MỤC LỤC
---------1. MỞ ĐẦU........................................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài:....................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu...............................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu..............................................................................1
1.4. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................1
2. NỘI DUNG.....................................................................................................2
2.1. Cơ sở lý luận:..........................................................................................2
2.2. Thực trạng của việc dạy và học thực hành nghề tại Trung tâm GDNN –
GDTX Hà Trung............................................................................................2
2.3. Các biện pháp nâng cao năng lực thực hành nghề tại Trung tâm GDNN
– GDTX Hà Trung.........................................................................................3
2.3.1. Lập kế hoạch dạy thực hành và những công việc chuẩn bị của giáo
viên dạy thực hành.......................................................................................3
2.3.1.1. Mục đích, ý nghĩa của việc lập kế hoạch dạy thực hành.............3
2.3.1.2. Lập kế hoạch đề mục trong dạy thực hành..................................4
2.3.2. Quá trình hướng dẫn thực hành nghề................................................6
2.3.2.1. Quá trình hướng dẫn thực hành ở xưởng trường.........................6
2.3.2.2. Quá trình hướng dẫn thực hành tại cơ sở sản xuất....................14
2.4. Hiệu quả của các biện pháp nâng cao năng lực thực hành nghề...........17
3. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ.........................................................................18
3.1. Kết luận:................................................................................................18
3.2. Kiến nghị:..............................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................19
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Bất kỳ hoạt động nào muốn đạt kết quả thì người điều hành phải có một hệ
thống kỹ năng tổ chức.Việc tổ chức hoạt động giáo dục của nhà giáo cũng vậy,
cần một hệ thống các kỹ năng từ xác định mục tiêu của hoạt động đến thiết kế
chương trình và kế hoạch tổ chức hoạt động, từ kỹ năng tiếp cận và kỹ năng
kiểm tra đánh giá, điều chỉnh hoạt động.
Trong điều kiện hiện nay, ta thấy xã hội càng phát triển, quá trình hình
thành nghề nghiệp cho con người ngày càng phức tạp do tác động của các yếu
tố từ nền kinh tế thị trường, và do yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Trong việc dạy nghề hiện nay năng lực thực hành được yêu cầu rất cao,
trong xu thế yêu cầu của việc dạy nghề là 80% thực hành chỉ có 20% là lý
thuyết. Tuy nhiên một thực tế học viên sau khi học nghề xong đi làm thì phần
lớn đều phải đào tạo lại vì lý do năng lực về tay nghề cịn yếu.
Từ những lí do nêu trên kết hợp với thực tế trong quá trình giảng dạy, tơi
xin trình bày kinh nghiệm và các biện pháp nâng cao năng lực thực hành nghề
cụ thể sau: “Những biện pháp nâng cao năng lực thực hành nghề tại Trung
tâm GDNN – GDTX Hà Trung”. Đây là một vấn đề cấp thiết và quan trọng
trong công tác dạy nghề nhằm nâng cao tay nghề và năng lực thực hành của học
viên học nghề.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm tạo điều kiện cho học viên học nghề có điều kiện thuận lợi hơn khi
tiếp xúc với công việc thực tế.
Xây dựng cơ sở lý luận cho các mối quan hệ trong việc dạy thực hành nghề,
đề ra các biện pháp phục vụ cho mối quan hệ được gần gũi hơn.
Những biện pháp mà giáo viên sẽ thực hiện trong việc dạy thực hành nghề
cho học viên.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề mà học viên cần phải cố gắng hơn nữa để phục vụ cho chính
mình và cho xã hội.
Đề tài này chủ yếu nghiên cứu tới lứa tuổi học sinh học nghề nhằm giúp cho
chính mình dễ dàng bắt nhịp với cuộc sống nhất là khi các em có thể định
hướng cho tương lai, phục vụ cho xã hội và đất nước.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Tổng kết kinh nghiệm để tìm ra các biện pháp.
- Hỏi ý kiến chuyên gia để nắm vững thông tin.
- Đọc sách để tìm thêm thơng tin.
Trang 1
- Phương pháp phân tích so sách.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận:
Hiện nay số lao động trong các nhà máy, xí nghiệp vẫn cịn tình trạng
“thừa thầy, thiếu thợ” hay nói cách khác là lao động có tay nghề là rất ít. Nhưng
đây lại là lực lượng lao động chính, trực tiếp làm ra sản phẩm của các nhà máy,
xí nghiệp.
Hàng năm số sinh viên, học viên tốt nghiệp các ngành nghề ra trường rất
nhiều tuy nhiên số học viên có thể đáp ứng được yêu cầu về tay nghề, trình độ
thực hành thì lại rất ít. Nhất là trong các doanh nghiệp FDI thì yêu cầu về tay
nghề lại càng cao. Có rất nhiều lý do cho tình trạng đó, một trong những lý do
là ngay từ khi còn học trong các trường đào tạo, năng lực về thực hành nghề
của học viên, sinh viên còn hạn chế, không được tiếp cận thực tế (chủ yếu là lý
thuyết, sách vở…, do điều kiện thực hành chưa đảm bảo…), vì vậy khi tốt
nghiệp ra trường bắt tay vào lao động thực tế sẽ bị khó khăn và khơng đáp ứng
được yêu cầu đặt ra của người sử dụng lao động, buộc phải đi đào tạo lại. Điều
này ảnh hưởng đến cơ hội của người lao động…
Trong điều kiện hiện nay, ta thấy xã hội càng phát triển, quá trình hình
thành nghề nghiệp cho con người ngày càng phức tạp do tác động của các yếu
tố từ nền kinh tế thị trường, và do yêu cầu của cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0
đang diễn ra rất mạnh mẽ. Điều đó yêu cầu lao động có kỹ năng thực hành lại
càng được đặt lên cao.
Đảng và Nhà nước ta trong những năm trở lại đây đã đẩy mạnh và rất
chú trọng đến công tác đào tạo nghề, công tác đào tạo lao động có tay nghề
nhằm giải quyết tình trạng “Thừa thầy, thiếu thợ” và hội nhập quốc tế…
Hiện nay nói chung việc đào tạo nghề tại các trường nói chung thì kỹ
năng thực hành của sinh viên là một khâu rất yếu, nó có nhiều yếu tố tác động
đến như: Cơ sở vật chất phục vụ cho thực hành, đào tạo không gắn liền với thực
tế, hay công tác tổ chức thực hành nghề chưa thật sự hiệu quả. Học viên, sinh
viên khơng có điều kiện va chạm với thực tế. Nên dẫn đến tình trạng học viên,
sinh viên ra trường lý thuyết thì nắm rất tốt nhưng khi bắt tay vào làm thực tế
thì lại khơng đáp ứng được yêu cầu.
Trang 2
2.2. Thực trạng của việc dạy và học thực hành nghề tại Trung tâm GDNN
– GDTX Hà Trung
Trong những năm trở lại đây Trung tâm GDNN – GDTX Hà Trung đẩy
mạnh việc dạy nghề cho học sinh và nhân dân lao động trên địa bàn huyện. Tuy
nhiên có một thực trạng là do cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy nghề cịn
nghèo nàn (như Chưa có nhà xưởng đạt tiêu chuẩn, trang thiết bị thực hành đã
cũ, hỏng và lạc hậu…). Điều đó dẫn đến việc thực hành của học viên gặp nhiều
khó khăn.
Tuy nhiên dưới sự chỉ đạo của cấp ủy, chi bộ, ban giám đốc Trung tâm
cùng với sự cố gắng và năng động của cán bộ giáo viên trong Trung tâm. Trung
tâm đã có nhiều giải pháp và kế hoạch khắc phục những khó khăn, để tổ chức
việc học nghề đạt được kết quả theo yêu cầu của xã hội. Từ đó dần khẳng định
thương hiệu uy tín của Trung tâm.
Hàng năm, số học viên học nghề tại Trung tâm ra trường đều có việc
làm, có thu nhập ổn định. Tay nghề đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển
dụng…
2.3. Các biện pháp nâng cao năng lực thực hành nghề tại Trung tâm
GDNN – GDTX Hà Trung.
2.3.1. Lập kế hoạch dạy thực hành và những công việc chuẩn bị của giáo viên
dạy thực hành.
2.3.1.1. Mục đích, ý nghĩa của việc lập kế hoạch dạy thực hành.
Kế hoạch dạy thực hành là một bộ phận của các kế hoạch công tác trong
nhà trường dạy nghề, do đó lập kế hoạch dạy thực hành thực chất là lập kế
hoạch cơng tác trong trường dạy nghề nói chung. Lập kế hoạch là bước đầu của
mọi công việc. Làm bất cứ việc gì con người cũng phải tính tốn xem bắt đầu
từ đâu, làm những cái gì, trình tự thực hiện nó như thế nào và cần huy động
nhân lực, vật lực ra sao. Do đó cơng tác lập kế hoạch dạy thực hành ở các
trường dạy nghề đối với từng bộ phận, cán bộ và giáo viên dạy thực hành ở
xưởng trường, hiện trường thực tập cũng vậy.
Lập kế hoạch dạy thực hành là dự án công tác phác họa những cơng việc
cần làm, chia nó ra thành yếu tố cơ bản, xác định yêu cầu phải thực hiện dự
định thời gian, trình tự làm và người chịu trách nhiệm thực hiện.
Thực chất của việc lập kế hoạch dạy thực hành là đề ra nhiệm vụ, chỉ tiêu
và các biện pháp thực hiện để quá trình dạy thực hành được tiến hành có hiệu
quả nhất.
Lập kế hoạch dạy thực hành trong xưởng trường, hiện ở các trường dạy
nghề nhằm vào mục đích ý nghĩa sau đây:
Trang 3
- Xác định một cách khoa học trình tự nghiên cứu các nội dung của quá
trình thực hành sản xuất, nhằm đảm bảo mối liên hệ giữa các đề mục, tính liên
tục và tính kế thừa quan hệ gắn bó giữa lý thuyết với thực hành tay nghề, trên
cơ sở đó tạo điều kiện cho việc dạy thực hành sản xuất được tiến hành một cách
thuận lợi và hợp lý, đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ và kịp thời nội dung
chương trình dạy thực hành nghề.
- Tạo điều kiện cho việc chuẩn bị giảng dạy của đội ngũ giáo viên thực
hành, vì dựa vào kế hoạch dạy thực hành mà giáo viên có thể xác định nội dung
cần giảng dạy, mục đích phải đạt được, các phương tiện và đồ dùng dạy học
cần thiết phải sử dụng trong q trình đó. Từ đó làm cơ sở thống nhất trong
giảng dạy và hướng dẫn thực hành.
- Đối với nhà trường, lập kế hoạch dạy thực hành sản xuất còn có ý nghĩa về
mặt kinh tế. Kế hoạch hợp lý sẽ cho phép sử dụng tối đa các trang thiết bị của
nhà trường để phục vụ cho học tập. Xác định rõ khối lượng thời gian làm ra sản
phẩm, tính toán được sự tiêu hao vậy tư tiền vốn trên cơ sở định giá thành sản
phẩm.
- Tạo điều kiện thuận lợi và làm cơ sở pháp lý chỉ đạo nà trường kiểm tra,
đánh giá kết quả giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh học ở các khoá,
các lớp khác nhau.
2.3.1.2. Lập kế hoạch đề mục trong dạy thực hành.
Kế hoạch đề mục là bản kế hoạch cụ thể hố kế hoạch tổng qt q trình
dạy thực hành của các lớp trong toàn trường. Kế hoạchđề mục quy định mối
liên hệ bên trong của mơn học, nó xác định vị trí và trình tự thực hiện mơn học
đó.
Q trình đào tạo của học sinh học nghề trở thành người công nhân lành
nghề phải được kết thúc tại cơ sở sản xuất ở xí nghiệp. Do đó khi lập kế hoạch
đề mục giáo viên thực hành phải biết lập hai kế hoạch, đó là:
- Kế hoạch đề mục dạy thực hành ở xưởng trường.
- Kế hoạch đề mục dạy thực hành ở xí nghiệp.
Sự khác nhau cơ bản giữa kế hoạch đề mục dạy thực hành ở xí nghiệp và ở
xưởng trưởng là giáo viên thực hành phải xác định nơi thực tập cho học sinh
một cách cụ thể. Nơi thực tập đó phải được lựac chọn kỹ lưỡng, phù hợp với
các yêu cầu sư phạm đề ra cả về địa điểm , công việc, môi trường và thiết bị
máy móc, cơng nghệ … Sau đó phải được sự thoả thuận về việc thực tập của
học sinh cho cả hai bên nhà trường và xí nghiệp để lầm cơ sở pháp lý đảm bảo
cho việc thực tập của học sinh tiến hành thuận lợi.
Mặt khác, công việc sản xuất ở xí nghiệp thường có sự thay đổi. Do đó
trước khi thực tập, giáo viên thực hành phải tiến hành lập danh mục thực tập
sao cho bản danh mục này chứa đựng nội dung học tập của học sinh theo một
Trang 4
trình tự logic, đảm bảo các nguyên tắc dạy học và phù hợp với chương trình
dạy thực hành của nhà trường. Các công việc trong danh mục thực tập phải
được xác định rõ, căn cứ vào độ phức tạp của cơng việc được xác định và trình
độ kỹ năng, kỹ xảo có sẵn của học sinh mà định mức cho học sinh cho phù
hợp.
Sau đây ta hãy nghiên cứu nội dung từng loại kế hoạch đề mục:
* Kế hoạch đề mục dạy thực hành ở xưởng trường
Trong kế hoạch đề mục dạy thực hành ở xưởng trường cần xác định rõ các
yếu tố cơ bản sau đây:
- Ngày thực hiện đề mục: Yếu tố này được xác định và thực hiện sẽ là cơ
sở đảm bảo cho toàn bộ kế hoạch cơng tác chung của nhà trường có hiệu lực.
Ngồi ra nó cịn là cơ sở để kiểm tra thời gian thực tập trong kế hoạch đề mục
so với thời gian thực tập do nhà trường ban hành được thực hiện như thế nào để
kịp thời điều chỉnh, điều khiển.
- Số giờ của đề mục: xác định số giờ của từng đề mục là để chính xác thời
gian thực tập cho từng giai đoạn và là cơ sỏ để giáo viên thực hành phân thành
từng ca luyện tập cho học sinh cho phù hợp.
- Mục đích yêu cầu: việc xác định mục đích yêu cầu cho từng đề mục là cơ
sở để giúp giáo viên thực hành định hướng rõ cái đích phải tới, trên cơ sở đó
xác định trọng tâm cho mỗi lần hướng dẫn định ra cách thức tổ chức, phương
pháp hướng dẫn và các điều kiện phục vụ luyện tập một cách hợp lý.
- Liên hệ với kiến thức lý thuyết: ở mỗi đề mục cần xác định rõ mối liên hệ
giữa đề mục ấy với kiến thức lý thuyết chuyên môn nào đã được nghiên cứu.
Việc làm này giúp học sinh trước khi tiến hành luyện tập được giáo viên nêu
lên thông qua các phương pháp dạy học khác nhau để giúp học sinh hình dung
lại những điều đã học có liên quan tới bài thực tập, tạo điều kiện cho việc thực
tập thuận lợi hơn.
- Đối tượng công việc luyện tập: giáo viên thực tập khi lập kế hoạch đề
mục cần xác định rõ học sinh phải thực tập ở cả giai đoạn này những đối tượng
cụ thể nào, để xác định tính chất cơng việc, sự địi hỏi ngun vật liệu, tài liệu Có như vậy giáo viên thực hành mới có điều kiện chuẩn bị chu đáo mỗi khi
thực hiện một đề tài nào đó.
Biểu đồ: Kế hoạch đề mục dạy thực hành ở xưởng trường
Số
thứ
tự
Ngày
tiến
hành
Số
của
đề
mục
Số
giờ
của
đề
mục
Tên
đề
mục
Mục
đích
yêu
cầu
Mối
liên
hệ
giữa
LT
và
TH
Các trang bị
phục vụ cho
đề mục
Thiế
t bị
Dụng
cụ
Trang 5
Tài
liệu
kỹ
thuật
Phương
tiện dạy
học
Hình
thức
kiểm
tra
Đối
tượn
g
luyện
tập
CT
NK
Ghi
chú
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
* Kế hoạch đề mục dạy thực hành ở xí nghiệp
Khi chuẩn bị đưa học sinh thực tập tại xí nghệp thì giáo viên thực tập phải
lập kế hoạch đề mục các cơng việc theo sự thoả thuận của xí nghiệp cơ sở. Nội
dug kế hoạch đề mục này phải chứa đựng bảng danh mục công việc mà giáo
viên thực hành đã thu thập và lập kế hoạch trước đó. Nội dung của kế hoạch
này không theo thứ tự đề mục của chương trình dạy thực hành sản xuất ở
trường, mà phải dựa vào tính chất của các cơng việc sẽ thực tập của học sinh
phải được giáo viên lựa chọ và sắp xếp theo một trình tự từ đơn giản đến phức
tạp phù hợp với trình độ của học sinh và như vậy nó phải phù hợp với các yêu
cầu và nguyên tắc dạy học trong thực hành nghề.
Biểu đồ: kế hoạch đề mục dạy thực hành ở xí nghiệp
Nơi
làm
việc
Đề mục Số giờ
và biểu của đề
đề mục mục và
của CT biểu đề
dạy SX
mục
Mục
đích
u
cầu
Cơng
việc
học
tập
Bậc
thợ
thực
hiện
Tiêu
chuẩn thời
gian
CN
HS
Hình
thức
tổ
chức
Cơng
tác
ngoại
khố
2.3.2. Q trình hướng dẫn thực hành nghề.
Cơng tác hướng dẫn có tác dụng tích cực tới việc luyện tập nắm vững các
thao động tác, tới việc hình thành và nâng cao kỹ năng, kỹ xảo của học sinh.
Muốn làm tốt công tác hướng dẫn, bên cạnh những đề mục như: trình độ tay
nghề, vốn kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp của mình, giáo viên thực hành
phải quán triệt được nhiệm vụ của bản thân, nắm được tiến trình hướng dẫn,
mục đích nội dungcủa từng giai đoạn hướng dẫn
Chúng ta đã biết, việc thực tập của học sinh học nghề có thể diễn ra ở
xưởng trường, xong cũng có thể diễn ra trong các xí nghiệp, các cơ sở sản xuất
kinh doanh- Quá trình học sinh thực tập tại xưởng trường và quá trình học sinh
thực tập tại cơ sở sản xuất kinh doanh có những đặc điểm khác nhau về nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức hướng dẫn tốt. Để thực tập công tác
hướng dẫn thực hành nghề chúng ta sẽ lần lượt xem xét những vấn đề nói trên.
2.3.2.1. Q trình hướng dẫn thực hành ở xưởng trường.
Theo nghĩa rộng, hướng dẫn là sự chỉ bảo cách thức hành động thực hiện
một công việc nhất định, một bài tập nhất định. Sự đúng đắn của hướng dẫn
được đặc trưng bởi ba yếu tố:
Trang 6
- Có khuynh hướng thực tiễn.
- Chỉ dẫn đầy đủ ngắn gọn.
- Có tính đến các nhân tố đặc trưng cho nội dung hướng dẫn ví dụ: mức
độ chuẩn bị của học sinh điều kiện tiếp thu hướng dẫn.
"Trong quá trình dạy thực hành nghề, hướng dẫn được coi là hình thức hoạt
độnh cơ bản của giáo viên nhằm hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh" (Batusep/sapormxki, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, NXB CNKT, Hà Nội 1982).
Trong hướng dẫn thực hành cũng đòi hỏi phải cung cấp tri thức, xong những
tri thức đó chủ yếu là những tri thức cần thiết, trực tiếp để thực hiện một cơng
việc nhất định. Bên cạnh đó, những tri thức lý thuyết ít nhiều cũng được củng
cố và cụ thể hố.
Nếu xét dưới góc độ phương pháp, hướng dẫn là hình thức kết hợp đặc biệt
các phương pháp dạy thực hành khác nhau.
Nếu xét khái niệm này từ hai mặt: phương pháp dạy học và tổ chức công tác
học tập thì hướng dẫn vừa là sự kết hợp đặc biệt các phương pháp dạy thực
hành vừa là thành phần cấu trúc của buổi học hoặc ca học.
Ngươi ta phân biệt ba dạng hoặc giai đoạn hướng dẫn: hướng dẫn mở đầu,
hướng dẫn thường xuyên và hướng dẫn kết thúc. Ba hướng dẫn nàyđược tiến
hành theo trình tự: trước khi thực hiện cơng việc, trong q trình làm việc và
sau khi học sinh làm xong nhiệm vụ thực tập.
Đối với tổ chức toàn diện bài học, hướng dẫn mở đầu và hướng dẫn kết thúc
thường được tiến hành cho cả lớp, hướng dẫn thường xuyên chủ yếu cho cá
nhân, đôi khi theo nhóm rất ít khi làm chung cho cả lớp. Với hình thức tổ chức
buổi học theo tổ, nhóm, hướng dẫn mở đầu, hướng dẫn thường xuyên, hướng
dẫn kết thúc chủ yếu được tiến hành theo nhóm. Ở đây hướng dẫn thường
xuyên cũng có thể được tiến hành với cá nhân học sinh.
Như vậy trong quá trình dạy thực hành nghề, hướng dẫn thường xun về cơ
bản có tính chất cá nhân và là dạng hướng dẫn chủ yếu. Đây cũng là sự thể
hiệncá biệt hố cơng tác hướng dẫn. Việc hướng dẫn của giáo viên dạy thực
hành càng cụ thể hoá khoa học, hướng dẫn thường xuyên càng được cá biệt hố
thì hiệu quả của việc thực tập của học sinh càng được nâng cao.
Trong quá trình dạy học thực hành, công tác hướng dẫn của giáo viên phải
kết hợp chặt chẽvới việc luyện tập của học sinh. Nói cách khác, hai hoạt động
trên là hai mặt thống nhất trong một hệ thống. Chỉ khi nào phối hợp được hai
mặt hoạt động này và chỉ khi công tác hướng dẫn nâng cao được tính tích cực
tự giác, độc lập của học sinh thì hiệu quả của việc nắm vữn kỹ năng, kỹ xảo
mới cao.
Trang 7
Chúng ta se lần lượt xem xét mục đích nhiệm vụ và nội dung của từng giai
đoạn hướng dẫn.
* Hướng dẫn mở đầu
Mục đích của hướng dẫn mở đầu là giúp học sinh có được những biểu tượng
cụ thể, chính xác và trình tự thực hiện chọn vẹn một cơng việc hoặc cách thức
luyện tập để nắm được thao động tác cơ bản nào đó của nghề. Đây là những
kiến thức thực hành quan trọng làm cơ sở định hướng hoạt động luyện tập của
học sinh trong việ kiểm tra, điều chỉnh hành động, trong việc nâng cao tính tự
giác, tích cực, độc lập của học sinh trong q tình luyện tập. Hướng dẫn mở
đầu cho học sinh ý thức được mục đích nhiệm vụ luyện tập hình thành biểu
tượng về nội dung của bài tập nảy sinh nhu cầu, động cơ, thái độ đối với việc
luyện tập. Chuẩn mực để đánh giá chất lượng của hướng dẫn mở đầu là kết quả
luyện tập của học sinh.
Hướng dẫn mở đầu thực hiện ba nhiệm vụ cơ bản sau:
1. Nhằm tự giác, tích cực và độc lập hố việc luyện tập của học sinh trong
việc nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và việc hình thành thái độ lao
động mới.
2. Định hướng công việc luyện tập của học sinh.
3. Giải thích, làm mẫu các hoạt động lao động một cách cụ thể, trực quan.
Để thực hiện những nhiệm vụ nói trên có những phươn hướng sau:
- Tạo cơ hội cho việc vận dụng những tri thức, kỹ năng và kỹ xảo cũ, làm
tăng mức độ hấp dẫn của bài tập luyện mới.
- Định hướng mục đích học - luyện tập bằng cách khêu gợi trí tị mị
khoa học, lịng ham mê hiểu biết của học sinh với các câu hỏi: Tại sao? Như thế
nào?…
- Chỉ dẫn, giải thích các hoạt động, thao tác sử dụng phương tiện lao
động, làm mẫu các hoạt động, thao động tác - lao động trong đó rõ ràng, cụ thể.
Mỗi một học sinh cần thiết khơng những làm mục đích của việc luyện tập
mà cịn cần thiết cả cách thức thực hiện hoạt động lao động, phương tiện lao
động, phương tiện lao động và đối tượng lao động. Những vấn đề trên học sinh
nhận thức được phần nào do giáo viên trình bầy, phần do họ tự giác tích cực
trong q trình lĩnh hội tài liệu học tập, luyện tập. Chúng ta có thể xem xét kết
quả, mức độ độc lập của học sinh tương ứng với dạng hoạt động của giáo viên
và dạng hoạt động của học sinh, tương ứng với nội dung bài luyện tập trong
bảng sau:
a. Lập kế hoạch lao động, củng cố kinh nghiệm lao động:
Mức độ 1
Mức độ 2
Trang 8
Mức độ 3
- Giáo viên trình bày kế
hoạch lao động, kinh
nghiệm lao động, trình
bày cách sử dụng cơng
cụ lao động, đối tượng
lao động.
- Giáo viên cùng học
sinh xây dựng kế hoạch
lao động, việc lựa chọn
đối tượng và công cụ
lao động kinh nghiệm
lao động.
- Giáo viên khuyến
khích học sinh độc lập
xây dựng kế hoạch lao
động kinh nghiệm lựa
chọn sử dụng, công cụ
đối tượng lao động.
- Học sinh lĩnh hội qua
sự giải thích của giáo
viên và thường xuyên
kiểm tra theo mẫu.
- Học sinh lĩnh hội qua
hoạt động cùng với giáo
viên trong việc xây
dựng nội dung.
- Học sinh tự xác định
kế hoạch lao động, kinh
nghiệm lao động qua
tình huống có vấn đề.
- Giáo viên kiểm tra - Giáo viên kiểm tra
việc lĩnh hội của học điều chỉnh kết quả bài
sinh.
tập và hướng dẫn thảo
luận.
- Giáo viên kiểm tra kết
quả bài tập của học
sinh, hướng dẫn thảo
luận từng kế hoạch lao
động của mỗi học sinh.
b. Xây dựng quy trình cơng nghệ với tất cả những tham số cần thiết
Mức độ 1
Mức độ 2
Mức độ 3
- Giáo viên đưa ra
những quy trình
cơng nghệ, tường
thuật và giải thích.
- Giáo viên kết hợp cùng
học sinh xây dựng quy
trình cơng nghệ và phân
công cho từng học sinh
độc lập giải quyết nhiệm
vụ thành phần.
- Giáo viên đặt học sinh vào
tình huống có vấn đề
khuyến khích học sinh độc
lập xây dựng quy trình cơng
nghệ. Xác định các tham số
cần thiết khác
- Học sinh lĩnh hội
nội dung qua giải
thích của giáo
viên, qua việc tự
nghiên cứu tài liệu
học tập.
- Học sinh độc lập trong - Học sinh độc lập sáng tạo
hoạt động nhận thức nội xây dựng quy trình cơng
dung học tập và được nghệ.
giáo viên chỉ dẫn.
- GV kiểm tra quy trình
cơng nghệ vừa được XD,
hướng dẫn thảo luận các
tham số riêng lẻ.
- GV kiểm tra quy trình
cơng nghệ vừa được XD
hướng dẫn học sinh so sánh
và thảo luận.
Hướng dẫn mở đầu thông thường bao gồm nội dung như sau:
- Giới thiệu và giải thích đề mục, tiểu mục và bài tập ứng dụng.
- Thơng báo cho học sinh mục đích, u cầu của bài luyện tập.
- Liên hệ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũ với bài luyện tập mới thông qua
việc kiểm tra, nhắc nhở. Việc kiểm tra có thể tiến hành ở bước đầu tiên, thông
Trang 9
qua việc hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũ vào bài
luyện tập mới.
- Giới thiệu cho học sinh tham khảo các tài liệu kỹ thuật phục vụ bài
luyện tập như: Đọc bản vẽ, phân tích yêu cầu kỹ thuật, sổ tay tra cứu, các bảng
hướng dẫn ví dụ như: xác định tốc độ cắt, hướng dẫn quy đổi ren và bộ bánh
răng thay thế …
- Giới thiệu cho học sinh nội dung và cách thức thực hiện cơng việc
luyện tập (quy trình cơng nghệ).
- Giới thiệu cho học sinh nắm vững được các dạng sai lầm hư hỏng có
thể xảy ra trong q trình luyện tập, nguyên nhân, biện pháp khắc phục.
- Giới thiệu các phương thức kiểm tra và tự kiểm tra, xác định chất lượng
công việc.
- Giới thiệu cho học sinh những cơng cụ, máy móc, thiết bị để thực hiện
bài luyện tập như: Đặc tính kỹ thuật, quy tắc vận hành, quy tắc an toàn.
+ Làm mẫu theo động tác
+ Đưa cho xem sản phẩm mẫu
+ Phổ biến kinh nghiệm
Giới thiệu những vấn đề khác xuất phát từ đặc điểm công việc
- Kiểm tra ở học sinh xem họ thu nhận biểu tượng và quá trình làm mẫu
của giáo viên ở mức độ nào.
- Phân cơng vị trí và cơng việc thực tập.
Tiến trình thực hiện nhiệm vụ của hướng dẫn mở đầu nói trên chúng ta có
thể coi là các bước trong công nghệ hành nghề. Mỗi bước thực hiện một mục
đích lý luận dạy học thực hành nói riêng, xong chúng liên quan đến nhau, hỗ
trợ cho nhau nhằm thực hiện mục đích của hướng dẫn mở đầu tổng thể như đã
nêu ở trên.
Tuy nhiên, không phải bao giờ hướng dẫn mở đầu cũng được tiến hành với
toàn bộ khối lượng cơng việc nói trên. Hướng dẫn mở đầu sẽ có nội dung đầy
đủ như vậy khi học sinh bắt đầu thực tập một phần nào đó có tính tương đối độc
lập của chương trình dạy thực hành nghề. Trong các trường hợp khác, hướng
dẫn mở đầu chỉ bao hàm một số công việc nhất định ở trên. Điều này phụ thuộc
vào mục đích và nội dung cơng việc luyện tập.
Ngày nay để thực hiện nhiệm vụ của hướng dẫn mở đầu, giáo viên dạy thực
hành có nhiều phương pháp (cách thưc dạy thực hành) khác nhau. Việc lựa
chọn nó cịn tuỳ thuộc vào đặc điểm của hình thức tổ chức dạy thực hành, nơi
tiến hành thực tập, điều kiện luyện tập và hướng dẫn, quy luật tâm sinh lý của
việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và vốn kinh nghiệm nghề nghiệp của
Trang 10
học sinh. Trong đó phải kể đến các phương pháp giảng thuật kết hợp với giải
thích, đàm thoại nêu vấn đề, làm mẫu, đưa cho xem giáo cụ trực quan và
phương pháp sử dụng phiếu hướng dẫn.
Người ta cũng phân ra các mức độ của hướng dẫn mở đầu. Tuỳ thuộc vào
trình độ của kỹ năng, kỹ xảo và vốn kinh nghiệm của học sinh để giáo viên lựa
chọn. Một là: giáo viên dạy thực hành tự mình trình bày toàn bộ nội dung
hướng dẫn mở đầu, thường áp dụng với học sinh mới học nghề hoặc với nội
dung nào đó có tính tương đối độc lập. Hai là: giáo viên cùng với học sinh
nghiên cứu. Ba là: học sinh tự nghiên cứu phiếu hướng dẫn hoặc độc lập xây
dựng quy trình cơng nghệ, giáo viên sau đó kiểm tra kết quả hướng dẫn thảo
luận. trường hợp thứ ba thường áp dụng đối với học sinh có trình độ kỹ năng và
kỹ xảo ở giai đoạn đó cho phép phát huy được tính tự giác tích cực và độc lập
của họ trong luyện tập thực hành nghề.
Hướng dân mở đầu thường được tiến hành trong khoảng thời gian từ 30 - 40
phút.
* Hướng dẫn thường xuyên
Sau khi được trang bị những kiến thức thực hành cần thiết đã có được những
biểu tượng rõ nét về nội dung công việc cần thực hiện, học sinh bắt đầu vào
việc thực hiện các công việ cụ thể. Đây là giai đoạn hay thành phần chủ yếu của
bài hướng dẫn thực hành nghề. Bởi vì các kỹ năng, kỹ xảo của học sinh được
hình thành chủ yếu ở giai đoạn này.
Hướng dẫn thường xuyên có liên quan chặt chẽ tới đặc điểm cá nhân của học
sinh vì thế khơng thể áp dụng các phương pháp thực hành hoàn toàn giống nhau
với tất cả học sinh. trong hướng dẫn thường xuyên của giáo viên cũng có thể
lựa chọn sử dụng một trong những phương pháp như: Giải thích kết hợp với
giảng thuật, đàm thoại, làm mẫu sử dụng phiếu hướng dẫn. Nhưng đặc điểm
vẫn là các phương pháp: làm mẫu, đàm thoại và sử dụng phiếu hướng dẫn.
Hướng dẫn thường xuyên được giáo viên tiến hành trực tiếp đối với từng
học sinh tức là cá nhân hố cơng tác hướng dẫn trên cơ sở theo dõi quan sát có
ý nghĩa rất lớn nếu nó được tiến hành có mục đích, có sự phân biệt, có tính hệ
thống. Mục đích của theo dõi, quan sát là nhằm phát hiện kịp thời sai lầm, hư
hỏng trong việc thực hiện nội dung bài luyện tập của học sinh, trên cơ sở đó
giúp họ sửa chữa kịp thời.
Giáo viên thực hành cần phải định trước được những thành phần cơng việc,
cách thức, ngun cơng, … mà mình sẽ liểm tra sự nắm vững các công việc này
của học sinh ttrong khoảng thời gian đó.
Khi lập kế hoạch hướng dẫn thường xuyên, giáo viên thực hành cần chú ý
định ra nội dung hướng dẫn bao hàm cả những chương phần khác của chương
trình mà trong ca thực tập có những thành phần đó. Ví dụ: Khi hướng dẫn học
sinh tiện, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh chọn chế độ cắt, mài, dao
Trang 11
tiện, khoan,… đó là các thao động tác, kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành từ
những ca thực tập trước, nay cần được tiếp tục củng cố và hoàn thiện chúng.
Trên cơ sở phân tích rất kỹ lưỡng những kỹ năng, kỹ xảo phải rèn luyện các
giai đoạn hình thành và quy luật phát triển của nó, giáo viên xác định được bài
luyện tập ở thời kỳ nào, giai đoạn nào của quá trình luyện tập thì cần tập chung
chú ý quan sát vào những yếu tố chủ yếu của kỹ năng và kỹ xảo, quan sát
những chỉ tiêu cụ thể như thế nào.
Tuỳ theo yêu cầu của quan sát, hướng dẫn có thể là:
- Từ chỗ làm việc của mình nhìn bao quát cả lớp đang làm việc để nhắc
nhở.
- Có kế hoạch đi lần lượt đến các chỗ làm việc của học sinh.
- Đi thẳng tới chỗ làm của học sinh khi phát hiện thấy có những vấn đề
cần uốn nắn hoặc chỉ dẫn.
- Cho học sinh tới chỗ hướng dẫn để hỏi và nghe hướng dẫn.
Để có thể xử lý kịp thời và vạch ra phương pháp giúp đỡ đúng, giáo viên
thực hành phải xác định trước những khó khăn mà học sinh sẽ gặp phải những
hư hỏng, sai lầm. Trứoc hết phải thấy được những nhân tố ảnh hưởng đến sự
hình thành kỹ năng, kỹ xảo, những nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng
mạnh tới sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong luyện tập. Từ đó có kế hoạch
khắc phục những ảnh hưởng xấu của điều kiện khách quan, có những biện pháp
hướng dẫn giúp đỡ và giáo dục thích hợp đối tượng. Có trường hợp cần xây
dựng thêm bài tập cần thiết để giúp học sinh luyện tập nâng cao kỹ năng hoặc
kỹ xảo cơ bản nào đó của nghề.
Trong hướng dẫn thường xuyên, việc xác định những hư hỏng, nguyên
nhân, biện pháp khắc phục có ý nghĩa lớn trong việc hình thành kỹ năng tự
kiểm tra, kỹ năng tự điều chỉnh của học sinh, giúp họ thực hiện nhiệm vụ sản
xuất có hiệu quả. Khơng những là mục đích của bài học thực hành nghề, mặt
khác kỹ năng tự kiểm tra - điều chỉnh là điều kiện phương tiện hình thành và
phát triển các kỹ năng chuyên biệt và tổng hợp. Vì vậy giáo viên thực hành cần
chú ý nội dung hướng dẫn, cách thức hướng dẫn giúp học sinh phát triển kỹ
năng tự kiểm tra điều chỉnh thông qua dự kiến các sai lầm hư hỏng, nguyên
nhân, cách khắc phục hoặc thơng qua tình huống cụ thể.
Khi phân tích các sai lầm cần phân biệt các dạng sai lầm, nguyên nhân
dẫn đến sai lầm đó để xác định nội dung, biện pháp hướng dẫn thích hợp.
+ Trước hết đối với sai lầm ngẫu nhiên loại sai lầm này do những cản trở
bên ngoài gây nên như tiếng ồn, rung động, dụng cụ máy móc bị hư hỏng bất
ngờ … cảm giác khó chịu… nguyên nhân của các sai lầm này có thể là:
- Khơng hiểu khơng nắm vững quy tắc vận hành.
Trang 12
- Biểu tượng về trình độ thực hiện khơng rõ nét.
- Thiếu những kỹ xảo cần thiết đã học từ trước, thiếu kỹ năng thực hiện
hành động vì luyện tập không đầy đủ.
- Trạng thái sức khoẻ không đảm bảo tuỳ theo nguyên nhân giáo viên thực
hành có thể luyện tập trong các biện pháp sau:
Nếu học sinh không hiểu thì giảng lại.
Nếu biểu tượng khơng rõ nét thì cần chỉ ra hành động của học sinh không
đạt chỗ nào, làm mẫu lại và cho học sinh luyện tập tiếp tục tới khi đạt.
Nếu thiếu kỹ năng, kỹ xảo thì phải cho luyện tập hỗ trợ, phân tích hành
động, dạy cho học sinh cách tự kiểm tra điều chỉnh.
Nếu sức khoẻ giảm sút thì cho nghỉ hoặc chuyển qua luyện tập những
hành động dễ hơn.
+ Loại sai lầm thứ hai là loại sai lầm theo chu kỳ. Đây là những sai lầm
được lặp lại sau một khoảng thời gian nhất định nào đó. Nguyên nhân có thể do
sai lầm ngẫu nhiên nhưng nghiêm trọng kéo dài, hoặc có thể do tâm trạng lo
lắng căng thẳng vì một lý do nào đó. Biện pháp giúp học sinh loại bỏ sai lầm
này là phải ngăn chặn sự căng thẳng, tâm trạng chán nản, sự quá mệt mỏi. Đối
với một số trường hợp cần củng cố niềm tin khi thực hiện nhiệm vụ.
Khi có sai lầm chu kỳ thì khơng nên giao cho học sinh làm những nhiệm
vụ khó và chuyển sang nhuững công việc vừa sức.
+ Loại sai lầm thứ ba sai lầm vững chắc là những sai lầm diễn ra nhiều lần
dưới hình thc giống nhau.
Ngun nhân do khơng có năng lực thực hiện một hành động nào đó, do
đặc điểm tâm sinh lý của học sinh gây nên.
Trước hết phải đề phòng những sai lầm này xảy ra. Giáo viên thực hành cần
quan sát có hệ thống, thường xuyên khi học sinh bắt đầu vào tập thực hành
hành động mới để phát hiện sai lầm kịp thời uốn nắn. Muốn khắc phục sai lầm
vững chắc cần phải có thời gian dài để luyện tập, khi đó cần tạo điều kiện thuận
lợi để phá bỏ những đường liên hệ thần kinh tạm thời.
Mặt khác cần phải làm cho học sinh rõ được nguyên nhân gây ra sai lầm,
hiều rõ sự cần thiết phải tích cực luyện tập lại trên cơ sở tự kiểm tra - điều
chỉnh.
Trong quá trình theo dõi quan sát nhất thiết giáo viên phải tiến hành ghi chép
tỉ mỉ. Trên cơ sở mới có được những kết luận, đánh giá khác quan, chính xác,
tạo điều kiện thuận lợi cho việ hướng dẫn cá biệt ở ca sau.
Những nội dung ghi chép trong quá tình quan sát như sau:
Trang 13
- Mức độ làm đúng, sai các thao đọng tác, nguyên công, các bước lao
động.
- Mức độ biết lập kế hoạch, tổ chức lao động và tổ chức hợp lý nơi làm
việc.
- Chất lượng công việc hay sự đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật.
- Năng xuất lao động.
- Sự tuân thủ quy trình, quy phạm kỹ thuật.
- Tinh thần và thái độ luyện tập.
Đương nhiên trong hướng dẫn thường xuyên độ chíh xác các thủ pháp
hướng dẫn của giáo viên thực hành cần căn cứ vào mức độ sai lầm, hư hỏng mà
học sinh mắc phải. Cần giúp cho học sinh tự mình tìm ra nguyên nhân sai lầm,
biện pháp khắc phục để hình thành ở học khả năng tự kiểm tra - điều chỉnh. Chỉ
can thiệp trực tiếp khi học sinh có những si lầm nghiên trọng mà họ khơng tự
giải quyết được sai lầm đó. Những trường hợp còn lại chỉ cần nhắc nhở hoặc
uốn nắn.
* Hướng dẫn kết thúc
Giai đoạn này được tiến hành với mục đích là học sinh rút ra kinh nghiệm
sau ca thực tập, phổ biến kinh nghệm lao động khoa học có hiệu quả, đánh giá
so sánh kết quả luyện tập của học sinh, hình thành nhu cầu nắm vững kỹ năng,
kỹ xảo mới, định hướng mục đíc luyện tập ho ca hướng dẫn sau. Nội dung
hướng dẫn kết thúc bao gồm:
+ Giáo viên phân tích các nhược điểm xuất hiện trong các tiến độ làm việc
nói chung và ở từng học sinh: trả lời các câu hỏi thắc mắc, cho điểm đánh giá
kết quả làm việc của họ. Ngoài ra giáo viên có thể nêu câu hỏi, giao bài tập về
nhà, hướng dẫn chuẩn bị cho ca làm việc tiếp theo. Cuối cùng giáo viên nghiệm
thu nơi làm việc của học sinh và kết thúc ca thực tập.
Như vậy quá trình thực hiện một ca hướng dẫn thực hành ở xưởng
trường bao gồm ba đơn vị cấu trúc cơ bản đó là hướng dẫn mở đầu, hướng dẫn
thường xuyên và hướng dẫn kết thúc. Mỗi đơn vị cấu trúc thực hiện một mục
đích lý luận dạy thực hành riêng của nó, xong liên quan đến nhau, hỗ trợ cho
nhau trong tổng thể thống nhất để thực hiện mục đích tổng thể đó là mục đích
của ca hướng dẫn thực hành nghề.
Ở mỗi đơn vị cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy
thực hành mà giáo viên thực hiện có nhiều điểm khác nhau. Chúng ta có thể coi
các đơn vị cấu trúc này là những nguyên công trong công nghệ dạy thực hành.
Mỗi nguyên công của quá trìnhdạy thực hành lại bao hàm các bước cơng việc
chúng thực hiện mục đích lý luận dạy thực hành khác nhau tạo nên logic của
quá trình hướng dẫn dạy thực hành. Vấn đề đối với giáo viên là tuân thủ, thực
Trang 14
hiện sáng tạo các nguyên công ủa công nghệ dạy thực hành. Tuỳ theo loại bài
tập, hình thức tổ chức luyện tập và trình độ kỹ năng, kỹ xảo của học sinh học
nghề mà giáo viên thực hành lựa chọn nội dung, phương pháp dạy thực hành
phù hợp để nâng cao tính tự giác, tích cực độc lập của học sinh trong q trình
luyện tập, nhắm khơng ngừng nâng cao trình độ của kỹ năng, kỹ xảo, kinh
nghiệm sản xuất cho học sinh.
2.3.2.2. Quá trình hướng dẫn thực hành tại cơ sở sản xuất.
2.3.2.2.1. Ý nghĩa của việc thực tập tại cơ sở sản xuất
Việc học sinh học nghề đi thực tập tại xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh
có ý nghĩa to lớn trong q trình đào tạo nghề thể hiện ở cả ba mặt giáo dục,
giáo dưỡng và phát triển. Xí nghiệp và cơ sở sản xuất là nơi trang bị những
thiết bị máy móc, dụng cụ đa dạng phong phú nhiều chủng loại khác nhau.
Việc tổ chức cho học sinh thực tập ở đó tạo điều kiện cho sự phát triển và
hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của họ. Học sinh được tiếp xúc với các
máy móc, trang thiết bị, với q trình lao động thực tế, mở rộng kiến thức khoa
học kỹ thuật. Trong xí nghiệp, học sinh được làm nhiều những cơng việc đa
dạng, phức tạp, từ đó rèn luyện được tính mềm dẻo, linh hoạt của kỹ năng và kỹ
xảo, tính năng động và tư duy kỹ thuật.
Trong các xí nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, học sinh có điều kiện
tiếp xúc với công nhân và tham gia hoạt động có tổ chức của họ, tìm hiểu và
học hỏi truyền thốngđấu tranh giai cấp, tinh thần sáng tạo, tác phong công
nghiệp và tinh thần sản xuất.
Thực tiễn cho thấy rằng qua những đợt được thực tập tại xí nghiệp, kỹ năng
và kỹ xảo, kinh nghiệm lao động của học sinh được nâng cao rất nhiều. Tíh kỷ
luật, tác phong công nghiệp, tinh thần trách nhiệm đối với công việc của học
sinh cũng được phát triển, đồng thời hứng thú học tập được nâng lên rõ rệt.
Ngoài ra việc tổ chức cho học sinh thực tập ở xí nghiệp cịn giúp cho nhà
trường bổ xung và hồn thiện chương trình, nội dung đào tạo.
Chính vì những lý do trên mà việc đưa học sinh thực tập tại xí nghiệp là vấn
đề khơng thể thiếu được trong q trình đào tạo, đặc biệt đối với những nghề
đào tạo khó có khả năng xây dựng xưởng thực tập sản xuất đầy đủ.
2.3.2.2.2. Nhiệm vụ giáo viên thực hành trong việc tổ chức hướng dẫn
học sinh thực tập tại xí nghiệp
Để đảm bảo cho việc thực tập được tiến hành thuận lợi, phù hợp với u cầu
của chương trình địi hỏi giáo viên thực hành phải thực hiện các nhiệm vụ sau
đây:
+ Chọn vị trí thực tập:
Trang 15
Tìm hiểu nơi làm việc trong xí nghiệp: muốn chọn vị trí thoả đáng đương
nhiên giáo viên thực hành cần tìm hiều nơi làm việc trong xí nghiệp. Việc tìm
hiểu bao gồm một số nội dung cơ bản như sau:
- Nghiên cứu, tìm hiếu quá trình sản xuất và các hình thức tổ chức lao
động trong xí nghiệp xem có phù hợp với yêu cầu thực tập của học sinh khơng.
- Xem xét những nơi làm việc có thể bố trí cho học sinh thực tập và
phân tích những nơi đó cơ khả năng nào để học sinh áp dụng kiến thức lý
thuyết vào quá trình sản xuất, mức độ chun mơn hố của nơi làm việc.
- Tìm hiểu định mức thời gian, kỹ thuật, an toàn, …
- Cuối cùng giáo viên tìm hiểu phân tích ảnh hưởng của mơi trường sản
xuất đến việc hình thành các phẩm chất nghề nghiệp của học sinh, tác dụng
giáo dục của tập thể công nhân đối với học sinh.
- Lựa chọn nơi làm việc ở xí nghiệp cho học sinh thực tập.
Trên cơ sở phân tích tìm hiều những yếu tố trên gáo viên thực hành chọ nơi
thực tập cho học sinh, việc lựa chọn tuân thủ theo một số nguyên tắc sau:
- Quá trình sản xuất và hình thành tổ chức quản lý phải đặc trưng cho
nghề đào tạo, tức là nó vừa phải phù hợp, vừa điển hình cho ngành nghề đào
tạo, có như vậy việc thực tập của học sinh mới có ý nghĩa.
- Trang thiết bị phải hiện đại, phù hợp với trình độ kỹ thuật sản xuất tiên
tiến.
- Nơi thực tập phải đảm bảo các điều kiện tối thiểu cho học sinh thực tập
những công việc luyện tập: dụng cụ, nguyên vật liệu và các phương tiện khác.
- Nơi thực tập phải đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật an tồn, vệ sinh cơng
nghiệp.
- Phải là mơi trường ó ý nghĩa giáo dục học sinh tác phong công nghiệp
phẩm chất của người lao động mới.
+ Bồi dưỡng thợ cả, cơng nhân lành nghề trong xí nghiệp phụ trách hướng
dẫn học sinh thực tập.
Khi học sinh thực tập tại xí nghiệp, do đặc điểm nơi làm việc như đã
phân tích ở trên, nên những hình thức tổ chức thực tập thường áp dụng là:
nhóm, cá nhân học sinh thực tập. Giáo viên thực hành không thể cùng lúc đến
mọi nơi thực tập của học sinh, việc hướng dẫn thực tập thường do công nhân
lành nghề hoặc thợ cả lãnh nhiệm. Để họ hoàn thành chức năng hướng dẫn giáo
viên thực hành cần có kế hoạch trao đổi, bồi dưỡng họ về các mặt như: mục
đích. nội dung cơng việc thực tập, phương pháp hướng dẫn và các vấn đề
nghiệp vụ khác. Việc thực tập được tiến hành trước hoặc trong khi học sinh
thực tập.
Trang 16
2.3.2.2.3. Quá tình hướng dẫn học sinh trong quá trình thực tập tại xí
nghiệp:
Mục đích chủ yếu của cơng việc thực tập tại xí nghiệp là nâng cao trình
độ, kỹ nằn, kỹ xảo của học sinh, tao điều kiện cho họ làm quen với vị trí làm
việc sau khi ra trường. Do đặc điểm của việc thực tập tại xí nghiệp khác với
thực tập trong xưởng trường nên nội dung của cơng tác hướng dẫn cũng có ít
nhiều khác biệt. Tuy nhiên q trình hướng dẫn cũng có ba giai đoạn
* Hướng dẫn ban đầu
Trong xí nghiệp, hướng dẫn ban đầu được giáo viên thực hanhg thực hiện
với từng nhóm hoặc từng cá nhân học sinh. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh
nắm được đặc điểm công việc mà học sinh chuyển đến và các yêu cầu đối với
công việc luyện tập. Giới thiệu đặc điểm, cấu tạo máy móc, thiết bị dụng cụ,
nguyên tắc sử dụng bảo quản, sửa chữa, các tài liệu cần thiết cho công việc
luyện tập, thông báo định mức sản xuất và các biện pháp dể hồn thành định
mức, ý nghĩa của vịec hình thành định mức, giới thiệu các phịng ban, các cá
nhân có liên quan tới công việc thực tập của học sinh , nêu những sai hỏng,
nguyên nhân và biện pháp khắc phục.
* Hướng dẫn thường xuyên
Muốn cho quá trình thực tập của học sinh ít mắc sai lầm và đạt kết quả tốt
địi hỏi giáo viên thực hành phải có kế hoạch động tác và phối hợp nhịp nhàng
trao đổi với cơng nhân nơi có học sinh thực tập, thường xun duy trì mói liên
hệ với họ.
Mặt khác, giáo viên lập kế hoạch hướng dẫn trong dự kiến tính chất cơng
việc và trình độ của học sinh, sau đó đến cac vị trí thực tập của họ vào thời
điểm cần thiết để theo dõi giúp đỡ học sinh khi họ gặp khó khăn trong q trình
luyện tập.
Trong q trình hướng dẫn thường xuyên, giáo viên nên chú ý tới học sing
cá biệt, trên cơ sở đó lực chọn phương pháp và nội dung thích hợp hướng dẫn.
* Hướng dẫn kết thúc
Được tiến hành khi học sinh kết thúc một loạt sản phẩm hay một chu trình
làm việc nhất định, nội dung gồm
Giúp học sinh tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thông qua luyện tập.
Phổ biến kinh nghiệm sản xuất của học sinh và công nhân cho tập thể lớp.
Đánh giá kết quả của học sinh thông qua việc thực tập ở xí nghiệp.
2.4. Hiệu quả của các biện pháp nâng cao năng lực thực hành nghề.
Trong hai năm thực hiện các biện pháp nêu trên. Chất lượng tay nghề của
học viên khi tốt nghiệp được nâng lên rõ rệt mà cụ thể là học viên sau khi tốt
Trang 17
nghiệp được các cơng ty trong và ngồi tỉnh tuyển dụng, đạt được yêu cầu về
tay nghề của các công ty. Học viên tự tin trong cơng việc, có thu nhập ổn định.
Trang 18
3. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
---------3.1. Kết luận:
Cũng như bất cứ vấn đề khoa học nào khác vấn đề khoa học giáo dục
nói chung và khoa học kỹ thuật nói riêng trước hết phải thể hiện được sự hiểu
biết của nhà nghiên cứu cái chưa biết của giáo dục nghĩa là sự hiểu biết khách
quan của đối tượng nghiên cứu.
Đề tài này nghiên cứu về những biện pháp tổ chức quá trình dạy học thực
hành nghề nhằm tìm hiểu phương pháp tiếp xúc với thực tế khi vẫn còn ngồi
trên ghế nhà trường. Đây là một đề tài rất rộng, nhằm mục đích đưa ra thực
trạng và biện pháp khắc phục những vấn đề đào tạo nghề của trường để từ đó
có biện pháp thích hợp, đưa cơng tác đào tạo thực hành của trường đúng với
mục tiêu đào tạo của Quốc gia, phù hợp với yêu cầu công nghệ mà xã hội đang
cần. đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0.
3.2. Kiến nghị:
Trên đây kinh nghiệm, biện pháp của bản thân tôi rút ra trong quá trình
giảng dạy, và nghiên cứu. Mặc dù trong quá trình thực hiện bản thân đã cố gắng
hết sức để trình bày một cách dễ hiểu nhất, tuy nhiên vẫn không tránh được
những thiếu sót. Vậy kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các
đồng nghiệp, các chuyên gia cho sáng kiến của tơi để tơi hồn thiện hơn
phương pháp của mình.
Đề nghị với các cấp lãnh đạo quan tâm tạo điều kiện về cơ sở vật chất hơn
nữa để phục vụ cho việc học tập và thực hành của học sinh được tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
CAM KẾT KHÔNG COPY
Người viết
Nguyễn Văn Đức
Trang 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tâm lý học dạy học, Hồ Ngọc Đại, nxb Giáo dục Hà Nội 1983.
2. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Batusép và Sappôrinxki, Bản tiếng Việt,
nxb CNKT, Hà Nội 1982.
3. Lý luận dạy thực hành nghề, H. SChmidt và W.Liewald, Bản tiếng
Việt, nxb CNKT, Hà Nội 1981.
4. Tổ chức và phương pháp dạy sản xuất trong trường dạy nghề, Vụ giáo
viên Tổng cục dạy nghề, nxb CNKT, Hà Nội 1985.
5. Thông tư 42/2015/TT-BLĐTBXH ngày 20/10/2015 của Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội.
Trang 20