PHỊNG GD - ĐT TAM DƯƠNG
TRƯỜNG THCS HỒNG LÂU
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy – học Hóa học THCS
Tác giả sáng kiến: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THCS Hoàng Lâu
- Tam Dương- Vĩnh Phúc
Số điện thoại: 0398193677
E-mail:
Hoàng lâu, năm 2019
1
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu
Ngày nay trong thực tiễn dạy học Hóa học, người ta ngày càng chú ý tăng
cường đổi mới phương pháp học tập vì chúng đóng vai trị quan trọng trong dạy
học và giáo dục học sinh.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là tích cực hóa hoạt
động học tập của học sinh.Tích cực hóa hoạt động học tập là quá trình làm cho
người học trở thành chủ thể tích cực trong hoạt động học tập của mình.
Để phát huy tính tích cực của học sinh, cần tạo điều kiện để HS được suy
nghĩ nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn, được phát biểu quan điểm của mình,
được đưa ra những nhận xét về vấn đề đang bàn luận,... được tham gia vào quá
trình học tập để tự chiếm lĩnh kiến thức.
Đổi mới PPDH đó là một đòi hỏi cấp bách, một xu hướng tất yếu của các
trường học. Tùy vào từng bộ môn và kinh nghiệm của bản thân mà mỗi giáo
viên cần tìm tịi, áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy nhằm giúp học sinh
hứng thú và chủ động hơn trong học tập. Đồng thời, nâng cao hơn nữa chất
lượng đào tạo của nhà trường, góp phần vào việc hình thành nhân cách, phát
triển toàn diện của học sinh.
Trong thực tế việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy
tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh. Bên cạnh việc đổi mới trong
phương pháp dạy thì việc đổi mới phương pháp học của học sinh cũng rất quan
trọng, nó góp phần làm cho tiết học trên lớp đạt hiệu quả hơn. Để làm được điều
này, việc hướng dẫn học sinh định hướng để xây dựng, củng cố và khắc sâu kiến
thức một cách hệ thống bằng sơ đồ được xem là một hình thức mới trong việc
đổi mới phương pháp dạy - học trong giai đoạn hiện nay.
Một trong những hướng để đổi mới phương pháp dạy - học là đổi mới
phương pháp kiểm tra đánh giá. Đối với mơn Hóa học ở khối lớp 9 thì kiểm tra
bằng hình thức tự luận vẫn rất được coi trọng. Đây là cách để nhằm nâng cao
2
khả năng tư duy, khả năng lập luận và kĩ năng trình bày của học sinh. Với lượng
kiến thức rất phong phú với nhiều mảng kiến thức như trong chương trình Hóa
học lớp 8 về Chất – Ngun tử - Phân tử; Phản ứng hóa học; Mol – Tính tốn
hóa học; O xi – Khơng khí; Hi đro – Nước; Dung dịch và ở lớp 9 về Các loại
hợp chất vơ cơ, Kim loại, Phi kim- Bảng tuần hồn các nguyên tố hóa học,
Hiđro cacbon- Nhiên liêu, Dẫn xuất của hiđro cacbon– polime để học sinh có
thể nắm vững đầy đủ kiến thức là rất khó, nên việc hướng dẫn học sinh có thể hệ
thống kiến thức bằng sơ đồ, qua đó học sinh sẽ có cái nhìn tổng thể kiến thức
một cách ngắn gọn, đầy đủ, súc tích, rút ngắn được thời gian ôn tập củng cố và
ghi nhớ bài nhanh hơn.
Bản đồ tư duy còn gọi là sơ đồ tư duy(SĐTD) là hình thức ghi chép nhằm
tìm tịi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung,
hệ thống hóa kiến thức một chủ đề ...bằng cách kết hợp việc sử dụng đường nét,
màu sắc chữ viết phù hợp với cấu trúc hoạt động và chức năng của bộ não giúp
con người khai thác tiềm năng kiến thức vô tận .
Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Sử dụng sơ
đồ tư duy trong dạy - học Hóa học THCS"nhằm tìm ra các phương pháp hướng
dẫn học sinh có được cách học hiệu quả nhất đồng thời nắm được kiến thức
nhanh hơn và hiểu sâu kiến thức hơn. Từ đó nâng cao được chất lượng bộ mơn
Hóa học và biết vận dụng vào thực tế.
2. Tên sáng kiến.
"Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy - học Hóa học THCS"
3.Tên tác giả sáng kiến:
Ho và tên: Nguyễn Thị Phương Hoa
- Dịa chỉ: Trường THCS Hoàng Lâu – Tam dương – Vĩnh Phúc.
- Số điện thoại: 0398193677
- Email:
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Phương Hoa.
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
3
Giáo viên dạy mơn Hóa học và học sinh các khối 8,9 Trường THCS
Hoàng Lâu – huyện Tam Dương – tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử.
Từ ngày 01 tháng 02 năm 2018
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
1.Lý do chọn đề tài:
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là
một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc
phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai
thác tiềm năng vô tận của bộ não. Nó được coi là sự lựa chọn cho tồn bộ trí óc
hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc.
Giáo viên dạy bộ môn là người trực tiếp tạo ra “luồng gió” mạnh nhất
trong đổi mới PPDH. Khơng có nhận thức đúng thì người thầy khó có thể đủ
quyết tâm để đổi mới PPDH trong hoàn cảnh hiện nay. Trước hết, GV dạy bộ
mơn phải có nhu cầu thay đổi phương pháp soạn giảng, biết loại bỏ những cách
dạy học lạc hậu khơng cịn phù hợp với nội dung chương trình giảng dạy. Một
hướng đang được quan tâm trong lý luận dạy học là nghiên cứu sâu hơn về hoạt
động học của HS rồi dựa trên thiết kế hoạt động học của trò mà thiết kế hoạt
động dạy của GV. Điều này khác với các PPDH truyền thống là chỉ tập trung
nghiên cứu kĩ nội dung dạy để thiết kế cách truyền đạt kiến thức của người dạy.
Trong hướng đổi mới PPDH hiện nay là tập trung thiết kế các hoạt động
của HS sao cho các em có thể tự lực khám phá, chiếm lĩnh các tri thức mới dưới
sự chỉ đạo của GV, bởi một đặc điểm cơ bản của hoạt động học là người học
hướng vào việc cải biến chính mình, nếu người học khơng chủ động tự giác,
khơng có phương pháp học tốt thì mọi nỗ lực của người dạy chỉ đem lại những
kết quả hạn chế.
2.Cơ sở chọn đề tài:
Hóa học là mơn học khoa học tự nhiên đòi hỏi khả năng tư duy logic cao để suy
luận và vận dụng giải thích các hiện tượng thực tiễn, kiến thức môn học đa dạng
phong phú, đặc biệt là các q trình về oxi hóa khử, các cơ chế của q trình
phản ứng hóa học, tính chất hóa học của các chất cụ thể, viết PTHH của phản
ứng, lượng kiến thức dài, đa phần là mới và khó, ngồi ra cịn có nhiều bài tốn
4
hóa họctương đối khó và phức tạp... Như vậy, trong quá trình dạy - học chúng ta
sẽ thường gặp một số khó khăn:
2.1: Việc đổi mới PPDH cùng với sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện kĩ
thuật đã và đang đạt được những kết quả nhất định. Đặc biệt là phương pháp tổ
chức hoạt động nhóm của HS dưới sự hướng dẫn củaGV, dạy học bằng giáo án
điện tử, ứng dụng các phần mềm công nghệ thông tin vào giảng dạy,liên hệ các
kiến thức thực tế,vận dụng kiến thức liên mơn học... Tuy nhiên, các phương
pháp này địi hỏi rất nhiều thời gian, trong khi một tiết học trên lớp chỉ có 45
phút thì khơng đủ thời gian cho các hoạt động có hiệu quả cao nhất.
2.2: HS sẽ chỉ tập trung ghi bài mà không tham gia thảo luận nhóm, hoặc
chỉ tập trung thảo luận nhóm, trao đổi và quan sát hình ảnh mà khơng ghi bài.
Như vậy HS khơng thể nắm được ý chính của bài học để định hướng học tập.
2.3: Phần lớn HS chưa rèn được phương pháp học tập khoa học, cách ghi
kiến thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc,
thuộc nhưng khơng nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi
bật” trong bài học, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên
quan với nhau,vận dụng linh hoạt vào từng bài cụ thể .
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ
lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của
mình. Vì vậy việc sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy- học sẽ dần hình
thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách
nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, tất cả HS tham gia xây dựng bài một
cách hào hứng, giúp HS học tập một cách chủ động, tích cực, huy động tối đa
tiềm năng của bộ não, việc lập SĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo
của mỗi người.
Chính từ thực tế này, GV và HS phối hợp chăt chẽ hoạt động dạy và học theo
phương pháp xây dựng SĐTD là điều cần thiết.
3.Áp dụng vào thực tế:
3.1
3.2. Phương pháp lập sơ đồ tư duy
a)Các bước lập sơ đồ tư duy
- Bước 1: Chọn từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề, hay có thể với một từ
khóa được viết in hoa, viết đậm.
- Bước 2: Ln sử dụng màu sắc vì mỗi màu sắc đều có tác dụng phâncấp
mức độ kiến thức cần thể hiện.
5
- Bước 3: Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các
nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một,…. bằng các đường kẻ, đường cong với
màu sắc khác nhau.
Chú ý: Mỗi nhánh chính dùng 1 màu, nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3... phải cùng
màu với nhánh chính.
- Bước 4: Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ
hay đường cong.
- Bước 5: Tạo ra một kiểu sơ đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,
…
- Bước 6: Bố trí thơng tin đều quanh hình ảnh trung tâm.
b)Cách ghi chép trên sơ đồ tư duy
*Cách ghi chép
- Dùng từ khóa và các ý chính cơ đọng.
- Viết cụm từ, khơng viết thành câu dài dòng.
- Dùng các từ viết tắt ngắn gọn.
- Có tiêu đề rõ ràng.
- Đánh số các ý đầy đủ.
- Liên kết các ý nên dùng nét đứt, mũi tên, màu sắc ...biểu diễn.
* Điều cần tránh khi ghi chép trên sơ đồ tư duy
- Chép lại nguyên cả nội dung kiến thức bài học dài dòng.
- Ghi chép chi tiết nhiều ý vụn vặt không cần thiết.
- Đầu tư quá nhiều thời gian để ghi chép trên sơ đồ.
3.3 Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng sơ đồ tư duy
a) Thuận lợi:
- Sử dụng SĐTD là phương pháp học tập gây cảm giác hứng thú, thoải
mái, vui vẻ và giàu sự sáng tạo.
- Về cơ sở vật chất đã có một số đổi mới và sự đầu tư tạo điều kiện cho
hoạt động dạy - học: phịng cơng nghệ thơng tin (phịng học bộ mơn), máy vi
tính,máy chiếu, bảng phụ…
6
- Đa số các GV đã được tập huấn đổi mới PPDH về sử dụng SĐTD trong
giảng dạy.
- Xã hội hiện nay nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho con người (GV
và HS) có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khác
nhau.
- Khi sử dụng SĐTD trong dạy học các kiểu bài phù hợp tâm sinh lý lứa
tuổi HS cấp THCS khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy học
truyền thống. Vì vậy, gây hứng thú cho người học, kích thích HS tư duy tích
cực.
b) Khó khăn
- Sử dụng SĐTD trong dạy – học là một trong những PPDH mới, nên GV và HS
không tránh khỏi lúng túng trong một số kĩ năng như sử dụng phần mềm SĐTD,
sử dụng lúc nào, như thế nào, sưu tầm, xử lý thông tin, vẽ, ý tưởng…
- Nội dung chương trình mơn Hóa học THCS, đặc biệt là Hóa học lớp 9
mới, khó, các kiến thức liên quan chặt chẽ với nhau… nên GV khó dạy, HS khó
học.
- Sử dụng SĐTD địi hỏi mỗi người GV phải có nhiều kĩ năng khác ngồi
kĩ năng sư phạm.
- Đơi khi GV khó khăn trong việc đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của
từng HS.
- Cơ sở vật chất có đổi mới nhưng chưa thực sự phù hợp: Số HS, không
gian lớp học, trang thiết bị, đồ dùng dạy học, thời gian tiết học…
- Năng lực của từng HS không đồng đều nên đôi khi việc vẽ SĐTD trong
học tập là sự máy móc khơng hiệu quả, chưa cấp thiết .
- Tư tưởng của xã hội, gia đình và đặc biệt là HS đối với bộ mơn này đơi
khi cịn lệch lạc: chưa đầu tư, chưa dành sự quan tâm, chưa chú ý, xem thường
hoặc học cho xong.
4. Sử dụng SĐTD trong dạy Hóa học lớp 8,9.
Để thiết kế một sơ đồ tư duy đối với một bài học, chúng ta có thể thiết kế
bằng vẽ trên giấy, hoặc hệ thống kiến thức bằng sơ đồ trên bảng, hoặc dùng phần
mềm Mindmap. Với phần mềm này, giáo viên có thể xây dựng thành một giáo
án điện tử với kiến thức được xây dựng thành một sơ đồ, qua đó có thể kết hợp
để trình chiếu những nội dung cần lưu ý hay những đoạn phim có liên quan
được liên kết với sơ đồ. Trong quá trình thực hiện, phải nhấn mạnh rằng “SĐTD
7
là một công cụ phối hợp các phương pháp khác đã thực hiện thêm phần hiệu
quả, không phải là một giải pháp thay thế tất cả các phương pháp khác”. Dưới
đây là một số SĐTD minh họa được sử dụng trong chương trình Hóa học THCS
đã áp dụng có hiệu quả khi giảng dạy ở trường THCS Cao Minh.
4.1. Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc xây dựng một đơn vị kiến thức.
Hóa học là một bộ mơn khoa học nghiên cứu thực nghiệm để phát triển
các năng lực nhận thức cho HS. Tùy theo mỗi tiết học và tùy theo từng yêu cầu
về kiểm tra kiến thức, kỹ năng mà GV có thể áp dụng thêm cách hình thành kiến
thức, kỹ năng cho HS bằng cách sử dụng SĐTD. Sử dụng SĐTD vừa giúp GV
kiểm tra được phần nhận biết và phần thông hiểu của HS đối với bài học. Do
thời gian trong một tiết học chỉ 45 phút, nên các SĐTD thường sử dụng ở dạng
thiếu thông tin, u cầu HS điền các thơng tin cịn thiếu và rút ra nhận xét về
mối quan hệ giữa các nhánh thơng tin với từ khóa trung tâm.
Ví dụ 1: Bài 18: “Nhơm” - Hóa 9
Từ tính chất vật lý và hóa học chung của kim loại, GV hướng dẫn HS dựa
trên cơ sở đó vẽ SĐTD tính chất hóa học của nhôm.
Sơ đồ 1:
8
9
12
13
*SĐTD tính chất hóa học của nhơm.
14
Với kiểu dạy bài học như vậy, để hoàn thành trọn vẹn thì GV phải thường
xuyên hướng dẫn HS cách lập sơ đồ, cách ghi chép, cùng HS hoàn thiện những
nội dung kiến thức đã học bằng SĐTD nhằm đưa ra đúng, đủ những tri thức mà
HS cần nắm vững. Sau đó, HS phải trình bày được những nội dung đó, HS dưới
lớp nhận xét, bổ sung và GV là người chốt lại kiến thức.
4.2. Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức
Trong những năm học gần đây, theo định hướng của ngành về vấn đề
chống đọc chép, GV đã giới thiệu đến HS các kiểu ghi chép theo kiểu đề mục,
kiểu luận đề, kiểu tự do. Thông thường ở trường, HS thường được GV hướng
dẫn ghi chép bài theo kiểu đề cương, trích dẫn và luận đề còn cách ghi chép theo
kiểu tự do dành cho việc học chuyên đề hay dự hội thảo… Nhưng điều đáng
quan tâm là các kiểu ghi chép trên nếu được kết hợp với việc hệ thống kiến thức
bài học theo kiểu SĐTD sẽ giúp HS ghi nhớ lâu hơn, gây hứng thú và niềm đam
mê học tập hơn cho HS.
Để sử dụng SĐTD trong khi củng cố kiến thức, tổ chức các hình thức hoạt
động dạy học trên lớp cho HS:
+ Hoạt động1: HS lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân với sự gợi ý của
GV.
+ Hoạt động 2: Đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh về
SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
+ Hoạt động 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về
kiến thức của bài học. GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh
SĐTD.
+ Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà GV đã chuẩn bị
sẵn hoặc một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho HS lên
trình bày, thuyết minh về kiến thức đó.
Sử dụng SĐTD trong dạy học củng cố kiến thức giúp HS học tập một
cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả HS tham gia xây dựng bài một
cách hào hứng. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng HS
khơng chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên SĐTD), khả năng hội họa (hình thức trình
bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua
sách vở vào cuộc sống.
15
Ví dụ: Bài “ Etylen”.
Khi dạy bài này GV nên lựa chọn phương pháp vấn đáp gợi mở kết hợp với vẽ SĐTD thực hiện trong phần củng cố
bài học.
16
Cho dù có thực hiện theo cách nào, quan trọng nhất là sau đó HS phải lên
trình bày, thuyết trình thơng qua SĐTD mà HS hoặc nhóm đã hồn thành, các
HS hoặc nhóm khác nhận xét, bổ sung, GV là người cố vấn, trọng tài giúp HS
hoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến những kiến thức trọng tâm của bài.
4.3. Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc hướng dẫn HS giải một số dạng
bài tập hóa học
Mục tiêu chung của mơn Hóa học trong nhà trường phổ thơng là HS tiếp
thu kiến thức, tri thức khoa học cơ bản quan trọng trong tự nhiên và đời sống.
Trên cơ sở hình thành và phát triển nhân cách của một công dân, phát triển các
tiềm năng, các năng lực sẵn có và các năng lực chun biệt của mơn hóa học
như : Năng lực sử dụng ngơn ngữ hóa học, năng lực thực hành hóa học, năng lực
phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực tính tốn, năng lực vận dụng kiến thức
hóa học vào cuộc sống. Bài tập hóa học ở THCS có rất nhiều dạng khác nhau,
dưới đây là một số dạng sơ đồ tư duy vậ dụng vào hướng dẫn giải bài tập.
17
*Dạng sơ đồ bài tập thứ nhất:
18
*Dạng sơ đồ bài tập thứ hai
19
*Dạng sơ đồ bài tập thứ ba
Sơ đồ 1
20
Sơ đồ 2
21
Mặc dù khi sắp xếp, các em chưa sắp xếp theo hệ thống kiến thức yêu
cầu, cần có sự góp ý của bạn, nhưng tôi nhận thấy các em rất hứng thú khi được
học, tự tin khi thuyết trình trước mọi người về SĐTD của nhóm mình hoặc của
bản thân hoặc của nhóm khác, bạn khác. Từ đó, GV khuyến khích, gợi mở,
hướng dẫn các em đúng sơ đồ chuẩn. Bên cạnh đó, tơi cũng phát hiện ở các em
có nhiều sáng tạo rất hay trong việc sắp xếp các thể ơn bài ở ví dụ minh họa
trên.
Tuy nhiên, sau khi HS đã nắm được cách thức, nguyên tắc xây dựng
SĐTD thì khơng phải tiết nào cũng củng cố bằng SĐTD như vậy sẽ gây nhàm
chán, mất thời gian. Vì vậy một biện pháp khác tôi đưa ra là sau khi HS đã làm
bài tập, trả lời các câu hỏi phần củng cố thì dùng máy chiếu cho hiển thị từ khóa
trung tâm sau đó phát vấn HS về những nội dung đã học trong bài, dùng hiệu
ứng của phần mềm PowerPoint lần lượt đưa ra theo mục đích giảng dạy.
Qua nhiều bài củng cố như cách thực hiện ở trên, tôi nhận thấy các em
nhớ bài nhanh hơn, từng bước xây dựng được kĩ năng diễn giải. Song song với
việc củng cố bài học, khi HS đã hoàn thành sơ đồ tóm tắt, tơi thường dành vài
phút đề phân tích nhằm khắc sâu kiến thức qua các từ khóa của sơ đồ, cũng như
hướng dẫn các em kết nối các từ khóa đó. Bởi mục đích cuối cùng là giúp các
em có thể liên kết các bài có kiến thức liên quan được hệ thống thành một
SĐTD hoàn hảo.
4.4. Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy tiết luyện tập.
Trước đây, các tiết luyện tập chương một số GV cũng đã lập bảng biểu, vẽ
sơ đồ, biểu đồ,… và cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của GV
hoặc của tài liệu, chứ không phải do HS tự xây dựng theo cách hiểu của mình.
Hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc, đường nét.
Bài ôn tập không phải chỉ là sự tái hiện, giảng lại kiến thức cho HS mà
phải thể hiện được sự hệ thống hóa, khái quát hóa và vận dụng, nâng cao toàn
diện kiến thức của phần cần ơn tập cho HS. Vì vậy, có thể thấy SĐTD là một
công cụ khá mạnh trong những tiết bài tập, ôn tập. Dưới đây là một trong những
SĐTD tôi đã xây dựng để HS tham khảo khi học bài “Luyện tập chương 1”.
22
23
5. KẾT QUẢ SAU KHI THỰC NGHIỆM GIẢI PHÁP
Khối
9
8
Số học Hứng thú học bộ mơn Hóa
sinh
học
SL
TL
96
81
84,4%
42
33
76,7%
Khơng hứng thú học bộ mơn
Hóa học
SL
TL
15
15,6%
9
23,3%
Như vậy, qua phân tích số liệu thu được, có thể nhận thấy:
- Tỉ lệ học sinh khá giỏi ở lớp đối chứng 9B thay đổi không nhiều ở cả
ba giai đoạn: trước - trong - kết thúc quá trình thực hiện đề tài.
- Trên lớp thực nghiệm 9A, tỉ lệ học sinh khá, giỏi có sự thay đổi theo
chiều hướng tăng lên rõ rệt; tỉ lệ học sinh có học lực trung bình giảm mạnh khi
so sánh các giai đoạn trước - trong - kết thúc quá trình thực hiện đề tài.
- Việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực- xây dựng sơ đồ tư duy đã
góp phần cải thiện đáng kể chất lượng học tập của học sinh, đặc biệt là những
học sinh khơng có năng khiếu học các mơn khoa học tự nhiên trong đó có mơn
Hóa học.
8. Thơng tin cần được bảo mật:
Khơng
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến.
Cơ sở vật chất: Sách giáo khoa, SGV, sách tham khảo.
Giáo viên: các giáo viên dạy mơn hóa học.
Học sinh: khối 9 và lớp 8B
10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp
dụng sáng kiến lần đầu,kể cả áp dụng thử (nếu có) theo các nội dung sau:
10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý của tác giả:
Sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở, nên đa số học sinh hứng thú với việc sử
dụng sơ đồ tư duy trong quá trình học tập. Sơ đồ tư duy không chỉ giúp học sinh
thấy thoải mái hơn trong giờ Hóa học, mà cịn giúp phát huy được tính sáng tạo
của học sinh, kích thích học sinh suy nghĩ tích cực hơn, tăng khả năng tư duy
24
của học sinh và rèn kỹ năng trình bày kiến thức theo một hệ thống logic, giúp
ghi nhớ kiến thức được lâu hơn và tiết kiệm được nhiều thời gian ôn tập.
Việc sử dụng phương pháp thuyết trình dựa trên sơ đồ tư duy đã phát huy
được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, rèn kỹ năng mạnh dạn và tự
tin khi trình bày trước đám đơng.
Mặt khác, trong quá trình giảng dạy, việc sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp
linh hoạt với nhiều phương pháp học khác sẽ tạo hứng thú trong giờ học, phát
huy tính chủ động của học sinh, học sinh ghi nhớ bài lâu hơn nhờ tác dụng của
sơ đồ tạo hình sinh động và khoa học. Ngồi ra cịn tiết kiệm thời gian trong q
trình ơn tập và củng cố kiến thức.
Theo ý kiến chủ quan, GV có thể phân ra 5 cấp độ cho HS khi học theo
SĐTD:
Cấp độ 1: HS quan sát SĐTD theo mẫu đã vẽ sẵn.
Cấp độ 2: HS tái hiện lại SĐTD sau khi đã quan sát, đã học về kiến thức
cần trình bày trong SĐTD.
Cấp độ 3: HS tự vẽ được SĐTD sau khi đã học xong nội dung kiến thức.
Cấp độ 4: HS tự đọc kiến thức mới và tự tổng kết được bằng SĐTD.
Cấp độ 5: HS trình bày được các nội dung kiến thức đã học, đã tìm hiểu
mà khơng cần bất kì tài liệu nào.
Hi vọng các GV, HS sẽ sử dụng SĐTD để hệ thống kiến thức một cách
vững vàng hơn khơng những ở bộ mơn Hóa học mà có thể vận dụng được cho
tất cả các bộ môn khác. Ngồi ra, có thể áp dụng dạng SĐTD này vào trong
cuộc sống hằng ngày như lập kế hoạch, thời gian làm việc hay vẽ ra những lựa
chọn cho tương lai…
Bằng những kinh nghiệm giảng dạy, qua những bài học thu được trong
việc dự giờ các đồng nghiệp, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của Ban giám hiệu
nhà trường, của tổ chun mơn, tơi đã hồn thành chun đề :"Sử dụng SĐTD
trong dạy- học Hóa học THCS" .
Tơi rất mong nhận được sự đóng góp của các đồng nghiệp để vốn kinh
nghiệm giảng dạy của tôi được phong phú hơn.
9.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân:
25
Với chuyên đề: “Sử dụng SĐTD trong dạy – học Hóa học THCS” tơi đã
nêu ra được phương pháp đổi mới trong dạy –học Hóa học và một số bài tập
dùng SĐTD.
Sáng kiến kinh nghiệm này khi triển khai ở tổ bộ mơn cấp trường được
các giáo viên đón nhận hưởng ứng nhiệt tình, đánh giá cao.
Sau khi dự buổi tập huấn triển khai sáng kiến các giáo viên trong tổ bộ
môn đều nhận thấy đây là một sáng kiến có ích trong việc nâng cao trình độ
chun mơn cho giáo viên và thuận lợi trong công tác giảng dạy cũng như việc
học tập của học sinh. Mỗi giáo viên đều đón nhận sáng kiến này làm tài liệu
giảng dạy cho mình.
Khi áp dụng sáng kiến này trong giảng dạy được các em học sinh tiếp thu
một cách hào hứng, các em hiểu bài và nắm vững các phương pháp để vận dụng
vào giải từng bài tập cụ thể.
Những kinh nghiệm nêu trong đề tài đã phát huy rất tốt năng lực tư duy,
độc lập suy nghĩ cho đối tượng học sinh giỏi. Các em đã tích cực hơn trong việc
tham gia các hoạt động xác định hướng cách học và tìm kiếm hướng giải cho
các bài tập. Bên cạnh đó học sinh đại trà cũng tự tin hơn khi áp dụng làm các bài
tập.
Với kinh nghiệm cá nhân chưa nhiều, tơi rất mong nhận được sự quan tâm,
đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp đề sáng kiến của tơi ngày càng được hồn
thiện và nhân rộng hơn.
10. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp
dụng sáng kiến lần đầu.
Số Tên tổ chức/cá
TT
1
nhân
Địa chỉ
Phạm vi/Lĩnh vực
áp dụng sáng kiến
Giáo viên dạy Trường THCS Hồng Lâu Sử dụng sơ đồ tư duy trong
Hóa học
Tam Dương – Vĩnh Phúc dạy- học Hóa học THCS
26
2
Học sinh các
khối 8,9
Hoàng Lâu, ngày
Trường THCS Hoàng Lâu Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy
Tam Dương – Vĩnh Phúc – học Hóa học THCS
tháng 3 năm2019
Hồng Lâu, ngày 2 tháng 3 năm 2019
Thủ trưởng đơn vị
Tác giả sáng kiến
(Ký tên, đóng dấu)
(Ký, ghi rõ họ tên)
Nguyễn Việt Trung
Nguyễn Thị Phương Hoa
27