Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (91.22 KB, 3 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Sau nhiều tháng chống chọi với căn bệnh ung thư phổi quái ác, tác giả của </b>
<b>những vần thơ gắn liền với thời bom lửa chống Mỹ, với Trường Sơn anh hùng</b>
<b>đã trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 lúc 8h49’ </b>
<b>sáng nay 4/12.</b>
Ngay trong buổi sáng nay, khi mới nghe tin dữ của ông, nhiều người bạn văn chương của
ơng đã kịp thời có mặt tại bệnh viện.
Trong thời gian ông lâm trọng bệnh, bạn bè đã dành cho ông những nghĩa cử cuối cùng
chỉ mong ông được thanh thản trước lúc ra đi.
Mới đây, cô gái Thạch Nhọn năm nào trong thơ ông đã được con trai nhà thơ Huy Cận
đưa từ vùng quê miền Trung nắng lửa ra thăm ông khi ông đang nằm hôn mê trên giường
bệnh.
Những người bạn từng sát cánh bên ông, thường xuyên
túc trực bên giường bệnh chỉ mới đây đã kịp hoàn
thành tuyển tập Phạm Tiến Duật để ông được tận mắt
chứng kiến khi còn sống. Các văn nghệ sỹ đã có buổi
giới thiệu tại Hội Nhà văn để tuyển tập ấy nhanh chóng
đến được với độc giả.
Và ngay sau khi tập sách ra mắt, nhà văn Lê Lựu đã
đến bên giường bệnh nhà thơ Phạm Tiến Duật để trao
giải thưởng văn học năm 2007 cho truyển tập Phạm
Tiến Duật (phần 1). Trị giá giải thưởng là 50 triệu
đồng. Nhà văn Lê Lựu mong muốn số tiền này được
dành để lo các công việc chữa bệnh, in sách cho Phạm
Tiến Duật.
Ngày 19/11 mới đây, Chủ tịch nước đã ký lệnh tặng thưởng Huân chương Lao động hạng
Hoạ sỹ Vũ Giáng Hương, Chủ tịch Uỷ ban liên hiệp các hội VHNT Việt Nam và nhà thơ
Hữu Thỉnh, Phó Chủ tịch Uỷ ban kiêm Chủ tịch Hội Nhà văn đã được Chủ tịch nước uỷ
quyền trao Huân chương cho nhà thơ tại bệnh viện 108.
Phạm Tiến Duật sinh ngày 14/1/1941, quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Cha ông là
nhà giáo, dạy chữ Hán và chữ Pháp, cịn mẹ làm ruộng, khơng biết chữ. Ông tốt nghiệp
trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, nhưng sau đó khơng tiếp tục với nghề giáo
mà quyết định lên đường nhập ngũ.
Nhà
thơ
Phạm
Tiến
Duật.
<b>Những tập thơ chính của nhà </b>
<b>thơ Phạm Tiến Duật:</b>
Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970),
nổi tiếng nhất với tác phẩm "Bài
thơ về tiểu đội xe khơng kính"
Thơ một chặng đường (thơ, 1971)
Ở hai đầu núi (thơ, 1981)
Vầng trăng và những quầng lửa
(thơ, 1983)
Thơ một chặng đường (tập tuyển,
1994)
Nhóm lửa (thơ, 1996)
Trong thời gian này, ông sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn. Đây
cũng là thời gian ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng. Năm 1970, sau khi đoạt
giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt
Nam.
Chiến tranh kết thúc, ông về làm việc tại Ban Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam và từ đó
đến nay sống tại Hà Nội, là Phó trưởng Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam.
Ông cũng là người dẫn chương trình của một chương trình dành cho người cao tuổi của
kênh VTV3, Đài Truyền hình Việt Nam.
Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học
nghệ thuật năm 2001.
Đóng góp chủ yếu của ơng đối với nền văn học nước nhà là các tác phẩm thơ, phần lớn
được sáng tác trong thời kỳ ông đang tham gia quân ngũ. Thơ của ông được các nhà văn
khác đánh giá cao và có nét riêng như: giọng điệu sơi nổi, trẻ trung và có cái "tinh
nghịch" nhưng cũng rất sâu sắc. Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát
trong đó tiêu biểu nhất là "Trường Sơn đông, Trường Sơn tây".
<b>Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính</b>
<b>Phạm Tiến Duật</b>
Khơng có kính khơng phải vì xe khơng có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất trời, nhìn thẳng
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái
Khơng có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chơng chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm