ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ HẢO
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ MƠ HÌNH CHĂN NI TRÂU, BỊ
TẠI XÃ LA HIÊN VÀ XÃ TRÀNG XÁ, HUYỆN VÕ NHAI,
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thái Nguyên - năm 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ HẢO
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ MƠ HÌNH CHĂN NI TRÂU, BỊ
TẠI XÃ LA HIÊN VÀ XÃ TRÀNG XÁ, HUYỆN VÕ NHAI,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 - 42 - 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS. HỒNG CHUNG
Thái Ngun - năm 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới PGS.TS Hồng
Chung - Người thầy đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tơi
trong suốt q trình triển khai nghiên cứu đề tài và hồn thành luận văn.
Tơi xin cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học sư phạm Thái Nguyên,
ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, các thầy cô giáo, các cán bộ, nhân viên
trong khoa và các cán bộ, nhân viên của Viện Khoa học sự sống - Trường Đại
học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong q trình học tập và hồn
thành luận văn.
Tơi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các vị lãnh đạo và cán bộ của Ủy
ban nhân dân hai xã La Hiên và Tràng Xá, Uỷ ban nhân dân huyện Võ Nhai –
Thái Ngun đã giúp đỡ tơi trong q trình nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, khích lệ, động viên, tạo điều kiện
của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Hảo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu riêng của tôi, các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng ai cơng bố
trong bất kỳ một cơng trình khác nào.
Tác giả
Nguyễn Thị Hảo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DS
: Dạng sống
ĐVAT : Đơn vị thức ăn
NC
: Nghiên cứu
TS
: Tổng số
TT
: Thứ tự
UBND : Uỷ ban nhân dân
VCK
: Vật chất khơ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 3
1.1. Tình hình chăn ni trâu bị trên thế giới và ở Việt Nam ....................... 3
1.1.1. Tình hình chăn ni trâu bị trên thế giới ........................................ 3
1.1.2. Tình hình chăn ni trâu bị ở nước ta ............................................ 6
1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam ..... 8
1.2.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới ................... 9
1.2.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam .................. 12
1.3. Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên ............................................... 14
1.3.1. Nghiên cứu về thành phần loài ...................................................... 14
1.3.2. Nghiên cứu về năng suất ............................................................... 15
1.3.3. Nghiên cứu về chất lượng cỏ ........................................................ 16
1.4. Vấn đề sử dụng và thối hóa đồng cỏ .................................................. 18
1.5. Các loại thức ăn và đặc điểm thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây
trồng làm thức ăn cho bò ............................................................................ 20
1.5.1. Các loại thức ăn ............................................................................ 20
1.5.2. Đặc điểm, thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức ăn .. 21
Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU ....... 25
2.1. Đặc điểm tự nhiên - xã hội huyện Võ Nhai .......................................... 25
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên ......................................................................... 25
2.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội ............................................................... 29
2.2. Đặc điểm tự nhiên - xã hội xã La Hiên ................................................ 30
2.2.1. Đặc điểm tự nhiên ......................................................................... 30
2.2.2. Đặc điểm xã hội ............................................................................ 31
2.3. Đặc điểm tự nhiên - xã hội xã Tràng Xá .............................................. 32
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2.3.1. Đặc điểm tự nhiên ......................................................................... 32
2.3.2. Đặc điểm xã hội ............................................................................ 33
Chƣơng 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .... 35
3.1. Đối tượng, địa điểm và nội dung nghiên cứu ....................................... 35
3.2. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 35
3.2.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên .................................. 35
3.2.2. Các phương pháp nghiên cứu trong phịng thí nghiệm .................. 38
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .............................. 48
4.1. Thực trạng nguồn thức ăn gia súc tại các xã của huyện Võ Nhai ......... 48
4.1.1. Tình hình khai thác và sử dụng đất tại các xã của huyện Võ Nhai........ 48
4.1.2. Các thảm cỏ tự nhiên trong vùng nghiên cứu ................................ 52
4.1.3. Các thảm cỏ trồng trong vùng nghiên cứu ..................................... 75
4.2. Thực trạng về khai thác thức ăn gia súc hiện nay tại huyện Võ Nhai ... 79
4.2.1. Thực trạng về khai thác................................................................. 79
4.2.2. Đánh giá chung và đề xuất phương hướng .................................... 81
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................................... 83
TÀI LI ỆU THAM KHẢO ........................................................................... 84
PHỤ LỤC...................................................................................................... 88
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Số lượng và phân bố đàn trâu trên thế giới ......................................3
Bảng 1.2: Số lượng và phân bố đàn bò trên thế giới ........................................4
Bảng 1.3: Lượng thịt bò sản xuất trên thế giới .................................................4
Bảng 1.4: Lượng sữa sản xuất trên thế giới .....................................................5
Bảng 1.5: Số lượng đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua .................6
Bảng 1.6: Số lượng bò sữa và sản lượng sữa ở Việt Nam kể từ năm 1990 .......7
Bảng 1.7: Số lượng trâu bò cày kéo của cả nước trong những năm qua ...........8
Bảng 1.8: Sản lượng vật chất khô và chất lượng những loài cỏ trên vùng
đất thấp vào 45 ngày cắt ...............................................................11
Bảng 1.9: Sản lượng VCK của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày .........................11
Bảng 1.10: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của một số loài cỏ .....18
Bảng 2.1: Khí tượng thuỷ văn huyện Võ Nhai - Thái Nguyên .......................26
Bảng 4.1: Thực trạng sử dụng đất xã La Hiên tính đến ngày 1/1/2010 ..........48
Bảng 4.2: Thực trạng sử dụng đất xã Tràng Xá tính đến ngày 1/1/2010 ........50
Bảng 4.3: Thành phần loài tại các điểm nghiên cứu.......................................52
Bảng 4.4: Những dạng sống chính của thực vật trong thảm cỏ tự nhiên tại
các điểm nghiên cứu .....................................................................64
Bảng 4.5: Sinh khối của thảm cỏ tại xã La Hiên (g/m2) .................................71
Bảng 4.6: Sinh khối của thảm cỏ tại xóm Khn Ruộng, xã Tràng Xá (g/m2) ....71
Bảng 4.7: Sinh khối của đồi cỏ tại xóm Khn Ruộng, xã Tràng Xá (g/m2) ..72
Bảng 4.8: Thành phần hóa học của một số lồi cỏ chính ...............................73
Bảng 4.9: Kết quả phân tích mẫu đất tại các bãi chăn thả ..............................75
Bảng 4.10: Năng suất cỏ trồng tại các điểm nghiên cứu ................................76
Bảng 4.11: Kết quả phân tích mẫu đất tại khu vực trồng cỏ ...........................77
Bảng 4.12: Thành phần hóa học của cỏ Voi tại các điểm nghiên cứu ............78
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nơng nghiệp trong đó chăn ni gia súc ăn cỏ
như trâu, bò, dê, cừu, thỏ là nghề truyền thống lâu đời của nông dân nước ta.
Tuy nhiên, chăn nuôi gia súc của nước ta vẫn còn phát triển chậm. Muốn phát
triển chăn ni gia súc thì thức ăn là vấn đề rất quan trọng, quyết định sự
thành bại của ngành chăn nuôi ở các địa phương. Thức ăn thô xanh là nguồn
dinh dưỡng chủ yếu cho gia súc ăn cỏ, nhưng hiện nay nguồn thức ăn cơ bản
vẫn là tận dụng cỏ tự nhiên và phụ phẩm trong nông nghiệp. Đồng cỏ thâm
canh còn rất nhỏ bé. Muốn phát triển chăn nuôi gia súc bắt buộc phải phát
triển mạnh đồng cỏ. Vấn đề này còn chưa được chú ý nhiều trong tiềm thức
của người chăn nuôi.
Đồng cỏ Việt Nam chủ yếu là loại hình thứ sinh do sự tàn phá của các
loại rừng sinh ra. Tuỳ theo mức độ bị tác động hàng ngày của con người và
gia súc mà nó biểu hiện ở các trạng thái khác nhau. Xu thế chung là ngày
càng bị thối hóa về mọi mặt, một số bãi chăn thả trở thành đất trống, đồi
trọc khơng cịn khả năng khai thác làm ảnh hưởng lớn đến việc tăng trưởng
số lượng và chất lượng đàn gia súc, cũng như sự phát triển của ngành chăn
nuôi nói chung. Đồng cỏ trồng của ta hiện nay cịn rất hạn chế, chủ yếu là
trồng xen, tận dụng đất dư thừa, hiệu quả đem lại chưa cao, chưa thành phổ
biến đại trà.
Võ Nhai là một huyện miền núi của tỉnh Thái Ngun, có địa hình khá
phức tạp, đồi núi là chủ yếu, đất ruộng ít, kinh tế nơng nghiệp là chủ yếu trong
đó có chăn ni gia súc nhưng thu nhập từ chăn ni cịn rất thấp. Vì vậy, cơng
tác nghiên cứu về thực trạng, hình thức và mức độ sử dụng các thảm cỏ nhằm
phục vụ cho chăn ni là hết sức cần thiết. Để góp phần làm sáng tỏ thực trạng
hiện nay về việc khai thác, sử dụng các thảm cỏ tự nhiên và cỏ trồng tại địa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
phương, hiệu quả kinh tế của các mơ hình chăn ni hiện có, chúng tơi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá một số mơ hình chăn ni trâu, bị tại xã
La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Điều tra về khí hậu, đất đai, thuỷ văn, thực trạng các thảm thực vật tự
nhiên và cây trồng phục vụ cho chăn ni. Từ đó đánh giá thực trạng và khả
năng đáp ứng thức ăn cho gia súc của địa phương.
- Đánh giá một số mơ hình khai thác thức ăn, sơ bộ cho biết hiệu quả
kinh tế của từng mơ hình đó. Đề xuất mơ hình sử dụng hợp lý (trồng cây cỏ
loại nào) và phương hướng phát triển cho địa phương.
3. Đóng góp mới của đề tài
- Xác định được thực trạng, tình hình và mức độ sử dụng các thảm cỏ
phục vụ cho chăn nuôi trong một số vùng sinh thái hiện nay.
- Xác định được hiệu quả của một số mơ hình chăn ni.
- Đề xuất khả năng phát triển chăn nuôi tại vùng nghiên cứu và mơ hình
sử dụng bền vững tài ngun thiên nhiên, đạt hiệu quả kinh tế cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình chăn ni trâu bị trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Tình hình chăn ni trâu bị trên thế giới
Trâu bị được thuần hóa cách đây khoảng 8 - 10 ngàn năm và từ đó
đến nay ngành chăn ni trâu bị đã khơng ngừng phát triển và được phân bố
khắp thế giới. Chăn ni trâu bị là cách đơn giản để người dân địa phương
khai thác đất đai nhằm sản xuất thịt, sữa, sức kéo, phân bón và một số sản
phẩm khác.
Bảng 1.1: Số lƣợng và phân bố đàn trâu trên thế giới
(Đơn vị: nghìn con)
Năm
1965
1975
1985
1995
2000
2005
Châu Phi
1 617
2 204
2 429
2 800
3 200
3 920
Châu Á
91 925
109 855
132 492
145 769
162 728
168 594
Châu Âu
464
440
177
144
240
306
Bắc và Trung Mỹ
5
7
8
5
6
6
Nam Mỹ
82
267
882
1 651
1 150
1 095
Châu Đại Dương
0,5
0,4
0,2
0,2
0,1
0,1
Toàn thế giới
94 458
113 200
136 339
150 633
164 968
173 921
(Nguồn: FAO Statistic - 2006)
Ta thấy trâu chủ yếu tập trung ở các nước nhiệt đới châu Á với số lượng
khơng ngừng tăng. Sau đó là ở châu Phi và ít nhất là ở châu Đại Dương.
Trong khi đó đàn bị có xu hướng ổn định về số lượng đầu con và phân
bố khá đều ở khắp thế giới. Bảng 1.2 cho thấy số lượng và phân bố đàn bị
trên thế giới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Bảng 1.2: Số lƣợng và phân bố đàn bò trên thế giới
(Đơn vị: triệu con)
Năm
1965
1975
1985
1995
2000
2005
Châu Phi
133,8
155,7
175,4
192,7
201,2
241,7
Châu Á
328,7
343,9
374,2
424,2
444,1
455,4
Châu Âu
116,9
133,9
132,8
107,4
105,9
131,2
Bắc và Trung Mỹ
157,9
190,0
173,9
165,7
160,19
163,9
Nam Mỹ
158,0
211,9
250,6
294,5
297,8
342,0
Châu Đại Dương
26,0
42,7
31,3
35,8
37,3
27,7
Toàn thế giới
1 008,4
1 187,1
1 259,2
1 311,5
1 319,6
1 372,3
(Nguồn: FAO Statistic - 2005)
Ngành chăn ni bị thịt chuyên dụng đã phát triển trên thế giới từ đầu
thế kỉ XVIII. Bảng 1.3 cho thấy lượng thịt bò sản xuất trên thế giới trong mấy
thập kỷ gần đây.
Bảng 1.3: Lƣợng thịt bò sản xuất trên thế giới
(Đơn vị: triệu tấn)
Năm
1965
1975
1985
1995
2000
2003
Châu Phi
2,2
2,6
3,4
3,6
4,3
4,8
Châu Á
3,1
4,2
5,8
10,6
12,8
14,3
Châu Âu
7,0
10,2
11,1
9,5
8,8
8,7
Bắc và Trung Mỹ
10,7
13,5
13,5
14,5
15,5
15,1
Nam Mỹ
4,8
6,2
8,2
10,6
11,8
12,8
Châu Đại Dương
1,3
2,1
1,8
2,4
2,6
2,8
Toàn thế giới
33,0
45,2
51,3
57,0
59,8
62,1
(Nguồn: FAO Statistics - 2004)
Hiện nay ở các nước phát triển chăn ni bị thịt chủ yếu dựa vào các
hệ thống thâm canh ni bị non (6 đến 30 tháng tuổi) và vỗ béo bằng các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
khẩu phần cao năng lượng. Trong khi đó, chăn ni bò thịt ở các nước đang
phát triển, trừ Achentina, Brazil và Mehico, chủ yếu là các hệ thống chăn nuôi
quảng canh.
Phương thức chăn ni bị sữa thay đổi tùy theo điều kiện và tập quán
của từng nước. Các nước châu Âu và Bắc Mỹ có ngành chăn ni bị sữa theo
hướng chuyên dụng. Hệ thống chủ yếu là bãi chăn - chuồng nuôi với việc sử
dụng rộng rãi đồng cỏ lâu năm, mùa hè chủ yếu dựa vào chăn thả trên đồng
cỏ, cịn mùa đơng dùng nhiều thức ăn tại chuồng (cỏ ủ xanh, cỏ khô, thức ăn
tinh). Các nước phát triển ở châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương sản xuất tới
68% sản lượng sữa của thế giới với năng suất sữa bình quân cao hơn nhiều so
với các nước đang phát triển. Phần lớn ngành chăn nuôi bò sữa ở các nước
đang phát triển thuộc về các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ. Số trang trại nuôi bị
sữa ở các nước phát triển có xu hướng giảm xuống, trong khi đó số hộ chăn
ni bị sữa ở các nước đang phát triển có xu hướng ổn định.
Bảng 1.4: Lƣợng sữa sản xuất trên thế giới
(Đơn vị: triệu tấn)
Năm
1965
1975
1985
1995
2000
2003
Châu Phi
11,5
14,1
18,5
22,2
27,2
28,7
Châu Á
45,0
58,1
89,1
128,5
159,2
172,4
Châu Âu
136,5
156,7
181,7
159,9
161,9
160,7
Bắc và Trung Mỹ
69,2
69,4
832
90,0
97,4
99,3
Nam Mỹ
16,8
22,6
27,4
40,4
44,9
46,5
Châu Đại Dương
13,0
12,9
14,2
17,8
23,5
25,1
Toàn thế giới
364,6
424,6
512,7
536,9
579,1
600,9
(Nguồn: FAO Statistics - 2004)
Về chăn ni trâu bị cày kéo ước tính có tới 2 tỷ người trên thế giới
đang phụ thuộc vào sức kéo của gia súc để làm đất, vận chuyển hàng hóa và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
các lao tác khác. Trâu bị lao tác khơng chỉ là phương tiện sống cho hàng triệu
gia đình mà cịn đóng góp vào các hệ thống sản xuất được chấp nhận cả về
mặt xã hội trên thế giới . Theo ước tính hiện có khoảng 250 triệu gia súc lao
tác thuộc các lồi khác nhau, trong đó chủ yếu là trâu bò. Trâu bò ở rất nhiều
nơi trên thế giới được dùng kiêm dụng kết hợp cày kéo với sinh sản, khai thác
thịt hay sữa.
1.1.2. Tình hình chăn ni trâu bị ở nước ta
Về truyền thống chăn ni trâu bị thịt ở nước ta thực chất là chăn ni
bị địa phương kết hợp lấy thịt với khai thác sức kéo phân bón phục vụ sản
xuất nơng nghiệp. Ngày nay, trong khi đàn trâu bị cày kéo có xu hướng giảm
thì chăn ni trâu bị theo hướng lấy thịt đang ngày càng phát triển mạnh hơn
để đáp ứng nhu cầu về thịt ngày càng tăng của nhân dân. Bảng 1.5 cho thấy
diễn biến đàn trâu bò qua một số năm gần đây ở nước ta.
Bảng 1.5: Số lƣợng đàn trâu bò của cả nƣớc trong những năm qua
(Đơn vị: nghìn con)
Năm
Số trâu
Số bò
1980
2313
1664
1985
2590
2598
1990
2854
3121
1995
2963
3638
2000
2960
4127
2005
2922
5541
2007
2990
6720
(Nguồn: FAO Statistics - 2008)
Nhờ mức sống của người dân ngày càng được nâng cao nên nhu cầu
tiêu thụ thịt trâu và thịt bò ngày càng tăng, giá thịt trâu bò cũng như giá con
giống đang tăng lên nhanh chóng. Điều đó đang thúc đẩy và là cơ hội để
ngành chăn ni trâu bị thịt trong nước phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Về chăn ni trâu bị sữa, nước ta vốn khơng có truyền thống nên
khơng có các giống trâu bị sữa chuyên dụng đặc thù nào mà đều là giống
nhập nội hoặc lai tạo. Theo tài liệu Cục Nông nghiệp (2003), trong tổng đàn
bị sữa hiện có, trên 75% tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phụ
cận như Đồng Nai, Bình Dương và Long An…, khoảng 20% ở các tỉnh phía
Bắc, dưới 2% ở các tỉnh miền Trung và trên 2% ở Tây Nguyên. Hiện tại,
trong cơ cấu giống đàn bò sữa cả nước bò HF thuần chiếm khoảng 10% và bị
lai chiếm khoảng 90%. Chăn ni bò sữa hiện tại chủ yếu là các hộ gia đình
(95%), ngồi ra có một số ít cơ sở chăn ni Nhà nước và liên doanh. Số
lượng bị sữa và sản lượng sữa được thể hiện trong bảng 1.6.
Bảng 1.6: Số lƣợng bò sữa và sản lƣợng sữa
ở Việt Nam kể từ năm 1990
Năm
Số bị sữa
(nghìn con)
Sản lƣợng sữa
(nghìn tấn)
1990
1992
1994
1996
2000
2005
2006
2007
11,0
13,1
16,5
22,0
35,0 104,1 113,0
99,0
9,3
13,0
16,2
27,9
52,2 197,7 215,9 234,4
(Nguồn: Cục Nơng nghiệp - 2008)
Ngồi ra, trâu bò còn được sử dụng để cày kéo. Gần đây do sự thu hẹp
đất đai canh tác, do có cơ giới hóa một phần các hoạt động nơng nghiệp nên
nhu cầu về trâu bị cày kéo có xu hướng giảm, thể hiện qua sự giảm về đầu
con trâu bò cày kéo trong những năm qua. Tuy vậy, ngày nay công việc làm
đất nặng nhọc vẫn thu hút gần 70% trâu và 40% bị trong tồn quốc, đáp ứng
khoảng trên 70% sức kéo trong nông nghiệp. Số lượng trâu bị cày kéo được
trình bày trong bảng 1.7.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Bảng 1.7: Số lƣợng trâu bò cày kéo của cả nƣớc trong những năm qua
(Đơn vị: nghìn con)
Năm
Trâu
Bị
1990
1938
1421
1995
2065
1632
2000
1969
1627
2002
1840
1516
( Nguồn: Cục Nơng nghiệp - 2003)
1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam
Cây thức ăn xanh bao gồm sản phẩm cây mùa vụ còn lại, cây cỏ hòa
thảo, cây đậu, cây thân thảo hay thân gỗ mà có thể được sử dụng làm thức ăn
cho gia súc. Những cây này cũng có thể được sử dụng vào những mục đích
khác nhau như bảo vệ đất, chống xói mịn, làm tăng độ màu mỡ của đất và
hạn chế cỏ dại [1].
Cỏ là loại thức ăn chủ yếu của trâu bị, vì trong cỏ có đầy đủ chất dinh
dưỡng như bột, đường, đạm, khoáng, vitamin mà các loại gia súc nhai lại có
khả năng sử dụng và hấp thụ tốt. Mặt khác, các chất dinh dưỡng trong cỏ
khơng những rất cần thiết mà lại có tỉ lệ thích hợp đối với nhu cầu sinh lý của
trâu bị. Ví dụ: nếu tỉ lệ đường - đạm thích hợp nhất cho khẩu phần thức ăn
của bò sữa là 1:1 thì tỉ lệ đó trong cỏ non thay đổi từ 1:1 đến 1,4:1 [2]. Cỏ còn
là loại cây thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao, tương đối ổn định và là
nguồn thức ăn rẻ tiền góp phần làm giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi, chưa
kể ưu thế của các giống cỏ lâu năm là thường chỉ cần gieo trồng một lần mà
sử dụng được nhiều năm [12].
Họ hịa thảo quan trọng khơng những vì nó phân bố rộng rãi chiếm tỉ lệ
cao trong số thực vật trên đồng cỏ, mà cịn có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là
lượng hydratcacbon và đặc biệt là các chất dinh dưỡng được bảo tồn, ít hao hụt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
khi thu hoạch. Các cây họ đậu tuy chiếm tỉ lệ ít hơn trong số cây cỏ làm thức ăn
gia súc nhưng có vai trị quan trọng vì giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng
prơtêin và khống thích hợp cho việc chế biến thức ăn tinh bổ sung [26].
Theo Meilroy (1972) cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu
hoạch dưới dạng này hay dạng khác phải đảm bảo các yêu cầu sau [37]:
- Cỏ phải có khả năng tái sinh qua mầm chồi cịn lại sau mỗi lần
thu hoạch.
- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc là nơi khi
thu hoạch ít bị ảnh hưởng tới.
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao.
- Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất.
- Có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm
bảo lấy được dinh dưỡng đã được giải phóng hay phân hủy từ dưới.
Tuy nhiên, để chọn làm cỏ chăn thả hay thu cắt cần phải dựa vào các
nhân tố sau để xét và quyết định hướng sử dụng cho từng loại cỏ như: độ
ngon miệng cao, nhất là cỏ thu cắt; phải có giá trị dinh dưỡng cao để đáp ứng
nhu cầu gia súc về các mặt; có khả năng cạnh tranh điều kiện sinh tồn và khả
năng được trồng kết hợp; có khả năng chịu đựng sự dẫm đạp liên tục của gia
súc và cỏ thu cắt phải chịu được sự cắt và nén của máy thu hoạch; cỏ chăn và
cỏ cắt đều phải có năng suất cao để đảm bảo nhu cầu gia súc và giảm diện tích
gieo trồng.
1.2.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
Trên thế giới, ở các nước có nền chăn ni đại gia súc phát triển, vấn
đề thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Úc, Mỹ, Brazin,…
Chăn nuôi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất vùng đồi núi ở
vùng Đơng Nam Á, nên cũng đã có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Ở Thái Lan, với 70% dân số làm việc liên quan đến sản xuất nơng
nghiệp, trong khi đó sản phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bị và sữa chưa đủ
cung cấp theo nhu cầu tiêu dùng. Theo FAO, Chính phủ Thái Lan có chủ
trương tăng thu nhập của người nông dân bằng giải pháp: giảm trồng lúa, sắn,
đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại. Nơng dân ni bị
trong dự án được cấp hạt giống cỏ để trồng.
Ở Trung Quốc, cây thức ăn gia súc được chú ý phát triển ở khu vực
phía Nam. Trong quá trình nghiên cứu đã xác định được các giống Brachiaria
Pennisetum, cỏ Stylo…sử dụng có hiệu quả cho gia súc. Hằng năm còn sản
xuất 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước [28].
Một số nước khác như Malaysia, Lào,…cũng đã chú trọng đầu tư phát
triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985. Cho đến nay một số giống
cỏ Hòa thảo và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong
sản xuất. Hằng năm sản xuất được 2-3 tấn hạt cỏ các loại.
Như vậy, có thể thấy phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi
gia súc đang được nhiều nước quan tâm. Nó thực sự là động lực thúc đẩy
ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển.
Trên thế giới hiện nay ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống
cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề
năng suất, chất lượng cỏ.
Hai giống cỏ là cỏ đắng (Paspalum atratum) và Paspalum plicatulum là
những loài cho sản lượng hạt giống lớn, có thể tới trên 600kg/ha. Do vậy, hai
giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái Lan [34].
Ở Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các giống cỏ Digitaria
decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum plicatulum
khoảng từ 15-20, 18-25, 9-15 và 6-10 tấn/ha được trình bày trong bảng 1.8.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Bảng 1.8: Sản lƣợng vật chất khô và chất lƣợng những loài cỏ trên vùng
đất thấp vào 45 ngày cắt
Tên khoa học
Tên Việt Nam
Năng suất (tấn/ha)
Prôtêin (%)
Brachiaria mutica
Cỏ lông Para
9 - 15
6 - 10
Digitaria decumbens
Pangola
15 - 20
7- 11
Paspalum atratum
Cỏ đắng
18 - 25
6-7
6 - 10
5-6
Paspalum plicatulum
( Nguồn: Division of Animal Nutrision, Anon - 2000)
Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái Lan)
cỏ Ghinê tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x
50cm và được bón phân hỗn hợp (15-15-15) trước khi trồng ở mức 300 kg/ha
tương đương 18 tấn phân bón/1ha. Lượng cỏ thu hoạch khoảng 8,9 tấn/ha ở
lứa đầu (70 ngày sau trồng) và khoảng 2,6 đến 7,1 tấn/ha cắt sau 30 ngày
[35]. Sản lượng này được thể hiện ở bảng 1.9.
Bảng 1.9: Sản lƣợng VCK của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày
Thời gian cắt
Năng suất VCK (tấn/ha)
11/8/2000
8,9
11/9/2000
7,1
11/10/2000
6,9
11/11/2000
6,8
11/12/2000
4,6
11/01/2001
2,6
11/02/2001
4,1
11/03/2001
4,3
11/04/2001
5,8
11/05/2001
3,7
(Nguồn: Division of Animal Nutrision, Anon - 2001)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Theo Quilichao (Colombia CIAT, 1978), giống Brachiaria decumbens
có thể đạt năng suất chất khơ trên 42.000 kg/ha/năm với thí nghiệm khơng
bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón
lân và đạm thích hợp. Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất chất khô đạt
36.700 kg/ha, kết quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens),
Para (Brachiaria mutica) và Ghinê (Panicum maximum) [36].
Đối với giống cỏ Setaria sphacelata các kết quả nghiên cứu của
Riveros và Wilson (1970) [39] tại Redlanbay, Queensland, thông báo năng
suất đạt từ 23.500-28.000 kg/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện
cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm /ha/năm trên nền đất đỏ bazan
màu mỡ.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam
Kết quả các cơng trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi cũng chưa
nhiều. Những năm gần đây, một số nhà khoa học mới tập trung vào nghiên
cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, họ đậu nhập nội ở một số vùng như:
Phan Thị Phần, Lê Hịa Bình và các cộng sự (1999), [21]; Vũ Thị Kim
Thoa, Khổng Văn Đĩnh (2001), [27] khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khu
vực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:
+ Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám tỉnh Bình
Dương với 20 tấn phân chuồng, 80 kg K2O và 500 kg vôi/ ha/ năm. Lượng
phân đạm bón từ 60 – 90 kg N /ha /năm, năng suất chất xanh cỏ Panicum
maximum TD58 đạt 64,59 – 83,33 tấn /ha /năm. Tỷ lệ lá cao 51,48 –
60,44%, năng suất hạt 287-323 kg /ha /năm. Khoảng cách lứa cắt thích hợp
là 40 ngày/ lứa.
+ Khu vực miền Bắc trên hai loại đất của vùng đông bằng và vùng đất
đồi trong điều kiện trung tính, đất tốt, đất chua nghèo lân và kali cỏ đều có tốc
độ sinh trưởng khá tốt (1,96 – 2,01 cm/ngày). Năng suất chất xanh đạt 90 –
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
100 tấn /ha/năm. Cỏ Ghi nê có khả năng cho thu hạt, năng suất đạt 450 kg/ha,
tỷ lệ sử dụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sữa 77% và ngựa 85%.
Tỷ lệ tiêu hóa của dê đối với cỏ Panicum maximum TD 58 khá cao, khả
năng sử dụng của gia súc đều tốt từ 86 – 100%.
Ở Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi Thái Nguyên,
tác giả Nguyễn Văn Quang (2002) khi nghiên cứu so sánh về tốc độ sinh
trưởng, năng suất, chất lượng, tính ngon miệng của 5 giống cỏ nhập nội cho
biết: Cả 5 giống cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá cao từ 1,45-1,82 cm/ ngày.
Trong đó 2 giống cỏ Paspalum astratum và Panicum maximum TD 58 có tốc
độ sinh trưởng cao nhất (1,82 và 1,70 cm/ngày) [22].
Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Mùi, Lê Hòa Bình,
Đặng Đình Hanh (2004), đã nghiên cứu xây dựng mơ hình thử nghiệm thâm
canh, xen canh cỏ hịa thảo, họ đậu làm thức ăn cho gia súc tại Thái Nguyên,
năng suất các giống cỏ đạt từ 90-179 tấn/ha trong điều kiện trồng thuần; 93138,5 tấn/ha trong điều kiện xen với cây ăn quả; 17-18,9 tấn/ha trong điều
kiện trồng theo băng; 28,5-36,9 tấn/ha trong điều kiện trồng theo đường đi.
Hoàng Chung, Giàng Thị Hương (2006), tại Mai Sơn - Sơn La đã tiến
hành tưới nước và bón phân cho cỏ trồng (cỏ voi, cỏ ghinê), tăng 1-2
lứa/năm, năng suất tăng từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ 100 tấn – 120
tấn ha [13].
Diện tích trồng cỏ của cả nước hiện nay chỉ đáp ứng được 7,6% nhu
cầu thức ăn thô xanh của gia súc ăn cỏ. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng
này do các địa phương chưa quy hoạch đất trồng cỏ, chưa khai thác hết diện
tích đất chưa sử dụng và chưa mạnh dạn chuyền đổi một phần đất nông
nghiệp sang trồng cỏ thâm canh. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn nhấn mạnh ngành chăn ni phải có sự điều chỉnh cơ cấu chiến
lược, cụ thể là đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ được coi là hướng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
chính. Muốn vậy cần có sự chuyển biến mạnh và đột phá trong khâu thức ăn.
Đối với những vùng phát triển mạnh chăn nuôi gia súc ăn cỏ , cỏ phải được
coi là cây trồng chính và trồng cỏ phải được coi là hướng chuyển dịch hướng
tới thâm canh.
1.3. Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên
1.3.1. Nghiên cứu về thành phần loài
Nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến
hành từ lâu trên thế giới. Người ta có thể nghiên cứu thành phần lồi ở từng
vùng hay trên từng thảm thực vật khác nhau. Đối với loại hình đồng cỏ, thảo
ngun, ở Liên Xơ (cũ), có nhiều nghiên cứu về thành phần lồi thực vật trong
đồng cỏ, thảo nguyên đã công bố như: Alekhin (1904), Vưsotxki (1915),
Graxits (1927), Sennhicop (1938), Creepva (1978),… Nói chung, theo các tác
giả thì ở mỗi một vùng sinh thái xác định sẽ hình thành các thảm thực vật đặc
trưng, cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa chúng là thành phần lồi và dạng
sống, đó là chỉ tiêu quan trọng của các cơng trình nghiên cứu về thực vật.
Việt Nam, những nghiên cứu về thành phần loài trong đồng cỏ, savan
hoặc một số loại hình thuộc thảo khác mới chỉ được tiến hành từ những năm
1950 trở về đây. Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu thành phần lồi trong
đồng cỏ như:
Các tác giả: Nguyễn Đình Ngỗi, Võ Văn Chi (1964), đã nghiên cứu
thành phần loài của thảm thực vật ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) đã gọi loại hình
này là savan cỏ [18].
Dương Hữu Thời, Nguyễn Ngọc Chất, Hoàng Chung, Phạm Quang
Anh (1969), khi nghiên cứu thành phần loài đồng cỏ Ngân Sơn (Bắc Kạn) đã
gọi đây là đồng cỏ [29].
Hoàng Chung (1980) nghiên cứu thành phần loài và dạng sống của
đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã đưa ra bảng phân loại các kiểu đồng cỏ,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
savan, thảo nguyên. Tác giả đã công bố thành phần loài thu được là 233 loài
thuộc 54 họ và 44 chi. Trong cuốn “Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam”
năm 2004 là 79 họ, 402 loài [11].
Dương Hữu Thời (1981) đã cơng bố cơng trình “Đồng cỏ Bắc Việt
Nam”, tác giả đã đề cập khá đầy đủ về loại hình đồng cỏ của vùng này với sự
phân chia 5 vùng đồng cỏ Bắc Việt Nam [30].
Lê Ngọc Cơng, Hồng Chung (1997), nghiên cứu thành phần loài, dạng
sống của savan bụi ở vùng đồi trung du Bắc Thái đã phát hiện được 123 loài
thuộc 47 họ khác nhau [14]…
1.3.2. Nghiên cứu về năng suất
Vấn đề nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các thảm thực vật đã
bắt đầu từ thế kỉ XIX, ban đầu chủ yếu là những cơng trình nghiên cứu có tính
chất thống kê trong nơng nghiệp. Sang đầu thế kỷ XX, những cơng trình
nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các quần xã cỏ tự nhiên và cỏ cho
chăn nuôi đã được nghiên cứu nhiều hơn, với những thí nghiệm trên nhiều
kiểu đất khác nhau.
Cuối thế kỷ XX, những cơng trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào
nghiên cứu phần trên mặt đất, hoặc là số lượng các chất hữu cơ ở trạng thái
sống và chết, sự tăng trưởng của nó, phần chết hàng năm, thảm mục…
Sau đó nhiều cơng trình nghiên cứu phần trên mặt đất được tiến hành
cùng với phần dưới đất trong sự phụ thuộc từ những điều kiện tạo thành nó
của các kiểu thực bì khác nhau: Salưt (1950), Andreev, Lapverenko và
Leonchiev (1955); Badilevich (1958), Xưrokomskaia và Ponhiatopkaia
(1960), Xemen-Nova-Chiansianskaia (1966), Alekxenko (1967), Hoàng
Chung (1974), Uchekhin (1977)… Nghiên cứu riêng phần trên mặt đất có các
tác giả: Kalininna (1954); Xemennơva-Chian-Sanskia (1966)…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Nghiên cứu riêng phần dưới mặt đất có các tác giả: Xemennop và
Chian - Sanskia (1966); Kharitonôp (1967); IgonachenKo, Kirillova và
Ponhiatopskaia (1968); Hoàng Chung (1980).
Ivannop (1941), Odum (1968) và Rodin (1968); Mantranop và Siminop
(1967)… có những cơng trình nghiên cứu q trình tích lũy vật chất hữu cơ,
cũng như sự chuyển đổi sản phẩm là năng lượng trong các thực vật quần hay
hệ sinh thái. Nhật Bản có các cơng trình nghiên cứu về năng suất sinh học của
các thảm cỏ của các tác giả như: Iwaka (1979); Ogawa và cộng sự (1961);
Iwaki và cộng sự (1964,1966). Tại Thái Lan, Ấn Độ đã có một số nghiên cứu
về năng suất của các quần xã cỏ trong rừng thường xanh vùng ôn đới.
Ở Việt Nam, đến 1955 hầu như không có cơng trình nào nghiên cứu về
năng suất đồng cỏ. Từ 1960 đến nay nhiều cơng trình nghiên cứu về năng suất
đã được tiến hành trong các quần xã cỏ tự nhiên và cỏ trồng (chăn thả hay
đồng cỏ cắt). Dương Hữu Thời (1981); Nguyễn Hữu Hiến (1985),… chỉ
nghiên cứu một số cây có giá trị kinh tế cao trên đồng cỏ tự nhiên và chủ yếu
tính sản lượng cỏ trong một số vùng nhằm phục vụ cho kế hoạch phát triển
chăn ni đại gia súc của một số vùng đó. Hoàng Chung (2004) đã tiến hành
nghiên cứu năng suất các quần xã cỏ của vùng Việt Bắc và vùng Tây Bắc trên
hai đai (nhiệt đới và á nhiệt đới). Trong những cơng trình nghiên cứu của ơng
đã đề cập đến những chỉ tiêu về khí hậu, thổ nhưỡng, phần trên mặt đất, phần
dưới mặt đất và đi đến kết luận về quy luật biến đổi năng suất trên đồng cỏ
vùng núi phía Bắc Việt Nam: “ Trong các điều kiện thảm thực vật (savan đồng cỏ) của Bắc Việt Nam, năng suất sinh vật học giảm dần dần theo trình tự
sau: Đồng cỏ á thảo nguyên - Đồng cỏ - Savan cỏ” [10].
1.3.3. Nghiên cứu về chất lượng cỏ
- Độ ăn được:
Những lồi trong đồng cỏ Việt Nam có giá trị chăn thả khá tốt, thành
phần lồi thì trên 95% là thuộc nhóm hịa thảo, trong đồng cỏ tồn tại một số
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
loài cây bụi và cây thuộc thảo khác, phần lớn những loài này cũng được gia
súc ăn. Tuy nhiên, giá trị chăn thả của đồng cỏ cũng thay đổi theo thời gian và
theo từng kiểu thảm, điều này có quan hệ mật thiết với đặc điểm sinh thái, với
các giai đoạn sinh trưởng, với thành phần thực vật, với chiều cao thảm cỏ và
thành phần hóa học của nó cùng các hình thức tác động của con người vào
thảm cỏ.
Ở một số lồi giá trị chăn thả hầu như khơng thay đổi trong suốt cả kì
sinh dưỡng như: Ischaemum indicum, Paspalum scrobiculatum, Paspalum
conjugatum và một số loài một năm. Một số lồi khác thì giá trị chăn thả giảm
dần theo thời gian, ở những lồi này tuổi càng tăng thì tỉ lệ phần thân tăng và
phần trăm chất xơ trong thân và lá tăng lên. Lá nhiều loài trở nên cứng và sắc
như cỏ Tranh, Chè vè,…
Thành phần cây họ Đậu trong đồng cỏ Việt Nam rất ít, một số lồi
trong đó giá trị chăn thả kém, lá cứng, có nhiều lơng cứng như: Desmodium
triquetum, một số lồi khác thì năng suất lại rất thấp, sinh khối tập trung chủ
yếu ở phần thân như: Desmodium microphyllum. Trong thành phần cỏ của
một số quần xã có nhiều cây họ Cói, những loài này lá cứng và sắc như
Carex, Rhynchospora,… một vài lồi khác năng suất rất thấp [11].
- Thành phần hóa học của thực vật:
Thành phần hóa học có trong các giống cỏ tập trung chủ yếu vào 4 chỉ
tiêu đó là: vật chất khô, prôtêin, đường, chất béo và xơ. Hoàng Chung và cộng
sự (2004) đã tiến hành nghiên cứu và theo dõi một số chỉ tiêu về thành phần
hóa học của một số lồi chính trong đồng cỏ Bắc Việt Nam. Kết quả được thể
hiện ở bảng 1.10[11].
Những giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô,
prôtêin, đường cao, tỉ lệ xơ trong thức ăn thấp, tỉ lệ lá/thân cao, trong đó chỉ
tiêu prơtêin được chú ý nhiều hơn cả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên