm Dinh dưỡng Đồng Tâm 3A (Nutifood),
Công ty CP Sữa quốc tế IDP, Công ty TNHH Dinh dưỡng 3A, Công ty CP Sữa Hà Nội…
Năm 2016, sản lượng và mức tiêu thụ các sản phẩm sữa tiếp tục khởi sắc.

Hình 2.4. Doanh thu và tốc độ tăng trưởng ngành sữa Việt Nam
Giai đoạn 2016 đến đầu năm 2017: Tăng trưởng chậm. Theo Kantar World Panel
(chuyên gia hàng đầu thế giới về hành vi người mua hàng), thì trong 6 tháng đầu năm
2017, ngành sữa của Việt Nam chứng kiến sự suy giảm 4% về giá trị tại khu vực thành thị
và sự tăng trưởng 2,5% tại khu vực nông thôn. Tổng dung lượng của thị trường FMCG
cũng tăng trưởng chậm hơn tại cả thị trường thành thị và nông thôn, lần lượt là 3,6% và
4,2% trong 5 tháng đầu năm 2017 trong khi cùng kỳ năm ngoái là 4,9% và 4,9% 20.
Nguyên nhân khiến tăng trưởng chậm lại là do kỳ vọng và nhu cầu của khách hàng đã
thay đổi. Người mua hàng có xu hướng giảm chi tiêu cho hàng bách hóa và tăng chi tiêu

20 Theo Kantar World Panel, 2014


cho các sản phẩm không phải là FMCG như ăn uống tại các nhà hàng, mua các sản phẩm
giá trị cao, giải trí và công nghệ.
Cuối năm 2017 trở đi: Ngành sữa có dấu hiệu hồi phục và trên đà tăng trưởng trở
lại. Kết thúc năm 2017, ngành sữa Việt Nam đạt doanh thu 100.000 tỷ đồng, tăng 10% so
với cùng kỳ năm ngoái theo thống kê của hiệp hội sữa Việt Nam. Động lực tăng trưởng
chính đến từ mảng sữa bột và sữa nước khi tăng trưởng doanh thu từ 2 lĩnh vực chiếm
75% tổng giá trị tăng trưởng cả ngành 21 .Về cơ cấu sản xuất, tỷ trọng nhập khẩu các sản
phẩm sữa ngày càng giảm khi các công ty sữa tại Việt Nam mở rộng năng lực sản xuất
nhằm đáp ứng nhiều hơn nhu cầu nội địa. Trong năm 2017, giá trị nhập khẩu sản phẩm
sữa dù tăng 2% lên 868 triệu USD nhưng chỉ chiếm 19% tổng giá trị cả ngành hàng, thấp
hơn so với số liệu của năm 2016. Có thể nói, thị trường sữa đang có những bước phát
triển nhanh chưa từng thấy trong những năm gần đây với tốc độ tăng trưởng năm sau cao

hơn năm trước.
Tuy nhiên, là một quốc gia đông dân và mức tăng dân số cao khoảng 1.2%/năm,
thị trường sữa tại Việt Nam có tiềm năng lớn. Tỷ lệ tăng trưởng GDP 6-8%/năm, thu nhập
bình quân đầu người tăng 14.2%/năm, kết hợp với xu thế cải thiện thiện sức khỏe và tầm
vóc của người Việt Nam khiến cho nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa luôn giữ mức tăng
trưởng cao. Năm 2017, trung bình mỗi người Việt Nam tiêu thụ khoảng 21 lít sữa/năm.
Dự báo đến năm 2020, con số này sẽ tăng lên đến 28 lít sữa/năm/người.22
Theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2025, sản lượng sữa tươi sản xuất trong nước sẽ đạt 1 tỷ lít, đáp
ứng 38% nhu cầu tới năm 2020 và 1,4 tỷ lít đáp ứng 40% nhu cầu tới năm 2025. Trên
thực tế, từ trước đến nay, 70% sữa nước được sản xuất tại Việt Nam là từ sữa hoàn
nguyên. Trong khi đó, nhu cầu về sữa tiệt trùng và sữa thanh trùng ngày càng tăng cao do
thay đổi nhận thức của người tiêu dùng đối với các sản phẩm bổ dưỡng hơn. Bên cạnh
21 Theo RongViet securities
22 Theo Hội đồng Doanh nghiệp vì sự Phát triển Bền vững Việt Nam (VBCSD)


đó, mức tiêu thụ các sản phẩm khác được sản xuất từ sữa tươi ở mức tốt, đặc biệt là sữa
chua cũng đẩy nhu cầu về sữa tươi lên cao.23
Ngoài ra về nguồn cung nguyên liệu hiện nay, nhằm chủ động nguồn nguyên liệu
với chất lượng cao, nhiều công ty sữa như Vinamilk, TH true milk, Ba vì,.. đã đặt phát
triển đàn bị từ các trang trại và nơng hộ lên 320.000 con vào năm 2017 và khoảng
360.000 - 380.000 con vào năm 2020. Với việc phát triển số lượng đàn bò sữa lên
380.000 con vào năm 2020, khi đó sản lượng nguyên liệu sữa dự kiến sẽ tăng lên gần gấp
đôi 1.300 tấn/ngày (thay cho 750 tấn/ ngày hiện nay) đảm bảo nguồn cung cấp nguyên
liệu sữa phục vụ nhu cầu trong nước và cả xuất khẩu.Với chiến lược này, nguồn cung sữa
nguyên liệu trong nước sẽ tăng trong 5 năm tới và góp phần làm giảm tỷ lệ phụ thuộc
nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
Như vậy ngành sữa là ngành đang trong giai đoạn tiếp tục tăng trưởng nhưng trên
thực tế vẫn có những mảng đã trở nên bão hòa như sữa nước,.., hiện nay nhu cầu về sữa

ngày càng tăng, và sản phẩm sữa trở thành sản phẩm thiết yếu hàng ngày, với công nghệ
ngày càng hiện đại, hệ thống kênh phân phối hiệu quả và giá cả hợp lý thì ngành sữa sẽ
tiếp tục phát triển trong tương lai.
4.4. Cạnh tranh trong ngành
4.4.1. Lực lượng dẫn dắt sự thay đổi trong ngành


Sự thay đổi về cơng nghệ sản xuất

Ngành sữa là ngành đòi hỏi chú trọng đến công nghệ sản xuất để có thể sản xuất ra
được những sản phẩm giàu giá trị dinh dưỡng và phù hợp thị hiếu của khách hàng. Chính
vì vậy sự thay đổi về công nghệ sản xuất có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến cầu trúc ngành.
Hiện nay các công ty không ngừng đầu tư, nghiên cứu để đưa ra những dòng sản phẩm
tốt hơn để phù hợp với người tiêu dùng. Trong báo cáo nghiên cứu của Kantar
23 Trích Nguyễn Thị Diệu Hiền, 2016


Worldpanel vào năm 2017 cho thấy thị trường sữa Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển.
“Cuộc chơi” sẽ được quyết định bởi các công ty có đầy đủ nền tảng kỹ thuật, từ khâu phát
triển nguồn nguyên liệu, vận hành sản xuất và có những thay đổi đột phá trong sản phẩm
nhằm thoả mãn nhu cầu to lớn của người tiêu dùng.
Đối với Vinamilk, công ty sử dụng công nghệ chế biến tiên tiến với dàn robot hiện
đại, công nghệ tiệt trùng UHT và công nghệ chiết rót vô trùng, sản phẩm có thể giữ được
hương vị tươi ngon trong thời gian 6 tháng mà không cần chất bảo quản. Là công ty duy
nhất tại Việt Nam sở hữu hệ thống máy móc sử dụng công nghệ sấy phun do Niro của
Đan Mạch - hãng dẫn đầu thế giới về cơng nghệ sấy cơng nghiệp - sản x́t, Vinamilk
cịn sử dụng các dây chuyền sản xuất đạt chuẩn quốc tế do Tetra Pak cung cấp để cho ra
sản phẩm sữa và các sản phẩm giá trị cộng thêm khác
Khác với Vinamilk, TH Milk chọn mô hình đầu tư trang trại ni bị sữa với vốn đầu
tư lên đến 350 triệu USD và công nghệ được chuyển giao từ Israel, trước khi sản xuất ra

sản phẩm sữa tươi trên thị trường. Chiến lược của TH Milk, nói nôm na là chấp nhận đầu
tư tốn kém nhằm đạt đến mục tiêu chăn ni quy mơ cơng nghiệp


Thị hiếu của người tiêu dùng

Trong ngành sữa, theo phân tích của Kantar Worldpanel 24 sữa động vật và sữa bò đang
có xu hướng giảm sút tại Việt Nam do người tiêu dùng có nhiều lựa chọn thay thế như
ngũ cốc hay các loại đồ uống dinh dưỡng khác.
Người tiêu dùng đang ngày càng quan tâm hơn tới sức khỏe bản thân, chuyển dịch
sang sử dùng các loại sản phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao, đồ uống có lợi cho sức
khỏe với yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng sản phẩm sử dụng. Bên cạnh đó, tâm lý sính
ngoại cũng ảnh hưởng không nhỏ đến ngành sữa hiện nay.
Thứ hai, sữa chua có thêm nhiều sản phẩm độc đáo để khai thác thị hiếu.
24 Kantar Worldpanel ,Báo cáo năm 2018


Thứ ba, người tiêu dùng thay đổi thói quen mua sắm, đặc biệt là ở thành phố lớn đang
chuyển dịch sang tiêu dùng các sản phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn, tiêu biểu là
dòng sản phẩm sữa cao cấp đạt chuẩn organic châu Âu.
Nhìn chung, xu hướng tiêu dùng của ngành đang dịch chuyển sang các sản phẩm sữa
chua, sữa nước cao cấp hay sữa thực vật. Và Euromonitor cũng cho rằng ngành hàng sữa
chua, sữa nước và các loại sản phẩm sữa thay thế (sữa đậu nành, sữa hạt…) sẽ dẫn đầu
mức tăng trưởng trong vài năm tới.25

4.4.2.. Phân tích động thái cạnh tranh trong ngành
Thị trường sữa là thị trường hấp dẫn, bên cạnh đó ngành sữa là ngành có biên độ
lợi nhuận cao chính vì vậy cạnh tranh trong ngành trở nên khốc liệt. Thị trường sữa Việt
Nam khá tập trung với 90% thị phần nằm trong tay tám công ty dẫn đầu gồm Vinamilk,
Dutch Lady, Nestle Việt Nam, Nutifood Bình Dương, Đường Quảng Ngãi, TH Milk, Sữa

Mộc Châu và IDP, theo báo cáo của StoxPlus (Thị phần sữa Việt Nam năm 2017 (Nguồn:
StoxPlus))
Sữa bột hiện đang là phân khúc cạnh tranh khốc liệt nhất giữa các sản phẩm trong
nước và nhập khẩu. Trên thị trường sữa bột, các loại sữa nhập khẩu chiếm tới 65% thị
phần, còn lại là các nhóm 1 và 2. Phân khúc thị trường sữa đặc và sữa nước chủ yếu do
các công ty trong nước nắm giữ.
Các công ty thuộc nhóm 1 chiếm hơn 70% thị phần, chiến lược chính của nhóm
này là tăng cường quảng cáo, khuyến mãi nhằm mở rộng thị phần trong nước. Bên cạnh
đó, thâm nhập và mở rộng các thị trường nước ngoài. Cuộc chạy đua giữa các ông lớn
bên cạnh về mặt thị phần, còn diễn ra ở khâu nguyên liệu đầu vào, các công ty này liên
tiếp đầu tư vào các trang trại chăn nuôi và nâng cấp quy trình, công nghệ để mang lại
25 Euromonitor, 2017


hiệu quả sản xuất cao hơn. Điển hình như, từ đầu năm 2007, Vinamilk đã đầu tư hơn 500
tỉ đồng xây dựng 5 trang trại bò sữa tại Tuyên Quang, Lâm Đồng, Bình Định, Nghệ An,
Thanh Hóa, nhập khẩu bò giống bị cao sản thuần chủng HF từ Úc. Cơng ty TH milk đến
cuối năm 2013 đã đạt 45.000 con và tăng lên 137.000 con vào năm 2017.26
Ngoài ra, việc hợp tác với trường, học, bệnh viện, các doanh nghiệp lớn,.. cũng là
một chiến lược dài hơi giúp các công ty này nâng cao thị phần. Chẳng hạn, gần đây tổng
công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) và Công ty cổ phần Sữa Việt Nam
(Vinamilk) chính thức công bố chương trình hợp tác chiến lược vào hôm qua (6/8) với
mục tiêu cung cấp các sản phẩm dinh dưỡng chất lượng quốc tế cho khách hàng toàn cầu
và cùng phát triển thương hiệu quốc gia vươn tầm thế giới.
Các công ty nhóm 2 và 3 tập trung vào các chiến lược mở rộng thị phần trong
nước và tăng độ nhận diện của khách hàng hàng nhằm mục đích thu hút khách hàng. Một
số động thái của các công ty trong nhóm này như năm 2014, Ba Vì thâm nhập thị trường
phía Nam, Ba Vì Milk sẽ phải cạnh tranh với 3 thương hiệu sữa tươi lớn nhất Việt Nam là
Vinamilk, Dutch Lady và TH Milk. Bên cạnh đó, và một vài doanh nghiệp ngoài ngành
đang ấp ủ dự định sẽ nhập bị sữa về ni trong thời gian khơng xa. Đối với Hà Nội Milk,

Thương hiệu sữa tươi Izzi của Hà Nội Milk nhanh chóng nổi lên như một hiện tượng, vì
đã sử dụng chiến lược quảng cáo “đánh liên tục” trên truyền hình vào giờ vàng, kéo dài
hàng tháng trời, với nhân vật Izzi khá đáng yêu với trẻ em. Độ nhận diện thương hiệu khá
tốt, nhưng đến thời điểm này, kinh doanh của Hà Nội Milk tụt dốc với doanh thu, lợi
nhuận suy giảm, nợ tăng cao. Theo lý giải từ ban lãnh đạo, Hà Nội Milk bị ảnh hưởng
nặng nề từ việc các đối thủ cạnh tranh gây sức ép rất mạnh bằng các chương trình khuyến
mại, tiếp thị. Cuối cùng, các công ty trong nhóm này thực hiện chiến lược đón đầu thị
trường bằng các sản phẩm mới sẽ tạo hiệu ứng tích cực cho kinh doanh, thương hiệu,
đồng thời giúp doanh nghiệp “né” được việc phải cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ lớn
trong ngành.
26 Theo Brandsvietnam 2017


4.5. Nhân tố then chốt cho sự thành công
Trong ngành này nhân tố then chốt cho sự thành công là sự liên tục đổi mới về sản
phẩm, công nghệ, cách thức sản xuất để tạo ra hiệu quả vượt trội và chất lượng vượt trội:
Sản phẩm mang lại giá trị dinh dưỡng thực sự cho người tiêu dung.
Bên cạnh đó, các công ty muốn thành công trong ngành thì nguồn nhân lực là một
đòi hỏi then chốt: các kiến thức, kỹ năng và khả năng quản trị của nguồn nhân sự sẽ đảm
bảo cho sự thành cơng.
Ngồi ra, nguồn lực tài chính cũng là một yếu tố đáng quan tâm vì đây là ngành
đòi hỏi phải có nguồn đầu tư ban đầu lớn, cơ sở vật chất mạnh thì mới có thể đem lại sự
thành công cho các công ty trong ngành.
PHẦN 3- KẾT LUẬN
Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây cũng đánh dấu
những bước đổi thay của đời sống dân sinh khi nhu cầu sử dụng nguồn dinh dưỡng sạch,
đạt chất lượng cao tăng lên. Các chuyên gia dự báo tầng lớp trung lưu tại quốc gia đang
phát triển này sẽ tăng từ 12 triệu người (năm 2014) lên 33 triệu người (năm 2020).Điều
này đồng thời cho thấy tiềm năng phát triển cho ngành tiêu dùng thực phẩm, dinh dưỡng
như các sản phẩm từ sữa tại Việt Nam là rất lớn.

Thị trường sữa nội địa hiện nay đang là “sân chơi” dành cho các doanh nghiệp lớn
với các chiến lược sản phẩm khác biệt. Vinamilk vẫn giữ vững vị thế dẫn đầu với quy mơ
sản x́t lớn nhất, sở hữu nhiều dịng sản phẩm đa dạng, từ các sản phẩm sữa bột, sữa bột
hoàn nguyên và sữa organic. TH true MILK gây ấn tượng với chiến dịch truyền thông
sữa sạch và định hướng phát triển thương hiệu bằng việc liên tục cho ra mắt thị trường
các dòng sản phẩm mới... Trong khi đó, Mộc Châu Milk với 60 năm hình thành và phát
triển, hiện được xem là doanh nghiệp gắn bó lâu nhất với người tiêu dùng Việt cũng đang
từng bước vươn mình trên thị trường sữa tươi bằng việc đưa ra thị trường hàng loạt sản


×