MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................................... 1
NỘI DUNG................................................................................................................................... 2
1. Quan niệm, khái niệm văn hóa chính trị....................................................................................2
1.1. Một số quan niệm về văn hóa chính trị...................................................................................2
1.2.Khái niệm chung về văn hóa chính trị.....................................................................................6
1.3. Đặc điểm của văn hố chính trị..............................................................................................6
2. Thực trạng văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay.....................................................................10
2.1. Những yếu tố làm nên nét đặc sắc của văn hố chính trị Việt Nam hiện nay.......................10
2.2. Một số đặc điểm tiêu biểu của văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay....................................11
2.3. Văn hóa chính trị thể hiện trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay..........13
3. Những giải pháp để nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong thời kỳ
hội nhập quốc tế.......................................................................................................................... 17
3.1. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc nâng cao nhận thức về
chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh......................................................................17
3.2. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc nắm vững Cương lĩnh,
đường lối chính trị của Đảng.......................................................................................................18
3.3. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc trang bị những kiến
thức cơ bản về Khoa học chính trị và Khoa học lãnh đạo...........................................................18
3.4. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc rèn luyện đạo đức, lối
sống và phát huy tính tích cực chính trị của chủ thể chính trị này...............................................19
3.5. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc khơng ngừng nâng cao
trình độ văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân lao động.....................................................20
3.6. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với đổi mới công tác cán bộ của
Đảng............................................................................................................................................ 21
KẾT LUẬN................................................................................................................................. 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................................24
LỜI MỞ ĐẦU
Văn hoá là sản phẩm của con người, là sức mạnh trong cải tạo, chinh phục tự
nhiên, xã hội, là yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển bền vững cho mỗi con
người, mỗi tổ chức, mỗi dân tộc và mỗi quốc gia. Khi xã hội lồi người có sự phân
hố giai cấp, đấu tranh giai cấp và đấu tranh giai cấp đến một trình độ nhất định sẽ
xuất hiện nhà nước, xuất hiện chính trị và văn hố chính trị. Văn hố chính trị chỉ là
một bộ phận, một phương diện của văn hoá, nhưng là bộ phận ra đời trong quá trình
con người ứng xử với quyền lực nhà nước là hình thức tập trung của ý chí cộng
đồng, có vai trị quyết định trong việc thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Văn hố chính trị là nghệ thuật sử dụng quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị, là
nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của cả hệ thống chính trị và nền
chính trị. Nhà nước là trung tâm của hệ thống chính trị, nhà nước có vai trị rất
lớn trong việc kiến tạo, tạo dựng và phát triển văn hố chính trị. hị quyết Đại
hội XII của Đảng đề ra mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam
phát triển tồn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc,
nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững
chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững
và bảo vệ vững chắc tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, cơng
bằng, văn minh”. Do đó, tơi chọn chủ đề “Nâng cao văn hóa chính trị của đội
ngũ cán bộ lãnh đạo Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế” để làm bài thu
hoạch cho môn học Chính trị học. Do kiến thức và tầm hiểu biết cịn hạn chế nên
bài viết của tơi khơng tránh khỏi sai sót rất mong được các giảng viên góp ý kiến
cho bài thu hoạch được hoàn thiện.
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2019
1
NỘI DUNG
1. Quan niệm, khái niệm văn hóa chính trị
1.1. Một số quan niệm về văn hóa chính trị
Thuật ngữ “văn hóa chính trị” được đề cập từ rất sớm, trong q trình nghiên
cứu chúng tơi thấy một số quan niệm tiêu biểu, sâu sắc về văn hóa chính trị như
sau:
Quan niệm về văn hố chính trị ở phương Đơng: Trong học thuyết Nho giáo:
Khi đưa đạo đức trở thành vấn đề trung tâm trong học thuyết chính trị của mình,
Nho giáo đã mở đầu cho truyền thống tiếp cận văn hố chính trị trong lịch sử tư
tưởng nhân loại. Khổng Tử rất tin ở sức hấp dẫn và sự tác động của đạo đức.
Người nghe có thể suy ra mà hiểu rằng làm chính trị là phải đúng đắn và đứng đắn,
ngay thẳng. Người Trung Hoa hay nói “văn trị”, tức muốn nói đến chính trị phải
gắn với văn hố, chính trị cai trị bằng “văn”, hướng đến cách cai trị đẹp. Như vậy,
ngay từ rất sớm văn hóa chính trị đã được đề cập trong cách cai trị của người
Trung Quốc.
Mạnh Tử đề ra tư tưởng “Văn trị giáo hố”, tức là chính trị gắn với giáo dục:
“Chính giỏi không thể tranh thủ được dân bằng giáo giỏi. Chính giỏi thì dân sợ,
giáo giỏi thì dân n. Chính giỏi thì được của cải của thiên hạ, của dân; giáo giỏi
thì được lịng dân”.
Khi đề cao đạo đức, Nho giáo đồng thời cũng trao vinh dự và trách nhiệm
cao nhất cho ngững người “bên trên”, những người “quân tử”, “hiền”, “trí”, “lao
tâm”. Đó là những người đưa đường, chỉ lối cho thiên hạ, làm mẫu mực, nêu
gương sáng cho “bên dưới”, cho những “tiểu nhân”. Đó làm trịn trách nhiệm và
xứng đáng với danh dự ấy, Nho giáo yêu cầu “kẻ cai trị” phải phát huy đúng đắn
vai trò của mình đối với bên dưới bằng hai cách chủ yếu, một là chính, hai là giáo
trong một thể thống nhất của hoạt động chính sự.
Ở phương Tây: Các học giả hiện đại đều coi Platon, Aritxtốt là những người
mở đầu cho nghiên cứu văn hố chính trị, khi các ông đều coi các quan điểm, thái
độ cơ bản của con người đối với quyền lực, đối với việc làm thế nào để quản lý các
2
mối quan hệ xã hội và đối với vai trò của chính thể với người dân là hết sức quan
trọng.
Học thuyết chính trị - xã hội của Platon đặc biệt quan tâm đến vấn đề nhà
nước cùng với nó là những nhà cầm quyền. Theo Platon, đó là những con người
mà lý tính đóng vai trị chủ đạo trong hoạt động của họ. Họ luôn luôn hướng tới
cảm thụ cái đẹp và trật tự các ý niệm, khát vọng vươn tới phúc lợi tối cao, tới sự
thật và công lý. Đó là những người biết kiềm chế, ơn hồ những thú vui cảm tính.
Họ có thể đảm nhận được vai trị lãnh đạo, trị vì xã hội trong nhà nước lý tưởng.
Platon đã để lại một luận điểm nổi tiếng: “Lồi người sẽ khơng tránh được cái ác
cho tới khi các nhà triết học chân chính và biết tư duy đúng đắn chưa giữ được các
chức trách nhà nước hoặc là các nhà cầm quyền chưa trở thành các nhà triết học
chân chính”. Với ơng nhà nước sẽ khơng tránh khỏi tai họa cho tới khi các nhà triết
học chưa cầm quyền.
Đến lượt mình, Aritxtốt coi con người là “động vật chính trị”, muốn nói đến
vai trị chính trị trong việc xác định tư cách tồn tại của con người. Và cũng vì thế
mà mục đích cao nhất của chính trị là làm sao để mọi người có thể sống và sống tốt
hơn. Sứ mệnh của nhà nước, của những nhà cầm quyền không chỉ bảo đảm cho
mọi người sống bình thường, mà cịn phải làm sao để cho con người sống hạnh
phúc. “Mục đích của nhà nước là cuộc sống phúc lợi,… bản thân nhà nước là sự
giao thiệp của các gia tộc và cư dân nhằm đạt được sự tồn tại một cách hoàn thiện
và tự lập”, tức là đạt được một cuộc sống ưu việt, mà theo ông không chỉ về
phương diện của cải vật chất mà cịn bảo đảm cơng lý.
Nhà xã hội học người Đức M. Weber cũng được coi là một trong những nhà
nghiên cứu xuất sắc về văn hố chính trị khi cho rằng thể chế chính trị và kinh tế
khơng thể được nhận thức một cách đơn độc. Trong tác phẩm nổi tiếng nhất của
mình là “Đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản”, Weber đã đặt ra câu
hỏi là tại sao những người theo đạo Tin lành lại hướng tới thống trị nền kinh tế
nước Đức vào thời kỳ đầu thế kỷ XX, chiếm giữ vị trí điều hành quan trọng nhất
trong các tổ chức đoàn thể với quy mô lớn hơn nhiều so với đạo Thiên chúa. Theo
quan điểm Weber, những người Tin lành theo chủ nghĩa khổ hạnh đã đến với hoạt
3
động kinh tế, tiết kiệm và tích lũy của cải nhanh hơn so với những người theo chủ
nghĩa khổ hạnh của đạo Thiên chúa. Bởi vì ở đạo Tin lành đến Marin Luther đã đề
cao giá trị của mỗi người trong việc tham gia vào các hoạt động trên trần thế như
tích luỹ của cải, cịn giáo lý của đạo Thiên chúa thời kỳ trung cổ lại đề cao giá trị
của việc rút lui khỏi thế giới thương mại và chính trị để tơn thờ đức chúa trong các
tu viện.
Việc nghiên cứu văn hố chính trị như một lĩnh vực nghiên cứu tương đối
độc lập bắt đầu từ những năm 1950 của thế kỷ XX. Thuật ngữ văn hố chính trị lần
đầu tiên sử dụng vào năm 1956. Công lao của việc tách riêng lĩnh vực nghiên cứu
này và nâng nó lên sự thừa nhận khoa học thuộc về hai nhà chính trị học người Mỹ
là G.Almond và S.Verba. Các ông chú trọng vào việc nghiên cứu hành vi hoạt
động chính trị và gắn liền với q trình chính trị của con người. G.Almond cũng
chính là người sáng lập trường phái chủ nghĩa hành vi trong khoa học chính trị ở
Mỹ. Họ quan niệm hành vi chính trị là một phần của hành vi xã hội, cho nên khi
phân tích hành vi chính trị phải gắn chặt với sự xem xét các nhân tố văn hoá, tâm
lý của cá nhân và tồn xã hội. Từ đó, họ chủ trương cần thay đổi trọng điểm nghiên
cứu chính trị học truyền thống, từ chỗ chỉ chú trọng nghiên cứu cơ chế chính trị vĩ
mơ sang tập trung nghiên cứu hành vi chính trị của các cá thể, quần thể phải phân
tích xem động cơ hành động chính trị của họ là gì. Ơng gọi đó là định hướng, tức
văn hố chính trị bắt đầu từ định hướng chính trị. “Mỗi một hệ thống chính trị đều
bắt rễ từ trong một loại định hướng xác định riêng; tôi phát hiện thấy điều này rất
hữu dụng và gọi nó là văn hố chính trị”. Một nghiên cứu quan trọng khác về văn
hố chính trị của G.Almond và S.Verba đã được xuất bản năm 1963 với tiêu đề là
văn hố cơng dân. Trong đó hai ơng cho rằng: “Văn hố chính trị nói về một loại
thái độ đối với hệ thống chính trị và thái độ đối với vai trị của mình trong hệ thống
chính trị đó”.
Quan niệm về văn hố chính trị, trường phái chính trị học Nga nổi tiếng với
các tên tuổi E.A. Đôđin, G. Đơratrơ, I.X.Pirôvarốp…. Các ông là những người
không đồng tình với các tác giả phương Tây khi quy văn hố chính trị về các
khn mẫu xác định nào đó vì điều đó thường mang tính chủ quan của nhà nghiên
4
cứu, rất dễ bị nhầm lẫn về bản chất bởi những hiện tượng bề mặt. Theo
I.X.Pirơvarốp: “văn hố chính trị là q trình xã hội hố chính trị, suy cho cùng là
quá trình phổ cập những giá trị và những quy tắc chính trị nhất định” và “q trình
xã hội hố trong chừng mực nào đó đưa đến sự ra đời các thiết chế xã hội, các giá
trị và những chuẩn mực hành vi phù hợp với tiến trình phát triển”.
Như vậy, có thể thấy rằng quan niệm về văn hố chính trị rất phong phú và
chưa có được một tiếng nói thống nhất. Nhiều nhà nghiên cứu chính trị học
phương Tây thậm chí đã dùng cụm từ này trong khi chưa có ranh giới rõ ràng và
các cách tiếp cận phổ biến vẫn chưa thâu tóm được hết bảng giá trị của nó. Hơn lúc
nào hết, văn hố chính trị cần phải được xem xét một cách sống động và chỉnh thể
với tư cách là phương thức vận hành và tái sản xuất ra đời sống chính trị với đầy
đủ các thành tố.
Quan niệm mácxít về văn hố chính trị: Văn hóa chính trị là một phương
diện cơ bản thể hiện năng lực của con người xã hội trong quá trình khám phá và cải
tạo hiện thực. Vì lẽ đó, văn hóa chính trị cũng chính là một phẩm chất đặc trưng
diện mạo đời sống văn hoá làm nên giới hạn giữa thế giới con người và thế giới
động vật mà chuẩn mực của nó là khả năng tổ chức cuộc sống công cộng dựa trên
việc nhận biết quy luật một cách có ý thức.
Dưới góc độ xã hội, văn hóa chính trị là một lĩnh vực bao trùm của đời sống
xã hội. Trong bất cứ lĩnh vực nào của hiện thực cuộc sống chúng ta cũng có thể
thấy được sự tham dự trực tiếp hoặc gián tiếp của các yếu tố văn hóa chính trị. Giá
trị cũng như chất lượng đời sống của các cộng đồng cũng như từng cá nhân được
quy định rất nhiều bởi khả năng hiểu biết về văn hóa chính trị. Lênin nói “Một
người khơng biết chữ là người đứng ngồi chính trị”.
Do vậy, văn hố chính trị là một cấu trúc phong phú đa dạng và phức tạp, là
một tổng thể chứa đựng trong nó hàng loạt nội dung, là chất lượng tổng hoà của tri
thức, hệ tư tưởng, quan điểm và định hướng chính trị, tình cảm, niềm tin, nhu cầu
về chính trị; tính khoa học và sáng tạo của hoạt động chính trị; hiệu năng của các
thiết chế chính trị… Như thế, nói văn hố chính trị là nói đến trình độ và hiệu quả
của hoạt động chính trị. Trình độ và hiệu quả đó phải mang tính tích cực đối với sự
5
phát triển và tiến bộ xã hội. Đồng thời, văn hố chính trị cũng phải là một hệ thống
giá trị xã hội phản ánh đầy đủ các dấu hiệu chân - thiện - mỹ.
1.2.Khái niệm chung về văn hóa chính trị
Từ các cách tiếp cận về văn hóa chính trị, chúng ta có thể đưa ra quan niệm
chung nhất về văn hóa chính trị đó là:
“Văn hố chính trị là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần được hình
thành trong thực tiễn chính trị, nó góp phần chi phối hoạt động của các cá nhân,
các nhà chính trị, góp phần định hướng hoạt động của họ trong việc tham gia vào
đời sống chính trị để phục vụ lợi ích căn bản của một giai cấp nhất định. Rộng hơn,
nó là một trong những cơ sở định hình và định hướng cho các phong trào chính trị,
cho từng nền chính trị khác nhau trong lịch sử chính trị”.
Biểu hiện của văn hố chính trị thể hiện ở hai phương diện cơ bản:
Một là, chính trị với ý nghĩa là chính trị dân chủ, tiến bộ phải hướng tới mục
đích cao nhất là vì con người, giải phóng con người, tôn trọng quyền con người,
tạo điều kiện cho con người phát triển tự do, toàn diện, hài hoà. Đây là tính nhân
văn sâu sắc của một nền chính trị có văn hố.
Hai là, những tư tưởng chính trị tốt đẹp không phải là những ý niệm trừu
tượng mà phải thiết thực, cụ thể, có khả năng đi vào cuộc sống. Nghĩa là nó phải
thấu triệt trong hệ tư tưởng chính trị, thể hiện qua đường lối chính sách của đảng
cầm quyền và nhà nước quản lý, trong ứng xử và trong việc triển khai các kế hoạch
cụ thể nhằm phát triển xã hội và phục vụ cuộc sống của cá nhân cũng như của cộng
đồng xã hội.
Văn hố chính trị làm cho sự tác động của chính trị đến đời sống xã hội
giống như sức mạnh của văn hoá. Đó là loại sức mạnh khơng dựa vào quyền lực
hay ép buộc mà thơng qua cảm hố, khơi dậy tinh thần sáng tạo, ý thức tự giác của
các tầng lớp xã hội. Việc xây dựng văn hố chính trị phải chú trọng đồng thời cả ba
phương diện: giá trị xã hội được lựa chọn, năng lực chính trị và trình độ phát triển
về văn hóa chính trị của chủ thể chính trị.
1.3. Đặc điểm của văn hố chính trị
Thứ nhất là, VHCT bao giờ cũng mang tính giai cấp
6
VHCT hình thành trong thực tiễn đấu tranh giai cấp, do đó nó ln bị chi
phối bởi thế giới quan, hệ tư tưởng, những quan điểm chính trị của giai cấp nhất
định và nó phục vụ lợi ích của mỗi giai cấp. Khơng bao giờ có những giá trị chính
trị chung chung. Chính trị và cơng việc nhà nước đều là phạm vi hoạt động gắn với
những quan hệ quyền lực. Do vậy, bất cứ hành vi nào của chủ thể chính trị khi đã
chịu sự điều chỉnh của các chuẩn giá trị VHCT cũng là hành vi hướng tới thực hiện
lợi ích giai cấp và bảo vệ lợi ích của giai cấp ấy một cách nhân văn.
Tuy rất quan trọng, nhưng tính giai cấp khơng phải là thuộc tính duy nhất
của VHCT. Tính dân tộc và tính nhân loại luôn tồn tại trong VHCT của từng giai
cấp. Đặc biệt trong bối cảnh của thế giới hiện đại mối quan hệ giữa tính giai cấp,
tính dân tộc và tính nhân loại càng gắn bó chặt chẽ hữu cơ hơn bao giờ hết. Văn
hóa trước hết là vấn đề tồn tại và phát triển của một cộng đồng người nhất định.
Tính dân tộc ln gắn liền với tính nhân loại và tính giai cấp, trong mối quan
hệ này thì quan hệ dân tộc - nhân loại là trường cửu, giai cấp dù tồn tại lâu thì cũng
chỉ là phạm trù lịch sử. Như vậy, giá trị VHCT chỉ thống nhất với giá trị văn hóa
khi mà giai cấp - chủ thể chính trị của nó đại diện cho phương thức sản xuất mới,
cho xu thế vận động và phát triển phù hợp với tiến bộ xã hội. Do đó tác động của
giai cấp và đấu tranh giai cấp vào văn hóa của một dân tộc tùy thuộc vào từng biến
động của lịch sử, tác động tới bước đi của nền văn hóa chứ khơng quyết định bản
chất của nền văn hóa. Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị tất yếu có dấu ấn mạnh tới
nền văn hóa dân tộc khi quyền lợi của giai cấp đó nhất trí với quyền lợi của dân
tộc.
Để phát triển bền vững theo hướng duy trì bản sắc văn hóa dân tộc, vừa
khơng đi ngược giá trị nhân loại (nhân văn - tính người) cần phải kết hợp nhuần
nhuyễn tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại trong văn hóa nói chung và
VHCT nói riêng. Mặt khác, trong khi khẳng định tính giai cấp của VHCT không
được đối lập giữa giai cấp - cộng đồng - nhân loại, nếu không sẽ rơi vào quan điểm
giai cấp cực đoan. Để đạt đến VHCT thì vừa phải sử dụng những giá trị giai cấp,
vừa phải sử dụng những giá trị cộng đồng và nhân loại.
Thứ hai là, VHCT mang tính lịch sử - cụ thể
7
VHCT bị qui định bởi những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
Hai loại nhân tố này có nội dung, tính chất và phương thức qui định khác nhau
trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, điều đó qui định tính lịch sử của VHCT.
VHCT khơng chỉ là kết quả của sự phát triển của nhận thức chính trị và hoạt
động chính trị sáng tạo của nhiều chủ thể VHCT ở các nước khác nhau và các dân
tộc khác nhau mà cịn gắn liền với các nền chính trị khác nhau. Có VHCT của giai
cấp nắm QLNN đặc trưng cho mỗi nền chính trị, nhưng bản thân sự tồn tại của mỗi
nền chính trị lại khơng vĩnh viễn mà ln có sự thay thế kế tiếp nhau trong lịch sử,
nên VHCT cũng thay đổi theo.
Hơn nữa, VHCT không phải là một hiện tượng biệt lập, sự xuất hiện và phát
triển của nó nằm trong mối liên hệ mật thiết, biện chứng với các yếu tố lịch sử, nó
chịu sự chi phối của những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội. Khi các yếu tố này
có sự thay đổi thì VHCT cũng chịu ảnh hưởng của sự thay đổi đó.
Sự truyền dẫn VHCT từ thế hệ này sang thế hệ khác cũng được thực hiện
theo khuôn mẫu và định hướng nhất định, thích hợp với nhận thức và nhu cầu của
mỗi cá nhân và toàn xã hội trong đời sống chính trị ở mỗi giai đoạn lịch sử. Do
vậy, VHCT còn phụ thuộc vào khả năng tạo lập, kế thừa và sử dụng các giá trị
VHCT của mỗi chủ thể nào đó trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
VHCT còn gắn với hiện tượng tâm lý xã hội của chủ thể (nhất là phương
diện cá nhân). Cùng tiếp cận giá trị nhưng tính khí và khí chất khác nhau sẽ tạo nên
những quyết định hành vi, quyết định hoạt động chính trị của các chủ thể khác
nhau. Tính cụ thể của VHCT khơng chỉ dựa trên cơ sở lý tưởng chính trị, lập
trường và hành vi... mà có khi cả trên cơ sở của yếu tố tâm lý xã hội.
Tính lịch sử, cụ thể của VHCT thể hiện cả ở chỗ: trong các điều kiện lịch sử
khác nhau, tính chất, nội dung, mức độ phát triển của VHCT không giống nhau.
Mặt khác cũng cho thấy, giá trị VHCT khơng phải là cái gì bất biến mà ln có sự
vận động và phát triển. Điều đó ảnh hưởng lớn đến những thay đổi trong nhân cách
xã hội của con người.
Thứ ba là, VHCT mang tính kế thừa
8
Tính lịch sử, cụ thể khơng thể tạo nên sự gián đoạn hay cô lập tuyệt đối của
VHCT của một giai cấp nào đó trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Sự ra đời của
một nền VHCT bao giờ cũng là kết quả phủ định biện chứng đối với nền VHCT
trước nó. Đó là sự giữ lại và nâng lên một trình độ mới những nhân tố có giá trị
chung mang tính tích cực của nền VHCT bị phủ định.
Tính kế thừa của VHCT trong sự phát triển được kết tinh từ những thành tựu
văn hóa, những di sản tinh thần của thời đại, của truyền thống, kết hợp với kinh
nghiệm thực tiễn, từ đó làm cho VHCT khơng ngừng được nâng lên.
Trong quá trình vận động và phát triển, các giá trị truyền thống khơng biến
mất, mà nó hóa thân vào các giá trị của thời sau theo qui luật kế thừa và tái tạo.
Các giá trị trước trở thành truyền thống khi được các thế hệ sau lựa chọn, tiếp nhận
và phát triển, đó chính là quan hệ giữa truyền thống và hiện tại. Sự thích nghi của
những giá trị cũ đối với sự thay đổi của thời đại là biểu hiện tính liên tục của văn
hóa. Bởi vậy, trong chính trị cũng phải ln có sự kế thừa về mặt giá trị, quay lưng
với những giá trị truyền thống cũng có nghĩa quay lưng lại với lịch sử dân tộc.
Điều đó vừa là sự sa sút về bản lĩnh văn hóa vừa trái với qui luật vận động và phát
triển của văn hóa, và như thế ắt có sự trả giá.
Thứ tư là, VHCT ln mang tính đa dạng
Hệ tư tưởng là nhân tố cốt lõi nhất của VHCT, mà trong mỗi hình thái kinh
tế - xã hội nhất định kết cấu giai cấp cũng phức tạp không thuần nhất, cho nên hệ
tư tưởng của các giai cấp khơng đồng nhất. Trong mỗi nền chính trị, VHCT khơng
thuần nhất. Do đối lập về lợi ích nên các giai cấp thường có hệ tư tưởng đối lập chi
phối văn hóa của các giai cấp tương ứng, tạo nên bức tranh đa dạng của VHCT.
Bên cạnh VHCT của giai cấp nắm quyền lực nhà nước cịn có VHCT của các giai
cấp và giai tầng khác trong xã hội. Hơn nữa, sự xuất hiện và phát triển của VHCT
nằm trong mối liên hệ mật thiết với các yếu tố lịch sử, nó là “một tiểu hệ thống”
trong lĩnh vực văn hóa nói chung, do đó có mối liên hệ chặt chẽ với các thành tố
khác của nền văn hóa nói chung như: kinh tế, đạo đức, pháp quyền, thẩm mỹ, tôn
giáo.
9
Trong chủ nghĩa xã hội, VHCT XHCN vừa là nội dung, là động lực, vừa là
biểu hiện chất lượng của nền dân chủ (văn hóa dân chủ). Là nhân tố thúc đẩy cho
việc đạt mục tiêu của CNXH đó là dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh. Đồng thời VHCT XHCN là phương thức để nhân dân lao động trở
thành chủ thể thực sự của quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước.
2. Thực trạng văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay
2.1. Những yếu tố làm nên nét đặc sắc của văn hố chính trị Việt Nam hiện
nay
Một là, về lịch sử, văn hoá chính trị Việt Nam được hình thành và phát triển
trong quá trình hình thành ý thức dân tộc, quốc gia, kết tinh thành truyền thống
dựng nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam. Ý thức độc lập dân tộc, tự
lực tự cường, tinh thần yêu nước, đoàn kết cộng đồng đã trở thành nội dung bền
vững mang tính truyền thống của văn hố chính trị Việt Nam.
Hai là, lịng tự hào, tự tơn dân tộc, nền văn hiến quốc gia, tinh thần yêu
nước, đoàn kết, phát huy nội lực, sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, gắn liền với
việc coi trọng, tôn vinh hiền tài đã tạo nên sức sống của văn hố chính trị, và, khả
năng phát huy những truyền thống, giá trị tốt đẹp đó của dân tộc đã tạo nên “độ
cao” của văn hố chính trị.
Ba là, tơn trọng đạo lý, tơn trọng chính nghĩa, bảo vệ cơng lý, quật cường
dân tộc, nhưng nhân ái, khoan dung, độ lượng, vị tha. Những nét đẹp đó đã tác
động, ảnh hưởng, làm cho văn hóa chính trị Việt Nam mang tính nhân văn, nhân
đạo sâu sắc.
Bốn là, do đặc điểm của địa chính trị nước ta, nên văn hố chính trị Việt
Nam có nột nét nổi bật là phải sáng tạo. Nhờ khả năng sáng tạo mà bản sắc văn hoá
dân tộc dã được giữ vững và phát triển qua các thời kỳ. Đặc biệt, tính sáng tạo này
càng thể hiện rõ nét khi đất nước, dân tộc đứng trước những thời điểm khó khăn,
quyết định vận mệnh của dân tộc. Chính nét sáng tạo ấy đã đem lại một tầm vóc,
một vẻ đẹp văn hố của nền chính trị Việt Nam.
Bên cạnh những nét đẹp đó, cũng cần nhận thấy rằng, do nước ta xuất phát
là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua quá nhiều các cuộc chiến tranh giữ
10
nước, vì thế những yếu tố như tâm lý tiểu nông khá đậm, kinh nghiệm chủ nghĩa,
triết lý chung chung, thiếu tính khách quan và cơ sở khoa học vững chắc, dễ hài
lịng với mình, tâm lý chạy theo thành tích, “bệnh” hình thức..., nếu như khơng
được hạn chế, khắc phục kịp thời, sẽ có tác động tiêu cực, bào mòn dần sức sống
và khả năng sáng tạo của văn hố chính trị Việt Nam.
2.2. Một số đặc điểm tiêu biểu của văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay
Văn hóa chính trị là một phương diện của văn hóa, ở đó kết tinh tồn bộ các
giá trị, phẩm chất, trình độ năng lực chính trị, được hình thành.
Văn hóa chính trị là một phương diện của văn hóa, ở đó kết tinh tồn bộ các
giá trị, phẩm chất, trình độ năng lực chính trị, được hình thành trên một nền chính
trị nhất định, nhằm thực hiện lợi ích giai cấp, dân tộc, cộng đồng phù hợp với xu
hướng phát triển – tiến bộ của xã hội loài người.
Là một phương diện của văn hóa, cho nên văn hóa chính trị là nhát bổ dọc
lịch sử văn hóa theo lĩnh vực hoạt động chính trị. Những bản chất, tính chất, đặc
trưng và kết cấu của văn hóa đều có mặt trong văn hóa chính trị. Cái riêng của văn
hóa chính trị ở đây chỉ là những bản chất, đặc tính, yếu tố văn hóa đó biểu hiện
trong lĩnh vực hoạt động chính trị.
Văn hóa chính trị Việt Nam từ ngày có Đảng Cộng sản đến nay, một nền
chính trị lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Đây là
nền chính trị thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Đặc điểm văn hóa chính trị Việt
Nam mang tính xã hội chủ nghĩa được thể hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, đó cũng là nền tảng tư tưởng và
kim chỉ nam cho hoạt động chính trị, của văn hóa chính trị. Đây là hệ tư tưởng
khoa học, tiến bộ soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Trong giai đoạn hiện
nay việc bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách
trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng ta.
Thứ hai, văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay là sự kế thừa văn hóa chính
trị Việt Nam truyền thống.
11
Văn hóa chính trị Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với lịch
sử dân tộc Việt Nam. Những giá trị văn hóa truyền thống ấy khơng ngừng được bổ
sung, phát triển và hoàn thiện cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Nếu như trong
truyền thống hệ giá trị độc lập dân tộc và bảo vệ chủ quyền quốc gia thì trong giai
đoạn hiện nay là độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội. Đây là hệ giá trị thiêng
liêng trong giai đoạn hiện nay. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư
tưởng chính trị đặc sắc, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Độc
lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý
tưởng, là điều kiện bảo đảm cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc cho nhân dân, là
nhân tố bảo đảm vững chắc nền độc lập dân tộc. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên
quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững
chắc cho độc lập dân tộc.
Xuất phát từ quan điểm độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội thì biểu
hiện của lòng yêu nước trong giai đoạn hiện nay khác với lòng yêu nước truyền
thống. Yêu nước trong giai đoạn hiện nay là yêu chủ nghĩa xã hội, đấu tranh chống
đói nghèo, lạc hậu, âm mưu diễn biến hịa bình của các thế lực thù địch, quyết tâm
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Từ trong lịch sử xa xưa, các thể chế chính trị đều coi mục tiêu chính trị là
nhân dân, lực lượng chính trị cũng là nhân dân, dân là gốc. Hiện nay việc phát huy
quyền làm chủ của nhân dân được xem là mục tiêu chính trị quan trọng của Đảng
và Nhà nước ta. Hệ thống chính trị tập hợp và phát huy cao độ sức mạnh toàn dân
trong q trình thực thi quyền lực chính trị với cơ chế hoạt động: Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Chính sách đối ngoại của Việt Nam hiện nay là sự kết hợp tài tình giữa ngoại
giao truyền thống mang tính hịa hiếu, hịa bình, nhân nghĩa, thủy chung với những
tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh được vận dụng linh hoạt và sáng
tạo trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các
vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế theo các ngun tắc: tơn trọng
độc lập, chủ quyền và tồn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau; tơn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi,…
12
Thứ ba, văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay là một nền văn hóa chính trị
cách mạng – khoa học – nhân văn theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta
tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển
kinh tế vì mục tiêu xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống của nhân dân, đảm bảo
công bằng, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc cho con người. Thế nhưng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ phát triển trên nền tảng một nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân vì dân, thực chất nói đến một nền chính trị
thật sự dân chủ. Phát triển kinh tế, xây dựng nhà nước pháp quyền theo mục tiêu
nhân văn trong nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Đây là sự
tìm tịi sáng tạo trên con đường đi tới một nền chính trị văn hóa cao của Đảng và
nhân dân ta.
Ngồi ra, văn hóa chính trị hiện nay cịn thể hiện ở tính khoa học. Xây dựng
nền văn hóa chính trị với sự tiếp nhận những giá trị tiên tiến, những quy luật phát
triển xã hội, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng hệ thống chính trị khoa học
và phù hợp với đặc điểm Việt Nam.
Như vậy, văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay với những đặc điểm cơ bản
nêu trên là sự nối tiếp từ truyền thống đến hiện đại. Đó là sự nối dài, phát huy,
nâng lên tầm cao mới các giá trị truyền thống làm cho các giá trị ấy được kết tủa,
bồi đắp ngày càng phong phú, đa dạng, khoa học, nhân văn phù hợp với hoàn cảnh
mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
2.3. Văn hóa chính trị thể hiện trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam hiện nay
Xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh là mục tiêu mang đậm tính văn hóa chính trị nhân văn sâu sắc, mà
đất nước ta, nhân dân ta vươn tới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta.
Nét văn hóa chính trị trong sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở các khía
cạnh sau:
13
Thứ nhất, về lựa chọn giá trị, Đảng ta khẳng định để xây dựng nền văn hóa
chính trị Việt Nam tiên tiến, hiện đại, cần kế thừa các giá trị văn hóa chính trị
truyền thống tốt đẹp được kết tinh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, kế
thừa các giá trị văn hóa chính trị tinh hoa của các nước trên thế giới, trên cơ sở lấy
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động. Chính vì cách lựa chọn giá trị như vậy nên trong bối cảnh các
nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ vào thập kỷ cuối cùng của
thế kỷ XX, Đảng ta vẫn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời chủ trương
thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đảng cũng khẳng định chúng ta
“đổi mới” nhưng tuyệt đối không "đổi màu". Bản chất nền chính trị của chúng ta là
khoa học, cách mạng, dân chủ và nhân văn. Đó là nền chính trị phấn đấu vì hạnh
phúc của nhân dân, hướng tới mục đích "dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng,
dân chủ, văn minh". Mục tiêu ấy không chỉ phù hợp với nguyện vọng của đông đảo
nhân dân Việt Nam, của lý tưởng xã hội xã hội chủ nghĩa, mà còn là mục tiêu cao
đẹp mà nhân loại tiến bộ hướng tới.
Thứ hai, trong đường lối xây dựng và phát triển kinh tế, Đảng chủ trương
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc xây dựng một
nền kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế khách quan, bởi kinh tế thị trường kích
thích sự phát triển kinh tế, phát huy sức sản xuất, khơi dậy tính năng động, sáng
tạo của con người, tính hiệu quả trong việc sử dụng hợp lý các nguồn lực...Tuy
nhiên, kinh tế thị trường cũng có rất nhiều mặt trái, đó là sự cạnh tranh tàn khốc
“cá lớn nuốt cá bé"; tạo ra sự bất cơng, bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo, phân
cực trong xã hội; khai thác cạn kiệt mơi trường, tài ngun vì mục tiêu lợi nhuận
kinh tế thuần túy; làm băng hoại nhiều giá trị đạo đức tốt đẹp; làm quan hệ con
người với con người trở nên sòng phẳng, lạnh lùng hơn; làm phai nhạt những giá
trị văn hóa truyền thống... Việc Đảng ta xác định xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa chính là để khắc phục những hạn chế vốn có của nền
kinh tế thị trường. Đây là khía cạnh văn hoá của tăng trưởng kinh tế: tăng trưởng
phải gắn liền với việc đảm bảo quyền lợi của đa số nhân dân lao động, với tiến bộ
và thực hiện công bằng xã hội.
14
Thứ ba, trong việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân. Việc khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đã
được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992. Văn
kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân. Quyền lực của nhà nước là thống nhất là của dân, khơng phân chia nhưng có
sự phân cơng và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi
cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến
pháp và pháp luật". Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước
ta là hợp quy luật phát triển của lịch sử vì "suy cho cùng chính là nhằm thực hiện
dân chủ. Pháp luật của Nhà nước ta luôn luôn là cơng cụ mạnh mẽ và có hiệu lực
đối với việc dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hội, bảo đảm quyền con người,
quyền công dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hố - xã hội...".
Tinh thần dân chủ trong tư duy chính trị của Đảng được thể hiện rất rõ ở tư
tưởng lấy “dân làm gốc”, và, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Một nền
chính trị nhân văn phải là nền chính trị tôn trọng quyền lợi của đa số nhân dân,
thực sự do dân làm chủ, nhà nước là cơ quan được ủy quyền để thực thi quyền lực
nhân dân, để thực hiện lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Những
bước tiến trong nhận thức lý luận và tư duy chính trị của Đảng được thể hiện rõ
trong hàng loạt các văn kiện ban hành trong thời kỳ đổi mới. Trong Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã chính
thức sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị". Hệ thống chính trị của chúng ta được
vận hành theo cơ chế: "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ".
Để tăng cường vai trò của Nhà nước và sự nghiêm minh của pháp luật, Nhà
nước đã ban hành nhiều luật khác nhau, nhằm làm cho mọi người sống và làm việc
theo pháp luật. Chủ trương cải cách bộ máy hành chính, trưng cầu ý kiến rộng rãi
của nhân dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
chính trị - xã hội chính là những bước tiến đáng chú ý của văn hố chính trị trong
thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
15
Thứ tư, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hồ bình,
hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hố, đa dạng hố
các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở
rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của
các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế
và khu vực. Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới
và các tổ chức quốc tế theo các ngun tắc: tơn trọng độc lập, chủ quyền và tồn
vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực
hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương
lượng hịa bình; tơn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Với đường lối và
chính sách đối ngoại rộng mở đó đến nay, chúng ta đã thiết lập quan hệ kinh tế thương mại với trên 170 quốc gia, nền kinh tế, đã ký kết khoảng 60 hiệp định kinh
tế - thương mại song phương, trong đó có tồn bộ các nước, nền kinh tế phát triển,
thị trường lớn. Chúng ta ngày càng hoạt động tích cực và hiệu quả, nâng cao vị thế
đất nước trong các thể chế hợp tác quốc tế.
Thứ năm, xác định “xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”. Để lãnh đạo đất
nước nắm bắt cơ hội, vượt qua khó khăn, đạt được mục tiêu cao cả đã đề ra, Đảng người lãnh đạo đất nước, phải có một đội ngũ cán bộ có văn hóa chính trị cao, có
trình độ và khả năng thực hiện các nội dung chính trị một cách văn hóa. Chính vì
thế, Đảng ln tiến hành đổi mới và chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán
bộ, đảng viên, giữ vững sự đoàn kết và uy tín của Đảng trong nhân dân. Bản chất
văn hố chính trị tiến bộ cũng xa lạ với tệ quan liêu, tham nhũng, xa hoa, lãng phí.
Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã tiến hành đổi mới và chỉnh đốn
Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, giữ vững sự đồn kết và uy tín
của Đảng, củng cố, và giữ vững niềm tin trong nhân dân. Văn kiện Đại hội VII của
Đảng khẳng định: "Đảng ta coi việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn và nâng cao năng lực
lãnh đạo của Đảng là yêu cầu quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng,
là công việc thường xuyên bảo đảm cho Đảng ta luôn ngang tầm nhiệm vụ cách
mạng" .
16
Tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, coi trọng phản biện xã hội, mở
rộng dân chủ trong tất cả các lĩnh vực, xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa... đã tạo nên những tiền đề, động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp đổi mới ở nước ta ngày càng tiến triển mạnh mẽ.
Phát huy những thành tựu đã đạt được, vượt qua những khó khăn, thách thức
trong q trình hội nhập quốc tế, đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng
cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, thực hiện tốt an sinh xã hội, giải quyết những
tồn đọng, những vấn đề gây bức xúc trong dân hiện nay..., sẽ là những yếu tố quan
trọng để nâng cao hơn nữa tính văn hóa chính trị trong sự lãnh đạo của Đảng,để
Đảng xứng đáng với tên gọi: "Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.
3. Những giải pháp để nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo
trong thời kỳ hội nhập quốc tế
3.1. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc nâng cao
nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đã lựa chọn đúng cán bộ cần phải dạy bảo lý
luận cho cán bộ”. Lý luận đóng vai trị quan trọng vì nó là hệ thống tư tưởng chủ
đạo được hình thành trên cơ sở tổng hợp các tri thức và kinh nghiệm của lồi người
tích lũy được trong quá trình lịch sử. Lý luận được đem ra giáo dục cho cán bộ,
đảng viên trước hết chính là lý luận chính trị - tư tưởng, lý luận cách mạng của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là lý luận liên quan trực tiếp tới
sự lãnh đạo của Đảng, tới việc củng cố lập trường tư tưởng và nhân sinh quan của
người cán bộ lãnh đạo.
Học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cái quan trọng nhất là học tập tinh thần,
học tập lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng để giải quyết những vấn
đề đặt ra trong công tác cách mạng, để nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn, đặc
biệt là khả năng tập hợp, thuyết phục và cổ vũ quần chúng. Học tập lý luận Mác Lê-nin phải gắn chặt với thực tiễn, không ngừng tổng kết thực tiễn.
Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh khơng chỉ là học tập tư tưởng lý luận mà còn
là học tập cả phương pháp, phong cách, đạo đức và lối sống của Người.
17
Đối với người cán bộ lãnh đạo nước ta, việc khơng ngừng nghiên cứu, học
tập tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một điều kiện cơ
bản để nâng cao trình độ lý luận, khả năng công tác và đạo đức cách mạng, một
điều kiện cơ bản để nâng cao văn hóa chính trị.
3.2. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc nắm
vững Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng
Cùng với việc nâng cao trình độ nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, việc nắm vững Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng
chính là cơ sở chủ yếu để nâng cao văn hóa chính trị. Cương lĩnh chính trị xác định
mục tiêu, con đường và những phương pháp chủ yếu trong cuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân, của Đảng và của các lực lượng cách mạng ở một giai đoạn tương
đối dài. Nó cũng chỉ ra những động lực, những hình thức, những phương tiện chủ
yếu để đạt được những mục tiêu chiến lược trong những giai đoạn chiến lược cách
mạng.
Nắm vững Cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ vững tính kiên định chính
trị, đồng thời, có khả năng đề ra và thực hiện những chủ trương, chính sách trên
các lĩnh vực cụ thể nhằm quán triệt đúng đắn Cương lĩnh, đường lối chính trị của
Đảng thì mới có thể kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, mới có cơ sở để nâng cao
những tố chất của người cán bộ lãnh đạo chính trị. Bất kỳ một sự dao động,
nghiêng ngả hoặc tính tốn sai trái nào trên những vấn đề thuộc về nguyên tắc của
Đảng đều có thể dẫn đến sự suy thối khơng chỉ văn hóa chính trị của cá nhân
người cán bộ lãnh đạo mà còn gây hại lớn cho Đảng và chế độ.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay ở nước ta, người cán bộ lãnh đạo cần
phải nắm vững một cách sâu sắc Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội và Đường lối đổi mới của Việt Nam.
3.3. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc trang bị
những kiến thức cơ bản về Khoa học chính trị và Khoa học lãnh đạo
Chính trị là một lĩnh vực rất phức tạp, nếu không được trang bị những tri
thức căn bản để hiểu rõ bản chất và quy luật vận động của đời sống chính trị thì
các chủ thể hoạt động chính trị rất dễ trở thành nạn nhân của những ảo tưởng chính
18
trị. Thời điểm hiện nay, Việt Nam đang triển khai nhiều nhiệm vụ quan trọng: Tiếp
tục phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống
chính trị và đi đơi với nó là thực hiện dân chủ hóa mạnh mẽ đời sống xã hội trong
bối cảnh tồn cầu hóa, bùng nổ thơng tin, trình độ dân trí ngày càng cao, đấu tranh
tư tưởng và chính trị trên quy mơ tồn thế giới ngày càng phức tạp,... Vì vậy, muốn
giải quyết đúng đắn những vấn đề chính trị thực tiễn hết sức phức tạp hiện nay,
chính trị cần phải dựa chắc chắn trên những luận cứ chính xác của khoa học,...
Khoa học chính trị đưa lại cho các chủ thể chính trị sự nhìn nhận tự giác, bao
quát, hệ thống với tất cả sự phong phú của đời sống chính trị trong nước và quốc tế
từ lịch sử đến hiện đại.
Đi đôi với yêu cầu trang bị những kiến thức về chính trị học đối với người
cán bộ lãnh đạo là yêu cầu trang bị những kiến thức về khoa học lãnh đạo (chủ yếu
là khoa học lãnh đạo chính trị) với tư cách là một khoa học chính trị đặc thù ở cấp
độ ứng dụng liên quan trực tiếp đến quy trình hoạt động của người cán bộ lãnh
đạo.
Khoa học lãnh đạo phải trang bị kiến thức và kỹ năng cho người cán bộ nắm
bắt và phân tích kịp thời những sự kiện, quá trình và tình huống chính trị cụ thể,
khả năng phân tích tâm trạng, thái độ, phản ứng chính trị ở các đối tượng khác
nhau trong những thời điểm khác nhau để có những quyết sách tương ứng và kịp
thời. Thực tế là, thiếu những kiến thức và kỹ năng hành động chính trị cụ thể do
Khoa học lãnh đạo đem lại, người cán bộ chính trị có thể rất lúng túng trước các
tình huống phức tạp và tế nhị địi hỏi phải ứng xử nhanh nhạy, chính xác.
3.4. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc rèn
luyện đạo đức, lối sống và phát huy tính tích cực chính trị của chủ thể chính
trị này
Ở đâu người cán bộ lãnh đạo cũng phải là người tiêu biểu về đạo đức và
thực hành đạo đức cách mạng để trở thành chỗ dựa và niềm tin cậy của nhân dân.
Để đạt được những phẩm chất đó, cán bộ lãnh đạo cần phải đẩy mạnh việc học tập
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng đạo đức mới. Rèn luyện đạo đức, lối
sống phải gắn liền với nâng cao ý thức pháp luật. Hơn ai hết, người cán bộ lãnh
19
đạo phải hiểu và hành động đúng theo kỷ cương, phép nước. Cán bộ lãnh đạo chủ
chốt, người đứng đầu phải thật sự tiêu biểu về đạo đức cách mạng. Thực hiện lời
dạy của Bác Hồ là cán bộ cấp trên làm gương cho cấp dưới, cấp trên có trong sáng
về đạo đức mới có thể giáo dục, kiểm tra được đạo đức của cấp dưới. Mỗi một
người cán bộ lãnh đạo phải là tấm gương về sự tự phấn đấu, rèn luyện khơng
ngừng mới có thể hồn thành trọng trách được giao.
Đối với bản thân người lãnh đạo, tự giác nâng cao phẩm chất đạo đức, năng
lực có tác dụng quyết định việc làm trịn cơng tác lãnh đạo. Điều đáng thất vọng là
có những người lãnh đạo đã khơng tự giác mà lại bng lỏng mình, tự cao, tự đại,
xa xỉ, phô trương, tư túng đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh và uy tín
của lãnh đạo nói chung.
Là người tiêu biểu về tính tích cực chính trị địi hỏi người lãnh đạo phải là
người khơng ngừng học tập. Những cán bộ lãnh đạo lười học, lười suy nghĩ, gặp
đâu làm đấy theo kinh nghiệm cũ sẽ khơng giúp được gì, thậm chí cịn là trở ngại,
kìm hãm sự nghiệp đổi mới. Người cán bộ lãnh đạo không những phải chú ý chăm
chỉ học tập mà còn coi trọng khổ luyện. Để đạt được một nền tảng trí tuệ vững chắc
cùng với một phẩm chất cao đẹp phải trải qua quá trình gian nan rèn luyện và phấn
đấu.
3.5. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc không
ngừng nâng cao trình độ văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân lao động
Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một nguyên tắc hoạt động chính trị: “Phải đưa
chính trị vào giữa dân gian”. Trình độ văn hóa chính trị của nhân dân là một thước
đo về hiệu quả hoạt động chính trị của những người lãnh đạo cộng sản hết lịng vì
quyền lợi của quần chúng lao động. Mặt khác, chỉ trên một nền tảng được bảo đảm
về văn hóa chính trị của nhân dân lao động thì việc nâng cao văn hóa chính trị của
cán bộ lãnh đạo mới có cơ sở thực tế để tiến hành. Hơn nữa, khi trình độ văn hóa
chính trị của nhân dân lao động được nâng cao sẽ tạo ra những thách thức cần thiết
địi hỏi người cán bộ phải có bước trưởng thành cao hơn, vì tư cách của họ là chủ
thể lãnh đạo mang tính tiên phong, dẫn đường. Một quốc gia dân tộc có một nền
văn hóa chính trị cao biểu hiện trước hết là trình độ văn hóa chính trị phổ quát của
20
nhân dân lao động và chiều cao văn hóa trí tuệ của những đại biểu ưu tú xuất hiện
trên cái nền tảng phổ qt ấy.
Nâng cao văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân lao động là nhằm lôi
cuốn mọi cơng dân vào hoạt động chính trị - xã hội, phát triển ở họ tính tích cực
chính trị, sự phản xạ và sự hưởng ứng nhanh chóng với những hiện tượng chính trị,
những nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước đề ra.
Nâng cao văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân sẽ khơi dậy được sự
sáng tạo của các nguồn lực xã hội trong công cuộc xây dựng đất nước. Trình độ
văn hóa chính trị là điều kiện bảo đảm cho người dân nắm bắt và thực hành dân
chủ. Và chỉ như thế, chế độ chính trị - xã hội mới đạt được sự ổn định và bền vững,
tạo ra được lợi thế so sánh phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Có phát huy dân
chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách
mạng tiến lên”.
Càng có trình độ văn hóa chính trị cao, con người càng nhận thức sâu hơn về
những giá trị xã hội, về quyền và nghĩa vụ của mình cũng như khả năng độc lập
đánh giá và suy lý về những tiến trình chính trị đang xảy ra. Với một trình độ văn
hóa chính trị nhất định, những cơng dân bình thường có thể thường xuyên ở trong
sự diễn tiến của những sự kiện quan trọng, nhanh chóng nhận biết những hành vi
và tư cách của các chủ thể lãnh đạo.
3.6. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với đổi mới công
tác cán bộ của Đảng
Công tác cán bộ là một phương diện lãnh đạo chủ yếu của Đảng. Chất lượng
của công tác cán bộ tác động trực tiếp, nhiều mặt đến đời sống và sự nghiệp của
người cán bộ, đảng viên. Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo ở nước ta
hiện nay có quan hệ mật thiết đến việc đổi mới công tác cán bộ của Đảng.
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, so với những yêu cầu, nhiệm vụ chính trị,
đội ngũ cán bộ nước ta cịn có nhiều mặt hạn chế cả về phẩm chất và năng lực.
Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, trong đó, có một nguyên nhân chủ yếu là
cơng tác cán bộ cịn chưa chủ động nhạy bén; thiếu một chiến lược cán bộ tổng thể;
21
hệ thống chính sách cán bộ thiếu đồng bộ; việc quán triệt các quan điểm và nguyên
tắc cơ bản của Đảng về công tác cán bộ chưa thật đầy đủ và sâu sắc.
Để có được những cán bộ đúng tiêu chuẩn, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ
chốt, đứng đầu, đáp ứng với nhiệm vụ mới mà cách mạng đề ra, công tác cán bộ
hiện nay cần tập trung một số vấn đề sau đây:
- Trên cơ sở xác định tiêu chuẩn của từng chức danh cán bộ ở các lĩnh vực
cơng tác, phải tiến hành phân tích và đánh giá cán bộ thật chính xác. Từ đó bố trí,
sử dụng cán bộ theo phương châm vừa ổn định vừa phát triển. Hiệu quả cơng việc
và uy tín lãnh đạo là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá và bố trí cán bộ.
- Bồi dưỡng kiến thức về mọi mặt cho cán bộ chủ chốt theo đặc điểm và yêu
cầu của từng loại cán bộ, để kịp thời đáp ứng được chức trách, nhiệm vụ đang đảm
nhiệm. Đổi mới chương trình, nội dung đào tạo. Bảo đảm phương châm lý luận
gắn liền với thực tiễn, đào tạo trong nhà trường gắn liền với rèn luyện trong thực
tế, kết hợp trang bị kiến thức nghiệp vụ với nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức,
kiến thức pháp luật, kỹ năng thực hành. Trang bị kiến thức vừa rộng vừa sâu, kết
hợp kiến thức cơ bản và kiến thức chuyên ngành.
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy chế, quy trình cơng tác cán bộ,
như quy hoạch cán bộ; tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ; điều động và luân chuyển
cán bộ; quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ; phê bình và bãi miễn cán bộ,... nhằm
làm cho cơng tác cán bộ đi vào nền nếp, có tính khoa học, bảo đảm theo nguyên
tắc và chuẩn mực chung. Trong đó, tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản, xuyên
suốt trong từng nội dung cụ thể của cơng tác cán bộ của Đảng.
- Đổi mới, hồn thiện hệ thống chính sách cán bộ nhằm phát huy được tính
tích cực, sự n tâm với cơng việc, nâng cao tính trách nhiệm của cán bộ, phát huy
được nhân tài. Hệ thống chính sách cán bộ phải bảo đảm quyền lợi gắn liền với
trách nhiệm, quyền lợi càng lớn, trách nhiệm càng nặng nề. Trong bối cảnh hiện
nay cần đột phá vào một số khâu cơ bản, như chính sách tiền lương cán bộ; chính
sách thu hút và khuyến khích tài năng.
22
KẾT LUẬN
Văn hóa chính trị là một bộ phận của chính trị nước ta. Nó có vai trị vơ
cùng quan trọng trong việc phát huy tính tự giác, chủ động, sáng tạo của các chủ
thể trong hoạt động chính trị. Chính văn hóa chính trị đã góp phần nâng cao nhận
thức, rèn luyện bản lĩnh chính trị; định hướng và điều chỉnh hành vi con người
trong quan hệ chính trị - xã hội.
Ở nước ta, văn hóa chính trị được hình thành và phát triển từ rất sớm dựa
trên sự kế thừa những truyền thống của dân tộc và nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính vì thế mà văn hóa chính trị nước ta rất phong
phú và đa dạng. Việc tìm hiểu rõ những giá trị tiêu biểu của văn hóa chính trị sẽ
góp phần làm rõ đặc điểm văn hóa chính trị nước ta. Qua đó sẽ tạo điều kiện phát
huy nhưng ưu điểm và khắc phục những mặt còn hạn chế làm động lực thúc đẩy sự
ổn định chính trị, phát triển xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, nâng cao văn hóa chính
trị của người cán bộ lãnh đạo là một điều kiện, một biện pháp quan trọng để nâng
cao vai trò lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lý của Nhà nước trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Văn hóa chính trị nói chung, văn hóa chính trị của người cán bộ lãnh đạo nói
riêng là một vấn đề rộng lớn chịu sự chế định của rất nhiều nhân tố khác nhau.
Việc nâng cao văn hóa chính trị của người cán bộ lãnh đạo, vì vậy còn phải được
đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với năng lực lãnh đạo của Đảng, với văn hóa Đảng,
sự ổn định của hệ thống chính trị, sự hồn thiện của Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, sự dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, cuộc đấu tranh chống
tham nhũng và việc tạo lập môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội hiện thực bền
vững và phát triển.
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI, Sđd, tr.86.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI, Sđd, tr.86.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban
Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
tr45.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.171-172.
5. Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, tr778 – 779.
6. Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51, NXB Chính trị quốc gia, HN 2007, tr47.
7. Văn kiện Đảng tồn tập, tập 51, NXB Chính trị quốc gia, HN 2007,
tr49.
8. Bùi Trọng Tài – Lê Văn Cảnh, “Tập bài giảng Chính trị học đại cương”
9. Bùi Văn Nam Sơn, “Văn hóa và văn hóa chính trị”,
10.Trần Ngọc Thêm, giáo trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam”
/>
24