Tải bản đầy đủ (.pdf) (621 trang)

Niên giám thống kê tp đà nẵng 2019 danang city statistical yearbook 2019

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.96 MB, 621 trang )

1


Chủ biên:
TRẦN VĂN VŨ
Cục trưởng Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng

Chief author:
TRAN VAN VU
Director of Da Nang city Statistics Office

Tham gia biên soạn:
PHỊNG THỐNG KÊ TỔNG HỢP
và các phịng nghiệp vụ Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng

Compiling staff:
Experts of General division
with the collaboration of professionally Statistical division
of Da Nang city Statistics Office

2


LỜI NÓI ĐẦU
Niên giám Thống kê thành phố Đà Nẵng do Cục Thống kê thành phố
Đà Nẵng biên soạn và phát hành hàng năm để đáp ứng các yêu cầu nghiên
cứu tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố.
Niên giám Thống kê thành phố Đà Nẵng năm 2019 bao gồm số liệu
tình hình kinh tế - xã hội chính thức các năm 2010, 2015, 2016, 2017, 2018
và số liệu sơ bộ năm 2019. Trong lần biên soạn này, chỉ tiêu tổng sản phẩm
trên địa bàn và một số chỉ tiêu liên quan khác được cập nhật theo “Kết quả


đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn giai đoạn 2010-2018” do
Tổng cục Thống kê thực hiện và công bố theo Công văn số 1448/TCTKTKQG ngày 14 tháng 11 năm 2019; chỉ tiêu về dân số, lao động được cập
nhật theo “Kết quả điều chỉnh dân số 10 năm giai đoạn 2010-2019” dựa trên
cơ sở dữ liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019.
Trong Niên giám thống kê các ký hiệu nghiệp vụ cần lưu ý:
* Khơng có hiện tượng phát sinh: (-)
* Có phát sinh nhưng khơng thu thập được: (...)
Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng chân thành cảm ơn những ý kiến
đóng góp của bạn đọc đối với các lần xuất bản trước và mong tiếp tục nhận
được nhiều ý kiến xây dựng để Niên giám thống kê thành phố ngày càng
đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng tin.
CỤC THỐNG KÊ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3


FOREWORD
Danang city Statistical Yearbook is annually compiled and
published by Danang city Statistics Office in order to meet the
requirement of researching the socio-economic situation in the area of
Danang city.
Danang city Statistical Yearbook 2019 includes statistics data
that reflects the city’s socio-economic situation over 2010, 2015, 2016,
2017, 2018 and preliminary 2019. In this compilation, the items of
gross regional domestic product and other relevant criteria were updated
according to "Re-evaluation results of Gross regional domestic product
during the 2010-2018 period" calculated and published by the General
Statistics Office and Document No.1448/TCTK-TKQG dated November
14th, 2019; the population and labor indicators were updated according
to the "Results of 10-year population adjustment for 2010-2019" based on

the 2019 Population and Housing Census data.
Special symbols used in the yearbook:
* No facts occurred: (-)
* Facts occurred but no information: (...)
Da Nang city Statistics Office would like to express its sincere
thanks to all readers for their suggestions and criticisms of its previous
publications, and hopes to receive more comments to improve the
Statistical Yearbook in the next release and better satisfy the demands of
readers.
DANANG CITY STATISTICS OFFICE

4


MỤC LỤC - CONTENTS
Trang
Page

Lời nói đầu
Foreword

3
4

Tổng quan kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng năm 2019
Overview on socio-economic situation in Da Nang in 2019

7
17


Đơn vị hành chính, Đất đai và Khí hậu
Administrative Unit, Land and Climate

29

Dân số và lao động
Population and labour

47

Tài khoản quốc gia, Ngân sách Nhà nước và Bảo hiểm
National Accounts, State Budget and Insurance

105

Đầu tư và Xây dựng
Investment and Construction

145

Doanh nghiệp, Hợp tác xã và Cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể
Enterprise, Cooperative and individual business establishment

179

Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản
Agriculture, Forestry and Fishing

371


Công nghiệp - Industry

431

Thương mại và Du lịch
Trade and Tourism

461

Chỉ số giá - Price index

483

Vận tải, Bưu chính và Viễn thông
Transport, Postal service and Telecommunication

511

Giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ
Education, training and science, technology

533

Y tế, thể thao, mức sống dân cư, trật tự, an toàn xã hội, tư pháp và môi trường
Health, sport, living standards, social order, safety, justice and environment

577

5



6


TỔNG QUAN KINH TẾ - XÃ HỘI
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NĂM 2019
Kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng năm 2019 diễn ra trong bối cảnh
kinh tế Việt Nam đang tiếp tục chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mơ ổn định,
lạm phát được kiểm sốt ở mức thấp. Chính phủ xác định năm 2019 là năm
bứt phá để hoàn thành kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 và kỷ niệm 50 năm thực
hiện di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với phương châm "Kỷ
cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả".
Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta cũng đối mặt khơng ít khó khăn, thách
thức: thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây
trồng; ngành chăn ni gặp khó khăn khi dịch tả lợn châu Phi lây lan trên
diện rộng; nhiều mặt hàng nông sản, thủy sản không thuận lợi về thị trường
và giá xuất khẩu; giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp.
Đối với thành phố Đà Nẵng, năm 2019 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị
quyết số 43-NQ/TW ngày 24/01/2019 về xây dựng và phát triển thành phố
Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, mở ra định hướng quan
trọng, lâu dài cho sự phát triển thành phố. Trên cơ sở đó, thành phố đã tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ
năm 2019, trọng tâm là đẩy mạnh thực hiện chủ đề “Năm tiếp tục đẩy mạnh
thu hút đầu tư”. Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thành ủy,
HĐND và UBND, các sở, ngành, địa phương trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng đã nỗ lực thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải
pháp do cấp trên chỉ đạo, điều hành. Tình hình kinh tế - xã hội năm 2019 cơ
bản ổn định. Đà Nẵng tiếp tục duy trì thứ hạng dẫn đầu cả nước năm thứ 11
liên tiếp về Chỉ số sẵn sàng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông. Tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2019 tiếp tục phát triển đạt
mức tăng trưởng 6,42% so với năm 2018; lạm phát được kiểm soát; môi

trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, doanh nghiệp thành lập mới tiếp
tục tăng cao; thu hút đầu tư nước ngoài và giải ngân vốn FDI tăng vượt trội;
an sinh xã hội được quan tâm thực hiện.
7


Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, kinh tế Đà Nẵng trong năm qua
cũng đối mặt khơng ít khó khăn, thách thức: Tiến độ giải ngân vốn đầu tư
cơng cịn thấp, vốn đầu tư chiếm tỷ lệ trên GRDP ngày càng giảm đã tác
động đến động lực tăng trưởng; giá các mặt hàng thực phẩm không ổn định,
đặc biệt những tháng cuối năm có xu hướng tăng cao do ảnh hưởng của dịch
tả lợn Châu Phi; lĩnh vực sản xuất cơng nghiệp có dấu hiệu trì trệ, đặc biệt là
ngành cơng nghiệp chế biến, chế tạo có tốc độ tăng thấp nhất trong vòng 9
năm kể từ năm 2011; thu hút khách quốc tế tăng cao nhưng doanh thu từ các
hoạt động phục vụ du khách có xu hướng tăng chậm lại; diễn biến thời tiết
và tình trạng cháy nổ, tai nạn giao thơng, tệ nạn ma túy cịn phức tạp... Đây
là những thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng
trong năm 2019.
1. Tổng sản phẩm trên địa bàn
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2019 ước tính tăng 6,42%
so với năm trước, là mức tăng khá thấp trong cả giai đoạn 2011-2019 (chỉ
cao hơn năm 2012). Trong mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế Đà Nẵng,
khu vực dịch vụ tăng 7,43%, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung với
4,74 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,39%, đóng
góp 1,00 điểm; khu vực nơng, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,80%, đóng
góp 0,05 điểm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản xuất tăng 5,43%, đóng góp
0,63 điểm.
Quy mơ tồn nền kinh tế năm 2019 ước đạt hơn 110,8 nghìn tỷ đồng,
tăng gần 9,4 nghìn tỷ đồng so với năm 2018. Tổng sản phẩm trên địa bàn
bình quân đầu người đạt 97,1 triệu đồng/người/năm, tương đương 4.156

USD (tăng 5,63% tính theo USD so với năm 2018).
Về cơ cấu trong quy mô nền kinh tế, cơ cấu giá trị tăng thêm (VA)
năm 2019 có sự chuyển dịch nhẹ giữa khu vực dịch vụ và khu vực công
nghiệp - xây dựng. VA khu vực dịch vụ chiếm 64,27% trong GRDP, cao
hơn tỷ trọng 63,74% của năm 2018; khu vực công nghiệp và xây dựng
chiếm 22,65%, thấp hơn tỷ trọng 23,06% của năm 2018; khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 1,88%, thay đổi không đáng kể so với tỷ
trọng 1,89% của năm 2018; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm
11,20%, thấp hơn mức 11,31% của năm 2018.
8


Với mức tăng 6,42% của toàn nền kinh tế trên địa bàn, Đà Nẵng trở
thành địa phương có tốc độ tăng GRDP thấp nhất trong số 5 thành phố trực
thuộc trung ương, giảm 3 bậc so với năm 20181; xếp ở vị trí thứ 3 trong 5
tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung2, sau Thừa Thiên
- Huế và Bình Định. Tuy nhiên, GRDP tính bình qn đầu người năm 2019
cao nhất trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và xếp thứ 4 trong khối
các thành phố trực thuộc trung ương.
2. Thu, chi ngân sách Nhà nước và Bảo hiểm
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn năm 2019 theo tính tốn sơ
bộ đạt 46.982 tỷ đồng, tăng 6.416 tỷ đồng (tăng 15,8%) so với năm 2018,
trong đó thu cân đối ngân sách đạt 43.724 tỷ đồng, tăng 19,3%. Tổng chi
ngân sách Nhà nước năm 2019 sơ bộ đạt 28.343 tỷ đồng, bằng 74,6% tổng chi
của năm 2018, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 6.903 tỷ đồng, tăng 23,0%; chi
phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính
đạt 14.818 tỷ đồng, tăng 15,1%. Đặc biệt, chi chuyển nguồn ngân sách năm
2019 chỉ bằng 14,2% so với năm 2018, giảm hơn 13 nghìn tỷ đồng, đây cũng
là nguyên nhân chính làm giảm tổng chi ngân sách năm 2019.
Tổng số thu bảo hiểm năm 2019 đạt 5.414 tỷ đồng, tăng 7,5% so với

năm 2018, trong đó: thu Bảo hiểm xã hội đạt 3.782 tỷ đồng, tăng 9,3%,
chiếm 69,9% trong tổng thu; thu Bảo hiểm y tế đạt 1.344 tỷ đồng, tăng
2,7%, chiếm 24,8%; thu Bảo hiểm thất nghiệp đạt 288 tỷ đồng, tăng 9,1%,
chiếm 5,3%.
Tổng số chi bảo hiểm năm 2019 đạt 6.805 tỷ đồng, tăng 15,7% so với
năm 2018, trong đó: chi Bảo hiểm xã hội đạt 4.146 tỷ đồng, tăng 18,8%,
chiếm 60,9%; chi Bảo hiểm y tế đạt 2.367 tỷ đồng, tăng 10,3%, chiếm
34,8%; chi Bảo hiểm thất nghiệp đạt 292 tỷ đồng, tăng 18,2%, chiếm 4,3%.

1

Tốc độ tăng GRDP năm 2019 của các thành phố trực thuộc Trung ương: Hải Phịng: 16,62%;
TP. Hồ Chí Minh: 7,83%; Hà Nội: 7,63%; Cần Thơ: 7,73%; Đà Nẵng: 6,42%
2
Tốc độ tăng GRDP năm 2019 của 5 tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung: Thừa Thiên Huế: 7,27%; Bình Định: 6,85%; Đà Nẵng: 6,42%; Quảng Ngãi: 4,69%;
Quảng Nam: 4,51%.
9


3. Đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện năm 2019 theo giá hiện hành ước đạt 40.162
tỷ đồng, tăng 4,0% so với năm 2018. Trong đó, vốn khu vực nhà nước đạt
8.647 tỷ đồng (chiếm 21,5% tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội), tăng
6,0% so với năm 2018; khu vực ngoài nhà nước đạt 25.651 tỷ đồng (chiếm
63,9%), giảm 2,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 5.863 tỷ
đồng (chiếm 14,6%), tăng 43,7%. Tỷ lệ vốn đầu tư tồn xã hội năm 2019 tính
trên GRDP ước đạt 36,3%, thấp hơn tỷ lệ 38,1% của năm 2018.
Về thu hút đầu tư, với chủ đề “Năm tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư”,
năm 2019, thu hút đầu tư nước ngoài vào thành phố Đà Nẵng đạt kết quả ấn

tượng, tuy số dự án giảm 03 dự án (133/136 dự án) nhưng vốn đăng ký mới
và tăng thêm; giá trị mua cổ phần và vốn đầu tư thực hiện của phía đối tác
nước ngồi đều tăng mạnh. Năm 2019, thành phố đã thu hút được 8.830 tỷ
đồng vốn đầu tư trong nước và 691 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài, cụ
thể: (1) Đầu tư trong nước: Đã cấp 09 Quyết định chủ trương đầu tư với
tổng vốn đầu tư là 8.830 tỷ đồng; (2) Về FDI: có 133 dự án cấp mới với
tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 438 triệu USD (năm 2018 có 136 dự án, tổng
vốn đầu tư đăng ký gần 286 triệu USD); có 16 dự án tăng vốn, tổng vốn
tăng thêm 117,4 triệu USD (Năm 2018 có 18 dự án tăng vốn, tổng vốn tăng
thêm 21,2 triệu USD); có 210 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần,
phần vốn góp trong tổ chức kinh tế với tổng vốn 135,3 triệu USD (năm
2018 có 230 lượt, tổng vốn 55,5 triệu USD). Như vậy, lũy kế đến nay thành
phố có 331 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư là 104.707 tỷ đồng;
số dự án FDI còn hiệu lực lũy kế đến cuối năm 2019 là 812 dự án FDI với
tổng vốn đầu tư 3.470 triệu USD.
4. Chỉ số giá và lạm phát
Lạm phát năm 2019 được kiểm soát, lạm phát cơ bản ở mức 1,46%,
thấp nhất trong 3 năm 2017-20193. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2019
tăng 2,79% so bình quân cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với mức tăng bình
3

Lạm phát cơ bản bình quân năm: Năm 2017: 2,05%; 2018: 2,14%; 2019: 1,46%.
10


quân của năm 2018 (năm 2018 tăng 3,22%). Những nhóm hàng tăng cao
hơn so với mức tăng bình quân chung như: Giáo dục tăng 6,34%; nhà ở,
điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,25%; hàng ăn và dịch vụ ăn
uống tăng 3,73%, thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,17%; đồ uố ng và thuố c lá
tăng 3,16%. Những nhóm hàng tăng thấp hơn mức tăng bình quân chung:

Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,43%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng
0,61%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,43%; thiết bị và đồ dùng gia đình
tăng 0,44%. Những nhóm có CPI giảm so với bı̀nh qn cùng kỳ năm trước
gờ m: nhóm giao thơng giảm 1,38%; nhóm bưu chính viễn thơng giảm
0,38% so bình quân cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá vàng tháng 12/2019 tiếp tục giảm 0,29% so với tháng trước
(tháng 11, chỉ số nhóm này giảm 0,24%). Tuy nhiên do những tháng trước
đó giá vàng tăng khá cao nên tính bình quân năm 2019, chỉ số giá vàng tăng
9,16% so với bình qn cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đơ la Mỹ tháng 12/2019 giảm 0,09% so với tháng trước;
bình quân năm 2019 tăng 1,28% so với năm trước.
5. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Năm 2019, có 5.499 doanh nghiệp, chi nhánh và văn phòng đại diện
thành lập mới, tổng vốn đăng ký đạt 31.071 tỷ đồng, tăng 7,4% về số
lượng và tăng 13,3% về tổng vốn đăng ký so với năm 2018. Trong đó: có
4.739 doanh nghiệp, tăng 5,7%; 760 chi nhánh, văn phòng đại diện và địa
điểm kinh doanh, tăng 18,9% so với năm 2018.
Số doanh nghiệp, chi nhánh và văn phòng đại diện đăng ký tạm ngừng
hoạt động trong năm 2019 là 21 đơn vị, giảm 25,0% so với năm 2018, trong
đó có 19 doanh nghiệp, giảm 8 doanh nghiệp; 2 đơn vị trực thuộc, tăng 01
đơn vị.
Trong năm 2019, thành phố đã hoàn tất thủ tục giải thể cho 185 doanh
nghiệp, đơn vị trực thuộc, trong đó có 11 doanh nghiệp, giảm 45,0% và 174
đơn vị trực thuộc, tăng 20,8% so với năm 2018.
6. Kết quả sản xuất kinh doanh một số ngành, lĩnh vực
11


6.1. Khu vực nơng, lâm nghiệp gặp khó khăn do hạn hán, biến đổi khí
hậu ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng cây trồng, ngành chăn nuôi thiệt

hại nặng nề bởi dịch tả lợn châu Phi; điểm sáng của khu vực này là ngành
thủy sản, sản lượng thủy sản đánh bắt và ni trồng tiếp tục duy trì được
mức tăng so với năm trước.
Năm 2019, diện tích gieo trồng lúa đạt 5.080 ha, giảm 2,1% so với
năm 2018; sản lượng lúa thu hoạch đạt 30.769 tấn, giảm 3,7%. Tổng sản
lượng lương thực có hạt có xu hướng giảm sâu, đạt 31.882 tấn, giảm 5,6%.
Do dân số tăng; nhưng tổng sản lượng lương thực có hạt giảm so với năm
trước, vì vậy sản lượng lương thực có hạt bình qn đầu người năm 2019
chỉ đạt 27,9 kg/người, giảm 2,35 kg/người so với năm 2018.
Diện tích rừng trồng mới tập trung của thành phố Đà Nẵng năm 2019
giảm mạnh, chỉ đạt 1.406 ha, giảm 39,0% so với năm 2018. Sản lượng khai
thác gỗ đạt 138,2 nghìn m3, giảm 13,7% so với năm 2018, sản lượng củi đạt
105,1 nghìn ster, tăng 2,8%.
Sản lượng thủy sản năm 2019 đạt 38.681 tấn, tăng 3,9%, trong đó sản
lượng khai thác đạt 37.636 tấn, tăng 3,8% (khai thác biển đạt 37.530 tấn),
sản lượng nuôi trồng đạt 1.045 tấn, tăng 5,2%.
6.2. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng chậm, chỉ số sản xuất
công nghiệp (IIP) năm 2019 đạt mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2019.
Chı̉ số sản xuất công nghiê ̣p năm 2019 tăng 4,25% so với năm trước.
Trong đó, ngành cơng nghiệp khai khoáng giảm 16,70%; công nghiê ̣p chế
biến, chế tạo tăng 4,57%, công nghiệp sản xuất và phân phố i điê ̣n ước tăng
4,74%; sản xuất nước và xử lý rác thải ước tăng 6,86%.
Chỉ số tiêu thụ tồn ngành cơng nghiệp chế biến, chế tạo năm 2019
tăng 0,08% so với năm 2018, trong đó các ngành có chı̉ số tiêu thu ̣ tăng
cao vượt trội phải kể đến như: sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất
tăng 34,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 25,8%; sản xuất
đồ uống tăng 22,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,1%;
sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,0%... Các ngành có chı̉ số tiêu thu ̣
giảm sâu so với năm trước như: sản xuất kim loại (-30,6%); chế biến gỗ và
sản xuất các sản phẩm từ gỗ (-17,1%); sản xuất xe có động cơ (-13,8%);

12


ngành dệt (-9,6%)…
Chỉ số tồn kho của ngành chế biến, chế tạo tại thời điểm cuối tháng
12/2019 tăng 52,6% so với cùng thời điểm năm 2018, trong đó một số
ngành có chỉ số tồn kho giảm như: dê ̣t (-20,4%); sản xuất kim loại (-2,7%);
sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang ho ̣c (-0,9%). Một
số ngành chỉ số tồn kho tăng nhưng thấp hơn mức tăng chung như: sản xuất
trang phục (+13,9%); sản xuất kim giường, tủ, bàn, ghế (+14,0%); sản xuất
thiết bị điện (+15,1%); sản xuất và chế biến thực phẩm (+31,2%). Một số
ngành chỉ số tồn kho tăng cao phải kế đến như: sản xuất máy móc, thiết bị
chưa được phân vào đâu (+140,3%); sản xuất xe có động cơ (+135%); chế
biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ (+120,4%)…
Chỉ số sử dụng lao đô ̣ng của doanh nghiê ̣p công nghiê ̣p năm 2019
giảm 11,88% so với bình quân năm trước. Trong đó, ngành khai khống
giảm 14,66%; ngành cơng nghiệp chế biến, chế tạo giảm 12,39%, ngành sản
xuất và phân phối điện khí đốt tăng 1,13%; cung cấp nước, hoạt động quản
lý và xử lý nước thải tăng 0,29%. Chỉ số sử dụng lao động giảm hầu hết ở
các loại hình doanh nghiệp, trong đó khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài giảm sâu nhất (-21,1%); khu vực ngoài quốc doanh giảm 8,0%
và khu vực Nhà nước giảm 3,8% so với năm trước.
6.3. Hoạt động thương mại, dịch vụ năm 2019 diễn ra sôi động, cầu
tiêu dùng trong dân tăng, nguồn cung hàng hóa dồi dào, chất lượng được
đảm bảo, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người dân.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2019
ước đạt 111,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với năm 2018, thấp hơn mức
tăng năm 2018 (năm 2018 tăng 14,4% so với năm 2017).
Vận tải hành khách bằng đường bộ, đường thủy ước đạt 54,5 triệu
lượt khách, tăng 10,9% so với năm 2018, tương đương 1.756 triệu lượt

khách.km, tăng 7,7%, trong đó chủ yếu là đường bộ; vận tải hàng hóa bằng
đường bộ, đường thủy ước đạt 44,4 triệu tấn, tăng 10,9%, tương đương
4.118 triệu tấn.km, tăng 10,4%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú và lữ hành đạt 9.651 tỷ đồng, tăng 12,7% so
với năm 2018, thấp hơn mức tăng 30,0% của năm 2018.
13


Tổng lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ năm 2019 đạt 7,4 triệu lượt,
tăng 21,9%, trong đó khách quốc tế đạt 2,9 triệu lượt, tăng 24,1%; tổng lượt
khách cơ sở lữ hành phục vụ năm 2019 đạt 2,03 triệu lượt, tăng 23,6%,
trong đó khách quốc tế đạt 1.135 nghìn lượt, tăng 40,6%, khách trong nước
đạt 499 nghìn lượt, tăng 2,9%, khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài đạt
396 nghìn lượt, tăng 13,1%.
6.4. Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2019 giảm nhẹ do các
doanh nghiệp gặp khó khăn trong tìm kiếm đơn hàng và thị trường xuất
khẩu; kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực như: dệt may, sắt thép,
linh kiện điện tử... được xem là thế mạnh trong lĩnh vực xuất khẩu của Đà
Nẵng đang có xu hướng giảm do quy mơ sản xuất năm 2019 bị thu hẹp.
Năm 2019, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 2.695 triệu
USD, giảm 9,0% so với năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt
1.482 triệu USD, giảm 7,2%; kim ngạch nhập khẩu đạt 1.214 triệu USD,
giảm 11,0%.
Cán cân thương mại hàng hóa năm 2019 tiếp tục xuất siêu 268 triệu
USD, cao hơn năm 2017 và 2018 (năm 2017: xuất siêu 185 triệu USD; năm
2018: 232 triệu USD). Độ mở của nền kinh tế năm 2019 ước đạt 58,7%,
tăng nhẹ so với năm 20184.
7. Một số vấn đề xã hội
7.1. Dân số, lao động và việc làm
Dân số trung bình năm 2019 tồn thành phố Đà Nẵng đạt 1.141,1

nghìn người, tăng 26,8 nghìn người, tương đương tăng 2,4% so với năm
2018, trong đó dân số thành thị 994,6 nghìn người, chiếm 87,2%; dân số
nơng thơn 146,5 nghìn người, chiếm 12,8%; dân số nam 562,4 nghìn người,
chiếm 49,3%; dân số nữ 578,7 nghìn người, chiếm 50,7%.
Năm 2019, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của Đà Nẵng đạt
606,7 nghìn người, tăng 5,3 nghìn người so với năm 2018, trong đó, lao
4

Độ mở của nền kinh tế theo nghĩa hẹp được đo bằng giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu/GRDP.
Năm 2016, độ mở nền kinh tế của Đà Nẵng đạt 70,53%; năm 2017: 72,46%; năm 2018: 56,82%.
14


động nam chiếm 52,1%; lao động nữ chiếm 47,9%; lực lượng lao động ở
khu vực thành thị chiếm 85,4%; lực lượng lao động ở khu vực nông thôn
chiếm 14,6%.
Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm
2019 ước tính 586,2 nghìn người, tăng 11,7 nghìn người so với năm 2018,
trong đó khu vực nơng, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 4,9%; khu vực công
nghiệp và xây dựng chiếm 28,8%; khu vực dịch vụ chiếm 66,4%.
Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi năm 2019 là
3,55%, trong đó khu vực thành thị là 3,37%; khu vực nông thôn là 4,73%.
Tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi năm 2019 là
0,52%, trong đó khu vực thành thị là 0,38%; khu vực nông thôn là 1,44%.
Năng suất lao động xã hội của toàn nền kinh tế năm 2019 theo giá hiện
hành ước đạt 189,0 triệu đồng/lao động/năm. Phân theo loại hình kinh tế,
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt mức cao nhất với 273,0 triệu đồng/lao
động/năm; phân theo khu vực kinh tế, khu vực dịch vụ đạt mức cao nhất với
183,0 triệu đồng/lao động/năm.
7.2. Đời sống dân cư

Năm 2019, thu nhập bình quân đầu người một tháng chung toàn thành
phố theo giá hiện hành ước đạt 6.057 nghìn đồng, tăng 10,03% so với năm
2018. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều năm 2019 là 0,69%.
7.3. Trật tự an toàn xã hội
Năm 2019, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã xảy ra 83 vụ tai nạn
giao thông, giảm 17 vụ so với năm trước, trong đó: tai nạn giao thơng
đường bộ xảy ra 82 vụ, giảm 15 vụ; tai nạn giao thông đường sắt 1 vụ, giảm
2 vụ. Số người chết do tai nạn giao thông năm 2019 là 54 người, giảm 5
người so với năm trước và số người bị thương do tai nạn giao thông là 43
người, giảm 28 người. Nhìn chung, năm 2019 tai nạn giao thơng giảm cả ba
tiêu chí: số vụ, số người chết và số người bị thương.
Năm 2019, toàn thành phố đã xảy ra 268 vụ cháy, nổ lớn nhỏ, giảm
140 vụ so với năm trước, làm chết 01 người và bị thương 02 người, tổng
15


thiệt hại ước tính khoảng 25,1 tỷ đồng. So với năm 2018, số người chết do
cháy nổ tăng 01 người, số người bị thương tăng 02 người, tổng giá trị thiệt
hại ước tính tăng 24,7 tỷ đồng.
Năm 2019, có 942 vụ án đã khởi tố với 1.389 bị can bị khởi tố, tăng
4,4% số vụ và 2,4% số bị can so với năm 2018; 896 vụ đã truy tố với 1.404
bị can bị truy tố, tăng 22,7% số vụ và 15,4% số bị can; có 897 vụ với 1.410
tội phạm đã bị kết án, tăng 19,1% số vụ và 9,4% số tội phạm bị kết án.
Nhìn chung, trong bối cảnh cịn nhiều khó khăn, phát sinh nhiều vấn
đề phức tạp, tác động đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, cũng
như công tác chỉ đạo, điều hành của thành phố, song dưới sự chỉ đạo của
Thành ủy, sự giám sát chặt chẽ của HĐND và UBND thành phố Đà Nẵng,
kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng năm 2019 tuy còn nhiều chỉ tiêu chưa
đạt kế hoạch đề ra nhưng vẫn duy trì được đà tăng trưởng.
Với mục tiêu "Năm tiế p tu ̣c đẩy mạnh thu hút đầu tư”, thành phố đã

ban hành nhiều chính sách giải pháp nhằm đẩy mạnh đầu tư trong nước, thu
hút đầu tư nước ngồi, cải thiện mạnh mẽ mơi trường đầu tư, thúc đẩy triển
khai các dự án; khẩn trương triển khai điều chỉnh quy hoạch chung thành phố
Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 gắn với thiết kế chiến lược
phát triển kinh tế thành phố đến năm 2030. Trong tương lai, Đà Nẵng có thể
trở thành một đô thị lớn theo hướng sinh thái, thông minh, thành phố biển
đẳng cấp quốc tế, trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực miền Trung và cả
nước; Đà Nẵng đủ điều kiện để phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao,
giá trị gia tăng lớn và công nghiệp công nghệ cao; kết cấu hạ tầng giao thơng,
đơ thị đồng bộ, hiện đại; có văn hóa, văn minh đơ thị lành mạnh, thân thiện; là
thành phố mơi trường sẵn sàng thích ứng với biến đổi khí hậu, giữ vị trí chiến
lược về quốc phịng, an ninh, chủ quyền biển đảo và cốt lõi về liên kết phát
triển vùng của khu vực miền Trung và cả nước./.

16


OVERVIEW ON SOCIO-ECONOMIC SITUATION
IN DA NANG IN 2019
The socio-economic situation of Da Nang city in 2019 performed in the
context of the Vietnam economy’s positive change, stable macroeconomic,
low inflation. The Government identified that the year 2019 was a
breakthrough year to complete the 5-year plan from 2016 to 2020 and
celebrated 50 years of implementing President Ho Chi Minh's Testament,
with the motto "Discipline, integrity, action, creativity and efficiency".
Nevertheless, our country's economy also faced many difficulties and
challenges: the complex weather condition affected on productivity and crop
yields; the livestock encountered a lot of difficulty because of African swine
fever; many agricultural and aquatic products had difficulty due to
unfavorable market and export prices; the disbursement of public

investment was low.
To Da Nang city, in 2019 the Politburo issued Resolution No. 43NQ/TW dated January 24th, 2019 on building and developing Da Nang city
to 2030 with a vision to 2045, opening an important and long-term
orientation for the city development. On that basis, the city focused on
leading and directing the implementation of the Resolution on orientations
and tasks in 2019, the central point was to boost the implementation of the
theme "The Year of Continuing to Boost Investment Attraction". Under the
drastic direction of the Government, Party Committee, People's Council and
People's Committee, departments, branches and localities in Da Nang city
made efforts to implement synchronously and effectively the goals, tasks,
and solutions. The socio-economic situation in 2019 was stable. The Index
of Information Technology Development and Application Readiness of Da
Nang continued to maintain its top position for the 11th year in a row. The
gross regional domestic product in 2019 continued to grow, reaching a
growth rate of 6.42% compared to 2018; inflation was under control;
business investment environment was improved, the number of newly17


established enterprises continued to rise; the foreign investment attraction
and disbursement of FDI increased considerably; the social security was
concerned and improved.
However, besides the advantages, Da Nang’s economy also faced
many difficulties and challenges in 2019: the disbursement progress of
public investment was still low, the investment capital per GRDP decreased,
which had an impact on growth dynamics; the prices of foodstuffs were
unstable, especially in the last months of the year, it tended to increase due
to the influence of African swine fever; the industrial manufacturing sector
witnessed signs of stagnation, especially the manufacturing and processing
industry reached the lowest growth rate in the last 9 years (since 2011); the
number of international visitors increased but the revenue from tourism

activities tended to increase slowly; weather changes, fire, and explosion,
traffic accidents, drug evils were still complicated... These were challenges
for the socio-economic development of Da Nang city in 2019.
1. Economic growth
Gross regional domestic product (GRDP) in 2019 was estimated to
increase 6.42% over the previous year, a relatively low growth rate during
the 2011-2019 period (only higher than the growth rate in 2012). In the
growth rate of Da Nang's economy, the sector of service increased by
7.43%, mainly contributing to the overall growth rate with 4.74 percentage
points; the industry and construction sector rose by 4.39%, contributing 1.00
percentage points; the agriculture, forestry and fishing sector increased by
2.80%, contributing 0.05 percentage points; the taxes less subsidies on
products increased by 5.43%, contributing 0.63 percentage points.
The scale of the whole economy in 2019 was estimated to reach 110.8
trillion VND at current prices, an increase of nearly 9.4 trillion VND
compared to 2018. GRDP per capita was estimated to reach 97.1 million
VND/person/year, equivalent to 4,156 USD (a rise of 5.63% compared to
2018 - calculated using USD).

18


Regarding the structure of the economy scale, the value-added (VA)
structure in 2019 witnessed a slight shift between the service sector and the
industry - construction sector. VA of service sector accounted for 64.27% in
GRDP, higher than the proportion of 63.74% in 2018; the sector of industry
and construction accounted for 22.65%, lower than the proportion of
23.06% in 2018; the agriculture, forestry and fishing sector accounted for
1.88%, changing insignificantly compared to the proportion of 1.89% in
2018; the taxes less subsidies on products accounted for 11.20%, lower than

the proportion of 11.31% in 2018.
With the growth rate of 6.42% of the whole economy, Da Nang
reached the lowest GRDP growth rate among 5 municipalities, down 3 steps
compared to that in 20181; ranked 3rd among 5 provinces and cities in the
Central key economic zone2, following Thua Thien - Hue and Binh Dinh.
Nevertheless, the GRDP per capita in 2019 was the highest in the Central
key economic zone and ranked 4th among the municipalities.
2. State budget revenue - expenditure and insurance
Total state budget revenue in the area of Da Nang in 2019 was
estimated at 46,982 billion VND, increasing by 6,416 billion VND
(increasing by 15.8%) compared to 2018, of which the budget balance
revenue reached 43,724 billion VND, increasing by 19.3%. Total state
budget expenditure in 2019 was estimated at 28,343 billion VND, equal to
74.6% over 2018, of which the expenditure on development investment
reached 6,903 billion VND, rising by 23.0%; the expenditure on socioeconomic development, national defense, public security, public
administration reached 14,818 billion VND, increasing by 15.1%.
Especially, the expenditure for resource transference in 2019 was only equal
to 14.2% compared to 2018, a decrease of over 13 trillion VND, this was
also the main reason for reducing the total budget expenditure in 2019.
1

GRDP growth rate in 2019 of 5 municipalities: Hai Phong: 16.62%; Ho Chi Minh City:
7.83%; Hanoi: 7.63%; Can Tho: 7.73%; Da Nang: 6.42%.
2
GRDP growth rate in 2019 of 5 provinces and cities in the Central key economic zone: Thua
Thien Hue: 7.27%; Binh Dinh: 6.85%; Da Nang: 6.42%; Quang Ngai: 4.69%; Quang Nam:
4.51%.
19



In 2019, total insurance revenue was estimated to gain 5,414 billion
VND, increasing by 7.5% over 2018, of which: the social insurance revenue
gained 3,782 billion VND, an increase of 9.3% compared to that in 2018,
making up 69.9%; the health insurance revenue reached 1.344 billion VND,
a rise of 2.7%, accounting for 24.8% and the unemployment insurance
revenue gained 288 billion VND, an increase of 9.1%, accounting for 5.3%.
Total insurance expenditure in 2019 reached 6,805 billion VND,
increasing by 15.7% compared to that in 2018, of which: the social
insurance expenditure was 4,146 billion VND, rising 18.8%, accounting for
60.9%; the health insurance expenditure reached 2,367 billion VND, rising
by 10.3%, accounting for 34.8%; the unemployment insurance expenditure
was 292 billion VND, increasing by 18.2%, making up 4.3%.
3. Investment
Total implemented capital in 2019 at current prices was estimated at
40,162 billion VND, an increase of 4.0% compared to 2018. In particular,
the state-owned capital reached 8,647 billion VND (accounting for 21.5% of
total investment capital), a rise of 6.0% compared to 2018; the non-state
sector reached 25,651 billion VND (accounting for 63.9%), down 2.8%; the
FDI sector reached 5,863 billion VND (accounting for 14.6%), increasing
by 43.7%. The rate of the total social investment on GRDP in 2019 was
estimated at 36.3%, lower than the rate of 38.1% in 2018.
In terms of attracting investment, with the theme "The Year of
Continuing to Boost Investment Attraction", in 2019, the foreign investment
attraction into Da Nang city achieved impressive results, although the
number of projects decreased by 03 projects (133/136 projects), newly and
additionally registered capital increased; the value of the purchase of shares
and investment capital implemented by foreign partners increased sharply.
In 2019, the city attracted 8,830 billion VND of domestic investment and
691 million USD of foreign investment, specifically: (1) Domestic
investment: issued 09 decisions with the total investment capital of 8,830

billion VND; (2) FDI: there were 133 new projects with total registered
investment capital of over 438 million USD (In 2018, there were 136
20


projects with total registered investment capital of nearly 286 million USD);
there were 16 projects increasing capital, the total capital increased by 117.4
million USD (in 2018, there were 18 projects with the total capital-added
21.2 million USD); 210 foreign investors bought shares and contributed
capital in economic organizations with the total capital of 135.3 million
USD (in 2018, there were 230 times, the total capital of 55.5 million USD).
Thus, there have been 331 domestic investment projects with the total
investment of 104,707 billion VND in Da Nang up to now; the number of
valid FDI projects by the end of 2019 was 812 FDI projects with the total
investment of 3,470 million USD.
4. Price index and core inflation
The year 2019 was considered a successful year in controlling
inflation, the core inflation rate in 2019 was at 1.46%, this rate was the
lowest for 3-year-period from 2017 to 20193. The average CPI in 2019 rose
by 2.79% in comparison with that of the same time last year, lower than the
average index of the previous year (increasing by 3.22%). The groups rose
higher than the average CPI such as the education increased by 6.34%; the
housing and construction materials went up by 5.25%; the food and
foodstuff rose by 3.73%, the medicine and health care services rose by
3.17%; the beverage and cigarette increased by 3.16%. The groups of
commodities increased with the lower level compared to the average
increasing level: other consumer goods and services increased by 1.43%; the
garment, hat, and footwear rose by 0.61%; the culture, entertainments, and
tourism increased by 0.43%; the household equipment and goods increased
by 0.44%. The groups were down compared to the same period last year,

including the transport decreased by 1.38%; the post and telecommunication
fell by 0.38%.
The gold price index in December 2019 continued to fall by 0.29%
over the previous month (in November, this index decreased by 0.24%).
Nevertheless, the gold price in previous months reached a relatively high

3

The annual average core inflation rate: 2017: 2.05%; 2018: 2.14%; 2019: 1.46%.
21


increase, the average gold price index in 2019 increased by 9.16% in
comparison with 2018.
The USD price index in December 2019 fell by 0.09% over the
previous month; on average in 2019, the USD price index increased by
1.28% compared to the previous year.
5. Business registration
In 2019, there were 5,499 newly registered enterprises, branches, and
representative offices with the total registered capital of 31,071 billion
VND, an increase of 7.4% in the number of enterprises, and 13.3% in the
registered capital compared to those in 2018. In which, there were 4,739
enterprises, a rise of 5.7%; 760 branches, representative offices, and
business spots, an increase of 18.9% compared to 2018.
The number of enterprises, branches, and representative offices
suspending temporarily was 21 units; falling by 25.0% compared to that in
2018; of which there were 19 enterprises, a decrease of 8 units; 2
subordinate units, an increase of 01 unit.
There were 185 enterprises, and subordinate units dissolved in 2019,
of which there were 11 enterprises, a decrease of 45.0%; 174 subordinate

units, a rise of 20.8% compared to 2018.
6. Results of business - production activities in some sectors
6.1. The agricultural and forestry sector encountered difficulties due
to drought and climate change, which affected productivity and crop yields,
and the livestock industry severely damaged by African swine fever; the
bright spot of this area was the fishing sector, the capture fishery and
aquaculture production remained continuously an increase over the
previous year.
In 2019, the planted area of paddy reached 5,080 hectares, going down
by 2.1% compared to 2018; production of paddy gained 30,769 tons,
decreasing by 3.7%. The total production of cereals tended to decrease
deeply, reaching 31,882 tons, falling by 5.6%. As the number of population
increased while the total production of cereals decreased compared to the
22


previous year, the production of cereals per capita in 2019 only gained 27.9
kg/person, a decrease of 2.35 kg/person.
In 2019, the area of newly planted forest in Da Nang decreased
sharply, gaining only 1,406 hectares, decreasing by 39.0% compared to
2018. The timber production gained 138.2 thousand cubic meters, falling by
13.7% compared to 2018; the firewood production reached 105.1 thousand
ster, rising by 2.8%.
Production of fishing in 2019 reached 38,681 tons, increasing by
3.9%, of which the capture fishery production gained 37,636 tons, going up
3.8% (in which production of marine catching was 37,530 tons), the
aquaculture production reached 1,045 tons, an increase of 5.2%.
6.2. The industry and construction sector grew slowly, the index of
industrial production (IIP) in 2019 reached the lowest level in the period
2016-2019.

The index of industrial production in 2019 increased by 4.25%
compared to the previous year. In which, the mining and quarrying
decreased by 16.70%; the manufacturing rose by 4.57%, the electricity, gas,
steam and air conditioning supply was estimated to increase by 4.74%; the
water supply, sewage, waste management, and remediation activities ware
estimated to increase by 6.86%.
The consumption index of the manufacturing industry in 2019
increased by 0.08% compared to that in 2018, in which the consumption
indexes of some industries were higher than the general consumption index,
such as the manufacture of chemicals and chemical products rose by 34.7%;
the manufacture of pharmaceuticals, medicinal chemical and botanical
products increased by 25.8%; the manufacture of beverages went up by
22.3%; the manufacture of rubber and plastics products increased by 15.1%;
the manufacture of furniture rose by 13.0%... The consumption indexes of
some industries decreased sharply compared to the previous year such as the
manufacture of basic metal (-30.6%); the manufacture of wood, woody
products and cork (-17.1%); the manufacture of motor vehicles (-13.8%);

23


the manufacture of textiles (-9.6%)...
The industrial inventory index of the manufacturing at the end of
December 2019 increased by 52.6% compared with the same time in 2018,
in which the index of some industries decreased compared to that in 2018,
including the manufacture of textiles (-20.4%); the manufacture of basic
metals (-2.7%); the manufacture of electronic, computers and optical
products (-0.9%). In some activities, the industrial inventory index increased
but lower than the general increasing rate such as the manufacture of
wearing apparel (+13.9%); the manufacture of furniture (+14.0%); the

manufacture of electrical equipment (+15.1%); the manufacture of food
products (+31.2%). Some of the activities gaining the high inventory
indexes including the manufacturing of machinery and equipment not
elsewhere classified (+140.3%); the manufacture of motor vehicles
(+135%); the manufacture of wood, woody products, and cork (+120.4%)...
The labor use index of industrial enterprises in 2019 felt by 11.88%
compared to the previous year. In particular, the mining and quarrying
decreased by 14.66%; the manufacturing decreased by 12.39%; the
electricity, gas, steam and air conditioning supply increased by 1.13%; the
water supply, sewage, waste management, and remediation activities
increased by 0.29%. The labor use index of most types of enterprises
decreased, in which the FDI sector gained the deepest decrease (-21.1%);
the non-state sector fell by 8.0% and the state sector decreased by 3.8%
compared to the previous year.
6.3. Commercial activities and services in 2019 performed vibrantly,
the consumer demand increased, the supply of commodities was abundant
with guaranteed quality, meeting the needs and tastes of residents
In 2019, the retail sales of goods and services were estimated at 111.9
trillion VND, an increase of 12.8% compared to that in 2018, lower than the
growth rate in 2018 (increasing by 14.4% in 2018).
The passenger transport by land and water in 2018 was estimated to
reach 54.5 million passengers, increasing by 10.9% over 2018 and 1,756
million passengers.km, rising by 7.7% compared to the previous year,
mainly from road transport; the freight transport by land and water was
24


estimated to gain 44.4 million tons, an increase of 10.9%, equivalent to
4,118 million tons.km, a rise of 10.4%.
Turnover of accommodation and travel services reached 9,651 billion

VND, increasing by 12.7% compared to that in 2018, lower than the
increasing rate of 30.0% in 2018.
The total number of visitors serviced by accommodation establishment
in 2019 reached 7.4 million persons, increasing by 21.9%, of whom foreign
visitors reached 2.9 million visitors, rising by 24.1%; the total number of
visitors serviced by traveling establishments in 2019 reached 2.03 million
persons, increasing by 23.6%, of whom foreign visitors were 1,135
thousand persons, increasing by 40.6%, domestic visitors reached 499
thousand persons, rising 2.9%, Vietnamese tourists going abroad reached
396 thousand persons, increasing by 13.1%.
6.4. The import and export turnover of goods in 2019 decreased
slightly because the enterprises had difficulty finding orders and export
markets; the export turnover of many key products such as textiles, steel,
electronic components... which considered Da Nang’s strength tended to
decrease due to the contraction of production scale in 2019
In 2019, the total import and export turnover of goods reached 2,695
million USD, decreasing by 9.0% compared to the previous year. In
particular, the export turnover reached 1,482 million USD, decreasing by
7.2%; the import turnover reached 1,214 million USD, falling by 11,0%.
The trade balance of goods in 2019 continued to witness a surplus of
268 million USD, higher than that in 2017 and 2018 (2017: 185 million USD;
2018: 232 million USD). The economic openness in 2019 was estimated at
58.7%, a slight increase compared to that in 20184.
7. Some social issues
7.1. Population, labor, and employment
4

The openness of the economy in the narrow sense is measured by the value of exports and
imports/GRDP. In 2016, the economy's openness in Da Nang reached 70.53%; in 2017:
72.46%; 2018: 56.82%.

25


×