Tải bản đầy đủ (.pdf) (55 trang)

Tiểu luận Những vấn đề cơ bản và cập nhật của lịch sử thế giới: Tìm hiểu về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (Thế kỉ III-thế kỉ V)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.46 MB, 55 trang )

[Type the document title]

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ
----------

Đề tài:

TÌM HIỂU VỀ QUÁ TRÌNH VÀ
NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ SỤP ĐỔ
CỦA ĐẾ QUỐC TÂY LA MÃ CỔ ĐẠI
(thế kỉ III-thế kỉ V)
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang
Lớp: SP Lịch sử 4B_K37
MSSV: K37.602.104 (Ca 2)
Môn: Những vấn đề cơ bản và cập nhật của lịch sử thế giới

TP Hồ Chí Minh tháng 12 năm 2014


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................ 5
A. Khái quát chung về đế quốc La Mã (27 TCN-1453) ................................................. 6
I. Địa lí và dân cư .............................................................................................................. 6
I.1. Địa lí ........................................................................................................................ 6
I.2. Dân cư...................................................................................................................... 7
II. Tình hình chính trị ......................................................................................................... 7
II.1. Những năm cuối của nền Cộng hịa ....................................................................... 7


II.2. Thời kì Qn chủ.................................................................................................... 7
1. Thời kì Nguyên thủ ......................................................................................... 7
2. Thời kì Vương chủ .......................................................................................... 9
III. Tình hình kinh tế ........................................................................................................... 9
IV. Tình hình xã hội ........................................................................................................... 11
B. Quá trình suy yếu và sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)12
I. Những khủng hoảng trong thế kỉ thứ III sau công nguyên và sự hưng thịnh của đạo Cơ
Đốc

12

I.1. Những khủng hoảng trong thế kỉ thứ III sau công nguyên ................................... 12
1.

Sự khủng hoảng của chế độ nô lệ ................................................................. 13

2.

Sự khủng hoảng về kinh tế và sự ra đời, phát triển của chế độ lệ nông ....... 14

3.

Sự khủng hoảng về chính trị ......................................................................... 19

4.

Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân và những cuộc xâm nhập của người

“man tộc” .............................................................................................................. 20
a) Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ...................................................... 20

b) Những cuộc xâm nhập của người “man tộc” ................................................... 22
I.2. Sự xuất hiện và diễn biến của đạo Cơ Đốc ........................................................... 23
1.

Bối cảnh xã hội đã sản sinh ra đạo Cơ Đốc và nguồn gốc tư tưởng của đạo

này 24
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

2


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

2.

Giáo lý và sự tổ chức trong thời kì đầu của đạo Cơ Đốc .............................. 25

3.

Sự truyền bá và diễn biến của đạo Cơ Đốc ................................................... 27

II. Thời kì sau của đế quốc La Mã.................................................................................... 28
II.1. Sự thống trị của Diocletianus, Constantine và sự thiết lập chế độ Vương chủ.... 28
II.2. Đạo Cơ Đốc được hợp thức hóa và sự tranh đấu của các giáo phái .................... 31
II.3. Tình huống xã hội và sự chia cắt của đế quốc ..................................................... 34
III. Sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã............................................................................... 35
III.1. Cuộc đại di chuyển của dân tộc và sự thành lập các vương quốc của người
Germans ....................................................................................................................... 35
Vương quốc VisiGoth (Tây Goth): ............................................................... 36

Vương quốc Suevos: ..................................................................................... 36
Vương quốc Vandal: ..................................................................................... 37
Vương quốc Burgondes: ............................................................................... 37
Các vương quốc của người Anglo Saxons: .................................................. 37
Vương quốc OstroGoth (Đông Goth): ......................................................... 38
Vương quốc Francs: ..................................................................................... 38
Vương quốc Lombard:.................................................................................. 38
III.2. Cuộc nổi loạn của Maximus và sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã ................... 40
C. Nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại .......................... 42
I. Đường lối binh sĩ ngăn cản sự phát triển của nông nghiệp ......................................... 43
II. Sự phát triển của “chế độ bảo hộ” ............................................................................... 44
III. Những cuộc xâm nhập của người “man tộc” .............................................................. 44
IV. Sự ảnh hưởng của đạo Cơ Đốc .................................................................................... 46
V. Sự nổi lên của đế quốc Đông La Mã ........................................................................... 47
VI. Tình trạng tham nhũng và những bất ổn về chính trị .................................................. 47
VII.Tình trạng lạm phát ..................................................................................................... 47

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

3


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 49
PHỤ LỤC ......................................................................................................................... 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 55

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104


4


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

MỞ ĐẦU
Đế quốc La Mã, hay còn gọi là đế quốc Roma (tiếng Latinh: IMPERIVM
ROMANVM) là thời kỳ hậu Cộng hòa của nền văn minh La Mã cổ đại, là sự tiếp nối của
Cộng hòa La Mã. Lịch sử của đế quốc La Mã trải dài qua 16 thế kỷ, bắt đầu từ năm
27TCN với sự lên ngơi của Hồng đế Augustus và có nhiều mốc kết thúc khác nhau, bao
gồm sự phân chia cuối cùng thành Tây La Mã và Đông La Mã vào năm 395, sự diệt vong
của đế quốc Tây La Mã vào năm 476 và cuối cùng là sự diệt vong của đế quốc Đông La
Mã vào năm 1453.
Lịch sử của đế quốc La Mã bao gồm nhiều giai đoạn phát triển của nhà nước La
Mã. Nó bao gồm đế quốc La Mã cổ đại, thời kỳ bị chia làm đế quốc Tây La Mã và đế
quốc Đông La Mã, cuối cùng là lịch sử của đế quốc Đông La Mã (còn gọi là đế quốc
Byzantine) trong thời Trung cổ.
Là quốc gia rộng lớn và hùng mạnh nhất thời kỳ cổ đại, đế quốc La Mã trải dài 6
triệu km2 với dân số khoảng 60 triệu người. Các kỹ sư La Mã đã phát hiện và trùng tu
hơn 1.000 thành phố và thị trấn, biến một châu Âu thuần nơng thành một đại cơng trường
đơ thị hóa. Trong thế kỷ thứ III, quân đội La Mã sở hữu 450.000 bộ binh và 45.000 lính
hải quân. Nhưng rốt cuộc nhà nước ấy cũng không tránh khỏi quy luật hưng vong của
lịch sử, đạt cực thịnh dưới triều đại Trajan (98-117 sau Công nguyên) để rồi bị diệt vong
dưới tay các man tộc.

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

5



Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

A.
I.

Khái quát chung về đế quốc La Mã (27 TCN-1453)
Địa lí và dân cư
I.1. Địa lí
La Mã (Roma) là tên của một quốc gia cổ đại ở phương Tây mà nơi phát nguyên là

bán đảo Ý (Italia).
Đây là một bán đảo dài và hẹp ở Nam Âu, hình chiếc ủng vươn ra Địa Trung Hải,
diện tích khoảng 300.000 km2, phía Bắc có dãy núi Anpơ ngăn cách Italia với châu Âu,
phía Nam có đảo Sicilia, phía Tây có đảo Corse và đảo Sardegna.
Ở đây có nhiều đồng bằng màu mỡ và nhiều đồng cỏ thuận tiện cho việc chăn ni
gia súc. Ngồi ra cịn có nhiều kim loại như đồng, chì, sắt… để chế tạo cơng cụ sản xuất
và vũ khí.
Bờ biển phía Đông không thuận tiện cho tàu thuyền đi lại nhưng bờ biển phía Nam
có nhiều vịnh và cảng do đó vùng Nam Italia đã có quan hệ sớm với Hy Lạp.
Bán đảo Italia về mặt địa hình khơng bị chia cắt thành những vùng biệt lập nên
thuận lợi cho việc thống nhất về chính trị. Do đó, sau khi làm chủ bán đảo Italia, La Mã
đã lần lượt chinh phục toàn bộ vùng đất đai bao quanh Địa Trung Hải lập thành một đế
quốc rộng lớn gồm đất đai của ba châu Âu, Á, Phi.
Đế quốc La Mã là một trong những đế quốc lớn nhất trong lịch sử. Trong thực tế,
công cuộc bành trướng của người La Mã đã được thực hiện chủ yếu dưới thời Cộng hoà,
mặc dù các vùng ở khu vực Bắc Âu đã được chinh phục vào thế kỷ I, khi mà người La
Mã đã củng cố quyền lực của họ ở châu Âu, châu Phi và châu Á. Trong suốt triều đại của
Augustus, một "bản đồ toàn cầu nổi tiếng thế giới" đã được trưng bày lần đầu tiên trước
công chúng tại Roma.
Đế quốc đạt tới ngưỡng mở rộng lớn nhất của nó dưới thời Trajanus (trị vì từ năm

98-117), trên một diện tích lên tới 5.000.000 km2 vào năm 2009 và được chia thành bốn
mươi quốc gia khác nhau hiện nay. Bất cứ thành phố nào trong ba thành phố lớn nhất của
Đế quốc-Roma, Alexandria và Antioch gần như đều có kích thước gấp đôi bất kỳ thành
phố châu Âu vào đầu thế kỷ XVII.
Vị hồng đế kế vị Trajanus, Hadrianus đã thơng qua một chính sách duy trì thay vì
mở rộng đế quốc. Biên giới đã được đánh dấu, còn các phòng tuyến biên giới luôn được
tuần tra. Trường thành Hadrian vốn ngăn cách thế giới La Mã khỏi những gì đã được coi
là một mối đe dọa man rợ luôn hiện diện.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

6


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

I.2. Dân cư
Cư dân chủ yếu và cũng là thành phần cư dân có mặt sớm ở bán đảo Italia gọi là
người Italia (Italotes), trong đó bộ phận sống ở vùng Latium gọi là người Latinh. Về sau
một nhánh của người Latinh đã dựng lên thành La Mã ở trên bờ sông Tibrơ, từ đó họ
được gọi là người La Mã.
Ngồi ra cịn có người Gơloa, người tơruxcơ, người Hy Lạp. Người Gơloa cư
trú ở miền cực Bắc của bán đảo, người Eâtơruxcơ ở miền Bắc và miền Trung, người Hy
Lạp ở các thành phố ven biển phía Nam bán đảo Italia và đảo Xixin.

II.

Tình hình chính trị
II.1. Những năm cuối của nền Cộng hòa
Vào cuối thời Cộng hòa La Mã, Julius Caesar nổi lên, giành nhiều thắng lợi trong


các trận chiến bên ngồi và tiêu diệt các đối thủ chính trị của mình. Ơng tiến lên nắm
quyền lực to lớn cả về chính trị lẫn quân sự. Sự tập trung quyền lực vào tay Caesar đã
làm lung lay thể chế Cộng hòa.
Sau khi Caesar bị ám sát vào năm 44 TCN, đã có một cuộc nội chiến xảy ra trong
những năm tiếp theo. Cuối cùng, Octavian (người được Caesar chỉ định thừa kế mình) đã
giành chiến thắng trước mọi đối thủ. Trong đó đáng chú ý nhất là năm 31 TCN ơng đã
đánh bại hoàn toàn Mark Antony và Cleopatra trong trận Actium. Octavian cũng cho xử
tử con trai của Cleopatra là Caesarion (người có thể là đứa con trai duy nhất của Caesar).
Khơng cịn đối thủ chính trị nào ngáng đường, Octavian trở về Rome để nắm
quyền. Năm 27 TCN, ông được Viện nguyên lão tôn lên thành Augustus (mang nghĩa
“người ở địa vị tối cao hoặc thiêng liêng”). Ông trở thành vị Hoàng đế La Mã đầu tiên và
thời đại Cộng hòa La Mã cũng chấm dứt từ đây.

II.2. Thời kì Quân chủ
1. Thời kì Nguyên thủ
Triều đại của Augustus kéo dài hơn 40 năm (27 TCN-14), ông thường được xem
là vị Hoàng đế vĩ đại nhất của đế quốc La Mã và đã tạo nên một nền tảng tư tưởng lâu dài
cho ba thế kỷ tiếp theo của đế quốc và được gọi là thời kì "Nguyên Thủ" (27 TCN-284),
200 năm đầu tiên trong số đó theo truyền thống được coi là thời kì Thái bình La Mã
(“Pax Romana”). Trong thời gian này, sự gắn kết bên trong đế quốc được đẩy mạnh nhờ
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

7


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

việc góp phần vào đời sống người dân, các quan hệ kinh tế, và sự chia sẻ chuẩn mực văn
hóa, luật pháp và tơn giáo. Các cuộc khởi nghĩa ở các tỉnh thì không thường xuyên nổ ra,
nhưng chúng lại bị dập tắt một cách "khơng thương tiếc và nhanh chóng" khi xảy ra,

giống như ở Britain và Gaul. Các cuộc chiến tranh Do Thái-La Mã nổ ra liên tục trong
suốt 60 năm là một ngoại lệ về cả mặt thời gian và sự ác liệt của chúng.
Triều đại Julio-Claudius sau đó cịn có thêm bốn vị Hồng đế-Tiberius, Caligula,
Claudius, và Nero trước khi nó kết thúc vào năm 69. Tiếp theo đó là những cuộc nội
chiến trong suốt "Năm tứ đế", và từ đó Vespasianus nổi lên với tư cách là người chiến
thắng.
Vespasianus đã trở thành người sáng lập của triều đại Flavius chỉ tồn tại trong một
thời gian ngắn, trước khi nó được kế tục bởi triều đại Nerva-Antoninus mà tạo nên cái gọi
là "Ngũ Hiền Đế": Nerva, Traianus, Hadrianus, Antoninus Pius và vị Hoàng đế triết gia
Marcus Aurelius.
Năm 212, dưới thời trị vì của Caracalla, triều đại Severus là một triều đại hỗn loạn
và các vị Hoàng đế của triều đại này thường xuyên bị sát hại hoặc bị hành quyết.
Như vậy, ta có thể thấy từ sau Hồng đế Nero, ở La Mã đã thay đổi đến mấy
vương triều, tình hình nói chung thường khơng ổn định, việc phế lập các Hoàng đế là
nằm trong tay quân đội.
"Cuộc khủng hoảng của thế kỷ III" là cái tên để chỉ sự vỡ vụn và gần như sụp đổ
của đế quốc La Mã từ năm 235 đến năm 284. Nó cũng được gọi là "sự vơ Chính phủ do
qn đội".
Sau khi Augustus kết thúc nội chiến (thế kỷ thứ I TCN), đế quốc La Mã đã trải qua
một thời đại hòa bình, ít bị ngoại xâm và kinh tế phồn thịnh (“Pax Romana”). Tuy nhiên,
tới thế kỷ III thì đế quốc phải trải qua những cuộc khủng hoảng chính trị, quân sự, kinh tế
và bắt đầu suy sụp. Lúc nào cũng có những cuộc xâm lăng của man tộc, nội chiến và lạm
phát.
Cuộc khủng hoảng kết thúc bởi Hoàng đế Diocletian. Bằng cả tài năng lẫn vận
may, ông đã giải quyết được nhiều vấn đề cấp bách. Thế nhưng, vấn đề cốt lõi của La Mã
vẫn cịn đó và cuối cùng đã gây nên sự tận diệt của đế chế ở phía Tây.

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

8



Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

2. Thời kì Vương chủ
Năm 284, Dioccletian lên ngơi Hồng đế (284–305). Ơng đã bỏ danh hiệu Nguyên
thủ, tự xưng là Vương chủ. Từ đó Hồng đế La Mã trở thành người có quyền uy tuyệt đối
như các Vua phương Đơng.
Hồng đế Diocletianus sau đó đã ổn định tình hình đế quốc và thiết lập hệ thống
phân chia quyền lực giữa bốn vị đồng Hoàng đế (gọi là Tứ đầu chế). Sau thời ông tình
hình đế quốc lại trở nên bất ổn, nhưng trật tự sau đó lại được Constantinus I-vị Hồng đế
đầu tiên theo Ki-tô giáo và là người thành lập tân đơ của đế quốc ở phía Đơng là
Constantinopolis lập lại. Trong các thập kỷ sau đế quốc thường được phân chia theo một
trục Đơng-Tây (Constantinopolis/Roma).
Theodosius I là hồng đế cuối cùng trị vì cả Đơng lẫn Tây, năm 395, Hồng đế
Theodosius đã chia đế quốc La Mã thành hai phần giao cho hai người con cai quản. Từ
đây hình thành hai đế quốc La Mã hoạt động độc lập về mặt chính trị với các vị hồng đế
khác nhau là đế quốc Tây La Mã và đế quốc Đông La Mã.
Năm 476, một viên tướng người German là Odoacer nổi dậy làm chính biến lật đổ
hồng đế cuối cùng của Tây La Mã là Romulus Augustus. Đế quốc Tây La Mã diệt vong
ở đây. Sau khi Tây La Mã diệt vong vào thế kỷ thứ V, đế quốc Đông La Mã (thường gọi
là Đế chế Byzantine), vốn giàu có hơn, đã tồn tại và phục hồi được sức mạnh của mình.
Tuy nhiên, sau nhiều cuộc chiến tranh, lãnh thổ của đế quốc bị thu hẹp dần và cuối cùng
đã sụp đổ vào năm 1453 khi Mehmed II của đế quốc Ottoman chinh phục thành
Constantinople.

III.

Tình hình kinh tế
Đế quốc La Mã có lẽ được đánh giá tốt nhất ở việc có một mạng lưới các nền kinh


tế khu vực, dựa trên một hình thức của "chủ nghĩa tư bản chính trị" trong đó nhà nước
giám sát và quy định các hoạt động thương mại để đảm bảo nguồn thu của nó. Tăng
trưởng kinh tế của đế quốc mặc dù không thể so sánh với các nền kinh tế hiện đại, nhưng
nó đã lớn hơn so với hầu hết các xã hội khác trước khi tiến hành cơng nghiệp hóa.
Nền nơng nghiệp và thương mại đã chi phối kinh tế của đế quốc La Mã từ rất sớm,
ngồi ra cịn có sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ và vừa của tư nhân, quy mô lớn của
nhà nước.

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

9


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

Về nông nghiệp, trong các Latiphundia, việc chun mơn hóa cây trồng ddwuwocj
xúc tiến mạnh mẽ. Nho và ôliu vẫn tiếp tục giữ vai trò hàng đầu trong các loại cây trồng
ở đế quốc La Mã. Dầu ô liu và rượu vang là những sản phẩm quan trọng nhất trong thế
giới văn minh cổ đại và là mặt hàng xuất khẩu của Italy.
Từ những năm cuối thế kỉ II-đầu thế kỉ III, một hiện tượng mới trong sản xuất
nông nghiệp đã xuất hiện, dù chưa phải là phổ biến: đó là một số ít Latiphundia, trước
đây vẫn trồng nho, ôliu đã bắt đầu chuyển sang trồng cây lương thực, thậm chí một số
chủ nô cũng đã chia nhỏ điền trang rộng lớn của mình thành những mảnh đất nhỏ, cùng
với cơng cụ sản xuất, giao cho nô lệ tự sản xuất. Những mầm mống đầu tiên của một
phương thức canh tác mới trong nông nghiệp đã xuất hiện, tạo những tiền đề cho chế độ
lệ nơng ở giai đoạn sau hình thành, phát triển.
Thời kì này, thủ cơng nghiệp và thương nghiệp ở đế quốc La Mã đã có những phát
triển, trước hết phải kể đến những tiến bộ về mặt kĩ thuật trong sản xuất thủ cơng nghiệp.
Đó là những tiến bộ trong kĩ thuật chế tác kim khí, sự phát minh ra cối xay nước, những

cải tiến trong kĩ thuật chế tạo công cụ sản xuất. Sự phân công chuyên môn hóa trong sản
xuất thủ cơng trở nên khá phổ biến trên toàn đế quốc, nhất là ở Bắc Italia và Campanie;
đồ gốm vẽ hoa ở Acrotium; đèn thắp ở Mituna… Những sản phẩm thủ công, nhất là hàng
thủ công xa xỉ phục vụ lối sống vương giả, được hết sức chú trọng, một số nghề thủ cơng
phức tạp, địi hỏi trình độ tinh xảo, khéo léo được hình thành (ví dụ nghề sản xuất mắt giả
cho tượng, sản xuất dụng cụ mổ xẻ…).
Ngồi những hướng sản xuất thủ cơng quy mơ nhỏ và vừa của tư nhân, cịn có
những xưởng thủ công quy mô lớn của nhà nước chuyên khai thác kim loại, đá quý, sản
xuất đồ gốm cao cấp… Ví dụ Hy Lạp và phía bắc Italy cung cấp đá cẩm thạch; số lượng
lớn vàng bạc được khai thác ở Tây Ban Nha để tạo ra tiền xu, đồ trang sức; trong khi các
mỏ ở Anh sản xuất sắt, chì và thiếc cho vũ khí.
Theo đà phát triển của thủ công nghiệp, thương nghiệp và mậu dịch hàng hải cũng
rất phát đạt. Đế quốc La Mã có quan hệ buôn bán rộng rãi với Ả Rập, Ấn Độ, Trung Hoa.
Thuyền buồm Roma ngược dịng Danube, sơng Rhin, Vistule đến tận cùng vùng Baltique
và bán đảo Scandinave. Trên mặt biển Địa Trung Hải, thuyền bè Roma đi lại nhộn nhịp.
Những sản phẩm thủ công truyền thống của Roma hầu như có mặt ở khắp Italia, khắp các
tỉnh của đế quốc và sang tận các nước phương Đông, Bắc Âu, biển Bantique… Ngược
lại, những sản phẩm của phương Đông (hương liệu, gia vị, tơ lụa, đá quý) cũng thường
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

10


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

xuyên được các lái buôn Roma chuyển về khu vực Địa Trung Hải. Bên cạnh các thành
phố, nhiều thành thị với tư cách là những trung tâm thương mại được xây dựng, như
Longdinium (London ngày nay), Lucdunum (Lyon), Vindobora (Vienne)…

IV.


Tình hình xã hội
Ngay từ cuối thế kỉ II, chế độ nô lệ ở La Mã đã có những dấu hiệu khủng khoảng

mà về sau ngày càng trầm trọng.
Nguồn cung cấp nô lệ không cịn phong phú như trước nữa, vì nguồn nơ lệ chủ
yếu là tù binh mà từ đây các cuộc đấu tranh chinh phục ít dần. Chất lượng nơ lệ cũng
giảm sút, vì số tù binh bắt được trong thời kì này chủ yếu là người các tộc đang sống
trong xã hội nguyên thủy. Họ kém xa các tù binh bắt được ở phương Đông về kiến thức
và kĩ thuật. Hơn nữa do bị đối xử tàn tệ nên nô lệ thường chây lười trong cơng việc, cố
tình phá hoại cơng cụ, lãng phí khi thu hoạch. Ngồi ra cịn có một số nơ lệ cịn chống lại
chủ, thậm chí giết chủ.
Như vậy, việc bóc lột nơ lệ theo phương thức cũ đã tỏ ra kém hiệu quả về kinh tế
và khơng an tồn đối với chủ, vì vậy giai cấp chủ nô phải thay đổi thái độ đối xử đối vơi
nơ lệ, đồng thời phải thay đổi phương thức bóc lột nô lệ.
Bắt đầu từ thế kỉ thứ I, cùng với sự khủng khoảng của quan lại nô lệ, một tầng lớp
xã hội mới đã ra đời, đó là tầng lớp lệ nông.
Đầu tiên một số địa chủ chủ nô đem ruộng đất của mình chia thành những phần
nhỏ rồi phát canh cho các đối tượng như nông dân phá sản, dân thành thị chuyển về nông
thôn, cư dân các man tộc mới vào La Mã, nô lệ được giải phóng. Họ đều được gọi chung
là lệ nơng.
Lúc đầu lệ nơng là người tự do, có một số vẫn có quyền công dân, thân phận của
họ không phải suốt đời và tất nhiên không phải cha truyền con nối. Họ chỉ có một nghĩa
vụ là phải nộp địa tơ cho chủ ruộng đất bằng tiền hoặc bằng sản phẩm. Mức thu địa tô lúc
đầu bằng 1/3 thu hoạch.
Do quan hệ lệ nông tỏ ra phù hợp với việc phát triển sản xuất ở trong các điền
trang nên dần dần các chủ nô thường đem ruộng đất chia cho nô lệ của mình cày cấy và
bắt họ phải nộp cho mình một phần thu hoạch, do đó những người nơ lệ này cũng biến
thành lệ nông.


Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

11


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

Về sau, cùng với sự phát triển của chế độ lệ nông, địa vị của lệ nông ngày càng
thấp kém, thân phận của lệ nông phải cha truyền con nối và bị gắn chặt vào ruộng đất.
Mức địa tô phải nộp cao hơn trước kia nhiều. Họ khơng cịn là những người có quyền tự
do hồn tồn nữa, do đó khơng được kết hơn với những phụ nữ có địa vị tự do. Do đó, lệ
nơng chính là tiền thân của nơng nơ thời trung đại.

B.

Quá trình suy yếu và sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ
III-thế kỉ V)

I.

Những khủng hoảng trong thế kỉ thứ III sau công nguyên và sự hưng
thịnh của đạo Cơ Đốc
I.1. Những khủng hoảng trong thế kỉ thứ III sau công nguyên
Từ thế kỉ thứ II đến thế kỉ thứ III sau công nguyên, về các mặt kinh tế, chính trị

trong xã hội La Mã đã bùng nổ những nguy cơ một cách tồn diện, lịch sử gọi đó là Cuộc
khủng hoảng trong thế kỉ thứ III.
Khủng hoảng của chế độ nô lệ La Mã ngay từ thế kỉ II đã bắt đầu bộc lộ tại Italia.
Đến thế kỉ III, những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội nô lệ ngày càng gay gắt, cuối cùng
dẫn tới tình trạng nơng nghiệp bị trì trệ, thương nghiệp suy sụp, thành phố tiêu điều, tài

chính cạn kiệt, chính trị rối loạn, những cuộc khởi nghĩa của nô lệ diễn ra liên tục khiến
xã hội La Mã lầm vào hoàn cảnh chao đảo dữ dội. Mối quan hệ sản xuất trong chế độ nô
lệ đã trở thành gông cùm đối với sự phát triển sản xuất. Trong những thời kì trước, sức
sản xuất của La Mã vốn đang phát triển, nhưng vì sự lao động của nô lệ là lao động
cưỡng bách nên càng ngày họ khơng những thiếu phần tích cực trong lao động, mà cịn
chống đối qua nhiều hình thức như phá hoại cơng cụ sản xuất, bỏ trốn, thậm chí khởi
nghĩa vũ trang. Trước tình trạng đó, hiệu quả trong lao động sản xuất ngày càng xuống
dốc, khiến việc sử dụng nô lệ càng ngày càng khó có lãi.
Mặt khác, cơ cấu thống trị của giai cấp chủ nơ đã hủ hóa đến mức trầm trọng, sự
ăn bám của họ ngày càng nặng nề. Trong khi đó, tốc độ phân hóa giàu nghèo ngày càng
nhanh, nhân số người vô sản lưu manh ngày càng nhiều. Trong thế kỉ I, thành phần vô
sản lưu manh ở La Mã có từ 20-30 vạn, đến thế kỉ III-IV đã tăng lên đến 80 vạn. Bộ máy
quốc gia La Mã duy trì những cơ cấu to lớn, cần đến nhiều kinh phí. Những kinh phí đó
dùng để trấn áp bên trong, dụng binh với bên ngoài, cung cấp cho những cuộc tranh giành

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

12


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

quyền lực giữa các tập đồn thống trị và cịn được dùng vào việc tổ chức vui chơi giải trí
trong mùa lễ hội. Trong thời đại đế quốc, do muốn khoe khoang sự giàu có của mình,
thỏa mãn nhu cầu hưởng thủ của giai cấp chủ nô, lễ hội hàng năm mỗi lúc được đặt ra
nhiều thêm. Trong thế kỉ I, trong cả năm La Mã có 66 ngày lễ hội, đến thế kỉ II tăng lên
123 ngày, đến thế kỉ IV tăng lên 175 ngày.
Khi họ thiếu hụt về tài chính lại cho đánh thuế bổ sung vào. Người lao động không
chịu nổi mức thuế nặng nề do giới thống trị đặt ra, tất nhiên đối với kinh tế xã hội họ có
những hành vi phá hoại. Qua đó, trong mối quan hệ sản xuất của chế độ nô lệ, cũng như

trong thượng tầng kiến trúc của chế độ này, những mối mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn
và cuối cùng đi đến khủng hoảng toàn diện.

1. Sự khủng hoảng của chế độ nô lệ
Nông trang theo chế độ nô lệ ở Italia đã khá phổ biến vào cuối thời kì Cộng hịa,
đến đầu thời kì đế quốc vẫn tiếp tục được lưu hành vì các quý tộc nguyên lão vẫn tiếp tục
đầu tư lớn vào nông nghiệp. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ cuối thế kỉ
II, chế độ nơ lệ ở La Mã đã có những dấu hiệu khủng khoảng. Sang thế kỉ thứ III, sự
khủng hoảng ấy càng tỏ ra nghiêm trọng, sâu sắc hơn.
Số lượng nô lệ ngày càng giảm sút, một mặt nguồn cung cấp nô lệ chủ yếu là nô lệ
tù binh ngày càng giả đi vì những cuộc chiến tranh xâm lược mở rộng cương vực không
diễn ra ồ ạt như giai đoạn trước, biên giới của đế quốc đã vươn khá xa và dường như đã
vượt quá khả năng cai quản của đế quốc La Mã, mặt khác sự bóc lột vơ cùng tàn khốc
của phương thức sản xuất chiếm nô đã làm mất khả năng lao động với một số khá đơng
nơ lệ, tình trạng thiếu lực lượng sản xuất đã xảy ra đối với nền kinh tế toàn diện của đế
quốc La Mã.
Chất lượng và khả năng lao động của nô lệ cũng giảm sút nghiêm trọng. Phương
thức sản xuất chiếm nô không thể làm cho kĩ thuật canh tác tiến bộ lên, công cụ sản xuất
vẫn thô kệch nặng nề (để nô lệ đỡ phá hỏng). Những phát minh cải tiến trong kĩ thuật sản
xuất hầu như không được áp dụng. Bị bóc lột tàn tệ và bị cưỡng bức lao động, nơ lệ đã
tìm mọi cách phá hoại nền kinh tế chủ nô (làm hỏng công cụ sản xuất, làm ẩu, trốn tránh
lao động, lãng phí khi gieo trồng cũng như khi thu hoạch…). Do vậy năng suất lao động
và hiệu quả lao động ngày càng giảm sút theo thời gian.

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

13


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)


Mặc dù không có những cuộc khởi nghĩa vũ trang quy mơ lớn của nô lệ như khởi
nghĩa Spartacus, nhưng sự phản kháng của nô lệ vẫn thường xuyên xảy ra lúc ngấm
ngầm, lúc công khai đã làm cho tầng lớp chủ nô gặp nhiều khó khăn và góp phần làm suy
giảm khả năng của chế độ nô lệ trong giai đoạn này.
Vào thế kỉ thứ I sau Công nguyên, một nhà nông học người La Mã là Columella
đã qui tội cho sự suy sụp nông nghiệp là do sự lao động của nơ lệ . Ơng nói: “Đem ruộng
đất giao cho nơ lệ canh tác là điều khơng thích nghi nhất. Việc làm đó cũng giống như
giao ruộng đất cho đao phủ để hành hình” (theo sách Luận nơng nghiệp của Columella).
Sự khủng hoảng ngày một trầm trọng của chế độ nô lệ đã đặt giai cấp chủ nô Roma đến
trước một thực tế: Muốn tiếp tục tồn tại và phát triển, phải có sự nhìn nhận mới về chế độ
nơ lệ, trước mắt phải thay đổi cách đối xử và hình thức bóc lột. Đây là một cơng việc rất
mới và rất khó đối với qusy tộc chủ nơ (vốn rất bảo thủ), do đó, việc giải quyết tình trạng
khủng hoảng của chế độ nô lệ ở Roma đã diễn ra nhưng hết sức chậm chạp, khơng đồng
đều, thậm chí cịn tạo nên những bất đồng trong nội bộ giới quý tộc chủ nơ.
Các Hồng đế La Mã đã cố gắng duy trì và phục hưng chế độ nơ lệ. Hồng đế
Claudius đã ban hành luật pháp cấm bắt nô lệ ốm đau lao động nặng, cấm giết chết những
nô lệ đau yếu. Nero đã cấm đưa nô lệ ra đấu với dã thú. Antonius ra sắc lệnh nếu khơng
có lí do chính đáng, chủ nơ khơng được giết chết nơ lệ của mình… Những cố gắng của
giai cấp chủ nơ trong chừng mực nào đó đã góp phần vào việc cứu vãn sự sụp đổ của chế
độ nô lệ. Bô phận q tộc chủ nơ ruộng đất đã tìm thấy lối thốt có hiệu quả hơn. Họ chia
xẻ các Latiphundia rộng lớn kia thành những mảnh ruộng nhỏ rồi giao cho nô lệ cày cấy,
thu hoạch, nộp cho chủ nô và được giữ sản phẩm của mình. Lối kinh doanh này ngày
càng tỏ ra có hiệu quả đã lơi kéo nhiều quý tộc khác thực hành phương pháp bóc lột kiểu
mới này. Thân phận và đời sống nơ lệ có phần được cải thiện. Về hình thức, chế độ nơ lệ
được phục hưng nhưng trong thực tế, phương thức bóc lột mới này càng phổ biến thì chế
độ nơ lệ càng tiến gần đến ngưỡng cửa diệt vong, nhường chỗ cho chế độ mới, chế độ lệ
nông.

2. Sự khủng hoảng về kinh tế và sự ra đời, phát triển của chế độ lệ nông

Từ giữa thế kỷ I trở đi, chế độ điền trang bắt đầu có những dấu hiệu khủng hoảng.
Việc sử dụng sức lao động tập thể nô lệ đã trở nên khơng thích hợp, năng suất lao động ở
các Latiphundia suy giảm. Hiện tượng quý tộc chủ nô xé nhỏ các Latiphundia thành
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

14


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

nhiều mảnh, giao trực tiếp cho nô lệ hoặc những người không ruộng đất canh tác ngày
càng trở nên phổ biến. Các Latiphundia rộng lớn xưa dần tan vỡ, nhường chỗ cho các
điền ấp-Saltus. Nếu trước đây các Latiphundia chuyên canh trồng cây công nghiệp phục
vụ cho kinh tế thủ công nghiệp và thương mại, thì bây giờ trong các Saltus người ta đã
chuyển dần sang trồng cây lương thực. Việc tan rã của các Latiphundia không những thể
hiện sự khủng hoảng suy vong của chế độ chiếm nơ Roma, mà cịn kéo theo hàng loạt
những thay đổi trong phương thức canh tác, phương thức bóc lột và tính chất của nền
kinh tế.
Khủng hoảng về mặt kinh tế của chế độ nô lệ La Mã, trước tiên thể hiện ở chỗ tình
hình nơng nghiệp bị suy thối. Nơng nghiệp ở Italia ngay từ đầu thế kỉ thứ II đã dần
xuống dốc. Các nhà vua trong vương triều Antonius vì muốn ngăn chặn sự sụp đổ ở Italia
nên đã áp dụng nhiều biện pháp. Như đời vua Nerva đã lập quỹ cho vay lãi nhẹ, mua
ruộng đất để cấp phát cho những cư dân không ruộng đất. Đời vua Traijan qui định đẳng
cấp nguyên lão phải đầu tư 1/3 tài sản của mình vào nơng nghiệp… Nhưng, tất cả những
biện pháp đó đều khơng thu được hiệu quả gì. Đến cuối thế kỉ thứ hai thì tình trạng nơng
nghiệp bị suy sụp càng rõ rệt hơn. Trong thời kì đế quốc, tại Italia và tại một số hành tỉnh
được sử dụng rất nhiều lao động nô lệ trên cơ sở đại trang trại. Đến thế kỉ thứ III, các
trang trại loại này thu vào không đủ chi ra.
Nguyên nhân của hiện tượng này là: Thứ nhất, việc cưỡng bức nô lệ thường thu
lợi nhuận rất ít, nhất là những cuộc đấu tranh chống đối của nô lệ càng khiến việc sản

xuất theo chế độ nơ lệ rất khó duy trì, thậm chí cịn là nguy hiểm đối với bản thân người
người chiếm hữu nô lệ. Thứ hai, từ thế kỉ thứ II trở về sau, đế quốc La Mã đối với các
nước bên ngoài đã chuyển sang thế thủ. Nguồn cung cấp nô lệ do đó ít đi, giá bán nơ lệ
ngày một tăng cao. Thứ ba, thị trường tiêu thụ nông sản thu hẹp. Ở Italia, trước kia những
nông sản như rượu nho, dầu oliu do các nô lệ ở các trang trại sản xuất ra, có thể bán sang
Tây Ban Nha, Gallia, Bắc Phi và các vùng sông Rhine, sông Danube. Nhưng ngày nay
những khu vực đó đang phát triển sản xuất, lại có những sản phẩm của Hy Lạp, Tiểu Á ở
phía Đơng cạnh tranh. Cho nên sản phẩm của Italia đã mất thị trường tiêu thụ. Hầu hết
những trang trại chuyển sang trại chăn nuôi, nên việc sản xuất nông nghiệp ngày càng
suy sụp. Quá trình này đến thế kỉ thứ III đã lan rộng đến một số địa phương như châu Phi,
Gallia…

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

15


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

Phương thức bóc lột cũng thay đổi, chủ nô đã không sử dụng sức lao động tập thể
của nô lệ mà giao trực tiếp cho nô lệ những mảnh ruộng nhỏ cùng với công cụ lao động
để nô lệ tự tiến hành nền tiểu sản xuất của họ, nộp sản phẩm cho chủ. Lối bóc lột mới này
vừa có lợi cho chủ, vừa có lợi cho người sản xuất, kích thích hứng thú và khả năng lao
động của họ, để tạo ra năng suất lao động cao. Thế là chế độ lệ nông xuất hiện như một
thích ứng với kiểu bóc lột này đã càng làm cho chế độ nô lệ bước dần đến ngưỡng cửa
của sự suy vong.
“Lệ nông” chữ Latinh là Coloni, trước tiên có nghĩa là nơng dân tự canh tác, tức
đem sức lao động của mình và cũng dùng để chỉ những người di dân canh tác ở những
vùng thực dân địa.
Lệ nơng đã tồn tại trong thời kì cuối của nước Cộng hòa La Mã. Chế độ lệ nông

lúc mới đầu chỉ áp dụng ở những điền trang xa mà chủ nơ khơng cịn khả năng trực tiếp
quản lý, sau đó dần phát triển và phổ biến khắp đế quốc. Chế độ lệ nông đã làm xuất hiện
một lớp người mới trong xã hội Rơma. Đó là những người lệ nông. Khái niệm, thân phận
và địa vị những người lệ nơng cũng có những thay đổi theo thời gian. Trong đó thời kỳ
đầu, lệ nơng là những người tự do (có thể là nơng dân khơng có ruộng đất, hoặc nơ lệ
được giải phóng), họ có quyền cơng dân, có thể đảm nhận các chức vụ tơn giáo hoặc là
thành viên của các hội đồng địa phương. Mối quan hệ giữa chủ nơ có tư liệu sản xuất và
lệ nông đơn thuần chỉ là mối quan hệ về kinh tế, canh tác ruộng của chủ nô, lệ nông phải
nộp tơ (khoảng từ 1/3 đến 1/2 thu hoạch), ngồi ra, mỗi năm lệ nông phải làm việc không
công trên những lô đất của chủ từ 6-12 ngày.
Khi chế độ lệ nông thành phổ biến, khi chủ nô đem chia nhỏ Latiphundia rồi giao
cho nơ lệ của mình canh tác, khái niệm thân phận, địa vị lệ nông thay đổi. Trong thời kì
đó, nguồn lệ nơng được đáp ứng từ hai loại người, giống như trong thế kỉ thứ I và trong
thế kỉ thứ II là nô lệ và những người nơng dân nghèo. Đến thế kỉ thứ III thì nguồn lệ nông
được tăng thêm từ các “man tộc” như người Germans, họ được Chính phủ La Mã đưa tới
những vùng đất hoang để canh tác. Khi chế độ “bảo hộ” dần dần được lưu hành, thì nó là
một con đường chuyển hóa mới đối với người nơng dân nghèo và người lệ nông. Người
nông dân nghèo do không chịu nổi gánh nặng thuế má, cũng như sự áp bức của quan
viên, nhất là trong tình trạng xã hội xáo trộn, khó duy trì một đời sống kinh tế độc lập bắt
buộc họ phải “hiến đất” cho đại địa chủ để yêu cầu được “bảo hộ”, rồi lại thuê đất từ tay
địa chủ để canh tác rồi biến thành lệ nông. Ở các hành tỉnh như Gallia, châu Phi, Ai
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

16


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

Cập… qua hình thức đó đã sản sinh ra rất đơng lệ nơng. Riêng việc người Germans di
dân vào La Mã và được đưa đến những vùng đất hoang dưới dạng thực dân, đã bắt đầu từ

đời vua Adrian và đến đời vua Marcus Aurelius càng tăng thêm nhiều hơn. Cuối thế kỉ
thứ III thì con số này càng tăng cao hơn nữa. Những người Germans nói trên khi di trú
đến những vùng đất trên, thì dần dần trở thành lệ nơng.
Từ thế kỷ III, lệ nơng (dù có nguồn gốc xuất thân khác nhau) cũng đều là những
người trực tiếp sản xuất và bị trói buộc vào ruộng đất của chủ, lệ thuộc vào chủ về thân
phận và tư liệu sản xuất. Sang thế kỷ IV-V, địa vị của lệ nông lại càng sút kém. Năm 332,
Hoàng đế Constannuco ban ra một sắc lệnh “Bất cứ người nào, chẳng những cần phải trả
lệ nông bỏ trốn trở về nguyên chủ của họ, mà cịn phải có trách nhiệm đóng thuế người
của lệ nơng trong thời gian ở đó”. Vì sắc lệnh này, thân phận lệ nơng có tính chất thế tập,
cha truyền con nối và hồn tồn bị trói buộc vào ruộng đất. Năm 336, Hoàng đế La Mã
xuống lệnh cho phép có thể bán lệ nơng cùng một lúc với mảnh đất họ đang canh tác.
Theo đó, trong trường hợp chủ nơ bán ruộng đất thì những người lệ nơng (và gia đình)
đang canh tác trên các lơ ruộng ấy sẽ bị bán kèm theo.
Về mặt xã hội, họ khơng cịn là người tự do có quyền tư hữu, có quyền cơng dân.
Họ cũng khơng có quyền kết hơn với người tự do và hôn nhân giữa họ với nhau, họ cũng
không được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, khác hẳn nô lệ, lệ nông là những người được
tự do tương đối trong sản xuất và được hưởng một phần thu hoạch. Như vậy, lệ nông
không phải là người tự do, nhưng cũng khơng cịn là nơ lệ, họ là “tiền thân của nơng nơ
thời trung đại”.
Tất cả những điều đó đã nói lên thượng tầng kiến trúc của chế độ nô lệ đang ra sức
ngăn chặn sự phát triển của chế độ lệ nông. Đồng thời, cố đè nén địa vị của người lệ nông
xuống ngang hàng với địa vị người nơ lệ. Do vậy, chỉ cịn cách lật đổ chính quyền của
chủ nơ, mới có thể đưa chế độ lệ nông mới được phát triển thuận lợi. Việc xâm nhập của
người Germans đã thúc đẩy cho quá trình này được tiến nhanh hơn.
Cảnh ngộ của lệ nông, nô lệ và những người nơng dân nghèo ngày càng xích lại
gần nhau hơn. Từ đó tạo tiền đề cho một sự liên hợp khởi nghĩa giữa nô lệ và lệ nông.
Sự suy sụp của ngành thủ cơng là có tương quan với sự suy sụp của nông nghiệp,
về mặt này ở Italia nổi bật nhất. Cuối thời kì Cộng hịa, đầu thời kì đế quốc, các ngành
thủ cơng ở Italia đều có sự phát triển, hình thành những ngành nghề làm đồ đồng xanh,
đồ gốm, gạch ngói, làm đèn… Ngồi ra cịn có nghề dệt len, nghề ép dầu làm rượu…

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

17


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

Những người lao động trong các nhành thủ công này, nô lệ và những người nơ lệ được
phóng thích chiếm từ 80-85% số cịn lại là cơng nhân th mướn. Đến thế kỉ thứ III, do
các ngành thủ công ở những địa phương như Gallia phát triển, nên ở Italia ngoài nghề dệt
len tại Tesrentum, còn các ngành nghề khác như pha lê, đồ gốm, làm đèn, đúc kim loại
đều sử dụng lao động nơ lệ khơng có lãi. Nhất là ngồi thị trường các loại hàng hóa lại bị
cạnh tranh nên cũng đã suy sụp. Sự suy sụp của nông nghiệp và các ngành thủ công kéo
theo sự tiêu điều về mặt thương nghiệp ở thành thị. Trong khi đó, chính sách thuế má
cũng như tiền tệ của Chính phủ đã khiến cho cảnh tượng tiêu điều nói trên càng bi đát
hơn. Chính phủ do phải đáp ứng đầy đủ những chi tiêu của mình đã thơng qua một chính
sách đánh thuế nặng nề lên người dân. Công xã thành thị chịu trách nhiệm thu thuế và
phụ trách những nghĩa vụ khác. Trái lại, sau khi nền kinh tế xuất hiện khủng hoảng, tài
chính khó khăn, nguồn thu thuế ngày càng ít, nên thành thị cũng khó hồn thành việc nộp
thuế hàng năm. Chính phủ vì muốn đảm bảo được mức thuế bình thường, nên đã xuống
lệnh cho các nghị viên ở các thành thị phải nộp tiền thuế. Các nghị viên ở thành thị không
đủ tiền để nộp, đành phải bán đất đai, phóng thích nơ lệ để họ trở thành người lệ nông tự
canh tác trên miếng đất nhỏ. Thậm chí, có nhiều nghị viên ở các thành phố do không nộp
nổi thuế phải bỏ trốn đi nơi khác, sống một cuộc sống lưu vong.
Ngồi ra, Chính phủ cịn ban hành một loại tiền tệ kém chất lượng để lấy đó làm
biện pháp giải cứu cho sự khủng hoảng tài chính. Đầu thế kỉ thứ III, tiền tệ bằng vàng đã
giảm chất lượng xuống còn 17%, tiền tệ bằng bạc giảm chất lượng xuống 15%. Về sau
những đồng tiền này chỉ còn chất lượng 5% so với trước kia. Như vậy, Chính phủ đã tạo
ra một vịng luẩn quẩn khơng lối thốt. Vì một mặt số tiền tệ cũ bị người ta cất giấu,
khiến không đủ tiền tệ lưu thông, trong khi tiền tệ mới thì khơng ai muốn nhận. Một khi

xảy ra khủng hoảng về mặt lưu thông tiền tệ, tất nhiên dẫn tới tình trạng mọi người dùng
hàng hóa để trao đổi, thậm chí lương bổng của các quan viên cũng phải phát bằng hiện
vật. Đi đôi với tình hình này, những người giàu có cất giấu vàng bạc, vật tư khiến giá cả
hàng hóa ngồi thị trường tăng vọt. Chính vì thế nền kinh tế ngày một lụn bại hơn. Mặt
khác, do tiền tệ mất giá trị, vật giá tăng cao khiến việc thu thuế không thể đáp ứng đủ. Do
vậy Chính phủ lại tăng thuế, phát hành những đồng tiền kém chất lượng. Với vòng luẩn
quẩn đó, làm cho thương nghiệp càng tiêu điều, thành thị càng suy sụp, xã hội càng hỗn
loạn, ngoại tộc thừa cơ đua nhau xâm nhập. Cướp biển hoành hành mạnh hơn khiến cho
những con đường giao thông trên mặt biển bị ách tắc, từ đó gây nhiều khó khăn hơn cho
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

18


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

cư dân ở thành thị và nông thôn. Đồng thời, khuynh hướng tự cấp trong nông nghiệp, kết
hợp với sự suy sụp của thành thị, cũng đã thúc đẩy cho nhau càng trở nên bi đát hơn.

3. Sự khủng hoảng về chính trị
Những khủng hoảng về kinh tế vào thế kỉ thứ III cũng đã phản ánh đầy đủ trên các
mặt chính trị và quân sự. Sự phá sản về kinh tế thường đi đơi với những biến động về
chính trị. Ngay từ cuối vường triều Antonius (96-192), sự khủng hoảng về chính trị của
đế quốc La Mã đã bộc lộ rõ nét. Đầu thế kỉ III, sự phân hóa và tranh chấp trong nội bộ
giai cấp chủ nô càng quyết liệt hơn. Nội bộ của tập đoàn thống trị liên tục tranh giành và
đánh nhau không lúc nào ngưng nghỉ. Sau khi nhà vua cuối cùng của vương triều
Antonius là Commodius bị giết chết, chỉ trong vòng sáu tháng, quân cận vệ đã đưa lên
hai vị Hoàng đế. Bọn quý tộc địa phương và ở các tỉnh thuộc đế quốc cũng nổi dậy xưng
hùng xưng bá với khuynh hướng tách dần khỏi sự lệ thuộc vào Roma. Trong nội bộ La
Mã bùng nổ một cuốc chiến tranh đoạt ngơi vị Hồng đế kéo dài suốt bốn năm (193-197).

Về sau. Vị Tổng đốc Pannonia là Severus đã xây dựng vương triều Severus (193-235).
Severus là người dựa vào quân đội để lên ngôi vua, tất nhiên ông ta phải khao thưởng
binh sĩ và nuôi dưỡng lực lượng quân đội là điều quan trọng nhất. Ông ta đã nâng lương
cho quân đội, trọng dụng kị sĩ và tổ chức lại quân cận vệ riêng, ưu đãi binh sĩ, sử dụng
quân nhân giữ các chức vụ hành chính. Đồng thời, tăng cường tập quyền về Trung ương,
bổ nhiệm những người xuất thân kỵ sĩ thay thế cho tầng lớp nguyên lão giữ chức Tổng
đốc các hành tỉnh, thực hiện chính sách kết hợp quân đội với quan liêu. Mặt khác, ơng
cịn tiếp tục sử dụng vũ lực để mở mang bờ cõi, ở phương Đông, tấn công Parthia, ở
phương Tây tiến quân vào Anh. Kết cục, ông đã bị giết chết trong một cuộc chiến tranh
với các bộ lạc thổ dân.
Sau khi con trai của Severus là Caracalla, ngoài việc tăng lương cho binh sĩ, mua
chuộc qn đội, năm 212 ơng cịn ban bố một sắc lệnh cấp quyền công dân La Mã cho tất
cả những người dân tự do trong đế quốc. Sắc lệnh này có tên là “Sắc lệnh Caracalla”.
Mục đích của sắc lệnh này vừa làm dịu lại mâu thuẫn trong xã hội, vừa mở rộng nguồn
thu thuế, sau khi được ban quyền cơng dân thì phải có trách nhiệm đóng thuế. Tuy nhiên
cũng khơng đem lại hiệu quả gì. Năm 217, ơng bị quân cận vệ giết chết. Đền đời vua cuối
cùng của vương triều Severus là Alexander Severus (222-235), mọi việc triều chính đều
do mẫu hậu nắm giữ, các quý tộc nguyên lão được nhiều ưu thế. Các nguyên lão tổ chức
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

19


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

một ủy ban đặc biệt để thi hành những biện pháp cứu vãn tình thế: hạ thấp mức thuế, mức
chi tiêu, cho phép những công dân tự do trên 20 tuổi được quyền bán mình làm nơ lệ…
Những biện pháp trên khơng những khơng thể thi hành được lúc bấy giờ, mà cịn bị qn
đội chống đối kịch liệt, do đó cũng khơng đem lại lợi ích gì. La Mã vẫn tiếp tục hỗn loạn
và alexander severus đã bị giết chết trong cuộc nổi loạn của binh sĩ (235). Trong vòng 15

năm sau đó, những vụ mưu sát, chính biến thường xun xảy ra, La Mã đã thay đổi 10
đời Hoàng đế. Từ năm 253 đến năm 268, La Mã tiến vào thời kì “30 tiếm chủ”. Các qn
đồn cũng như các hành tỉnh đều lập Hoàng đế riêng, tàn sát lẫn nhau, khiến tình hình
chính trị càng thêm rối loạn. Trong thời kì này, vùng Gallia đã xuất hiện một “đế quốc
Gallia”, ở Syria, Ai Cập cũng từng li khai. Chính quyền của Chính phủ Trung ương thật
ra đã hồn tồn tê liệt.

4. Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân và những cuộc xâm nhập của
người “man tộc”
a) Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân
Khủng hoảng và nội chiến đã làm cho người nô lệ cũng như bao nhiêu người lao
động khác lâm vào cảnh khốn khổ triền miên. Chính vì vậy mà nô lệ, lệ nông và nhiều
giai tầng khác trong nhân dân đã nổi lên khởi nghĩa nhiều lần. Những cuộc khởi nghĩa
gần như bùng nổ khắp đất nước La Mã. Vào đầu thế kỉ thứ III, trong thời kì vương triều
Severus thống trị, có một người bị bọn chủ nô gọi là “ăn cướp”, tên Bura, chỉ huy một
đội ngũ hơn 600 người xông xáo khắp đất Italia, giết chết người giàu, cướp của cứu tế
cho người nghèo. Thành phần đội ngũ của Bura rất phức tạp, trong đó có đào binh, những
quan lại thất chí, nhưng chủ yếu là nô lệ và lệ nông bỏ trốn. Mục tiêu đấu tranh của họ
nhắm thẳng vào giai cấp chủ nô, quan lại, binh lính nên được dân nghèo đồng tình, che
giấu, cuộc đấu tranh kéo dài được hai năm.
Năm 273, “công nhân đúc tiền” (gồm công nhân và nô lệ quốc gia) ở thành La Mã
phát động một cuộc khởi nghĩa, được dân nghèo thành thị hưởng ứng. Cuộc khởi nghĩa
đã làm quân đội La Mã tổn thất 7.000 người. Tại Sicily, năm 263, bùng nổ một cuộc khởi
nghĩa của nơ lệ (có thể đây là cuộc khởi nghĩa thứ ba của nơ lệ ở Sicily), có quy mơ lớn
cũng giống như “chiến tranh nô lệ” trước kia. Tại Bắc Phi, năm 238, khi thế lực địa
phương tại tỉnh Kfrica tự lập ngun thủ của mình để chống lại Hồng đế Maximinus của
La Mã, thì một cuộc khởi nghĩa của nô lệ và lệ nông bùng nổ.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

20



Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

Trong thời kì “30 tiếm chủ”, tại Bắc Phi cũng đã xảy ra một cuộc khởi nghĩa nô lệ.
Cuộc khởi nghĩa này đã liên minh với người Moors và đã chiếm đóng rất nhiều vùng ở
Mauritania và Numidia. Mục tiêu của cuộc khởi nghĩa này là triệt hạ quý tộc địa chủ và
những người thống trị La Mã. Ở Tiểu Á, người Isauria bị người La Mã gọi là “ăn cướp”
đã tập kích những khu vực xung quanh Tiểu Á.
Tại Ai Cập, ngay từ giữa thế kỉ thứ II đã bùng nổ cuộc khởi nghĩa của người du
mục kéo dài vẫn chưa dập tắt được. Những cuộc khởi nghĩa tập trung tại vùng tam giác
sông Nile để chống lại những cuộc đàn áp. Nô lệ và lệ nông quanh vùng đưa nhau tới gia
nhập. Nhưng, cuộc khởi nghĩa có quy mơ lớn nhất và thời gian lâu nhất phải kể đến là
phong trào Bagaudae. Đội ngũ của Bagaudae chủ yếu gồm nô lệ và lệ nông. Năm 269,
khởi nghĩa Bagaudae bùng nổ. Chẳng bao lâu sau, những ngươi khởi nghĩa đã bao vây
ngôi thành của người Gallia. Ngôi thành này trước kia đã kí kết điều ước liên minh anh
em với thành La Mã. Do vậy, người trong thành bèn phái sứ giả đến cầu viện La Mã,
nhưng vì Hồng đế La Mã đang đánh nhau với người Goth, không thể tiếp viện được.
Sau bảy tháng bao vây, quân khởi nghĩa Bagaudae đã hạ được thành, giết chết một số quý
tộc chủ nô, tước đoạt tài sản của họ. Cuộc khởi nghĩa duy trì được hơn ba năm, sau bị
Hồng đế La Mã trấn áp trong những năm 270-275. Nhưng phong trào Bagaudae vẫn
chưa bị tiêu diệt. Năm 283 họ lại mở ra những cuộc đấu tranh đại quy mô hơn. Lần đấu
tranh này họ dựa vào thành phố trước kia làm trung tâm và dùng nông dân làm bộ binh,
dùng người du mục làm kỵ binh để xông pha ra trận, giết chết phú hào, thiêu hủy trang
trại, chia đất, chia tài sản đã chiếm được. Họ cử ra hai người thủ lính để làm Hồng đế và
tự đúc tiền. Năm 268, Hoàng đế La Mã là Diocletianus phái một người cùng nắm quyền
thống trị là Maximian đưa quân tới Gallia để trấn áp. Quân đội của Maximian bị quân
khởi nghĩa phân tán đánh bại nhiều trận, do đó khơng dám tiến công đánh quân khởi
nghĩa nữa. Về sau, Maximian phải dùng kỉ luật, đội quân nào bỏ chạy thì cứ mười một
người sẽ rút ra chém một người, khiến binh sĩ của ông ta sợ hãi, phải liều chết đánh nhau

với quân khởi nghĩa. Lúc đó, họ mới trấn áp được cuộc khởi nghĩa của Bagaudae. Nhưng
sau đó, một số lực lượng tàn dư của Bagaudae vẫn tiếp tục hoạt động. Mãi đến cuối thế kỉ
V mới hoàn toàn tan rã, kéo dài cuộc chiến đến hơn 200 năm.

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

21


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

b) Những cuộc xâm nhập của người “man tộc”
Ở ngoài cương giới của đế quốc La Mã có các bộ lạc người Celt, người Germans
và người Slavo cư trú. Đến trước thế kỉ thứ V, họ vẫn đang sống trong xã hội nguyên
thủy nên người Roma gọi họ là “man tộc”.
Trong các tộc ấy, người Celt vốn sinh sống trên một địa bàn rất rộng bao gồm các
xứ Britain (nước Anh), Bắc Italia, Gaul (Pháp) và Tây Ban Nha, nhưng từ sớm họ đã bị
Roma chinh phục và đã đồng hoá với người Roma ở đó. Người Germans thì sống rải rác
trên một vùng đất đai rộng lớn từ sơng Rhine (ở phía Tây) đến tận sơng Vixtuyn (ở phía
Đơng), từ Danube (ở phía Nam) đến biển Baltic (ở phía Bắc). Cịn người Slavo thì ở phía
Đơng khu vực đó.
Trong số những người “man tộc” sống ở phía Bắc đế quốc La Mã, người Germans
đóng vai trị quan trọng đối với sự diệt vong của đế quốc Tây bộ La Mã. Người Germans
là một trong những bộ tộc lớn thuộc chủng tộc Arian đến sinh sống ở vùng biên giới phía
Bắc và Đơng Bắc của đế quốc La Mã từ nhiều thế kỉ trước Công nguyên. Người Germans
bao gồm các bộ lạc Goth (Tây Goth và Đông Goth), các bộ lạc Vandal, Francs, Anglo
Saxon, Burgondes…
Vào những thế kỉ đầu Công nguyên, chế độ cơng xã ngun thủy của người
Germans trong q trình tan rã. Do sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số nhanh chóng,
người Germans có nhu cầu mở thêm đất đai để sinh sống.

Đến cuối thế kỷ thứ II, tính chất và mức độ của mối đe dọa mà La Mã phải đối mặt
xuất phát từ phía bên kia đường biên giới phía Tây đã thay đổi chóng vánh. Các bộ lạc
liên minh với nhau, dưới sự chỉ huy chiến binh lãnh đạo và sở hữu những quân đội tinh
nhuệ. Họ vẫn thường xuyên tấn công và cướp phá các khu định cư của người La Mã bên
phía biên giới của mình. Các cuộc tấn cơng như vậy đơi khi dẫn đến đòn giáng trả khốc
liệt của La Mã.
Mùa đông năm 166, hai bộ lạc Germans là Langobardi và Ubii đã đột kích tỉnh
Pannonia của La Mã (thuộc Hungary ngày nay ở phía nam sơng Danube). Một năm sau,
hai bộ lạc hùng mạnh khác là Marcomanni và Victuali yêu cầu vượt sông Danube đến
định cư bên trong đế quốc. Sở dĩ họ làm như vậy là do chịu sức ép từ các bộ lạc cách xa
biên giới muốn tìm cách chiếm đóng khu vực này. Rome đã phản ứng chậm chạp. Hồng
đế Marcus Aurelius (161-180) đang có chiến tranh với đế quốc Pathia và phải tập trung
lực lượng cho cuộc chiến đó. Các cuộc chiến của bộ lạc Marcomanni không chỉ đơn
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

22


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

thuần là những cuộc đột kích biên giới. Các bộ lạc Germans đã cướp phá một số thành
phố và gây thiệt hại ở khắp nơi. Khi chiến sự đang diễn ra thì một số bộ lạc tìm cách di
cư ồ ạt.
Đến thế kỉ III, do nội bộ của La Mã bị khủng hoảng và ln chao đảo, nên đối với
việc phịng thủ ở bên ngoài bị suy giảm hơn trước rất nhiều. Các bộ lạc Germans lúc này
đã kết thành nhiều liên minh bộ lạc như: Ostrogoth (Đông Goth), Visigoth (Tây Goth),
Vandal, Francs, Anglo Saxons, Lombard… và thường tập kích vùng biên cương của đế
quốc La Mã, họ đột phá được các tuyến phịng thủ của La Mã ở hai mặt Đơng và Tây. Từ
năm 235-275, các “man tộc” đã phát động những cuộc tấn cơng quy mơ lớn dọc đường
biên giới phía Tây của La Mã, một số bộ tộc đã định cư ở bên trong biên giới đế quốc.

Người Francs đã phá hủy những đồn trại của La Mã ở hạ lưu sông Rhine, tiến vào vùng
đất trung tâm Gallia và về sau họ đã định cư tại nơi đó. Một chi khác của người Alemani
cũng kéo xuống Lycia ở phía Nam và cửa phải của dãy núi Alps. Năm 261 và tiếp tục
những năm sau đó, họ đã tiến xuống đến vùng Bắc và Trung bộ của Italia. Cùng một lúc
đó, tại hạ lưu sơng Danube, người Goth tiến vào lãnh thổ của người La Mã. Bắt đầu từ
năm 230, họ lại tiến vào bờ biển Caspian. Sau năm 250, họ chiếm cứ Bosporus. Tiếp đó,
họ lại tiến vào biển Aegean. Kể từ đó người Goth đã trở thành một lực lượng quan trọng
ở phía Đơng Nam châu Âu. Tại vùng phía Đơng của đế quốc La Mã, lại có đế quốc
Sasanid-Ba Tư bắt đầu cường thịnh lên và đã tranh đoạt vùng Armenia và lưu vực Lưỡng
Hà lâu dài với La Mã. Năm 259, Hoàng đế Valerianus (253-259) dẫn quân cùng đánh
nhau với Ba Tư, bị thua và bị bắt sống, sau đó trở thành người phục dịch trong vương
triều của Ba Tư. Thế lực của đế quốc Sasanid-Ba Tư bành trướng đến vùng Cappadacia.
Từ đó trở về sau, Germans tiếp tục tràn vào các địa phương La Mã.

I.2. Sự xuất hiện và diễn biến của đạo Cơ Đốc
Vào thế kỉ I, đạo Cơ Đốc đã xuất hiện trong tầng lớp dưới của dân tộc Do Thái
đang sống rải rác tại vùng Tiểu Á (cũng có thuyết cho rằng đạo Cơ Đốc là một chi phái
mới của đạo Do Thái). Đạo này đã xuất hiện trong dân chúng nông thôn vùng Palestin
vào khoảng những năm 30 của thế kỉ I sau công nguyên. Chẳng bao lâu sau, tôn giáo này
đã truyền rộng ra khắp đế quốc La Mã và trở thành một trong ba tôn giáo lớn của thế giới
là đạo Phật, đạo Islam và đạo Cơ Đốc.

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

23


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

1. Bối cảnh xã hội đã sản sinh ra đạo Cơ Đốc và nguồn gốc tư tưởng

của đạo này
Đạo Cơ Đốc không phải là sản phẩm của một dân tộc riêng lẻ nào trong lãnh thổ
của đế quốc La Mã, mà nó là sản phẩm của cả xã hội La Mã. Nó là kết quả của quảng đại
nhân dân thuộc tầng lớp dưới trong xã hội La Mã, cảm thấy tuyệt vọng trong những cuộc
đấu tranh hiện thực và đã tìm ra lối thốt về mặt tơn giáo.
Sự thống trị của đế quốc La Mã đã mang đến nhiều tai họa to tát cho nhân dân
tầng lớp dưới. Sự chinh phạt và áp bức đẫm máu cũng như chà đạp lên các dân tộc bị họ
chinh phục, đặt ra nhiều thuế khóa nặng nề cho người dân, với những biện pháp tàn bạo,
họ đã trấn áp những cuộc khởi nghĩa của nô lệ hay người dân. Tầng lớp dưới trong nhân
dân kể từ thế kỉ II TCN, đã mở ra nhiều cuộc đấu tranh liên tục chống lại giai cấp thống
trị, nhưng do thiếu một giai cấp lãnh đạo, không được vũ trang bằng những tư tưởng khoa
học nên đều thất bại. “Trong tình trạng thời bấy giờ, lối thốt chỉ có thể tìm được trong
lĩnh vực tơn giáo”.
Đạo Cơ Đốc ngay từ lúc đầu đã xuất hiện trong tầng lớp dưới của nhân dân Do
Thái là có một căn nguyên lịch sử của nó. Trong lịch sử thời cổ đại, người Do Thái là
một dân tộc chịu nhiều tai họa nhất. Vùng Palestine, nơi có vương quốc Do Thái tồn tại,
bắt đầu từ thế kỉ VIII đến thế kỉ VII TCN, đã lần lượt bị Assyria và Ai Cập khống chế.
Năm 586 TCN, vương quốc Babylon đã tiêu diệt vương quốc Do Thái, bắt cư dân Do
Thái mang về thành Babylon (có một phần trong số đó trở thành nơ lệ). Kể từ đó quốc gia
Do Thái khơng cịn tồn tại nữa. Đến năm 538 TCN, sau khi Ba Tư tiêu diệt Babylon, họ
mới cho người Do Thái trở về quê hương cũ của mình, làm thần dân của đế quốc Ba Tư.
Sau khi đế quốc Ba Tư bị diệt vong, người Do Thái lại bị rơi vào sự thống trị của Selecid.
Từ đó, người Do Thái phải gánh chịu đủ thứ tai nạn trong những cuộc chiến tranh hùng
giữa người Selecid với người Ai Cập. Bắt đầu từ năm 167 TCN, người Do Thái đã vùng
lên khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Judas Galiaeus. Năm 141 TCN, người Do Thái từng
giành được độc lập một thời gian. Nhưng đến năm 63 sau công nguyên, người Do Thái
lại bị La Mã chinh phục.
Dưới sự thống trị của người La Mã, vào các năm 66, 132 sau công nguyên, người
Do Thái lại một lần nữa thực hiện cuộc khởi nghĩa to lớn nhưng vẫn bị trấn áp một cách
tàn bạo. Người Do Thái hoặc bị giết, hoặc phải bỏ quê hương trốn sang những miền đất

xa lạ. Trong những cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, đã phản ánh vào ý thức
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

24


Tìm hiều về quá trình và nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ sụp đổ của đế quốc Tây La Mã cổ đại (thế kỉ III-thế kỉ V)

tôn giáo của họ nên đã xúc tiến một tôn giáo mới sản sinh. Qua một văn kiện viết trên
giấy được phát hiện ở gần biển Chết hồi năm 1947, cho thấy vào thế kỉ II TCN, cho đến
thế kỉ II sau công nguyên, trong tầng lớp dưới người dân Do Thái, có một giáo phái bí
mật đang tuyên truyền “Chúa cứu thế” sắp xuất hiện. Trong người Do Thái ở các nới
vùng Tiểu Á, xuất hiện rất nhiều người “tiên tri” truyền giáo. Đạo Cơ Đốc được hình
thành từ trong giáo phái mới này. Văn hiến sớm nhất của đạo Cơ Đốc là “Khải huyền của
John” (khoảng năm 68) chỉ thấy đề cập tới công xã tôn giáo tại bảy thành thị ở vùng Tiểu
Á. Dựa vào đó có thể thấy được đạo Cơ Đốc có khả năng hình thành sớm nhất trong
người Do Thái sống rải rác ở vùng Tiểu Á.
Về nguồn gốc tư tưởng của đạo Cơ Đốc: Một trong những nguồn gốc chính là đạo
Do Thái. Đạo Do Thái tin thờ một vị thần mà tín đồ đạo Cơ Đốc gọi là Yahveh và xem
đó là một vị thần duy nhất, Do Thái là dân được chọn của vị thần đó. Quan niệm “Chúa
cứu thế” ban đầu của đạo Cơ Đốc và tư tưởng một vị thần rõ ràng là bắt nguồn từ đạo Do
Thái. Đồng thời, “Thánh kinh” của đạo Do Thái cũng được tín đồ đạo Cơ Đốc tiếp nhận
và được gọi là “Cựu ước”, để phân biệt với “Tân ước”. Ngoài đạo Do Thái ra, đạo Cơ
Đốc cịn tiếp thu những tư tưởng tơn giáo được lưu hành rộng rãi ở các vùng đất phương
Đông như Ai Cập, Syria, Tiểu Á và Iran (chủ yếu là quan niệm nhất thần giáo). Tư tưởng
thần vì cứu vớt chúng sinh mà phải chết nhưng được sống trở lại, cũng như tư tưởng
chuộc tội và hiến tế (giống với tín ngưỡng Osiris của Ai Cập). Những tư tưởng triết học
của Hy Lạp, La Mã, đặc biệt là học thuyết Philo Judaeus của học phái Alesandria; triết
học của phái Stoicoi và luân lý học của học phái Cynicos cũng có ảnh hưởng quan trọng
đến sự hình thành của đạo Cơ Đốc.

Vậy, đạo Cơ Đốc chính là một tơn giáo “đã âm thầm sản sinh ra từ sự hỗn hợp
của thần phương Đông đã được phổ biến, đặc biệt là thần học của Do Thái và triết học
Hy Lạp đã được dung tục hóa, nhất là từ trong triết học của Stoicoi” (trích: Tổng kết triết
học của Ludwig Feuerbach và triết học cổ điển Đức).

2. Giáo lý và sự tổ chức trong thời kì đầu của đạo Cơ Đốc
Thế kỉ I sau công nghuyên, trong cư dân lớp dưới ở thành thị có xuất hiện một số
người truyển giáo (trong Thánh kinh gọi là “Sứ đồ”). Họ đi khắp nơi truyền việc “Chúa
cứu thế” sắp giáng lâm và thần thoại về Jesus Christ. Thần thoại nói: Jesus là con Thượng
đế, cũng tức là “Chúa cứu thế”. Ông sinh ra tại Beth’lehm (tiếng Hebrew). Ông đã đến
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104

25


×