Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

Tiểu luận: vận dụng nguyên lý về sự phát triển trong xu hướng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.57 KB, 20 trang )

MỤC LỤC
Lời mở đầu
Mở đầu
Nội Dung
Chương 1: Nguyên lý sự phát triển
1.1 Định nghĩa
1.2 Tính chất
1.3 Ý nghĩa
Chương 2: Lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp
2.1 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất
2.2 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai
2.3 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba
2.4 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Chương 3:Tác động cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với giáo dục và sinh
viên
3.1 Tác động tích cực
3.2 Tác động tiêu cực
Chương 4: Định hướng phát triển của giáo dục trong cuộc cách mạng 4.0
4.1 Đối với giảng viên và nhà trường
4.2 Đối với sinh viên
Kết luận
Tài liệu tham khảo


Lời mở đầu
Bầu khơng khí của thế giới đang trở nên ảm đạm hơn bao giờ hết, đại dịch Covid-19 đang khiến
tồn cầu lo ngại khơng chỉ về số ca nhiễm bệnh, tử vong mà còn khiến nền kinh tế thế giới rơi
vào tình trạng suy thối. Covid cũng đã tác động không nhỏ lên cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ 4, hay Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Những bước tiến mà nó đã đi qua được coi là điểm
sáng máng tính đột phá trong tình hình dịch bệnh diễn biến khó lường. Quy trình làm việc từ xa
và tự động hố khơng cịn là mục tiêu mà kết hợp cùng với công cuộc chuyển đổi số, chuyển đổi


công nghệ để trở thành yêu cầu cấp thiết, giúp các doanh nghiệp bảo tồn doanh thu, giúp mọi đất
nước theo đuổi và nắm bắt được nó, duy trì và khơi phục nhanh chóng nền kinh tế trong thời đại
bình thường mới và cả chặng đường dài phía sau.
Đây được xem là thách thức không nhỏ dành cho đất nước Việt Nam chúng ta trong q trình hội
nhập tồn cầu, cơng cuộc cách mạng hoá, hiện đại hoá mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Đây là cơ
hội để đất nước ta tận dụng triệt để những thế mạnh vốn có của đất nước mà trong đó khơng thể
khơng nhắc tới thế hệ trẻ sinh viên đầy nhiệt huyết và cống hiến bên cạnh sự năng động, thơng
mình và sáng tạo của người Việt Nam ta.
Bài tiểu luận của chúng em với đề tài: ” Vận dụng nguyên lý về sự phát triển trong cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0”, được thực hiện với mong muốn tìm hiểu, phân tích những mặt
tích cực, chỉ ra những điểm hạn chế mà cuộc cách mạng này tác động đến sinh viên Việt Nam.
Thông qua những tri thức mà thế hệ trước đã để lại và giảng dạy cụ thể là với những bài báo, tư
liệu mà chúng em tìm thấy để từ đây bài tiểu luận đề cập và chỉ ra những phương pháp cho sinh
viên để phát huy hết khả năng của mình trong việc phát huy những mặt tích cực, khắc phục tối đa
những rủi do, những hạn chế của cách mạng cơng nghiệp 4.0.
Bài tiểu luận của chúng em có thể sẽ khơng hồn thành nếu thiếu đi sự chỉ dạy tận tình và kịp
thời của cơ PGS.TS. Mai Thị Thanh. Chúng em xin chân thành cảm ơn cô đã giúp chúng em
hồn thiện bài tiểu luận này.
Trong q trình làm bài, khơng thể tránh khỏi những thiếu sót do kiến thức cịn hạn hẹp, kính
mong thầy cơ, bạn đọc phê bình và góp ý cho nhóm chúng em.
Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ:


Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài

1.1 Lý do khách quan:
Việt Nam đang trong q trình cơng nghiệp hố hiện đại hố đất nước thì việc phát triển
cơng nghệ và đẩy nhanh q trình chuyển đổi số, chuyển đổi cơng nghệ là điều tất yếu. Với
sự thúc đẩy của đại dịch Covid và những vấn đề liên quan thì hiện nay cuộc cách mạng công

nghiệp lần thứ 4 này đang diễn ra sơi nối, mạnh mẽ và nhanh chóng hơn bao giờ hết. Sự quan
tâm của toàn thế giới, trong đó có Việt Nam cho cuộc cách mạng này là vơ cùng lớn vì nó
hứa hẹn mang tới những bước phát triển vững chắc thậm chí là những cú nhảy vọt thần kì
cho một đất nước hay khu vực làm chủ được. Phạm vi ảnh hưởng của CMCN 4.0 lên một đất
nước, khu vực là đa diện, đa dạng trên nhiều lĩnh vực như: kinh tế-xã hội, từ công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ, tài chính, ngân hàng, y tế, lao động, giao thơng cho đến doanh nghiệp
thậm chí là cả những đơn vị nhỏ như địa phương cũng sẽ chịu tác động. Đây là thách thức
lớn dành cho đất nước của chúng ta cũng như tham vọng mong muốn của mọi đất nước trên
tồn thế giới song nhìn vào lịch sử hào hùng của dân tộc, sự phát triển và liên tiếp hồn thành
thậm chí là vượt chỉ tiêu cho sự phát triển của đất nước mà Đảng nhà nước đã đề ra, hay mới
đây là cách mà đất nước chúng ta trở thành ngọn “hải đăng” hay “lá cờ đầu” soi sáng, dẫn lối
cho một hệ thống, công tác phòng chống, ngăn chặn, đầy lùi dịch bệnh hiệu quả, dù đất nước
cịn nhiều khó khăn. Sự tán dương của cộng động quốc tế là minh chứng cho thấy Việt Nam
ta có đủ khả năng và sự tự tin cần thiết cho sự theo đuổi, lĩnh hội và làm chủ cuộc CMCN lần
này.
1.2 Lý do chủ quan:
Ở những cơ quan trên, hàng ngày là sự nghiên cứu bài bản, chặt chẽ của biết bao những
hiền tài đất nước song là thế sinh viên-một phần nguồn lực của đất nước, đặc biệt là sinh viên
Bách Khoa – ngôi trường luôn tiên phong, và sản sinh ra những kĩ sư tài năng, đầy nhiệt
huyết, cống hiến hết mình vì Tổ quốc, thì chúng em cũng nhận thấy trách nhiệm của mình và
cùng với sự mong muốn đóng góp một chút bé nhỏ vào đại cục của đất nước, chúng em đã
lựa chọn, cùng nhau thảo luận, tìm hiểu, nghiên cứu và quyết định làm tiểu luận về đề
tài:”Vận dụng nguyên lý về sự phát triển trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” .
2. Tổng quan đề tài

Cuộc CMCN 4.0 xuất hiện như một lẽ tất yếu trong dòng chảy phát triển của tồn nhân
loại, của tồn cầu. Dù đề tài khơng được viết ra từ những ngày đầu xuất hiện của khái niệm về
CMCN 4.0 bởi đề tài này xuất hiện sớm từ trước và từ những năm 2017 thì đề tài này đã xuất
hiện một cách liên tục và đều đặn, cụm từ CMCN 4.0 vơ hình đi vào trong suy nghĩ của bạn đọc
cũng như của bao nhiêu thế hệ người dân từ trẻ nhỏ cho tới cụ già, từ nông thôn ra tới thành thị.

Cùng với truyền thông, thông tấn thì trên các trang báo cũng đã xuất hiện những bài viết bàn
luận về vấn đề này như “Vượt sóng” cách mạng cơng nghiệp 4.0 “ của báo nhandan.com.vn,
“Cách mạng công nghiệp 4.0: những mặt lợi hại ai cũng cần phải biết” (www.baomoi.com) nói
lên lợi ích của robot trong nân cao năng suất lao động, mặt khác cũng đặt ra vấn đề về tình trạng
thất nghiệp, vấn đề về bất ổn chính trị xã hội. Hay bài báo “Trí tuệ nhân tạo – nỗi lo sợ của tương


lai” (vtv.vn) nêu lên mối quan ngại về trí tuệ nhân tạo với tương lai. Song sau ngần ấy thời gian,
cụm từ “CMCN 4.0 “ vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, và nghiên cứu về đề tài này, bài viết sẽ là
những góc nhìn chân thực nhiều góc độ, khía cạnh của chính những sinh viên, tân sinh viên những thế hệ trẻ tương lai về cuộc “Cách mạng” đặc biệt này.
3. Mục đích nghiên cứu

"Cách mạng Cơng nghiệp 4.0" đang diễn ra tại nhiều nước phát triển. Nó mang đến cho
nhân loại cơ hội để thay đổi bộ mặt các nền kinh tế, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro khôn lường?
Như đã đề cập, khái niệm "Cách mạng Công nghiệp 4.0" được nhắc đến nhiều trên truyền
thông và mạng xã hội trong những năm trở lại đây. Cùng với đó là những hứa hẹn về cuộc "đổi
đời" của các doanh nghiệp tại Việt Nam nếu đón được làn sóng này. Vậy cuộc cách mạng này
nên được hiểu như thế nào?
Để trả lời câu hỏi đó bài tiểu luận sẽ cho bạn đọc đi từ những khái niệm, vấn đề nhỏ nhất
cho tới mục đích chính của sự ra đời bài tiểu luận này:





Phân tích, làm rõ ngun lý về sự phát triển.
Tìm hiểu về các cuộc cách mạng cơng nghiệp đã qua.
Phân tích các tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với sinhviên và nền
giáo dục hiện nay.
Tìm ra phương pháp, định hướng để phát triển mặt tích cực đồng thời hạnchế các mặt

tiêu cực của cuộc cách mạng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của bài viết là “Cách mạng công nghiệp 4.0” và các đối tượng mà
cuộc CMCN này tác động đến. Cụ thể thì ở đây, bài tiểu luận chủ yếu nghiên cứu những tác động
của cuộc “Cách mạng công nghiệp 4.0” đối với sinh viên Việt Nam đề từ đó hồn thành mục
đích chung mà đề tài muốn hướng đến đã được nêu trên.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Bài tiểu luận chủ yếu nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp và phương
pháp nghiên cứu lý luận.
6. Đóng góp của đề tài

Bài tiểu luận là sự tìm hiểu, nghiên cứu và thảo luận của nhóm để trang bị cho chính bản
thân những hiểu biết về cơ hội và thách thức mà cuộc CMCN 4.0 đề ra. Song ở đó cũng là mong
muốn góp một phần nhỏ giúp sinh viên, những bạn bè đồng trang lứa khác nhận biết sâu sắc
được tầm quan trọng của cuộc “Cách mạng Công nghiệp 4.0” đối với nền công nghiệp, kinh tế
cũng như nhiều vấn đề cấp thiết khác của đất nước. Từ đó nâng cao kiến thức cùng kỹ năng để
phát triển nền công nghiệp nước nhà, nâng cao đời sống xã hội.
7. Kết cấu của đề tài


Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung đề tài bao gồm 4 chương và 11
tiết.
Nội Dung

Chương 1: Nguyên lý của sự phát triển
1.1 Định nghĩa


Đề cập tới định nghĩa của sự phát triển là đề cập về những quan niệm khác nhau, xem xét về
sự phát triển cũng xuất hiện những quan điểm đối lập:
Theo quan điểm siêu hình, sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi một cách đơn thuần về
mặt “lượng”, khơng có sự thay đổi gì về mặt “chất” của sự vật. Người theo quan điểm siêu hình
coi tất cả “chất” của sự vật khơng có sự thay đổi gì trong suốt quá trình tồn tại của chúng: sự vật
ra đời như nào thì trong tồn bộ q trình tồn tại của nó “chất” vẫn được giữ nguyên hoặc nếu có
sự thay đổi thì cũng chỉ diễn ra theo một vịng khép kín. Họ cũng xem sự phát triển chỉ là sự thay
đổi về mặt “lượng” của từng loại mà sự vật vốn có, chứ khơng có sự sinh thành ra cái mới với
những vật chất mới. Sự phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục, khơng có quanh co,
thăng trầm, phức tạp. Thử hình dùng, khi nhìn vào và đánh giá thu nhập của dân cư sau một thời
giời gian thì với họ: thu nhập tăng hay giảm chỉ đơn thuần là sự tăng lên hay giảm đi về số
lượng, chênh lệch của thu nhập năm này với năm khác, ở mốc thời gian này với mốc thời gian
khác, trong một quá trình điều họ đánh giá chỉ là nó đã tăng lên hoặc nó đã giảm đi.
Đối lập với quan điểm siêu hình, quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là một q
trình tiến lên từ thấp đến cao, q trình đó diễn ra khi dần dần, khi nhảy vọt, để từ đó trong chính
bản thân sự vật xuất hiện,đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cho cái cũ. Với họ, dù trong hiện
thực khách quan hay tư duy, sự phát triển là một quá trình rất quanh co và phức tạp, thậm chí có
cả những bước lùi tạm thời. Họ quan niệm: phát triển là quá trình thay đổi dần dần về lượng tới
một mức nhận định, tích luỹ đủ sẽ dần đến sự thay đổi về chất và q trình đó diễn ra theo đường
xốy ốc, trong q trình phát triển của mình, sự vật ấy có quay trở về điểm khởi đầu song trên cơ
sở mới cao hơn, cái kém hoàn thiện được thay thế bởi cái hồn thiện hơn.
Sự phát triển cịn thể hiện rất khác nhau trong hiện thực, tuỳ theo hình thức tồn tại cụ thể của
các dạng vật chất, ở giới vô cơ hay giới hữu cơ, nhưng sau cùng sự phát triển vẫn là ở đó sự vật
mới ra đời thay thế sự vật cũ, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp, từ kém hồn thiện đến hồn thiện hơn, q trính diễn ra theo đường xoắn ốc và là hiện
tượng không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội, trong bản thân con người, trong tư duy. Nếu
xem xét cá biệt thì có những vận động đi lên, vận động tuần hồn, thậm chí là vận động đi
xuống. Song nếu xét cả q trình vận động với khơng gian rộng và thời gian dài thì vận động đi
lên là khuynh hướng chung của mọi sự vật.
1.2 Tính chất của sự phát triển

1.2.1 Tính khách quan


Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan. Bởi, theo quan điểm duy vật biện
chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó là q trình giải quyết
liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật. Nhờ đó sự vật ln
ln phát triển, khơng phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý thức của con người. Sự vật
vẫn luôn phát triển theo khuynh hướng chung của thế giới vật chất. Hãy cùng xem q trình phát
sinh của một giống lồi mới: dễ dàng thấy được quá trình này diễn ra một cách khách quan theo
quy luật của tự nhiên. Con người muốn tạo ra một giống lồi mới thì cũng phải nhận thức và làm
theo quy luật đó.
1.2.2

Tính phổ biến

Sự phát triển mang tính phổ biến. Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra
ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách
quan. Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực hoặc đúng hơn, mọi hình thức của
tư duy cũng luôn phát triển. Chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là
các khái niệm và các phạm trù mới có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động và phát
triển. Xem xét thì trong giới tự nhiên, đó là sự phát triển của thế giới vật chất vô cơ đến hữu cơ;
từ vật chất chưa có năng lực sống đến sự phát sinh các cơ thể sống và tiến hoá dần lên các cơ thể
có cơ cấu sự sống phức tạp hơn – sự tiến hố của các giống lồi làm phát sinh các giống loài thực
vật và động vật mới đến mức có thể làm phát sinh lồi người với các hình thức tổ chức xã hội từ
đơn giản đến trình độ tổ chức cao hơn; cùng với quá trình đó cũng là q trình khơng ngừng phát
triển nhân thức của con người từ thấp đến cao…
1.2.3

Tính đa dạng phong phú


Khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng. Song
mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có q trình phát triển khơng giống nhau. Tồn tại ở không gian
khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau. Đồng thời trong q trình phát
triển, sự vật cịn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện.
Sự tác động đó có thể thúc đẩy, kìm hàm sự phát triển của sự vật, đơi khi có thể làm thay đổi
chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi. Chẳng hạn nói chung, ngày
nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về thể chất lẫn trí tuệ do với trẻ em các thế hệ trước do chúng
được thừa hường những thành quả, những điều kiện thuận lợi mà xã hội mang lại. Hay với chính
đề tài tiểu luận đây, thì cùng là ngành cơng nghiệp nhưng vào thế kỉ 18-19, công nghiệp phát
triển chủ yếu trong ngành dệt, luyện kim, giao thông vận tải, vào cuối thể kỉ 19, công nghiệp in
ấn, đông cơ đốt trong phát triển, vào TK 20 , khoa học công nghệ phát triển, và vào thời điểm
hiện tại, công nghiêp 4.0 bùng nổ với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật.
1.2.4 Tính kế thừa có chọn lọc
Mọi sự vật, hiện tượng phát triển kế thừa, phát huy những mặt tích cực, tốt đẹp, loại bỏ
những mặt xấu, hạn chế ở những sự vật, hiện tượng trước đó. Giống như cách mà cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ 2 phát triển động cơ đốt trong giúp chế tạo ô tô, xe máy, tốc độ nhanh
hơn, bền hơn so với xe ngựa trước đó. CMCN 4.0 sẽ phát huy vai trị cúa robot, của tự động hoá
thay thế sức người bằng sức robot với năng suất cao hơn, độ hiệu quả, chính xác cao hơn so với
trước đó.


1.2.5 Tính phức tạp
Q trình phát triển mang tính quanh co, phức tạp, thậm chí có thụt lùi, khuynh hướng mang
hính xoắn trơn ốc, có khi đổi chiều hướng phát triển.
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận

Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật
hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, do đó khi nhận thức về sự vật, hiện tượng
chúng ta phải có quan điểm tồn diện, tránh quan niệm phiến diện chỉ xét sự vật hiện tượng ở
một mối liên hệ đơn lẻ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của chúng. Câu

truyện ngụ ngơn “ Thầy bói xem voi” có thể xem là một bài học đắt giá cho quan điểm này.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các
bộ phận, giữa các mặt, yếu tố của chính sự vật và trong tác động qua lại với sự vật khác bao gồm
cả trực tiếp và gián tiếp. Chỉ có trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật.
Quan điểm tồn diện địi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới
mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên,… để hiểu
rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động hiệu quả nhằm đem lại hiểu quả cao nhất
trong hoạt động của bản thân.
Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật, mà còn
phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được những biến đổi
đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi. Song cơ bản là phải khái quát những biến
đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật. Điều này có thể xem là then chốt tất yếu
cho quá trình nắm bắt, hội nhập và theo kịp tốc độ bùng nổ của cuộc CMCN 4.0 đang được nhắc
tới.
Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động
nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta.
Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động
thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân của chúng ta. Đối với sinh viên, ngay từ khi
ngồi trên ghế nhà trường, vẫn có thể sử dụng các nguyên tắc phương pháp luận đó vào việc thực
hiện nhiệm vụ chính trị của mình, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, xã hội ta
ngày càng tươi đẹp.
Chưa hết, ý nghĩa của phương pháp luận còn nằm trong quan điểm lịch sử - cụ thể, quan
điểm này đỏi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện,
hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, mơi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển. Một
luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không phải là luận điểm
khoa học trong điều kiện khác. Khi xem xét các hệ thống triết học bao giờ cũng phải xem xét
hoàn cảnh ra đời và phát triển của các hệ thống đó.
Quay về với đề tài “CMCN 4.0”, khi xác định một đường lối, chủ trương của từng giai đoạn
cách mạng, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể



của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn và từng thời kì đó,
đồng thời cũng khơng qn việc bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến từng hồn
cảnh.

Chương 2: Lịch sử các cuộc cách mạng
cơng nghiệp
2.1 ĐỊNH NGHĨA
- Cách mạng: là xóa bỏ cái cũ để thay thế bằng cái mới tiến bộ
hơn, là một sự thay đổi sâu sắc, thường là xảy ra trong một thời
gian tương đối ngắn. Các cuộc cách mạng có thể dẫn đến thay
đổi trong các thể chế chính trị - xã hội, hoặc thay đổi lớn trong
một nền kinh tế, văn hóa, cơng nghiệp,...
- Cách mạng cơng nghiệp: là cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản
xuất, là sự thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa
và kỹ thuật, xuất phát từ nước Anh sau đó lan tỏa ra tồn thế
giới.
2.2 CÁC CUỘC CÁCH MẠNG CƠNG NGHIỆP TRONG
LỊCH SỬ
2.2.1 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất
2.2.1.1 Nội dung
- Bắt đầu vào khoảng năm 1784. Đặc trưng của cuộc cách mạng
công
nghiệp lần thứ nhất là việc sử dụng năng lượng nước, hơi nước và

giới hóa sản xuất.
- Đánh dấu bởi dấu mốc quan trọng là việc James Watt phát minh
ra
động cơ hơi nước năm 1784, châm ngòi cho sự bủng nổ công
nghiệp

thế kỷ 19 lan rộng từ Anh đến Châu Âu và Hoa Kỳ, thay đổi toàn bộ
bộ mặt của ngành dệt thủ công, từ lao động chân tay trở thành


ngành công nghiệp với những nhà máy dệt quy mô lớn. Ngành
luyện kim có những bước tiến lớn do nhu cầu chế tạomáy móc cho
ngành dệt. Giao thơng vận tải phát triển với chiếc đầu máy xe lửa
chạy bằng hơi nước đầu tiên ra đời năm 1814.
2.2.1.2 Ý nghĩa
- Mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử của nhân loại – kỷ ngun
của
sản xuất cơ khí, cơ giới hóa, thay thế hệ thống kỹ thuật cũ của thời
đại
nông nghiệp bằng một hệ thống kỹ thuật mới với nguồn lực là máy
hơi
nước và nguồn nguyên, nhiên vật liệu và năng lượng là sắt và than
đá.
2.2.2 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai
2.2.2.1 Nội dung
- Diễn ra từ khoảng năm 1870 đến khi Thế Chiến I nổ ra. Đặc trưng
của
cuộc cách mạng lần này là việc sử dụng năng lượng điện và sự ra
đời
của các dây chuyền sản xuất hàng loạt trên quy mô lớn.
2.2.2.2 Ý nghĩa
- Tạo nên những tiền đề mới và cơ sở vững chắc để phát triển nền
công
nghiệp ở mức cao hơn nữa.
- Mở ra kỷ nguyên sản xuất hàng loạt, được thúc đẩy bởi sự ra đời
của

điện và các dây chuyền lắp ráp.
2.2.3 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba
2.2.3.1 Nội dung
- Xuất hiện vào khoảng từ 1969, với sự ra đời và lan tỏa của công
nghệ
thông tin, sử dụng điện tử và công nghệ thơng tin để tự động hóa
sản


xuất.
- Thường được gọi là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số
bởi
vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy
tính,
máy tính cá nhân và Internet. Cho đến cuối thế kỷ 20, quá trình
nàu cơ bản hồn thành nhờ những thành tựu khoa học cơng nghệ
cao. Năm 1997, cuộc khủng hoảng tàu chính châu Á nổ ra đánh
dấu cuộc cách mạng lần thứ ba kết thúc.
2.2.3.2 Ý nghĩa
- Tạo điều kiện tiết kiệm các tài nguyên thiên nhiên và các nguồn
lực xã
hội, cho phép chi phí tương đối ít hơn các phương tiện sản xuất để
tạo
ra cùng một khối lượng hàng hóa tiêu dùng.
- Làm thay đổi tận gốc lực lượng sản xuất, cuộc Cách mạng KH&CN
hiện đại đã tác động tới mọi lĩnh vực đời sống xã hội loài người.
2.2.4 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
2.2.4.1 Nguồn gốc:
- Công nghiệp 4.0 khởi nguồn từ một dự án công nghệ cao
của chính phủ Đức năm 2013, thúc đẩy xu hướng tự động hóa và

trao
đổi dữ liệu trong cơng nghệ sản xuất.
- Đây là cuộc cách mạng số chuyển hóa thế giới thực thành
thế giới ảo với các công nghệ như Internet vạn vật, trí tuệ
nhân tạo, thực tế ảo, phân tích dữ liệu lớn,...
- Dự báo trong tương lai, do hệ quả của cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0, robot sẽ thay thế phần lớn con người trong các
nhà máy sản xuất với độ chính xác gần như tuyệt đối và đạt
năng suất cao gấp nhiều lần so với con người, trí tuệ nhân
tạo giúp con người tạo những đột phá trong y học, chữa
nhiều căn bệnh nan y, sáng tạo ra nhiều tri thức, phát minh
mới...
2.2.4.2 Bản chất:
- Dựa trên nền tảng cơng nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ
thông


minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất.
- Là xu hướng hiện tại của tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong
cơng
nghệ sản xuất. Nó bao gồm các hệ thống mạng vật lý, mạng
Internet
kết nối vạn vật và điện tốn đám mây.
Khơng chỉ là về các máy móc, hệ thống thơng minh và được kết
nối,
mà cịn có phạm vi rộng lớn hơn. Đồng thời là các làn sóng của
những
đột phá xa hơn trong các lĩnh vực khác nhau từ mã hóa chuỗi gen
cho
tới cơng nghệ nano, từ các năng lượng tái tạo tới tính tốn lượng tử.


CHƯƠNG 3: Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0
đối với giáo dục và sinh viên
3.1 Tác động tích cực
- Cuộc cách mạng 4.0 xuất hiện, mang tới muôn vàn ảnh hưởng mạnh mẽ đối
với nền giáo dục, học tập, giúp việc giảng dạy truyền thống phát triển từ bảng
đen, phấn trắng sang bảng trắng, máy chiếu và xa hơn nữa là sinh viên có thể
học tập hồn tồn tại nhà chỉ với chiếc máy tính có kết nối tới mạng Internet.
3.1.1 Đối với sinh viên
3.1.1.1. Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động về kiến thức kỹ năng và tâm
thế của sinh viên.
- Vì bản chất của cuộc cách mạng là việc sử dụng trí tuệ nhân tạo, vạn vật kết
nối và dữ liệu lớn, nên trong giáo dục, những yếu tố này hồn tồn có khả năng
được áp dụng hiệu quả. Chất lượng học tập và thực hành sẽ có những bước cải
tiến lớn.
- Việc truy cập Internet trở nên phổ biến, thông dụng với mọi người tạo điều
kiện để sinh viên dễ dàng tìm kiếm kho dữ liệu thông tin khổng lồ trên thế giới
và ở Việt Nam. Nhờ vậy, sinh viên có thể tự tìm hiểu kiến thức dưới sự hướng
dẫn của giảng viên và hoàn thành được mục tiêu giáo dục của mình.


- Sinh viên được tiếp cận nhiều tài liệu bằng tiếng nước ngồi để có góc nhìn
sâu sắc, đa chiều về vấn đề tiếp cận. Điều này đã hình thành trong sinh viên kĩ
năng tìm kiếm và chọn lọc thơng tin, xây dựng kĩ năng tư duy phản biện.
- Xu thế cách mạng đòi hỏi sinh viên phải là người chủ động, tích cực học tập
và rèn luyện bản thân, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình. Việc
quản lí của giảng viên khơng cịn bị gị bó, thậm chí giảng viên chỉ cịn là
người hướng dẫn, định hướng việc học tập của sinh viên.
- Nhờ cách mạng cơng nghiệp 4.0, sinh viên có thể học tập,
lĩnh hội kiến thức bằng những phương pháp mở rộng, tự do,

sáng tạo và vô cùng linh hoạt, chủ động học ở bắt cứ khi nào,
bất cứ nơi đâu, như vậy sẽ kích thích sự sáng tạo và trí tưởng
tượng của sinh viên hơn là việc học thuộc lòng.
- Là cơ hội để sinh viên phát triển các kĩ năng cần thiết như
kĩ năng ngoại ngữ, kĩ năng giao tiếp, ứng xử và kĩ năng làm
việc nhóm:
+ Cuộc cách mạng giúp khoảng cách giữa con người nhỏ đi
trông thấy, các sinh viên từ nhiều quốc gia có thể dễ dàng
trao đổi tin tức với nhau. Vì vậy, sinh viên có thể dễ dàng
gặp gỡ, giao tiếp với nhiều người khác nhau để trau dồi kĩ
năng giao tiếp, ứng xử và thậm chí là cả kĩ năng ngoại ngữ
nếu sinh viên tìm được và nói chuyện được với người ngoại
quốc.
+ Nhờ có Internet, việc trao đổi thơng tin trở nên nhanh
chóng, sinh viên có thể dễ dàng tụ hợp lại, hợp tác cùng
nhau xử lí, giải quyết các vấn đề trong học tập lẫn cuộc
sống. Đây chính là một điều kiện, mơi trường lí tưởng để
nâng cao kĩ năng làm việc nhóm của sinh viên.
3.1.1.2. Giống như các cuộc cách mạng trước đó, CMCN 4.0 có tiềm năng nâng
cao mức thu nhập tồn cầu và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân trên
toàn thế giới. CMCN 4.0 sẽ tạo ra các lợi ích hết sức to lớn. Sinh viên nói riêng và
người tiêu dùng nói chung là những người dường như được hưởng lợi nhiều nhất
từ cuộc cách mạng công nghệ này. Cuộc CMCN 4.0 đã tạo ra các sảm phẩm va
dịch vụ mới với chi phí khơng đáng kể phục vụ người tiêu dùng. Chỉ đơn giản với
một thiết bị như một máy tính bảng, chúng ta có thể đọc sách, lướt web và thong
tin liên lạc, sở hữu khả năng xử lý tương đương với 5.000 máy tính để bàn của 30
năm trước, với chi phí lưu trữ thơng tin gần như bằng khơng (ngày nay lưu trữ
1GB có chi phí trung bình ít hơn 0.03 USD một năm, so với hơn 10.000 USD thời
điểm cách đây 20 năm)



3.1.1.3
Điều quan trọng trong xu hướng mới là nền tri thức chia sẻ, qua những nền
tảng như Facebook, Youtube, Grab, Uber... cho thấy kiến thức khơng thể bó hẹp
và độc quyền bởi một người hay trong một phạm vi tổ chữ . Sinh viên có niều cơ
hội tiếp cận, tích lũy, chắt lọc cái mới, cái hay, co nhiều cơ hội để trở thành một
sinh viên toàn cầu. Phần thưởng cuối cùng khơng cịn là bằng cấp trên giấy tờ
nữa, mà là bằng cấp theo nghĩa mở rộng, trao đổi tri thức, sáng tạo, giá trị đóng
góp cho xã hội. Đó mới là bằng cấp vững bên.
Đồng thời cơ hội kiếm việc làm trong và ngoài nước trở nên rộng rãi, dễ dàng
hơn. Các mơ hình khởi nghiệp đang được đầu tư phát triển rất lớn tạo ra cơ hội
việc làm phong phú và năng động hơn cho những sinh viên trẻ mới ra trường.

3.1.2 Đối với giảng viên
- Nguồn tài liệu phục vụ giảng dạy trở nên vô cùng đa dạng nhờ
sự tiến bộ của hệ thống Internet kết nối và dữ liệu khổng lồ giúp
giảng viên tiếp cận được nhiều tài liệu trong và ngoài nước,
phục vụ tốt việc xây dựng bài học.
- Giảng viên có thể sử dụng các phương pháp, phương tiện và kĩ
thuật dạy học hiện đại áp dụng vào hoạt động giảng dạy của
mình.Với nhiều phần mềm dạy học hiện đại, giảng viên có nhiều
lựa chọn đối với các phương tiện kĩ thuật phù hợp với giảng dạy
3.2 Tác động tiêu cực
- Sự phát triển của công nghiệp 4.0 mang lại vô số lợi ích cho
giáo dục,giảng viên, sinh viên. Tuy nhiên, mọi sự vật, hiện tượng
trên thế giới ln có hai mặt và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
không phải là ngoại lệ. Bên cạnh các tác động tích cực, cuộc
cách mạng cũng đem lại cho ta
những thử thách, khó khăn tương đương mặt tích cực


3.2.1 Đối với giáo dục, giảng dạy


Mỗi ngày công nghệ càng hiện đại hơn khiến nhiều giảng viên
khó có thể theo kịp và ứng dụng trong giảng dạy. Điều này khiến
cho các giảng viên phải biết liên tục cập nhật các phương pháp
dạy học hiện đại để tránh sự nhàm chán trong công tácgiảng
dạy.
- Hiện nay có nhiều phần mềm cơng nghẹ trợ giúp giảng viên
dạy họctừ Internet. Thay vì phải lên lớp, sinh viên hồn tồn có
thể tự học tập ở nhà từ các website của giảng viên, các clip
giảng và tư liệu; giúp sinh viên rút ngắn thời gian học tập và kết
thúc học phần. Do đó, các giảng viên cần phải điều chỉnh số tiết
giảng dạy, số tiết chuẩn mộtcách hợp lí.
- Do nguồn tài liệu “mở”, đa chiều. phong phú, sinh viên sẽ gặp
các khó khăn trong việc lựa chọn và sử dụng nguồn tài liệu. Điều
này càng trở nên khó khăn hơn khi có vơ vàn các nguồn tài liệu
khơng chính thống và chưa được kiểm duyệt trên mạng Internet.
Bởi vậy, các sinh viên cần có sự hướng dẫn và định hướng rõ
ràng từ giảng viên để có thể dễ dàng tra cứu và tiếp cận các
nguồn tài liệu học tập phù hợp.
3.2.2 Đối với sinh viên
3.2.2.1. Ảnh hưởng tới thể chất, tinh thần.
- Cơng nghệ Internet giúp sinh viên có thể dễ dàng điều khiển
mọi hoạt động cần thiết như học tập, quét dọn, nấu ăn… ngay cả
khi đang ngồi trên ghế. Dần dần, sinh viên sẽ ít hoạt động, tập
thể dục hơn và sẽ gặp các vấn đề về sức khỏe như béo phì.
- Việc tiếp xúc với quá nhiều thoại thơng minh và máy tính gây
suy giảm thị lực ở phần đông giới trẻ.
- Việc quá quan tâm tới các mạng xã hội, các mối quan hệ ảo

trên internet khiến sinh viên xa rời thực tế, trở nên thờ ơ, vô cảm
với người thân, với xã hội.
3.2.2.2. Tỉ lệ thất nghiệp gia tăng
- Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ra đời, kéo theo sự bùng nổ
của trí tuệ nhân tạo. Khi robot và tự động hóa lên ngơi, hàng
triều người sẽ rơi vào cảnh tốt nghiệp, đặc biệt là những sinh
viên ngành vận tải, kế tốn, mơi giới bất động sản, hay bảo


hiểm. Một con robot có thẻ tính tốn số liệu cho một công ty
nhanh bằng hàng trăm nhân viên kế tốn, robot cũng có thể
tổng hợp những dữ liệu về bất động sản trong vòng 10 năm chỉ
trong 5s và đưa ra ra dự báo chính xác gấp nhiều lần so với một
cử nhân chuyên ngành bất động sản.
- Không chỉ vậy, công nghiệp 4.0 cũng khiến cho con người trên
khắp thế giới kết nối với nhau, các công ty có thể thoải mái lựa
chọn nhân lực hàng đầu từ khắp quốc gia trên thế giới
3.2.2.3. Khó khăn trong việc bắt kịp với thời đại, với thế giới
- Thế giới trong thời đại cộng nghiệp 4.0 thay đổi chóng mặt,
mỗi ngày mới lại có những phát minh mới. Trong 10, 20 năm tới
đây, con người sẽ làm những công việc mà bây giờ họ thậm chí
cịn chưa biết chúng là gì. Nếu sinh viên cịn ngồi trên ghế nhà
trường, phụ thuộc hồn tồn vào những cuốn giáo trình được
soạn cách đây hàng thập kỉ, họ sẽ là ai khi bước ra thế giới đang
khơng ngừng biến đổi ngồi kia?

Chương 4: Định hướng phát triển của giáo
dục trong cuộc cách mạng 4.0
4.1 Đối với giảng viên và nhà trường
- Để có thể tận dụng thời cơ đồng thời vượt qua các khó khăn,

thách thức
của cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0, các giảng viên và các trường
học
phải tích cực và chủ động đổi mới phư ơng pháp dạy học sao cho
phù hợp
với công nghệ mới, thời đại mới.
4.1.1 Nâng cao nhận thức của giảng viên
- Việc thay đổi phương pháp, hình thức dạy học có thể trở nên khó
khăn


đối với giảng viên. Vì vậy, các giảng viên cần quyết tâm, kiên trì
hồn
thành nhiệm vụ dạy học theo các u cầu mới.
- Việc dạy học khơng cịn bị giới hạn bởi bảng đen phấn trắng. Cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại cho nền giáo dục vô vàn công
cụ
hữu hiệu để thực hiện nhiệm vụ của mình. Do đó, để có thể phát
huy
tối đa mặt tích cực này, các giảng viên cần phải có tâm huyết và
đam
mê với nghề đồng thời cũng phải có một bộ óc sáng tạo, đổi mới để

thể áp dụng phù hợp, hiệu quả các công cụ, phương pháp dạy học
hiện
đại, tiên tiến. Không chỉ sử dụng hiệu quả, giáo viên còn phải theo
dõi
và chọn lọc các phương tiện kĩ thuật để có thể tạo sự hứng thú
trong
việc học tập của học sinh, sinh viên.

- Các giảng viên phải tiếp thu được thành tựu, công nghệ mới. Bởi
vậy,
không chỉ cần nâng cao năng lực chuyên mơn, các giáo viên cịn
phải
có năng lực ngoại ngữ cùng kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin
tốt.
4.1.2 Cơ chế quản lý của nhà trường
- Tuy giảng viên là người thực hiện hoạt động giáo dục – đào tạo
trong
các nhà trường, nhưng để hoạt động đó có hiệu quả thì cần đến cơ
chế
quản lí phù hợp của nhà trường.
Nhà trường cần có các kế hoạch cụ thể trong từng bộ môn, từ từ
thay
đổi, áp dụng các phương pháp dạy mới trong một số môn học rồi
dần
dần rút ra được kinh nghiệm để cải thiện phương pháp dạy học ở
các


mơn cịn lại.
- Để có thể nâng cao chất lượng giảng viên, giúp giảng viên dễ
dàng
tiếp nhận phương pháp dạy mới và hiện đại, nhà trường cần tổ
chức
bồi dưỡng, nâng cao năng lực ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ
thông
tin cho giảng viên, đồng thời đề ra các chính sách khuyến khích
động
viên, tạo động lực cho giảng viên tích cực, sáng tạo áp dụng những

phương pháp dạy học hiện đại vào thực tiễn.
- Không chỉ nâng cao chất lượng của giảng viên hay áp dụng những
kế
hoạch dạy học hiện đại, đúng đắn, để có thể phát huy tối đa mặt
tích
cực của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhà trường cần phải đầu
tư,
cải thiện các trang thiết bị, phương tiện dạy học, cơ sở vật chất
hiện
đại như máy chiếu hay mạng wifi đủ mạnh để cả trường sử dụng.
4.2 Đối với sinh viên
- Trong môi trường cạnh tranh việc làm sâu sắc mà cuộc cách mạng
cơng
nghiệp 4.0 đã mở ra, để có được thành cơng và kiếm được cơng
việc
mình muốn, sinh viên cần rèn luyện các kĩ năng quan trọng và đạt
được
các yêu cầu thiết yếu cụ thể như:
+ Kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin: Trung tâm của cuộc cách
mạng cơng nghiệp lần thứ tư chính là cơng nghệ thơng tin và
Internet. Vì vậy, để dễ dàng áp dụng các thành tựu mới mà cuộc
cách mạng đem lại, các doanh nghiệp, cơng ty sẽ ưu tiên những
người đã có sẵn các kĩ năng công nghệ thông tin cần thiết để ứng
dụng nhanh chóng những thành tựu này vào thực tiễn. Do đó, ngay


khi còn trên giảng đường đại học, sinh viên cần chủ động tích lũy
tri thức của cơng nghệ thơng tin và cập nhật, ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật mới nhất vào cuộc sống.
+Kĩ năng ngoại ngữ: Giữa xu thế “đa quốc gia hóa” của các cơng

ty, việc thơng thạo nhiều ngôn ngữ sẽ giúp sinh viên trở nên nổi
bật, dễ dàng nhận được công việc hơn. Hơn nữa, việc có được khả
năng sử dụng ngơn ngữ sẽ tạo ra cơ hội để ta có thể tiếp cận các
tin tức, sách báo, tài liệu nước ngoài, giao tiếp với bạn bè quốc tế.
Do đó, ta có thể tiếp thu được tri thức từ nhiều nơi trên thế giới chứ
không còn bị hạn chế nữa.
+ Kĩ năng mềm (giao tiếp, làm việc nhóm, chọn đối tác…): Các
nghiên cứu đã chỉ ra kĩ năng mềm sẽ quyết định đến 75% thành
công của con người. Bởi vậy, trong quá trình học tập, sinh viên cần
biết tham gia các chương trình ngoại khóa sơi nổi hay các câu lạc
bộ, lớp học… để có thể rèn luyện kĩ năng mềm đồng thời tìm hiểu
thêm về bản thân và phát huy tối đa khả năng tiềm ẩn của mình.
+ Kinh nghiệm làm việc thực tế: Khi yêu cầu tuyển dụng, các
doanh
nghiệp sẽ ưu tiên các ứng viên đã có sẵn kinh nghiệm làm việc –
một điều mà các sinh viên mới ra trường khó mà đáp ứng nổi. Bởi
vậy, sinh viên nên biết tận dụng các kì thực tập để có thể làm quen
với cơng việc sớm, tránh bị ngỡ ngàng khi mới bắt tay vào việc
đồng thời học hỏi được kinh nghiệm trong lĩnh vực mình quan tâm.
- Việc có được mơi trường học tập lý tưởng với khả năng truy cập
mọi tri
thức trên thế giới chỉ bằng một chiếc máy tính kết nối Internet cũng
sẽ
khơng có tác động gì nếu sinh viên lười biếng, khơng chịu tự tìm
tịi, mở
mang tầm mắt mình. Bởi vậy, trong thời đại của cách mạng công
nghiệp
4.0 này, điều quan trọng nhất mà mọi sinh viên cần để ý chính là
việc tự
rèn luyện bản thân, rèn luyện tính tự giác, kiên trì học tập, tiếp thu

các


kiến thức cần thiết mà không quá ỷ lại, dựa dẫm vào giảng viên bởi
giờ đây giảng viên khơng cịn là người trực tiếp truyền lại cho ta tri
thức nữa
mà chỉ đóng vai trị của người hướng dẫn, chỉ đường cho sinh viên.

Kết luận
Việt Nam đang đứng ở đâu trên bản đồ CMCN 4.0 ?
Một câu hỏi thật khó để tìm một câu trả lời chính xác, khi ngun lý sự phát tiển đã đề
cập rằng, phát triển không chỉ đơn thuần là đường thẳng đi lên mà quá trình phát triển của
nó là hình xoắn ốc, nên nói về q trình phát triển sẽ khơng chỉ có đi lên mà theo kèm
cịn có thể là những bước thụt lùi tương đối. Đó là lý do khó xác định chính xác rằng
chúng ta đang đứng ở đâu trên tấm bản đồ đầy cơ hội, đầy thách thức kia. Song với
những câu trả lời của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại một diễn đàn công nghệ 4.0 năm
2019 : “Trong lĩnh vực giáo dục, chúng ta không chỉ đưa các môn học liên quan nhiều
đến khoa học, công nghệ mà phải bắt đầu từ những điểm căn bản nhất, thậm chí tưởng
rằng khơng liên quan đến CMCN 4.0. Đó là giáo dục cho người dân ở khu vực miền núi,
đồng bào dân tộc thiểu số. Bản chất của cuộc CMCN 4.0 là khơng để ai bị bỏ lại phía
sau” hay cũng trong diễn đàn ấy, khi nói về ý nghĩa của cuộc CMCN 4.0 đối với Việt
Nam, Phó thủ tướng cho rằng, Việt Nam khơng thể đứng ngồi cuộc cách mạng này
”Chúng ta khơng chỉ giải quyết những bài tốn của riêng mình mà cịn có trách nhiệm
trước những vấn đề chung của thế giới” .…với những lời khẳng định của Phó Thủ tướng,
chúng ta có thể hồn tồn tin tưởng vào đường lối mà đảng và nhà nước đã đề ra cho xu
hướng nắm bắt, hội nhập vào đường đua làm chủ CMCN 4.0 này. Dẫu biết sẽ còn đó
nhiều thử thách và khó khăn, và dù cho trong q trình phát triển mà ta đang kỳ vọng có
những bước lùi đi chăng nữa thì cũng đừng nản lịng, vội đầu hàng vì những bước thụt lùi
kia nếu xuất hiện có chăng cũng là một phần trong q trình phát triển đi hình trơn ốc đã



nói. Thế nên điều thực sự cần thiết lúc này là tin tưởng, tin tưởng vào Đảng, tin tưởng vào
con đường cách mạng mà Đảng đã đề ra, để từ đó phát huy hết những điểm mạnh của bản
thân xa hơn là cả dân tộc, đồng thời phân tích, xem xét để giảm thiểu tối đa những rủi ro,
điểm yếu khơng nên có…để cuối cùng đưa đất nước tới vạch đích của thành cơng. Biết là
nói thì dễ hơn làm nhiều lần nhưng chúng ta cũng không thể cứ mãi ngồi im, và tôi tin
rằng khi làm được những điều này ắt hẳn lúc bấy giờ dất nước chúng ta đang ở trên một
tầm cao mới. Tất nhiên đây là sự nghiệp, tham vọng lớn của đất nước thì khơng thể thực
hiện được trong ngày một ngày hai mà cần một quá trình, song hãy tự hào và phấn đấu
hết mình khi việc chúng ta – những sinh viên đang ngồi ghế nhà trường, đã là một bước
khởi đầu đầy hứa hẹn cho quá trình lâu dài kia. Cuối cùng tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng,
là sinh viên, đặc biệt là sinh viên của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội chúng ta cần
phải phấn đấu, không ngừng nỗ lực, trau dồi để có đủ hiểu biết, đủ năng lực để hiểu rõ
hết những ưu – nhược, những cơ hội – thử thách mà cuộc CMCN 4.0 mang đến và quan
trọng là hãy nghiêm túc xác định cho mình những việc cần làm để có thể đóng góp một
phần dù là nhỏ bé trong thời điểm trọng đại này.



×