Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.2 MB, 110 trang )

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 8
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu của luận văn ......................................... 8
5. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 8
6. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 8
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 8
8. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 8
9. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn.............................. 9
10. Cấu trúc của luận văn .................................................................................. 9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TDTT HÀ NỘI HIỆN NAY ......................................................................... 10
1.1. Cơ sở lí luận của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
trƣờng Đại học sƣ phạm TDTT Hà Nội hiện nay ..................................... 10
1.1.1. Khái niệm đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, giáo dục đạo đức nghề
nghiệp .............................................................................................................. 10
1.1.2. Nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Đại học
Sư phạm TDTT Hà Nội. .................................................................................. 17
1.1.3. Sự cần thiết và yêu cầu của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay ................................... 20


1.2. Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
trƣờng Đại học sƣ phạm TDTT Hà Nội hiện nay ...................................... 28
1.2.1. Đặc điểm của sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội hiện
nay ................................................................................................................... 28
1.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
sinh viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay ........................... 35


Kết luận chương 1 .......................................................................................... 44
CHƢƠNG 2: GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TDTT HÀ NỘI HIỆN NAY - THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.............................................................................. 45
2.1. Thực trạng của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
trƣờng Đại học sƣ phạm TDTT Hà Nội hiện nay ...................................... 45
2.1.1. Một số kết quả đạt được của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay ............................ 45
2.1.2. Một số hạn chế của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.......................................................... 55
2.1.3. Nguyên nhân hạn chế của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay ................................... 61
2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên trƣờng Đại học Sƣ phạm TDTT Hà Nội hiện
nay ................................................................................................................... 66
2.2.1 Giải pháp về phía nhà trường ................................................................ 66
2.2.2. Giải pháp về phía sinh viên................................................................... 73
2.2.3. Giải pháp về phía gia đình và xã hội .................................................... 78
Kết luận chương 2 .......................................................................................... 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 87
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 95


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục và đào tạo là một hoạt động có tổ chức của xã hội nhằm bồi
dưỡng và phát triển con người một cách tồn diện. Trong q trình ấy, nhiệm
vụ giáo dục tri thức luôn phải gắn với nhiệm vụ giáo dục đạo đức, thông qua
“dạy chữ” để “dạy người”. Giáo dục đạo đức là một khâu then chốt, là nền

tảng trong quá trình hình thành nhân cách con người.
Từ ngàn xưa, dân tộc Việt Nam đã có truyền thống tơn sư, trọng đạo, tôn
vinh nghề dạy học, tôn vinh người thầy giáo. Quan điểm Nho giáo chính
thống rất đề cao, coi trọng vai trị của người Thầy, đặt vị trí người thầy theo
thứ bậc “Quân, Sư, Phụ” về phương diện giúp cho con người mở mang trí tuệ,
phát triển tài năng và hình thành những giá trị đạo đức.
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo là
quốc sách hàng đầu”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta nhấn
mạnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn
lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và
bền vững” [18, 108 - 109]. Để phát triển giáo dục và đào tạo đạt hiệu quả cao,
trước tiên phải nói đến vai trị của những người Thầy - những người vẫn được
xã hội tôn vinh trong sự nghiệp “trồng người”. Và để thực hiện được sứ mệnh
đó, đội ngũ nhà giáo khơng những phải đảm bảo có chun mơn, nghiệp vụ
vững vàng mà hơn thế phải có phẩm chất đạo đức, tư cách nhà giáo vì điều này
có ảnh hưởng to lớn đến việc hình thành nhân cách, đạo đức người học. Người
thầy dù ở bất kì cấp học nào, bậc học nào cũng là người giữ trọng trách trước
mỗi thế hệ học trò.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở đội ngũ giáo viên:
“Nhiệm vụ của các cô giáo, thầy giáo là rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Muốn

1


làm trịn nhiệm vụ đó thì phải ln gương mẫu về mọi mặt”… [55, 616]
Nghị quyết TW2 khóa VIII cũng khẳng định: “Giáo viên là nhân tố
quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh. Bởi vậy yêu cầu
nhà giáo phải: giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo, tơn trọng nhân
cách người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích

chính đáng của người học, khơng ngừng học tập để nâng cao phẩm chất đạo
đức, trình độ chính trị, chun mơn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng
dạy, nêu gương tốt cho người học” [17, 57]. Vì vậy, việc nâng cao phẩm chất
đạo đức cho đội ngũ nhà giáo mà đặc biệt là việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên các trường sư phạm trong đó có trường Đại học Sư
phạm TDTT Hà Nội hiện nay là việc làm rất cần thiết.
Mặt khác, trong bối cảnh đất nước ta hiện nay đang trong quá trình hội
nhập quốc tế sâu rộng, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN đã có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội. Bên cạnh
những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp là nền tảng tinh thần cho xã hội
Việt Nam vẫn đang được gìn giữ, kế thừa và phát huy thì dưới tác động tiêu
cực của nền kinh tế thị trường đã làm cho một bộ phận không nhỏ người dân
Việt Nam, trong đó có cả những người cơng tác trong ngành giáo dục và đào
tạo đã có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, đi ngược lại với những giá trị
đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh đó, sinh viên nói chung và sinh viên ngành sư phạm nói riêng
là một lực lượng rất hùng hậu, có vai trị to lớn đối với sự phát triển của đất
nước. Các em, phần lớn rất cầu thị, năng động, ham học hỏi, luôn sáng tạo và
khát khao được khẳng định mình. Tuy nhiên, do ảnh hưởng tiêu cực của cơ
chế thị trường và ảnh hưởng của lối sống thực dụng, ích kỷ, hẹp hịi, phai mờ
lý tưởng nghề nghiệp, đề cao quá mức giá trị vật chất, một bộ phận sinh viên
có biểu hiện đạo đức lệch chuẩn trong các mối quan hệ xã hội. Vì vậy, việc

2


giáo dục những giá trị đạo đức cho sinh viên Việt Nam và đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên trong các trường Đại học, cao đẳng sư phạm là một
nhiệm vụ cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Cũng giống như các trường Đại học, Cao đẳng trên phạm vi cả nước,

trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội đã xác định mục tiêu chiến lược,
nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục và đào tạo của nhà trường là: không
ngừng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nhằm đào tạo đội ngũ giáo
viên làm công tác giáo dục thể chất trong tương lai vừa có chun mơn, kỹ
năng nghề nghiệp vững vàng, vừa có đầy đủ các phẩm chất đạo đức nghề
nghiệp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở các trường trung học phổ thơng trong
cả nước. Vì vậy, mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp của nhà trường
không chỉ dừng lại ở việc bồi dưỡng ý thức đạo đức cho các em mà còn xây
dựng hành vi đạo đức nghề nghiệp đúng đắn, chuẩn mực ngay khi các em
cịn đang học tập, rèn luyện ở nhà trường thơng qua các môn học và các
phong trào thi đua, các hoạt động ý nghĩa do Nhà trường và các Đoàn thể
phát động. Do đó, đánh giá đúng thực trạng của việc giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên trong nhà trường hiện nay, từ đó tìm ra các giải pháp
hữu hiệu nhằm giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường ĐHSP
TDTT hiện nay là việc làm có ý nghĩa quan trọng, thiết thực.
Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn vấn đề: “Giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay” làm đề
tài luận văn thạc sỹ Triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Hoạt động nghề nghiệp là phương thức sống chủ yếu nhất của con người.
Vì vậy đạo đức nghề nghiệp chính là một phần quan trọng trong đạo đức xã
hội. Để sống, con người phải lao động và để lao động có kết quả tốt nhất, con
người cần phải có đạo đức nghề nghiệp. Tuy nhiên để có đạo đức nghề nghiệp

3


trong học tập, lao động, sản xuất, trước hết con người cần có nền tảng đạo đức
xã hội nói chung, tích cực, chủ động vận dụng chuẩn mực đạo đức vào mối
quan hệ nghề nghiệp nhằm nâng cao các giá trị đạo đức cho chính bản thân

con người.
Mọi nghề nghiệp trong xã hội đều cần thiết có những quy định về đạo
đức nghề nghiệp của riêng mình và ngành giáo dục cũng vậy. Đạo đức nhà giáo
và giáo dục đạo đức nhà giáo không phải là vấn đề mới mẻ, đã có rất nhiều
cơng trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này ở những mức độ khác nhau. Trên
cơ sở nghiên cứu đề tài, tác giả đã tiếp cận từ hai mảng tư liệu cơ bản:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về đạo đức nói chung và đạo đức
nghề nghiệp nói riêng
Về sách, có các cơng trình tiêu biểu của các tác giả như: Trần Văn Giàu,
Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, 1993; Thành Duy (Chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb
Chính trị quốc gia; Vũ Khiêu (Chủ biên), Đạo đức mới, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1974; Trần Đăng Sinh, Nguyễn Thị Thọ (Đồng chủ biên), Giáo
trình Đạo đức học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội,v.v… Nhìn chung, các
cơng trình nghiên cứu trên đã làm rõ các khái niệm: đạo đức, đạo đức mới,
những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam…
Về đề tài nghiên cứu cấp bộ, cấp Nhà nước có cơng trình như: “Xây
dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên Đại học Sư phạm phục vụ sự
nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa” do PGS.TS Nguyễn Quang Uẩn chủ
nhiệm, năm 1998. Cơng trình đã đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm xây dựng
lối sống và đạo đức mới cho sinh viên trong thời kì cơng nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Về tạp chí, có các cơng trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Đạo đức người
thầy giáo Việt Nam thời phong kiến”, của Phạm Thị Kim Anh, Tạp chí Dạy &
Học ngày nay, số 12/2011; “Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định

4


hướng các giá trị đạo đức hiện nay”, Nguyễn Thế Kiệt, Tạp chí Triết học, số

6/1996; “Giá trị truyền thống – nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát
triển đất nước, dân tộc” của Nguyễn văn Huyên, Tạp chí Triết học, số 6/1998;
“Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục rèn luyện đạo đức trong
nền kinh tế thị trường”, của Hồng Trung, Tạp chí Triết học, số 5/1998;
“Chuẩn mực đạo đức trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay” của Lê Thị Tuyết Ba, Tạp chí Triết học, năm 2003; “Bồi dưỡng đạo đức
cách mạng cho thế hệ trẻ” của Trần Văn Miều, Tạp chí xây dựng Đảng, năm
2007… Nhìn chung, các cơng trình này đã làm rõ mối quan hệ, sự tác động
của đạo đức tới mọi mặt của đời sống xã hội cũng như sự ảnh hưởng của các
yếu tố trong xã hội tới đạo đức. Đồng thời khẳng định sức sống bền vững của
các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh đó cịn có các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu
về vấn đề này, đó là các cơng trình: “Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác
giả Trần Sĩ Phán, Luận án tiến sĩ, năm 1999; “Vai trò của đạo đức với sự hình
thành và phát triển nhân cách con người Việt nam hiện nay” của Lê Thị
Thủy, Luận án tiến sĩ Triết học, năm 2001; “Đạo đức nghề nghiệp nhà báo ở
Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Thị Trường Giang, Luận án tiến sĩ Truyền thông
đại chúng, năm 2011; “Kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống trong xây
dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay”, Cao Thu Hằng, Luận án tiến
sĩ triết học, năm 2011… Các cơng trình đã làm rõ nội dung của đạo đức, đạo
đức nghề nghiệp và vai trị của nó tới việc hình thành nhân cách sinh viên,
nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Thứ hai, các cơng trình nghiên cứu về thực trạng, giải pháp giáo dục
đạo đức, đạo đức nghề nghiệp cho thanh niên, sinh viên, sinh viên sư phạm
hiện nay
Về sách, có các cơng trình tiêu biểu như: “Giáo dục Việt Nam trước
ngưỡng cửa Thế kỷ XXI” của tác giả Phạm Minh Hạc, Nxb Chính trị quốc gia,
5



năm 1999; “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện kinh tế thị trường, tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, Phan
Văn Kha, Phạm Minh Đường, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2006;
“Giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”,
Phan Văn Nhâm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, năm 2009; “Giáo dục lý
tưởng cách mạng cho thanh niên hiện nay”, Nguyễn Chí Mỳ, Nxb Hà Nội,
1999… Các cơng trình này đã bàn về các khái niệm đạo đức nghề nghiệp,
giáo dục đạo đức nghề nghiệp, những yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp của
người lao động trong thời đại hiện nay…
Về cơng trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước với cơng trình tiêu
biểu như: “Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới”,
Nguyễn Minh Đường, Chương trình khoa học cơng nghệ cấp Nhà nước K07,
Hà Nội, 1996.
Về tạp chí, có các bài viết của các tác giả như: Nguyễn Cảnh Tồn với
bài: Đặt đúng vị trí nghề dạy học ngành sư phạm và cải tạo tâm lý xã hội với
vấn đề này, Tạp chí Giáo dục, Tháng 5/1991; Trần Quốc Thành với bài: Rèn
luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên, Tạp chí nghiên cứu Giáo dục, Hà
Nội, 2000; Lê Thanh Thập với bài: Đạo đức nghề nghiệp, Số 6/ 2005, tạp chí
Giáo dục; Phan Ngọc Liên: Đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm theo
định hướng giáo dục vì sự phát triển bền vững, tạp chí Giáo dục, Số
165/2007… Nhìn chung, các cơng trình này đã khẳng định vai trị có ý nghĩa
to lớn của việc giáo dục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp cho người lao động nói
chung, sinh viên Việt nam nói riêng mà đặc biệt là cho sinh viên sư phạm
trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, làm rõ mối quan hệ, tác động của
việc giáo dục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp tới các vấn đề kinh tế, văn hóa….
Ngồi ra, cịn có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về
giáo dục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên, sinh viên sư phạm
trong giai đoạn hiện nay như: “Những biện pháp giáo dục đạo đức nghề


6


nghiệp cho sinh viên sư phạm trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”,
Nguyễn Anh Tuấn, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008;
“Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên sư phạm trong nhà trường quân sự
hiện nay”, Nguyễn Bá Hùng, luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị - Bộ quốc
phịng, 2010; “Giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên Trường Cao đẳng
Công nghiệp – Dệt may thời trang Hà Nội hiện nay”, Trịnh Thị Phương, Luận
văn thạc sĩ khoa học Triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2015… Các
cơng trình nghiên cứu này là những tư liệu q báu, tạo điều kiện thuận lợi cho
tác giả luận văn triển khai đề tài ở khía cạnh nghiên cứu nội dung giáo dục đạo
đức, đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên gắn với những môi trường giáo dục cụ
thể, với những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của địa phương, đất nước.
Tóm lại những cơng trình ở hai mảng tư liệu trên đã có những đóng góp
rất lớn trong việc làm rõ các khái niệm về đạo đức, đạo đức nghề nghiệp,
phân tích đánh giá những thực trạng cũng như đề ra các biện pháp nhằm giáo
dục đạo đức và hình thành nhân cách cho con người Việt Nam nói chung và
sinh viên nói riêng. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay,
song song với việc tiếp tục giáo dục đạo đức truyền thống thì việc giáo dục
đạo đức nghề nghiệp vẫn ln có ý nghĩa vô cùng quan trọng, cấp thiết. Hơn
nữa, trong thực tế chưa có cơng trình nào nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo
đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội. Đây
chính là khoảng trống mà trên cơ sở đó tác giả luận văn đã kế thừa những
thành quả nghiên cứu nêu trên, dựa vào những gợi mở của các tác giả đi trước
về lý luận và phương pháp để triển khai cơng trình của mình. Tác giả hi vọng
kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc giáo
dục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên chuyên ngành GDTC đã,
đang và sẽ học tập tại trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội nói riêng, cho
thế hệ thanh niên, sinh viên Việt Nam nói chung, đáp ứng với mục tiêu cũng

như yêu cầu của Ngành, của Đất nước trong giai đoạn hiện nay.
7


3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn của việc giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên trường Đại học sư phạm TDTT Hà Nội. Luận văn phân
tích làm rõ thực trạng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu
quả của việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp cho đối tượng này.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu của luận văn
4.1. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận văn là đạo đức nghề nghiệp
4.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho
sinh viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học
Các giải pháp cơ bản nhằm giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội mà luận văn đưa ra nếu được triển khai
đồng bộ sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong
nhà trường, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đất nước trong giai đoạn hiện nay.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, luận văn làm rõ cơ sở khoa học của việc giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay.
Hai là, luận văn làm rõ thực trạng và đề xuất một số giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên hệ chính quy, học tại địa điểm trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội
trong thời gian từ năm 2013 đến nay.

8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử.
8


Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phương
pháp lịch sử - lôgic, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp quy nạp
- diễn dịch, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp điều tra xã hội học...
9. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
9.1. Những luận điểm cơ bản
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở khoa học của việc giáo dục đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn góp phần làm rõ đặc thù của sinh viên trường Đại học Sư phạm
TDTT Hà Nội và thực trạng của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay.
Luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao giáo dục đạo
đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội hiện
nay có hiệu quả.
9.2. Những đóng góp mới của luận văn
Về mặt lí luận, luận văn khái quát và phân tích những đặc điểm cơ bản
của sinh viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội. Trên cơ sở đó đánh giá
thực trạng cũng như đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Đại học Sư phạm
TDTT Hà Nội hiện nay.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài
liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy của những người
quan tâm đến đề tài.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo và phụ lục, nội dung

của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết.

9


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ
NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TDTT
HÀ NỘI HIỆN NAY
1.1 . Cơ sở lí luận của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên trƣờng Đại học sƣ phạm TDTT Hà Nội hiện nay
1.1.1. Khái niệm đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, giáo dục đạo đức
nghề nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo
đức xuất hiện từ rất sớm khoảng 2600 năm trước đây ở cả phương Đông và
phương Tây, trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hi Lạp cổ đại.
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là “mos” có nghĩa là “lề
thói”, “đạo nghĩa”. Khi nói đến đạo đức tức là nói đến những lề thói và tập
tục biểu hiện mối quan hệ nhất định trong giao tiếp hàng ngày giữa con
người với con người.
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ
đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Khái niệm đạo đức lần đầu
tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi được người Trung
Hoa cổ đại sử dụng phổ biến. Đạo theo họ là con đường để đạt tới các giá trị
sống tốt đẹp, là nguyên tắc, luân lý. Còn Đức là nhân đức, là những phẩm
chất tốt đẹp, giá trị cao quý… là biểu hiện của Đạo. Như vậy có thể nói đạo
đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc
do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.
Bàn nhiều nhất về đạo đức trong triết học Ấn Độ cổ đại chính là triết học

Phật giáo, giáo lý nhà Phật dạy rằng: “Nhất thuyết pháp nhân duyên sinh” để

10


trả lời cho câu hỏi con người phải làm gì để thốt khỏi bể khổ. Và theo đó
nhà Phật răn dạy con người muốn từ bỏ vòng luân hồi nhân quả thì phải tu
nhân tích đức, sống từ bi, hỉ xả, tạo nhiều nghiệp thiện, tránh nghiệp ác.
Giải thoát bể khổ trầm luân bằng chính cuộc đời nhân đức của mình và
cuộc sống đức hạnh qua nhiều tiền kiếp chính là điều kiện tiên quyết để đạt
tới cảnh giới Niết bàn.
Ở phương Tây, vấn đề đạo đức đã thu hút được sự quan tâm của nhiều
nhà tư tưởng, nhà triết học từ xưa đến nay. Xôcrat (469 - 399 TCN) được xem
là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức. Ông hướng triết học
vào việc giáo dục con người sống có đạo đức. Ơng cho rằng: ngun nhân sâu
xa của hành vi có hay khơng đạo đức là do nhận thức. Còn Arixtốt (384 - 322
TCN) là người đầu tiên đã viết bộ sách Đạo đức học gồm 10 cuốn. Ơng xem
đạo đức và chính trị là triết học về con người. Đạo đức là cái thiện của cá
nhân cịn chính trị là cái thiện của xã hội.
Như vậy, từ rất sớm dù ở phương Đông hay phương Tây, với bao thăng
trầm biến cố của lịch sử nhưng đạo đức luôn được nhân loại quan tâm và không
ngừng bổ sung, làm giàu thêm, phong phú thêm các phạm trù, giá trị đạo đức.
Theo C. Mác, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội chịu sự tác động
của các hình thái ý thức xã hội khác và cùng với các hình thái ý thức xã hội ấy
chịu sự quy định bởi tồn tại xã hội, phản ánh tồn tại xã hội. Do đó, đạo đức có
“bản chất xã hội”.
Giáo trình triết học Mác - Lênin định nghĩa: “Đạo đức là toàn bộ những
quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công
bằng và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa các cá
nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội” [10, 444]

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc
được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối

11


với nhau và đối với xã hội ” [79, 290]. Như vậy, đạo đức là một phạm trù
thuộc hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội mà trực tiếp là phản ánh
đời sống hiện thực đạo đức xã hội. Đó là những quan điểm, quan niệm, những
chuẩn mực, nguyên tắc sống… có chức năng điều chỉnh hành vi của con
người để mọi người tự nguyện tuân theo nhằm bình ổn xã hội, duy trì sự tồn
tại và phát triển của mỗi cá nhân nói riêng và tồn xã hội nói chung.
Theo quan điểm của Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng: “Đạo đức là
một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn
mực xã hội, nhờ đó mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao
cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và với tiến bộ xã hội trong
quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội” [15, 6]
Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khái niệm đạo đức khác nhau. Tuy
nhiên, căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả luận văn
tán đồng với khái niệm đạo đức được khái quát: “Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm
điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và
quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền
thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [65, 6]
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã
hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội. Thích ứng với mỗi một xã
hội thì có một đạo đức xã hội tương ứng. Suy cho cùng, sự phát sinh, phát
triển của đạo đức phụ thuộc vào sự phát triển của phương thức sản xuất.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, dù có biểu hiện khác nhau, song
đạo đức ln khẳng định được vai trị to lớn của mình là điều chỉnh hành vi, ý

thức, quan hệ ứng xử giữa người với người bằng những cơng cụ đặc trưng của
mình, nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của xã hội. Những quy tắc, chuẩn mực
đạo đức được duy trì thành nề nếp, thói quen, hành vi đạo đức hàng ngày của

12


mỗi con người và trở thành phẩm chất cao quý trong nhân cách con người.
Khi đó đạo đức sẽ đóng vai trị là động lực tinh thần có sức mạnh to lớn thúc
đẩy con người tự giác hành động vì cái thiện, chống cái ác, làm cho xã hội
phát triển lành mạnh. Giá trị đạo đức là tiêu chuẩn làm nên cái đẹp của con
người. Đạo đức góp phần phát triển những giá trị văn hóa tinh thần cơ bản
Chân - Thiện - Mĩ của xã hội.
1.1.1.2. Đạo đức nghề nghiệp
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, khi trình độ của lực lượng
sản xuất phát triển ngày càng cao, sự phân công lao động xã hội ngày càng
phong phú, phức tạp, nhiều ngành nghề được hình thành và hoạt động nghề
nghiệp trở thành phương thức kiếm sống chủ yếu của con người. Trong quá
trình hoạt động nghề nghiệp, lợi ích trực tiếp và thiết yếu nhất của con người
được thực hiện tất yếu tạo nên những mối liên hệ lợi ích giữa người với người.
Song, mỗi nghề nghiệp, như Ăngghen đã chỉ rõ: “Trong thực tế, mỗi giai cấp
và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình” [46, 256].
Mỗi con người khi đã lựa chọn cho mình một nghề nào đó thì dù trong
hồn cảnh nào cũng nên hết lịng vì nghề và sống bằng nghề. Nghề không chỉ
là phương tiện để sống mà còn là điều kiện, là cơ sở mà qua đó, mỗi người có
thể cống hiến sức lực và trí tuệ cho xã hội. Khi mới 17 tuổi, trong luận văn tốt
nghiệp trung học, C.Mác đã thể hiện bản lĩnh của mình khi viết rằng, “nếu ta
chọn một nghề trong đó ta có thể làm việc được nhiều hơn cho nhân loại, thì
ta khơng cịng lưng dưới gánh nặng của nó, bởi vì đó là sự hy sinh vì mọi
người. Những việc làm của ta sẽ sống một cuộc sống âm thầm nhưng mãi mãi

có hiệu quả, và trên thi hài của chúng ta sẽ nhỏ xuống những giọt nước mắt
nóng bỏng của những con người cao quý” [44, 4].
Để có được thành cơng trong sự nghiệp cá nhân, hoạt động nghề nghiệp
của mỗi người trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều địi hỏi phải có những

13


chuẩn mực đạo đức mà ta gọi là đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp
là một bộ phận của đạo đức xã hội, là đạo đức cụ thể trong đạo đức chung của
xã hội. Đạo đức nghề nghiệp là những quan điểm, quy tắc và chuẩn mực hành
vi đạo đức xã hội đòi hỏi phải tuân theo trong hoạt động nghề nghiệp, có tính
đặc trưng của nghề nghiệp. Trong xã hội có bao nhiêu nghề thì có bấy nhiêu
thứ đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp là đạo đức xã hội được thể
hiện một cách đặc thù, cụ thể trong các hoạt động nghề nghiệp. Với tính cách
là một dạng của đạo đức xã hội, nó có quan hệ chặt chẽ với đạo đức cá nhân
và thể hiện thông qua đạo đức cá nhân. Đồng thời, do liên quan với hoạt động
nghề và gắn liền với một kiểu quan hệ sản xuất trong một giai đoạn lịch sử
nhất định nên đạo đức nghề nghiệp cũng mang tính giai cấp, tính dân tộc.
Mỗi lĩnh vực nghề nghiệp đều có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đặc
trưng, ví dụ như khi nói đến ngành Y thì phẩm chất “Lương y như từ mẫu”
được coi là một chuẩn mực đạo đức của ngành này. Đối với ngành giáo dục
khẩu hiệu chung cho các cấp học là: “Tất cả vì học sinh thân u”, đó chính là
đạo đức nghề nghiệp của người thầy giáo. Đối với người Đảng viên, cán bộ
thì phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của họ theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí, cơng, vơ tư”…
Trong cuộc đời của một con người, khoảng 1/2 thời gian là hoạt động
nghề nghiệp (có người gần như suốt cuộc đời). Những thành công (và cả
những thất bại) của đời người chủ yếu được bắt nguồn từ hoạt động nghề
nghiệp. Vinh quang hay thất bại, danh dự hay tủi nhục trong cuộc đời ít nhiều

đều liên quan đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp của mỗi con người. Những con
người gương mẫu, say mê trong lao động nghề nghiệp, chuẩn mực về mặt đạo
đức luôn được cộng đồng và xã hội tôn trọng. Tựu trung lại, lương tâm, trách
nhiệm, nghĩa vụ, sự yêu – ghét, sự tốt – xấu, tính thiện - ác của mỗi người đều
được thể hiện tập trung qua hoạt động nghề nghiệp.

14


Từ những nhận thức trên, có thể hiểu về đạo đức nghề nghiệp như sau: Đạo
đức nghề nghiệp là một hệ thống những chuẩn mực đạo đức phản ánh những
yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, của bản thân nghề nghiệp đối với người làm trong
lĩnh vực nghề nghiệp đó; là yếu tố cơ bản để giúp họ có nhận thức, thái độ, hành
vi đúng đắn trong nghề nghiệp để hồn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Đạo đức là phẩm chất quan trọng của nhân cách, là nền tảng để xây dựng
thế giới tâm hồn của mỗi con người. Vì thế, ở thời đại nào và ở bất cứ quốc
gia nào cũng vậy, việc giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục đạo đức nghề
nghiệp nói riêng là trung tâm chú ý của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các
cơ sở giáo dục và của toàn xã hội. Nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp, giáo
dục đạo đức nghề nghiệp và phát huy ý thức đạo đức nghề nghiệp là góp phần
làm rõ được vai trị của ý thức xã hội đối với sự phát triển của tồn tại xã hội.
1.1.1.3. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của giáo dục nói chung.
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp nhằm bồi dưỡng con người một cách toàn diện
trên tất cả các mặt: Đức, Trí, Thể, Mĩ. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là sự tác
động qua lại giữa các hoạt động giáo dục đạo đức nghề nghiệp với người học
nghề nhằm hình thành ở họ những phẩm chất nghề nghiệp cần thiết. Như vậy,
nếu xét ở góc độ lý thuyết thì giáo dục đạo đức nghề nghiệp bao gồm các
thành tố là: mục đích và yêu cầu, nội dung và phương pháp, phương tiện, các
lực lượng tham gia, người học nghề, người dạy nghề và kết quả của quá trình

giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Các thành tố này vận động trong mối tương tác
biện chứng với nhau, thành tố này ảnh hưởng, quy định đến thành tố khác và
tạo nên sự vận động chung của cả hệ thống giáo dục đạo đức nghề nghiệp.
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là toàn bộ nội dung giáo dục toàn diện
con người, là quá trình kết hợp nâng cao nhận thức với hình thành thái độ,
tình cảm, niềm tin và thói quen đạo đức. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp phải
gắn liền với giáo dục tư tưởng, chính trị, pháp luật và văn hóa.

15


Như vậy, có thể hiểu giáo dục đạo đức nghề nghiệp chính là hệ thống
các chuẩn mực về nghề nghiệp được đưa ra nhằm giáo dục người học trong
hoạt động nghề nghiệp của mình, giúp người học kết hợp hài hịa giữa năng
lực nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp.
Cơng tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong các nhà
trường sư phạm là hết sức quan trọng được các nhà trường chú ý và đặt song
song với nhiệm vụ bồi dưỡng tri thức khoa học. Thực chất của cơng tác này là
cơng tác quản lí, giáo dục người học trong quá trình học tập, rèn luyện tại nhà
trường. Đây là khâu quan trọng của quá trình hình thành nhân cách người giáo
viên theo mục tiêu đào tạo và theo tiêu chuẩn đạo đức của người giáo viên.
Đồng thời đưa hoạt động của nhà trường vào nề nếp, chính qui đáp ứng yêu
cầu mà Đảng và Nhà nước đặt ra đó là “xã hội hố cơng tác giáo dục”.
Dạy học là một trong những nghề cao quý nhằm đào tạo, bồi dưỡng thế
hệ tương lai cho đất nước. Giống như các ngành, nghề khác, nghề dạy học
cũng có những quy định, chuẩn mực riêng cho người thầy giáo cần phải giáo
dục cho học viên ngay khi còn đang ngồi trên giảng đường sư phạm, cụ thể
được quy định như sau:
1.Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà
giáo; có tinh thần đồn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong công tác

và cuộc sống; có lịng nhân ái, bao dung, độ lượng, đối xử hòa nhã với người
học, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính
đáng của người học, đồng nghiệp và cộng đồng.
2. Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của
đơn vị, nhà trường, của ngành.
3. Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng
lực người học; chống bệnh thành tích, chống tham những, lãng phí.

16


4. Thực hiện phê và tự phê nghiêm túc; thường xun học tập nâng cao
trình độ chun mơn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm
vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục.
Việc quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đối với các ngành, nghề
khác nhau nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm, lịng u nghề, trung thực,
nhiệt tình trong công việc, không lợi dụng nghề nghiệp để trục lợi, xâm phạm
đến lợi ích của cá nhân, tổ chức xã hội. Là những sinh viên sư phạm đang
ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần trang bị, trau dồi những chuẩn mực,
quy định nghề nghiệp cần thiết giúp các em định hướng được nghề nghiệp sau
khi ra trường.
1.1.2. Nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường
Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội.
Trong nhà trường sư phạm nói chung và trường Đại học sư phạm TDTT Hà
Nội nói riêng, nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp được gắn với việc học tập
tu dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức của người giáo viên trong
tương lai, được cụ thể hóa theo yêu cầu nghề nghiệp trong thời đại mới.
Nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên của trường nhằm
đạt được mục tiêu giúp các em sinh viên nỗ lực tự rèn luyện bản thân để phù
hợp với nghề “trồng người” cao q. Đồng thời có bản lĩnh chính trị vững

vàng, có phẩm chất và lương tâm trong sáng, có lối sống và cách ứng xử
chuẩn mực, thực sự là tấm gương cho người học noi theo.
Căn cứ vào quy định chuẩn nghề nghiệp của giáo viên trung học cơ sở và
giáo viên trung học phổ thông ban hành trong thông tư số 30/2009/ TTBGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ Giáo dục & Đào tạo; Căn cứ vào quy định
về đạo đức nhà giáo được ban hành trong quyết định số 16/2008/QĐ –
BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ Giáo dục& Đào tạo; Căn cứ vào nghị định
112/2007/NĐ- CP hướng dẫn luật thể dục thể thao, theo tác giả luận văn các

17


nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cần được giáo dục cho sinh viên
trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội đó là:
Thứ nhất, giáo dục phẩm chất chính trị
Mỗi con người nói chung, sinh viên, sinh viên sư phạm nói riêng đều
chịu ảnh hưởng một hệ tư tưởng xã hội nhất định. Hệ tư tưởng xã hội của sinh
viên Việt Nam hiện nay là chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để giúp các em có thế
giới quan khoa học, phương pháp luận khoa học, có lập trường quan điểm
chính trị vững vàng, có lý tưởng cách mạng thì cần phải giáo dục cho sinh
viên hiểu và chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước; Không ngừng học tập nâng cao trình độ lý
luận chính trị để vận dụng vào q trình học tập hiện tại và cơng tác sau này.
Ln hồn thành tốt nhiệm vụ được giao; có ý thức tổ chức kỉ luật; có ý thức
tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung; gương mẫu chấp hành các nội quy, quy
định của nhà trường; tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động chính
trị - xã hội.
Thứ hai, giáo dục lí tưởng nghề nghiệp, lịng u nghề, u trẻ
Có thể nói lí tưởng nghề dạy học chính là biểu hiện xu hướng hoạt động
sư phạm của người thầy giáo, là điều kiện bên trong để hình thành lịng u

nghề, u trẻ, nhờ đó mà thầy giáo có thái độ say mê cơng việc giảng dạy và
giáo dục trẻ em. Lí tưởng nghề nghiệp là động cơ trong nhân cách của người
thầy giáo. Người thầy có lí tưởng nghề nghiệp là người sẽ miệt mài với công
việc, sẵn sàng cống hiến, hi sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục và
mong muốn đào tạo ra những con người có ích, những cơng dân chân chính,
đủ tài, đủ đức, đủ sức khỏe để phục vụ cho đất nước. Đây chính là nội lực
quan trọng giúp người thầy có sức mạnh để vượt qua những khó khăn trong
cơng việc và cuộc sống. Vì lý tưởng nghề nghiệp có vai trị rất quan trọng nên

18


ngay khi còn ngồi ở giảng đường sư phạm, sinh viên cần được giáo dục để
hình thành phẩm chất tốt đẹp này.
Lịng u nghề là một phẩm chất khơng thể thiếu được của bất cứ ai
trong bất cứ lĩnh vực nghề nghiệp nào. Đặc biệt đối với những ai muốn gắn
bó với nghề sư phạm thì phẩm chất này càng có ý nghĩa quan trọng. Lịng u
nghề của người thầy thể hiện ở sự tận tâm, nhiệt tình với cơng việc, sẵn sàng
hi sinh, chấp nhận những thiệt thịi, khó khăn để thực hiện hoạt động dạy và
học với tinh thần, trách nhiệm cao.
Lòng yêu học trò là một phẩm chất trung tâm trong nhân cách của người
thầy giáo. Phải u thương học trị, người thầy mới có thể gắn bó với nghề, là
động lực mạnh mẽ giúp người giáo viên vượt qua những khó khăn thử thách
để thực hiện được những chức năng của người thầy. Lòng yêu thương học trò
của người thầy giáo được thể hiện ở thái độ quan tâm tới học trò, thân thiện
và đồng cảm với trị, ln tơn trọng và đối xử nhân ái với học trị của mình.
Lịng u học trị khơng đồng nghĩa với việc buông lỏng, nuông chiều, thỏa
mãn với mọi nhu cầu của trị mà ngược lại đó là sự nghiêm túc, sự quan tâm
chân thành đối với trò, thân thiện và cảm thơng với trị, đi sâu vào thế giới nội
tâm của trò để hiểu và sẵn sàng giúp đỡ, động viên học trị giải quyết những

vấn đề khó khăn của bản thân để trị có thể n tâm học tập và tu dưỡng.
Chính vì vậy, để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục, người thầy nhất định
phải có lịng u người, u trị. Do đó sinh viên sư phạm nhất định cần được
giáo dục để hình thành tình cảm đáng quý này.
Thứ ba, giáo dục lối sống, tác phong, giữ gìn và bảo vệ truyền thống đạo
đức nhà giáo, hình ảnh, uy tín nhà giáo
Nghề giáo là một nghề đặc biệt bởi nhân cách của người thầy có ảnh
hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách người học. Vì vậy để giữ gìn

19


hình ảnh cao q của người thầy, uy tín nhà giáo từ lâu đã trở thành truyền
thống tốt đẹp thì cần phải giáo dục cho các em sinh viên có lối sống lành
mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc dân tộc và mơi trường giáo dục; có tác
phong mẫu mực, thực hiện nghiêm túc các quy định về đạo đức nhà giáo, là
tấm gương sáng về nhân cách.
Thứ tư, giáo dục tinh thần thể thao cao đẹp
Đồng thời với các nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp ngành sư
phạm, với đặc thù là sinh viên trường Sư phạm TDTT chuyên về giáo dục thể
chất. Ngoài việc học tập và tu dưỡng để trở thành các giáo viên dạy giáo dục
thể chất thì trong quá trình học tập và cơng tác sau này hầu hết sinh viên của
trường cịn tham gia vào các phong trào thể dục thể thao của trường, của
ngành, của đất nước, tham gia công tác huấn luyện, thi đấu… Do vậy ngay
khi học tập tại trường các em cần được giáo dục để hiểu và nắm vững những
quy định, quy chế liên quan đến chuyên môn nghề nghiệp, cần được giáo dục
tinh thần thể thao nhân văn – cao thượng, tinh thần “fairplay - chơi đẹp” cũng
như thái độ trung thực trong luyện tập và thi đấu, đồng thời nghiêm cấm
những hành vi gian lận, bạo lực…
1.1.3. Sự cần thiết và yêu cầu của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp

cho sinh viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay
1.1.3.1. Sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội hiện nay
Sự xuống cấp về các giá trị đạo đức trong xã hội, trong đó có đạo đức
nghề nghiệp
Sự phát triển nhanh chóng và nhiều mặt của thế giới và nền kinh tế thị
trường ngày nay đang tác động trực tiếp đến mọi quốc gia. Bên cạnh những tác
động tích cực về kinh tế, xã hội, khoa học – kĩ thuật… thì những ảnh hưởng tiêu
cực của quá trình này đã và đang làm chao đảo nhiều giá trị tinh thần nói chung,

20


giá trị đạo đức nói riêng, vốn được xem là truyền thống đạo đức của các dân tộc.
Hiện tượng suy đồi đạo đức là có thật và ngày càng phổ biến, trở thành mối quan
tâm lo ngại của nhiều quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.
Ở Việt Nam, từ khi chuyển sang nền KTTT, bên cạnh nhiều biểu hiện
tích cực, đã tồn tại nhiều cách sống và lối sống xa lạ, đi ngược lại với những
truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Một bộ phận người
trong các tầng lớp xã hội, các thành phần xã hội khi mưu cầu lợi ích cá nhân
đã chà đạp lên những chuẩn mực, những giá trị đạo đức chân thực. Nạn tham
nhũng, làm giàu bất chính và các tệ nạn xã hội khác đang trở nên lan tràn, phổ
biến. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý
tưởng cách mạng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật,
sa đọa về đạo đức lối sống. Một bộ phận khơng nhỏ trong giới trẻ hiện nay có
tâm lý sống thực dụng, buông thả, sùng bái đồng tiền, quay lưng lại với văn
hóa, đạo đức truyền thống… Từ thực trạng suy thoái đạo đức, lối sống trên đã
kéo theo sự suy giảm và xuống cấp của các giá trị đạo đức xã hội khác mà
biểu hiện rõ nhất là trong đạo đức nghề nghiệp.
Đạo đức nghề nghiệp là vấn đề khơng mới nhưng ln mang tính thời

sự, cấp thiết, nhất là trong tình hình hiện nay. Bởi song song với những mặt
tích cực, tiến bộ của q trình mở cửa, hội nhập, giao lưu quốc tế, mặt trái của
đồng tiền, của danh vọng và lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm đang tạo nên những
hệ lụy, làm băng hoại và suy thoái đạo đức con người ở nhiều ngành nghề,
lĩnh vực.
Sự tha hóa đạo đức nghề nghiệp diễn ra ngày càng phổ biến, không chỉ
biểu hiện ở đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động trong các cơ quan cơng
quyền, hành chính mà cịn tồn tại ở hầu khắp các nghề như y tế, giáo dục, báo
chí… Vẫn cịn nhiều hiện tượng, những người vì danh lợi, địa vị tiền tài đã tự
bán rẻ, hủy hoại nhân cách, lương tâm của bản thân, gây ảnh hưởng xấu đến

21


môi trường nơi công tác, đến ngành nghề, làm giảm lịng tin của nhân dân.
Đối với ngành giáo dục, nhìn chung, đa phần các thầy, cô giáo giữ vững
được phẩm chất đạo đức người thầy, làm tốt nhiệm vụ gieo mầm tri thức, vun
trồng nhân cách cho các thế hệ học trò, đem lại cho các em những bài học về
đạo làm người, cách ứng nhân xử thế khoan dung, nhân ái… Nhưng bên cạnh
những mặt tích cực đó, ngành giáo dục trong những năm qua cũng phải đối
mặt với những thách thức trước tình trạng một bộ phận giáo viên tha hóa, biến
chất, đánh mất nhân cách của người thầy, ví như các hiện tượng: thương mại
hóa các hoạt động giáo dục, tiếp tay cho các tiêu cực trong học tập và thi cử,
lợi dụng uy tín người thầy để uy hiếp, đe dọa học sinh, sinh viên vì những
mục đích cá nhân, thậm chí cịn những người cịn lạm dụng tình dục học trị,
đổi tình lấy điểm… Tất cả những hiện tượng trên gây nên những bức xúc,
phẫn nộ trong dư luận, gây mất niềm tin của phụ huynh, học sinh, tạo nên
những áp lực đối với ngành giáo dục.
Tóm lại, đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức nói chung, một
mặt được quy định bởi các giá trị đạo đức truyền thống, mặt khác nó cũng có

tính độc lập tương đối và tác động đến đạo đức của các ngành nghề khác nhau
trong xã hội. Vì vậy, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN, trước thực trạng các giá trị đạo đức nói chung, đạo đức nghề nghiệp nói
riêng đang có biểu hiện suy thối nghiêm trọng thì việc bảo vệ và phát huy trên
tinh thần giáo dục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp cho thế hệ trẻ nói chung, sinh
viên, sinh viên trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội nói riêng có vai trị rất to
lớn góp phần xây dựng và bình ổn đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Vị trí, vai trị của người thầy
Xã hội lồi người đã trải qua nhiều chế độ xã hội khác nhau, nhiều
phương thức sản xuất khác nhau, vị trí, vai trị của người thầy giáo trong từng
thời kì, giai đoạn lịch sử đó cũng được quan niệm khác nhau, nhưng ý nghĩa

22


xã hội to lớn của nghề dạy học là không ai có thể phủ nhận được và vì thế vai
trị, vị trí của người thầy giáo ở bất cứ dân tộc nào trong bất cứ thời đại nào
nhìn chung đều được đánh giá cao.
Ở Việt Nam, với truyền thống hiếu học và tơn sư trọng đạo thì người
thầy có vị trí, vai trị hết sức quan trọng trong đời sống xã hội nói chung và
trong chính cuộc đời của mỗi con người nói riêng. Từ xưa đến nay, từ khi biết
cắp sách đến trường không mấy người Việt Nam lại không thuộc, không khắc
ghi lời răn dạy “Không thầy đố mày làm nên”, “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”…
Cha ông ta cũng luôn nhắc nhở con cháu ghi nhớ ơn nghĩa sâu đậm của những
người có ảnh hưởng, cơng lao trong cuộc đời mỗi người: “Muốn sang thì bắc
cầu Kiều/ Muốn con hay chữ thì yêu lấy Thầy”. Và cả đến khi công thành
danh toại, người người cũng bảo nhau: “Mười năm rèn luyện sách đèn, công
danh gặp bước chớ quên ơn thầy”…
Đảng và Nhà nước ta luôn tôn vinh nghề dạy học, coi hoạt động giáo dục
và đào tạo là “quốc sách hàng đầu” trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất

nước. Coi nghề dạy học là nghề: “cao quý nhất trong những nghề cao quý,
nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo” (Phạm Văn Đồng). Vì vậy,
trong mọi xã hội, mọi thời đại người giáo viên luôn là nhân tố quyết định chất
lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh.
Ngày nay, xã hội đang trên đà phát triển nhanh chóng, đặc biệt trong thời
đại mà khoa học, kĩ thuật phát triển mạnh như vũ bão, nhiều phát minh khoa
học đã được ứng dụng để thay thế vai trò của con người trong lao động, điều
đó đã làm nhiều giá trị xã hội thay đổi trong đó có mối quan hệ thầy trị và vì
thế vị trí, vai trị của người thầy trong xã hội cũng có sự thay đổi. Tuy nhiên
sự thay đổi ấy chỉ là hình thức cịn thực chất vai trị, vị trí của người giáo viên
trước những địi hỏi cao của xã hội đối với giáo dục càng được tôn vinh, coi
trọng. Người thầy giáo vẫn giữ vai trị chính, là lực lượng chủ yếu đảm nhận

23


×