GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
DẠY TÍCH HỢP LIÊN MÔN
CHUYÊN ĐỀ: CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
PHẦN I - GIỚI THIỆU VỀ CHỦ ĐỀ:
1.Tên chủ đề: “Chủ quyền biển đảo Việt Nam”
2.Các mơn học được tích hợp trong chủ đề:
-Môn Địa lý: Bài 2, bài 8, bài 24, bài 42 (lớp 12)
-Môn Lịch sử: Cập nhật các vấn đề thời sự có liên quan đến bài học.
3.Nội dung chủ đề:
-Khái qt vị trí, vai trị của Biển Đông và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam.
-Những chứng cứ về chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
-Các tranh chấp trên Biển Đông.
-Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết tranh chấp biển, đảo hiện nay.
-Ý thức, trách nhiệm của học sinh trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo.
PHẦN II - NỘI DUNG:
I.Mục tiêu:
1.Kiến thức:
-Giúp các em học sinh có được những kiến thức sâu sắc về địa lí, lịch sử, cũng như luật pháp và
cách ứng xử liên quan đến chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, đồng thời nắm được
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về biển đảo Việt Nam, đặc biệt là hai quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa.
-HS hiểu được biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của
Tổ quốc Việt Nam, được cha ông chúng ta dầy công khai phá, quản lý từ hàng trăm năm trước và
truyền lại. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi
công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho đất nước phát triển
bền vững.
1
GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
2.Kĩ năng:
-Rèn cho HS kĩ năng đọc, phân tích Atlat địa lí Việt Nam
-Rèn cho HSkhai thác kiến thức từ biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh, tư liệu lịch sử
3.Thái độ:
-Bồi đắp cho HS lòng yêu quê hương, đất nước cho HS, đồng thời các em ý thức được sự cần thiết
phải bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
-HS có nhận thức đúng đắn về vai trị, trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo.
4.Năng lực:
-Năng lực chung: Năng lực giao tiếp, hợp tác, đàm thoại, cập nhật các thông tin thời sự
-Năng lực chuyên biệt: Năng lực sử dụng bản đồ, lược đồ; Năng lực thuyết trình; Năng lực tư duy
tổng hợp; Năng lực vận dụng, liên hệ kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.
II.Chuẩn bị của GV và HS:
1.GV:
-Máy tính, máy chiếu
-Lược đồ, bản đồ, tranh ảnh, clip tư liệu lịch sử liên quan đến bài học.
2.HS:
-Sưu tầm tư liệu, tranh ảnh
-Bảng phụ, bút dạ
III. THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
A.Tạo tình huống học tập:
1.Mục tiêu:
-Tạo sự chú ý, gây hứng thú cho HS đối với bài học.
2.Phương thức: GV cho HS nghe bài hát “Tổ quốc gọi tên mình” sau đó u cầu HS trả lời câu hỏi:
-Nội dung của bài hát này là gì?
3. Dự kiến sản phẩm:
-HS sau khi nghe xong, trao đổi, thảo luận với nhau và trả lời câu hỏi.
2
GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
-GV nhận xét câu trả lời của HS và dẫn vào bài học.
B. Hoạt động hình thành kiến thức.
Hoạt động 1: Vị trí, vai trị của Biển Đơng và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền biển đảo
Việt Nam.
1.Mục tiêu:
-HS nắm được vị trí địa lí và vai trị của Biển Đông và các bộ phận hợp thành vùng biển chủ quyền
của Việt Nam.
2.Phương thức:
-GV giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị trước ở nhà, trả lời các câu hỏi do GV đưa ra:
+Nêu vị trí địa lí và vai trị của Biển Đơng?
+Bờ biển Việt Nam có chiều dài khoảng bao nhiêu Km? Việt Nam có chung Biển Đơng với bao
nhiêu quốc gia?
-Trên lớp, Gv cho HS xem sơ đồ các bộ phận vùng biển của nước ta theo luật pháp quốc tế sau đó
trao đổi thảo luận để trả lời các câu hỏi.
3
GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
*Câu hỏi: Em hãy cho biết vùng biển nước ta gồm mấy bộ phận? Kể tên các bộ phận.
3.Dự kiến sản phẩm:
- HS trả lời câu hỏi, nhận xét, bổ sung cho nhau.
-GV đánh giá quá trình hoạt động, chuẩn kiến thức:
+Vị trí địa lí và vai trị của Biển Đơng: Biển Đông rộng khoảng 3,5 triệu km2, là vùng biển quan
trọng về thương mại, tài nguyên và hàng hải, 10 quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc, Đài
Loan đều tiếp giáp với biển Đông. Biển Đông là vùng biển lớn thuộc Thái Bình Dương, nối với Ấn
Độ Dương qua eo biển Malacca, là tuyến đường hàng hải huyết mạch, giao thơng nhộn nhịp đứng
thứ 2 thế giới. Hàng ngày có khoảng 300 tàu vận tải loại lớn qua lại, chiếm ¼ lưu lượng tàu hoạt
động trên biển của thế giới, chun chở ½ sản lượng dầu thơ và các sản phẩm tồn cầu, có nguồn
tài ngun thủy sản, dầu khí và khoáng sản rất lớn. Biển và hải đảo ngày càng trở thành nguồn lực
kinh tế to lớn, mở ra một khơng gian sinh tồn mới, gắn bó mật thiết và ảnh hưởng đến sự phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phịng, an ninh, bảo vệ mơi trường của mỗi nước
+ Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157
quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Việt Nam chung biển Đông với 8
quốc gia nằm ven bờ Biển Đông: Trung Quốc, Philipin, Malaixia, Brunây, Xingapo, Inđônêxia,
Thái Lan, Campuchia.
+Vùng biển nước ta gồm 5 bộ phận: Nội thủy, Lãnh hải, Vùng tiếp giáp lãnh hải, Vùng đặc quyền
kinh tế, Thềm lục địa.
Hoạt động 2: Những chứng cứ về chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
1.Mục tiêu:
-HS biết được những bằng chứng xác thực về chủ quyền biển đảo của Việt Nam thông qua các bản
đồ và các tư liệu lịch sử có từ thời phong kiến.
2.Phương thức:
-GV giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị trước ở nhà, chia HS làm 4 nhóm thực hiện những yêu cầu do
GV đưa ra:
+Nhóm 1-2: Tìm hiểu những bằng chứng xác thực về chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
4
GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
+ Nhóm 3-4: Tìm hiểu cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền các vùng biển và thềm lục địa Việt
Nam?
-HS các nhóm trình bày sản phẩm của mình ở trên lớp, nhận xét và bổ sung cho nhau.
-GV đánh giá quá trình hoạt động, chuẩn kiến thức
3.Dự kiến sản phẩm:
+ Những bằng chứng xác thực về chủ quyền biển đảo của Việt Nam:
Chủ quyền biển đảo Việt Nam được xác lập từ thế kỷ XV
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, từ khi Việt Nam giành được quyền tự chủ vào năm 939,
bản thân chính quyền và các học giả Trung Hoa khi đó đã bắt đầu vẽ bản đồ nước ta, song chủ yếu
là phần đất liền. Phải đến các thế kỷ sau đó, Biển Đơng và các hải đảo của Việt Nam mới bắt đầu
được mô tả trên bản đồ. Theo các tài liệu thu thập được, hiện còn 3 tập bản đồ thể hiện khá rõ chủ
quyền lãnh hải và đất liền của Việt Nam, gồm: Bản đồ Giao Chỉ Quốc – Giao Chỉ Dương (trích từ
bản đồ Võ Bị Chí được vẽ từ khoảng thế kỷ XV); Bản đồ diên cách Việt Nam Đông Đô – Việt
Nam Tây Đô với Đông Dương Đại Hải của Ngụy Nguyên (khoảng năm 1842) và Bản đồ An Nam
Quốc với Đông Nam Hải.
Trong số các bản đồ này thì tập bản đồ Võ Bị Chí có thể hiện một bán đảo lớn, đề rõ Giao Chỉ
Quốc, trong đó phía Đơng là biển cả được ghi rõ Giao Chỉ Dương. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn
Đình Đầu, vào giai đoạn này nước ta tự xưng tên gọi là Đại Việt, Trung Quốc gọi là An Nam
Quốc. Tuy Võ Bị Chí vẫn gọi nước ta theo tên Giao Chỉ cổ đại nhưng cũng đã tỏ ra tôn trọng chủ
quyền của nước ta ở trên lục địa lẫn Biển Đông.
Sau này, Ngụy Nguyên ghi vẽ lại bản đồ diên cách Việt Nam khá chính xác gồm: Việt Nam Đơng
Đơ (tức Đàng Ngồi) và Việt Nam Tây Đơ (tức Đàng Trong). Ở ngồi khơi Việt Nam Đông Đô là
quần đảo Vạn Lý Trường Sa tức quần đảo Hoàng Sa ngày nay. Ngoài khơi thuộc Việt Nam Tây Đô
là quần đảo Thiên Lý Thạch Đường, tức Trường Sa. Ngồi khơi biển cả được ghi rõ là Đơng
Dương Đại Hải.
Ngoài ra, trên bản đồ An Nam Quốc, Ngụy Nguyên cũng đã ghi lại nhiều địa danh các vương quốc
phụ thuộc làm cho ranh giới chiếm phần lớn bên hữu ngạn sông Mê Kông, nay thuộc Thái Lan.
5
GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
Ngoài Biển Đông, Ngụy Nguyên ghi rõ là Đông Nam Hải, chứng tỏ chủ quyền của Việt Nam trên
lục địa và biển cả là rộng lớn và được tôn trọng hiển nhiên.
Trong các văn bản chính thống, Lê Q Đơn và Phan Huy Chú đã chứng minh chủ quyền và quá
trình khai thác và làm chủ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Trong sách Phủ
Biên Tạp Lục (1777), Lê Quý Đôn viết: "Xã An Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ở
gần bãi biển. Về hướng đơng bắc có nhiều đảo và nhiều núi linh tinh hơn 130 đỉnh... ở trong các
hịn đảo có bến Cát Vàng, chiều dài ước chừng hơn 30 dặm... những thuyền lớn đi biển thường khi
gặp gió bão đều đến nương đậu ở đảo này. Họ Nguyễn còn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy
người ở xã An Vĩnh bổ sung... một đội Bắc Hải chèo thuyền ra cù lao Côn Lôn... hoặc đi đến các
xứ Cồn Tự vùng Hà Tiên để tìm kiếm”.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cũng lưu giữ được hai bản đồ quý từ thế kỷ XV - XVII, gồm
An Nam Quốc (Hồng Đức 1490) và Vương quốc An Nam (Alexandre de Rhodes, 1650) cũng biểu
hiện khá rõ thềm lục địa, Biển Đông và hải đảo Việt Nam đương thời. Sau này vào thời Gia Long,
là thời kỳ đầu tiên thống nhất nước ta từ ngoại giao đến nội trị, từ quốc phòng đến hành chính, từ
khai thác hầm mỏ đến bảo vệ hải đảo. Đây là giai đoạn mà các tài liệu được ghi chép hết sức tỉ mỉ
về các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Riêng về ghi chép bản đồ, thời kỳ
này có hai bản đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ (Taberd 1838) và Đại Nam Nhất Thống Tồn Đồ
(1840) thể hiện khá đầy đủ tình hình thềm lục địa, Biển Đơng và hải đảo Việt Nam.
6
GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
Một bản đồ được ghi chép bằng tiếng Hán
thể hiện chủ quyền biển đảo của Việt Nam
Phương Tây xác định chủ quyền các quần đảo là của Việt Nam
Từ thế kỷ thứ XIX, song song với quá trình xâm chiếm các thuộc địa, nhiều nước Phương Tây tiến
hành đo vẽ bản đồ thế giới gồm cả 5 châu lục, trong đó có thể hiện tên nước Giao Chỉ, với các cách
phiên âm rất khác nhau, như: Cochi, Cauchi, Cauci, Quachym, Cochin... Do có kỹ thuật hiện đại về
đo đạc nên có thể coi các tài liệu của Phương Tây về chủ quyền các đảo, quần đảo tại Biển Đông
thời kỳ này là tương đối chính xác.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, từ thế kỷ thứ XVI, nước Đại Việt cùng các quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa đã được Phương Tây trích dẫn trên hầu hết các bản đồ thế giới hoặc khu
vực Đông Á. Riêng Alexandre de Rhodes 1650; Công ty Đông Ấn La Haye năm 1658 và Taberd
năm 1838 đã vẽ riêng bản đồ Việt Nam.
Theo ơng Nguyễn Đình Đầu, trong số hàng trăm bản đồ do Phương Tây thực hiện, hầu hết đều ghi
rõ đất nước Việt Nam với các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi tên chung là Paracel hay
Pracel. Bờ biển Prasel là ở Trung Bộ Việt Nam. "Không một bản đồ nào ghi bờ biển Prasel ở Nam
Trung Hoa hay Phi Luật Tân, Indonesia hoặc Mã Lai. Thật hiển nhiên, khắp thế giới đều cơng
nhận Hồng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam” - nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu
nhấn mạnh.
Với 50 bản đồ mô tả nước Việt Nam với thềm lục địa và Biển Đông ấn hành suốt từ 1525 đến
1886, chúng ta thấy dần dần sự hiểu biết của thế giới về đất nước Việt Nam ngày một chính xác, cả
về hình thể, lẫn địa danh (trong đó, gồm cả Hồng Sa và Trường Sa).
+ Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam?
Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS)
- Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 có 162 quốc gia phê chuẩn và tham gia (tính
đến ngày 03 tháng 06 năm 2011). Công ước Luật Biển năm 1982 được coi là Hiến pháp của thế
giới về các vấn đề biển và đại dương. Công ước Luật Biển năm 1982 nêu mỗi quốc gia ven biển có
7
GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
5 vùng biển, bao gồm: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa.
- Năm 1994, Quốc hội nước ta đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn và chính thức trở thành
thành viên của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Bằng việc phê chuẩn này, chúng
ta có đầy đủ cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.
Luật Biển Việt Nam
- Ngày 21 thàng 06 năm 2012, tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIII đã thơng qua Luật Biển Việt
Nam. Đây là hoạt động lập pháp cần thiết để hồn thiện khn khổ pháp lý của Việt Nam, phục vụ
cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, tạo
điều kiện cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hịa bình, ổn định
trong khu vực và trên thế giới.
Hoạt động 3: Các tranh chấp trên Biển Đông.
1.Mục tiêu:
-HS nắm được các tranh chấp giữa các nước trên biển Đông
2.Phương thức:
-GV cho HS xem clip tư liệu về một số tranh chấp giữa các nước trên máy chiếu sau đó yêu cầu
HS kể tên các nước có tranh chấp và nêu nhận xét về những tranh chấp đó.
-HS thảo luận cặp đơi, cử đại diện trình bày, HS khác nhận xét, bổ sung.
-GV đánh giá quá trình hoạt động, chuẩn kiến thức.
3.Dự kiến sản phẩm:
-Các tranh chấp:
Trên Biển Đông hiện có 5 nước 6 bên đang tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền đối với quần
đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, đó là: Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia,
Brunei và Đài Loan. Trong đó, Trung Quốc địi chủ quyền, quyền chủ quyền đối với gần như toàn
8
GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
bộ Biển Đơng bao gồm 2 quần đảo Trường Sa, Hồng Sa và các vùng biển trên Biển Đơng.
Phillipines địi 1 phần quần đảo Trường Sa và vùng biển xung quanh gần với thềm lục địa của nó.
Malaysia địi chủ quyền các hòn đảo và khu vực mặt nước gần thềm lục địa của nó. Brunei cũng
địi chia phần ít nhất 2 hịn đảo và vùng mặt nước kẻ vng góc từ 2 bờ biên giới của nó ra tận
ngồi khơi trong khu vực Trường Sa. Brunei yêu sách về chủ quyền đối với cấu trúc trong quần
đảo Trường Sa, đó là bãi ngầm Louisa. Ngồi ra, trên Biển Đơng có Malaysia, và Singapore tranh
chấp chủ quyền đối với đảo Pulau Batu Putch. Campuchia, yêu sách về một phần Vịnh Thái Lan.
-Nhận xét:
+ Biển Đơng chứa đựng những tranh chấp có mức độ phức tạp nhất trên thế giới. Các tranh chấp
Biển Đông chủ yếu xung quanh tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán với các
vùng biển trên Biển Đông.
+ Các tranh chấp trên Biển Đông khiến cho khu vực này nằm trong vùng bất ổn vì sự gia tăng sức
mạnh quân sự giữa các bên.
Hoạt động 4: Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết tranh chấp biển,
đảo hiện nay.
1.Mục tiêu: HS hiểu được chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết các tranh
chấp trên Biển Đông hiện nay
2.Phương thức:
-GV giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị trước ở nhà, chia HS làm 4 nhóm (chung 1 nội dung) thực
hiện những yêu cầu do GV đưa ra: Tìm hiểu Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương gì
trong việc giải quyết tranh chấp biển, đảo hiện nay?
-HS các nhóm trình bày sản phẩm của mình ở trên lớp, nhận xét và bổ sung cho nhau.
-GV đánh giá quá trình hoạt động, chuẩn kiến thức
3.Dự kiến sản phẩm:
- Chủ trương của chúng ta là giải quyết các tranh chấp ở biển Đơng bằng biện pháp hịa bình trên
cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc, Công ước Liên Hợp quốc về Luật
Biển năm 1982 (UNCLOS), Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước
ASEAN và Trung Quốc năm 2002 (DOC), Luật Biển Việt Nam. Yêu cầu chiến lược của chúng ta
9
GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia; đồng thời giữ vững mơi trường hịa
bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; giữ quan hệ hữu nghị hợp tác với Trung Quốc,
các nước ASEAN và các nước khác. Chủ trương cụ thể là:
1/ Trong xử lý vấn đề biển Đông, cần giữ vững độc lập, tự chủ, gắn bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
quốc gia với giữ vững mơi trường hịa bình để phát triển đất nước. Tranh thủ sự đồng tình ủng hộ
rộng rãi của cộng đồng quốc tế.
2/ Tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; kiên định bảo vệ
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo luật pháp quốc tế, tăng cường thực hiện và bảo vệ
kinh tế biển, nhất là hoạt động dầu khí và đánh bắt cá trong phạm vi 200 hải lý; bác bỏ yêu sách
“đường lưỡi bị” của Trung Quốc.
3/ Duy trì ngun trạng biển Đơng; bảo vệ quyền đánh bắt cá chính đáng của ngư dân chúng ta trên
biển Đơng. Chúng ta chủ động, tích cực cùng các bên liên quan đàm phán tìm giải pháp cơ bản lâu
dài mà các bên có thể chấp nhận được đối với các khu vực tranh chấp.
4/ Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với giữ vững mơi trường hịa bình,
ổn định để phát triển đất nước, coi trọng quan hệ hữu nghị hợp tác Việt - Trung và các nước có liên
quan, phấn đấu khơng để xảy ra xung đột quân sự ở biển Đông; tránh các vấn đề tranh chấp làm đổ
vỡ quan hệ giữa nước ta với Trung Quốc.
Phương châm là vận dụng tổng hợp các biện pháp chính trị, ngoại giao, dư luận, pháp lý, quân sự
trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên trì nguyên tắc, đồng thời xử lý các tình huống, các
vấn đề cụ thể một cách bình tĩnh, chủ động.
C.HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP
1.Mục tiêu: Nhằm củng cố, hệ thống hóa, hồn thiện kiến thức mới mà học sinh đã được lĩnh hội ở
hoạt động hình thành kiến thức.
10
GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
2.Phương thức: Giáo viên tổ chức trị chơi ơ chữ cho HS
D.MỞ RỘNG VÀ VẬN DỤNG:
1.Mục tiêu: HS vận dụng, liên hệ kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Có
nhận thức đúng đắn về vai trị, trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo.
2.Phương thức:
- Giáo viên sử dụng phương pháp đàm thoại – gợi mở, yêu cầu HS nêu ý thức trách nhiệm của
mình trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo.
-HS trả lời, HS khác nhận xét, bổ sung
-GV đánh giá quá trình hoạt động, chuẩn kiến thức
3.Dự kiến sản phẩm:
-Học sinh là lực lượng trẻ, có tri thức trong xã hội, là tương lai của đất nước, là tầng lớp đi tiên
phong trong các hoạt động thúc đẩy cộng đồng quan tâm và có trách nhiệm đối với những vấn đề
liên quan đến môi trường, bảo vệ môi trường, phát huy tiềm năng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo
của Tổ quốc.
-Cần quán triệt lập trường nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là Việt Nam khẳng định chủ
quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; chủ quyền đối với vùng nội thủy, lãnh hải;
quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa theo
quy định của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
-HS đi đầu trong việc tích cực tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về quản lý, bảo
vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam.
-Tăng cường học tập, nghiên cứu, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển bền
vững biển, đảo. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cộng đồng về khai thác, sử dụng bền vững
tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, hải đảo.
-Tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng ngừa, ứng phó, kiểm sốt và khắc phục hậu
quả thiên tai, sự cố môi trường biển. Xây dựng và quảng bá thương hiệu biển Việt Nam. Góp phần
tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị thế quốc gia biển và hội nhập quốc tế trong quản lý, bảo
vệ và phát triển bền vững biển, đảo. Khuyến khích học sinh tham gia vào học các ngành nghề liên
quan tới biển, đảo.
11
GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
12