Tải bản đầy đủ (.pdf) (41 trang)

BÀI 6 TRỤC VÙNG dưới đồi – TUYẾN yên – TUYẾN SINH dục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.31 MB, 41 trang )

BÀI 6. TRỤC VÙNG DƯỚI ĐỒI – TUYẾN YÊN – TUYẾN SINH DỤC

Đỗ Quang Anh
Bùi Văn Hiếu
MỤC TIÊU
1. Trình bày giải phẫu học và chức năng sinh lý của trục vùng dưới đồi - tuyến yên
– tuyến sinh dục
2. Giải thích cơ chế hoạt động của trục hạ đồi tuyến yên- tuyến sinh dục ở nữ
3. Trình bày tác động của các hormone tuyến n lên buồng trứng/tinh hồn.
4. Trình bày quá trình sinh tổng hợp các hormone sinh dục nữ
5. Giải thích vai trị của trục hạ đồi- tuyến yên- buồng trứng trong điều hoà hoạt
động sản xuất hormone sinh dục và sinh nỗn/sinh tinh
6. Trình bày vai trị của các Gonadotrophin trong sự tạo giao tử đực và trong sự
tổng hợp Testosterone
7. Trình bày chức năng của tế trong sản xuất hormone sinh dục nam

I.

ĐẠI CƯƠNG.
Trong điều kiện bình thường, mỗi chu kỳ kinh nguyệt kéo dài khoảng 28 ngày.

Nếu như kinh nguyệt là một biểu hiện bên ngoài của một phần hoạt động sinh sản ở
người phụ nữ, thì bên trong cơ thể có một sự phối hợp chặt chẽ và phức tạp của hệ
thống nội tiết sinh sản, vùng dưới đồi, tuyến yên, buồng trứng. Các hormone buồng
trứng một mặt tác động trực tiếp lên các phần của cơ quan sinh dục như tử cung, cổ
tử cung, vòi tử cung, âm hộ, âm đạo, tuyến vú, mặt khác lại tác động trở lại vùng
dưới đồi – tuyến yên tạo thành cơ chế điều hòa ngược. Khi có một rối loạn bất kỳ
của hoạt động này sẽ dẫn đến các bệnh lý phụ khoa cũng như ảnh hưởng đến chức
năng sinh sản của người nữ.



Ở nam giới, sự điều khiển hoạt động sinh dục sinh sản cũng do hệ trục nội tiết
dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục (tinh hoàn) đảm nhiệm. Cơ quan quan sinh
dục quan trọng nhất ở người nam là tinh hoàn với hoạt động ngoại tiết (sản xuất tinh
trùng) và nội tiết (sản xuất Testosterone). Cơ chế nội tiết điều hịa chức năng của
tinh hồn và các tác động sinh lý của Testosterone tới các cơ quan đích cũng như sự
điều hòa ngược lên tầng trên của hệ trục nội tiết đóng vai trị quyết định đảm bảo
hoạt động chức năng sinh dục sinh sản bình thường của người nam.
1. Vùng dưới đồi (Hyothalamus)
1.1. GIải phẫu vùng dưới đồi
Vùng dưới đồi là một cấu trúc nằm trong nền của trung não, nằm quanh não
thất, ở vị trí giữa của hệ viền, phía trên giao thoa thị giác. Các nơ-ron của vùng dưới
đồi tập trung thành nhiều nhân và chia thành nhiều nhóm nhân. Các nơ-ron này ngồi
chức năng dẫn truyền xung động thần kinh cịn có chức năng tổng hợp và bài tiết
các hormone.
Các nơ – ron của củ xám, nhân bụng giữa, nhân lưng giữa và nhân cung của
vùng dưới đồi tiết ra hormone giải phóng (GnRH-Gonadotropin Releasing
Hormone), trong số đó có hormone giải phóng FSH và LH. Nhân trước thị cũng có
chứa vùng SDN (sexually dimorphic nucleus), là nơi bài tiết GnRH


Hình 102: Thiết đồ đứng dọc giữa não bộ người: dưới đồi, lồi giữa, và tuyến
yên. (Nguồn: Jerrome F. Strauss III, R.L.B., Yen & Jaffe’s “Reproductive
endocrinology: Physiology, Pathology and Clinical Management – Chapter 1:
Neuroendocrine of Reproduction”, 8th ed. 2019)
Vùng dưới đồi nằm ở nền sọ phía trên giao thoa thị giác
1.2. Hormone của vùng dưới đồi GnRH
Vùng dưới đồi chịu trách nhiệm tổng hợp và bài tiết hormone GnRH, có vai trị
kiểm sốt sự giải phóng các hormone hướng sinh dục FSH và LH từ thùy trước tuyến
yên.
GnRH trước đây được gọi là hormone giải phóng LH (LHRH), được tổng hợp

và giải phóng từ một số tế bào thần kinh được biệt hóa của vùng dưới đồi. Mặc dù
chức năng cơ bản của GnRH là điều hòa sự bài tiết các hormone hướng sinh dục từ
tuyến yên, nó cũng có các chức năng tự điều hòa (autocrine) và cận điều hịa
(paracrine) giống như các cơ quan khác. Q trình sinh sản tự nhiên phụ thuộc hoàn
toàn vào sự bài tiết GnRH một cách phù hợp vì khơng có một con đường đồng thời
hay bổ sung nào khác để kích thích bài tiết gonadotropine từ tuyến yên.
Sự không sản xuất hoặc suy giảm nặng sự sản xuất GnRH dẫn đến không khởi
phát được dậy thì, suy trục nội tiết và vơ sinh. Đồng thời tất cả các tình trạng này có
thể được điều chỉnh nhờ liệu pháp bổ sung GnRH ngoại sinh. Sự bài tiết GnRH chịu


sự chi phối của nhiều yếu tố, gồm các steroid sinh dục, sự cung cấp năng lượng, và
tình trạng stress.
Có hai trung tâm khác nhau của vùng dưới đồi bài tiết GnRH theo hai kiểu khác
nhau:
Vùng dưới đồi tiết ra GnRH theo nhịp xung có vai trị kiểm sốt sự phóng thích
hormon FSH, LH từ thuỳ trước tuyến n.
- Trung tâm hoạt động theo chu kỳ (cycle center) hay “tonic center”:
Trong một chu kỳ kinh nguyệt bình thường, trung tâm “tonic” của vùng dưới
đồi sẽ hoạt động thường xuyên để bài tiết hormone GnRH theo kiểu ngắt quãng, kéo
theo sự giải phóng LH thành từng nhịp và giải phóng FSH liên tục tại tuyến yên
trước.
GnRH được bài tiết theo nhịp (pulsaltile secretion hay episodic profile) cứ 1-3
giờ một lần, mỗi lần kéo dài trong vài phút (2-4 phút). GnRH có thời gian bán hủy
trong huyết tương cực ngắn, dưới 10 phút (5-7 phút). GnRH được vận chuyển theo
hệ mạch cửa đi xuống thùy trước tuyến yên. Tác dụng của GnRH là kích thích tế bào
thùy trước tuyến yên tổng hợp các Gonadotropin (FSH và LH). Kiểu bài tiết GnRH
này kích thích tuyến n giải phóng FSH liên tục và giải phóng LH ngắt qng.
Vắng GnRH, tuyến n khơng thể sản xuất các Gonadotropin. Ngược lại, khi
đưa GnRH vào dòng máu đến tuyến yên liên tục thì sau khi xảy ra hiệu ứng nhảy

vọt (flare –up) làm tăng đột ngột và ngay sau đó là sự dừng hẳn bài tiết các
Gonadotropins của tuyến yên (điều hòa giảm – down regulation hay cắt tuyến yên
nội khoa – medical hypophysectomy).


Hình 1: Tác động của cung cấp GnRH

Hình 2: Nồng độ LH và FSH ở khỉ bị suy

theo nhịp xung và liên tục ở khỉ bị

sinh dục (khơng có GnRH do cắt bỏ nhân

thiếu hụt GnRH. Cung cấp GnRH ngắt

cung của vùng dưới đồi) nhưng được dùng

quãng phục hồi sự chế tiết bình thường

steroid sinh dục thay thế. GnRH được cung

các Gonadotropin. Truyền GnRH liên

cấp theo nhịp xung mỗi giờ giúp phục hồi sự

tục dẫn đến điều hòa giảm LH (đường

chế tiết LH và FSH. Thay đổi từ tần số của

xanh lá) và FHS (đường tím). Tái cung


xung GnRH mau (mỗi giờ) sang tần số xung

cấp GnRH theo nhịp xung giúp phục

thưa (mỗi 3 giờ) dẫn đến giảm bài tiết LH

hồi lại hoạt động chế tiết LH và FSH.

nhưng tăng bài tiết FSH ở tuyến yên. (Nguồn:

(Nguồn: Jerrome F. Strauss III, R.L.B., Yen &

Jerrome F. Strauss III, R.L.B., Yen & Jaffe’s

Jaffe’s

“Reproductive

Physiology,

Pathology

endocrinology:

“Reproductive

and

Pathology and Clinical Management – Chapter 1:


Clinical

Management – Chapter 1: Neuroendocrine of

endocrinology:

Physiology,

Neuroendocrine of Reproduction”, 8th ed. 2019)

Reproduction”, 8th ed. 2019)

GnRH được chế tiết với một lượng rất nhỏ và có thời gian bán hủy cực ngắn nên
không định lượng được nồng độ của nó trong máu ngoại vi. Tuy nhiên, LH được
chế tiết với nồng độ cao hơn, thời gian bán hủy của LH không quá dài và đặc
biệt là nhịp giải phóng của LH phản ánh nhịp giải phóng GnRH, việc đo lường
nồng độ LH trong huyết thanh gián tiếp thể hiện sự giải phóng GnRH. Khơng
giống LH, FSH có thời gian bán hủy dài và sự bài tiết FSH không phải luôn theo
nhịp. Ngay cả khi FSH được bài tiết theo nhịp thì sự tương quan của nhịp giải
phóng FSH với LH (và GnRH) cũng khơng chặt chẽ


Hình 3: Liên hệ chặt chẽ theo thời gian của nhịp xung chế tiết LH (đo trong
máu tĩnh mạch cảnh) với nhịp xung chế tiết GnRH (đo trong hệ mạch cửa) ở thí
nghiệm trên cừu. (Nguồn: Jerrome F. Strauss III, R.L.B., Yen & Jaffe’s “Reproductive
endocrinology: Physiology, Pathology and Clinical Management – Chapter 1: Neuroendocrine
of Reproduction”, 8th ed. 2019)

-Nồng độ LH trung bình ở các giai đoạn khác nhau của chu kỳ:

+ Đầu pha nang noãn: 6.5 IU/L
+ Giữa pha nang noãn: 5.0 IU/L
+ Cuối pha nang noãn: 7.2 IU/L
+ Đầu pha hoàng thể: 5.0 IU/L
+ Giữa pha hoàng thể: 12.2 IU/L
+ Cuối pha hoàng thể: 8.0 IU/L
-Tần suất của xung LH (tương tự với tần suất của xung GnRH):
+ Đầu pha nang noãn: 90 phút
+ Giữa pha nang noãn: 60 –70 phút
+ Đầu pha hoàng thể: 100 phút
+ Cuối pha hoàng thể: 200 phút
- Trung tâm tiền rụng trứng (preovulatory center hay surge center):
Trong pha phóng nỗn, khi có sự xuất hiện của đỉnh estradiol, trung tâm này sẽ
bị kích thích (điều hịa ngược dương tính) và tạo ra đỉnh tiết GnRH, kích thích tuyến
yên bài tiết và tạo đỉnh LH và cả đỉnh FSH. Tuy nhiên sự tương quan giữa hoạt động


tạo đỉnh GnRH của vùng dưới đồi với hoạt động bài tiết tạo đỉnh FSH của tuyến yên
không chặt chẽ như với trường hợp hormone LH. Sự xuất hiện của đỉnh LH (và cả
sự tham gia hiệp đồng của đỉnh FSH) gây ra hiện tượng phóng nỗn.
Như vậy sự bài tiết GnRH theo tần số và biên độ thích hợp đảm bảo cho sự bài
tiết các Gonadotropins diễn ra một cách bình thường. Đó là một cơ chế quan trọng
của điều hịa phóng nỗn và chu kỳ kinh nguyệt.
GnRH cịn được tiết ra trong pha nang noãn đỉnh của Estradiol kích thích vùng
dưới đồi tiết GnRH để tạo kích thích tuyến n tạo định LH và FSH gây phóng
nỗn.
Ở nam giới, trung tâm “surge” bị tiêu biến và hầu như khơng hoạt động, do đó
sự bài tiết GnRH tại vùng dưới đồi chỉ do trung tâm “tonic” đảm nhiệm. Điều này là
do hoạt động của AFP (alpha feto-protein) trong quá trình hình thành phơi thai. Phân
tử AFP là protein trong huyết tương của bào thai, do túi nỗn hồng và gan sản sinh

ra, có hoạt động tương tự như albumin ở người trưởng thành. Vai trị chính của AFP
là gắn kết với estradiol, ngăn cản sự vận chuyển hormone này qua hàng rào máu não
của thai. Vì vậy, ở các bào thai nữ, estradiol (tạo ra từ buồng trứng của mẹ) không
hiện diện trong mô não, nên không thể ức chế trung tâm “surge” tại vùng dưới đồi.
Ở các bào thai nam, hormone sinh dục testosterone (tạo ra từ chính tinh hồn của
thai) sẽ khơng bị kết dính với AFP và có thể di chuyển qua hàng rào máu não của
thai. Sau đó enzyme aromatase sẽ xúc tác phản ứng chuyển đổi testosterone thành
estradiol, dẫn đến ức chế hoạt động của trung tâm “surge”, gây hiện tượng nam hóa
mơ não của bé trai.
2. Tuyến yên
2.1. Giải phẫu học tuyến yên
Tuyến yên nằm ở nền sọ, trong hố yên (fossa hypophyseos) của xương bướm,
nặng khoảng 0,5g, gồm có thùy trước và thùy sau. Tuyến yên trước (anterior
pituitary) là một tuyến nội tiết nên còn được là tuyến yên tuyến (adenohypophysis).
Tuyến yên sau là tuyến yên thần kinh (neurohypophysis).


Tuyến n tuyến có nguồn gốc từ lá phơi ngồi, từ túi Rathke (Rathke pouch)
trong quá trình phát triển của phôi. Thành phần đầu tiên cấu tạo nên tuyến yên trước
là phần củ trước hay phần xa (pars distalis), nơi có các dịng tế bào biệt hóa để sản
xuất các hormone tương ứng: gonadotropes (gonadotropins: LH và FSH),
mammotropes (prolactin), corticotropes (adrenocorticotropic hormone-ACTH),
thyrotropes (TSH: thyroid-stimulating hormone), và somatotropes (GH: growth
hormone). Thành phần thứ hai của thùy trước là củ giữa (intermediate lobe) chỉ cịn
lại vết tích ở người trưởng thành và liên hệ với phần củ sau (posterior lobe). Phần xa
của thùy trước tuyến yên về mặt mô học là một tổ chức mỏng bao quanh phần cuống
phễu (vùng nối giữa vùng dưới đồi và thùy sau tuyến yên) và thân tuyến n
(pituitary stalk). Các tế bào này khơng có thần kinh phân bố, do vậy khơng chịu sự
kiểm sốt trực tiếp từ hệ thần kinh. Thay vào đó, các neuron vùng dưới đồi sẽ điều
hòa hoạt động bài tiết tại tuyến n bằng hình thức liên lạc thể dịch thơng qua nhóm

hormone điều hịa (hormone giải phóng - RH và hormone ức chế - IH). Các túi chứa
nhóm hormone điều hòa từ vùng dưới đồi sẽ được dự trữ tại các đầu tận của sợi trục
thần kinh, gần mạng lưới mạch cửa (portal vessels) trong vùng cuống yên.
Ngược lại, tuyến yên thần kinh (neurohypophysis) cấu thành từ tổ chức thần
kinh như là một cấu trúc mở rộng xuống phía dưới từ tổ chức thần kinh của lá phơi
ngồi từ phần cuống phễu trong q trình phát triển của phơi. Vì thế thùy sau được
xem như là phần mở rộng của vùng dưới đồi thị. Cấu tạo tuyến yên thần kinh gồm:
- Các tế bào thần kinh của nhân trên thị và cạnh thất vùng dưới đồi, từ đây các
sợi thần kinh đi xuống để tạo thành bó dưới đồi thị-tuyến yên.
- Phần cuống phễu (infundibular stem) nằm bên trong cuống yên, phần lồi phễu
(infundibular process) chính là thùy sau và phần gò giữa (median eminence). Một số
tác giả xem phần gò giữa thuộc vùng dưới đồi
- Các tế bào thần kinh đệm (pituicytes) bọc ngoài hoặc tách biệt với các đầu tận
thần kinh.
Các hormone được sản xuất từ các nhân trên thị và cạnh não thất của vùng dưới
đồi (oxytocin và ADH) sẽ được vận chuyển qua các sợi trục tới thùy sau tuyến yên,


được dự trữ ở đây sau đó được đổ vào các mao mạch để dẫn vào hệ mạch cửa theo
nhu cầu của cơ thể.
Mạch máu của tuyến yên: Thùy trước tuyến yên được cấp máu rất phong phú.
Mạch máu này xuất phát từ hệ thống cửa dưới đồi - yên liên kết vùng lồi giữa
(median eminence) của vùng dưới đồi và thùy trước tuyến yên. Động mạch cấp máu
cho tuyến yên bắt nguồn từ động mạch cảnh trong, chia làm 3 động mạch tuyến yên
trên, giữa, dưới để đi vào ni dưỡng tuyến n. Động mạch tuyến n trên hình
thành các mao mạch ở vùng lồi giữa của vùng dưới đồi, sau đó hợp lại thành các tĩnh
mạch dẫn vào cuống yên và toàn bộ thùy sau. Động mạch tuyến yên giữa và dưới
cho các nhánh cung cấp máu cho một phần cuống yên và toàn bộ thùy sau. Tĩnh
mạch của tuyến n đưa các hormon vào vịng tuần hồn qua xoang tĩnh mạch hang,
vào xoang đá trên và giữa rồi đổ vào tĩnh mạch cảnh.

Tuyến yên gồm có hai thuỳ thuỳ trước và thuỳ sau. Thuỳ trước là nơi các tế bào
được biệt hoá sản xuất các hormone: gonadotropes (FSH,LH), mammotropes
(prolactin), corticotropes (adrenocorticotropic hormone-ACTH), thyrotropes
(TSH: thyroid-stimulating hormone), và somatotropes (GH: growth hormone)
Thuỳ sau là nơi dự trữ các hormon được sản xuất từ nhân trên thị và cạnh não thất
(Oxytocin và ADH).
2.2. Liên hệ giữa vùng dưới đồi và tuyến yên: Hệ tuần hoàn cửa vùng dưới đồi
– tuyến yên
Vùng dưới đồi-tuyến yên có sự liên hệ đặc biệt giúp cho q trình vận chuyển
hormone giải phóng từ vùng dưới đồi đến thùy trước tuyến yên được thực hiện một
cách nhanh chóng.
Các thân neuron chế tiết GnRH nằm ở nhân bụng giữa và nhân trước thị. Các
neuron này kéo dài đến vùng lồi giữa (median eminence), giúp giải phóng GnRH
vào hệ mạch cửa.
Hệ tuần hoàn cửa vùng dưới đồi –tuyến yên (hay hệ mạch cửa tuyến yên) đảm
nhiệm sự kết nối về mặt chức năng giữa lồi giữa (median eminence) của vùng dưới


đồi và thùy trước tuyến yên. Động mạch yên trên (một nhánh của động mạch cảnh
trong) phân nhánh để tạo thành một mạng lưới mao mạch thứ nhất bao quanh và
xâm nhập vào bên trong lồi giữa của vùng dưới đồi. Mạng lưới này sau đó đổ vào
xoang mạch (sinusoids) tại thùy trước tuyến yên rồi đổ vào các tĩnh mạch cửa tuyến
yên. Động mạch yên dưới cung cấp máu cho thùy sau tuyến yên, tạo thành mạng
lưới mao mạch thứ hai sau đó hội tụ lại thành mạch cửa ngắn (short hypophyseal
portal vessel), cũng đổ vào xong máu tại thùy trước. Đi ngang qua cuống yên, các
mao mạch của hệ tuần hoàn cửa (hypophaseal portal circulation) cấp máu cho tuyến
yên trước. Hướng đi của dòng máu được ưu tiên là từ vùng dưới đồi đến tuyến yên,
tuy nhiên cũng có dịng trào ngược giúp cho cung điều hịa ngược ngắn từ tuyến yên
lên vùng dưới đồi được thực hiện. (Yen and Jaffe)
Các neuron của vùng dưới đồi khi bị kích thích sẽ bài tiết các hormone vào hệ

tuần hồn cửa. Các hormone này chỉ cần vượt qua một khoảng cách ngắn để đến
được vị trí các tế bào đích (Gonadotrops) có trong thùy trước tuyến yên.


Hình 4: Liên kết vùng dưới đồi- tuyến yên qua hệ mạch cửa tuyến yên(Nguồn:
Jerrome F. Strauss III, R.L.B., Yen & Jaffe’s “Reproductive endocrinology: Physiology, Pathology
and Clinical Management – Chapter 1: Neuroendocrine of Reproduction”, 8th ed. 2019)



Vùng dưới đồi và tuyến yên được kết nối với nhau bằng hệ thống tuần hoàn tuyến
yên gồm: động mạch yên trên và động mạch yên dưới do vậy các hormon chỉ qua
một khoảng cách ngắn đã tới các tế bào đích ở dưới đồi hoặc tuyến yên
2.3. Hormone của tuyến yên trước và vai trò của GnRH trong việc kiểm soát
hoạt động tuyến yên
Cả hai hormone FSH và LH đều có chứng năng điều hịa hoạt động sinh sản và
phát triển giới tính. Cơ quan đích của FSH và LH là buồng trứng (ở nữ) và tinh hoàn
(ở nam). Các hormone này sẽ gắn với các thụ thể ở tế bào hạt và tế bào hoàng thể ở
buồng trứng hay tế bào Sertoli và Leydig ở tinh hoàn.
Đầu tiên, FSH điều hịa các q trình: phát triển, tăng trưởng và dậy thì. Sau dậy
thì, ở cả nam và nữ, FSH kích thích sự tăng sinh và biệt hóa của các tế bào sinh dục
để sinh giao tử và sản xuất các steroid sinh dục. Một số steroid sinh dục đóng vai trị
thiết yếu cho việc đảm bảo chất lượng giao tử được sản xuất ra, hình thành các đặc
điểm sinh dục thứ phát và trưởng thành về mặt giới tính, một số khác cần cho sự tiếp
nhận và làm tổ của phơi trong tử cung cũng như duy trì thai kỳ.
FSH, LH (và cả hCG hay TSH) có cấu tạo với chuỗi α giống nhau, chỉ khác
nhau ở chuỗi β. Chính chuỗi β khác nhau này đã tạo ra tác dụng sinh học đặc trưng
cho mỗi chất thông qua gắn kết với các thụ thể của nó ở trên các tế bào hạt của nang
noãn và các tế bào hoàng thể. Các thụ thể LH tiếp nhận cả LH và hCG. Các thụ thể
của FSH đặc hiệu cho FSH. Các thụ thể này có cả ở các tế bào ở cơ quan sinh dục

nam và nữ. Các thụ thể của LH hiện diện ở các tế bào Leydig (tinh hoàn), tế bào vỏ,
tế bào hạt và tế bào hoàng thể (buồng trứng); các thụ thể FSH có ở các tế bào hạt
(buồng trứng) và các tế bào Sertoli (tinh hoàn).
13


Trên buồng trứng, trong các chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng, FSH kích thích các
nang nỗn phát triển, kích thích tăng sinh lớp tế bào hạt để từ đó tạo thành lớp vỏ
(lớp áo) của nang noãn, giúp chọn lọc nang noãn. LH phối hợp với FSH làm phát
triển nang nỗn được chọn lọc tới trưởng thành, gây phóng nỗn, kích thích những
tế bào hạt và lớp vỏ cịn lại sau phóng nỗn phát triển thành hồng thể, kích thích
các tế bào của hoàng thể bài tiết ra estrogen và progesterone.
Ngồi ra tuyến n trước cịn chế tiết ra Prolactin kích thích tuyến vú phát triển
và chế tiết sữa.
Tuyến yên trước tiếp nhận các xung GnRH đến từ dùng dưới đồi qua hệ thống
mạch máu cửa dưới đồi – tuyến yên. Tùy theo tính chất của các xung GnRH mà tuyến
yên trước sẽ đáp ứng ưu tiên sản xuất FSH hay LH. Đáp ứng với ưu thế FSH quan sát
thấy trong pha nang noãn của chu kỳ buồng trứng, khi tần số các xung GnRH là một
xung mỗi 90 phút. Ở giữa chu kỳ, tức cuối pha nang noãn, trong những điều kiện nhất
định, khi tần số xung GnRH mau và biên độ xung lớn hơn, đáp ứng của tuyến yên
bằng bài tiết LH tăng mạnh đột ngột, gây nên một đỉnh cao LH, chuẩn bị cho hiện
tượng phóng nỗn. Nửa cuối chu kỳ, khi nhịp điệu các xung GnRH là khoảng 1 xung
mỗi 120 - 200 phút, thì tuyến yên đáp ứng bằng sản xuất cả 2 gonadotropins, không
với một ưu thế nào cho FSH hay LH. Cả 2 gonadotropins này được phóng thích vào
máu ngoại vi để đến cơ quan đích (target organism) của chúng là buồng trứng.
Tế bào đích của vùng dưới đồi là tuyến yên kiểm sốt q trình tiết FSH, LH, tế
bào đích của tuyến yên là nang trứng (nữ), tinh hoàn (nam). Các thụ thể LH ở
nang noãn tiếp nhận cả LH và hCG, các thụ thể FSH chỉ tiếp nhận FSH

14



2.4. Tác dụng của FSH và LH tại các tế bào của tuyến sinh dục
Cả FSH và LH đều có bản chất là glycoprotein, được vận chuyển theo đường
máu đến buồng trứng và tinh hoàn. Chúng tác dụng trên các tế bào tuyến sinh dục
thơng qua nhóm thụ thể liên kết protein G, hoạt hóa enzyme acetyl cyclase tạo ra chất
truyền tin thứ hai là AMP vòng (cAMP). cAMP sau đó sẽ hoạt hóa protein kinase A,
gây phosphoryl hóa các enzyme khác trong tế bào, dẫn đến kích thích quá trình sản
sinh giao tử và làm tăng bài tiết các hormone sinh dục.
- Ở nữ, FSH kích thích các nang nỗn phát triển, kích thích tăng sinh lớp tế bào hạt,
giúp chọn lọc nang noãn. LH phối hợp với FSH làm phát triển nang noãn được chọn
lọc tới trưởng thành, gây phóng nỗn, kích thích những tế bào hạt và lớp vỏ cịn lại
sau phóng nỗn phát triển thành hồng thể, kích thích các tế bào của hồng thể bài
tiết ra estrogen và progesterone.
- Ở nam, LH tác dụng lên tế bào Leydig kích thích q trình sinh tổng hợp
testosterone, FSH liên qua trực tiếp đến hoạt động sinh tinh thơng qua tế bào Sertoli
ngồi ra FSH cịn tác động lên tế bào Sertoli kích thích q trình hình thành hàng
rào máu-tinh hoàn, sản xuất các chất gây phản hồi lên tuyến yên giảm tiết FSH.

2.5. Điều hòa ngược từ tuyến sinh dục với sự sản xuất FSH và LH của tuyến
yên.
Tuyến yên sản xuất FSH và LH theo các mệnh lệnh GnRH từ vùng dưới đồi,
đồng thời sự sản xuất này còn chịu sự điều phối của các hormone tầng dưới trục:
Estradiol và Progesterone (P4).
15


Sự sản xuất FSH chịu sự điều phối của một hormone tầng dưới của trục:
Estradiol. Estradiol ức chế sự sản xuất FSH tuyến n thơng qua một feed-back (điều
hịa ngược) (-) quan trọng: Feed-back thứ nhất của Estradiol.

Sự sản xuất LH chịu sự điều phối của hai hormone tầng dưới của trục: Estradiol
và Progesterone. Estradiol kích thích sự sản xuất LH tuyến yên thông qua một feedback (+) quan trọng: Feed-back thứ hai của Estradiol. Progesterone có tác dụng
ngược lại: ức chế tuyến yên sản xuất LH. Feed-back (-) này lên tuyến yên của
progesterone là một kiểm soát quan trọng trong cơ chế điều hòa hoạt động của buồng
trứng và thụ thai, thơng qua việc hủy diệt hoặc duy trì hoàng thể.
2.6. Đánh giá chức năng của tuyến yên
Do nồng độ FSH, LH có thời gian bán huỷ lâu nên có thể đánh giá chức năng
của tuyến n thơng qua xét nghiệm nội tiết FSH, LH (chủ yếu FSH) nồng độ này
sẽ bị thay đổi theo các thời điểm trong chuy kỳ
Khi xét nghiệm vào những ngày đầu chu kỳ mà nồng độ FSH, LH thấp dưới
ngưỡng thì có hiện tượng suy buồng trứng trung tâm hoặc suy tinh hoàn trung
tâm.
3. Buồng trứng là cơ quan đích của các godadotropin từ tuyến yên
Mỗi người phụ nữ có hai buồng trứng. Kích thước mỗi buồng trứng trưởng
thành là 4x2x1cm và nặng khoảng 8 gam. Buồng trứng có nhiều nang nỗn, số lượng
của chúng giảm liên tục theo thời gian.

16


3.1. Buồng trứng là cơ quan đích của FSH và LH
Buồng trứng chịu sự tác động trực tiếp của FSH và LH. Hai hormone này có
vai trị điều khiển các hoạt động của buồng trứng theo chu kỳ, giúp buồng trứng đảm
nhiệm vai trò là một cơ quan “kép” với 2 cả chức năng đồng thời: Nội tiết - sản xuất
ra các hormone sinh: estrogen, progesterone, Inhibin B, Inhibin A, Androgen, và
“Ngoại tiết” - phóng thích giao tử: chiêu mộ nỗn nang, phát triển nỗn nang, chọn
lọc nỗn nang, phóng nỗn và thành lập hồng thể.
Hormone FSH kích thích sự phát triển và chọn lọc nang noãn. Ở đầu mỗi
chu kỳ kinh nguyệt, các nang noãn được chiêu mộ từ chu kỳ trước phát triển đến giai
đoạn nang thứ cấp (có hốc) sẽ hình thành ngày càng nhiều các thụ thể tương ứng cho

FSH và LH. Từ lúc này, sự phối hợp giữa FSH và LH cần thiết cho hoạt động của
buồng trứng nhưng FSH đóng vai trị chính trong sự phát triển và chọn lọc nang
noãn.
Để tồn tại, các nang noãn được chiêu mộ sẽ cạnh tranh nhau nguồn FSH từ
tuyến n. Nang nỗn nào có nhiều thụ thể với FSH nhất sẽ được chọn lọc và tiếp
tục phát triển vượt trội thành nang tiền phóng nỗn, các nang nỗn cịn lại “thiếu
hụt” FSH nên bị thối hóa. Nếu cung cấp đủ FSH thì tại cùng một thời điểm có thể
có nhiều nang nỗn cùng phát triển vượt trội đến giai đoạn chuẩn bị phóng nỗn.
Chính vì vậy, FSH cịn được coi là hormone giải cứu nang nỗn.
FSH đóng vai trị chính trong sự phát triển của nang nỗn
LH là hormone kích thích sự rụng trứng và duy trì hoàng thể. Sự bài tiết
GnRH theo xung nhịp điều khiển mức độ giải phóng LH khác nhau từ tuyến yên
17


trước ở từng giai đoạn của cuộc đời và theo thời điểm trong một chu kỳ kinh nguyệt
ở người nữ trưởng thành.
Ở thời kỳ sơ sinh: GnRH được sản xuất ở mức thấp, LH cũng được bài tiết ở
mức thấp và khơng có hiện tượng phóng thích thành nhịp, do đó tại buồng trứng các
nang nỗn khơng phát triển và sản xuất rất ít estradiol.
LH đóng vai trị là trưởng thành nang nỗn và cùng với FSH là phóng nỗn
Đến tuổi dậy thì: Các cơ chế thần kinh thể dịch giúp vùng dưới đồi bài tiết
những xung GnRH đầu tiên, do đó tuyến n cũng phóng thích LH thành nhịp ngắt
quãng. Kết quả là bắt đầu có sự phát triển các nang noãn ở buồng trứng và sản xuất
estradiol.
Trong độ tuổi sinh sản, nhịp phóng thích LH từ tuyến n trước diễn ra đều
đặn, đồng thời có sự biến thiên nồng độ LH theo chu kỳ hàng tháng, nồng độ LH đạt
đỉnh cao nhất trước thời điểm phóng nỗn (giữa chu kỳ). Đỉnh LH có vai trị gây vỡ
nang nỗn, giải phóng nỗn bào (phóng nỗn). LH cịn gây hồng thể hóa các tế bào
nằm trong phần cịn lại của nang nỗn, tạo nên cấu trúc hồng thể. Hồng thể sản

xuất estrogen và progesterone và một số hormone khác. Dưới tác dụng điều hịa
ngược âm tính của các hormone này (mà chủ yếu là từ progesterone), vùng dưới đồi
– tuyến yên sẽ giảm sản xuất LH và FSH. Nếu có sự thụ tinh và làm tổ của phôi,
hCG (tác dụng sinh học giống LH) từ gai rau có vai trị tiếp tục duy trì đời sống
hồng thể. Trong trường hợp khơng có sự thụ tinh và làm tổ của phơi, LH giảm
nhanh theo thời gian dẫn đến sự thối hóa của hồng thể. Chính vì vậy, LH cịn được
xem là hormone giải cứu hoàng thể.

18


Sau mãn kinh, do sự thoái triển hàng loạt của hầu hết các nang nỗn, buồng
trứng tiết ra rất ít estradiol và inhibin B nên không gây ra được hiệu quả điều hịa
ngược âm tính với vùng dưới đồi – tuyến n, nên sự phóng thích LH ln ở mức
cao.
3.2. Chức năng của buồng trứng và sự điều hòa ngược của buồng trứng lên
trục vùng dưới đồi – tuyến yên trước
3.2.1. Buồng trứng với chức năng nội tiết
Buồng trứng sản xuất 2 steroids sinh dục (estradiol và progesterone) và các
hormone có bản chất là polypeptide (inhibin, activin, follistatin).
Estrogen: Có 3 loại estrogen là Estradiol, Estrone và Estriol.
-Estradiol được sản xuất trong suốt chu kỳ buồng trứng. Một estrogen khác
cũng được buồng trứng sản xuất là Estrone với một gốc ketone có hoạt tính sinh học
yếu hơn Estradiol rất nhiều. Hormone này có thể chuyển đổi thuận nghịch với
Estradiol tại mơ buồng trứng và mô mỡ ngoại biên.
- Trong mối liên hệ với trục dưới đồi-tuyến yên-buồng trứng, estradiol có 2
feed-back quan trọng lên tuyến yên: Feed-back thứ nhất, là một feed-back (-), tác
dụng ức chế trên sản xuất FSH của tuyến yên. Feed-back thứ hai, là một feed-back
(+), tác dụng kích thích đỉnh LH của tuyến yên.


19


Trong chu kỳ buồng trứng Estradiol có 2 feed-back lên tuyến yên. (1) feedback âm tính để chọn lọc nang nỗn, (2) feed-back dương tính để tạo đỉnh LH gây
phóng nỗn
Ngồi ra Estradiol cịn gây 1 feed- back âm lên vùng dưới đồi ở cuối chu kỳ
kích thích tiết GnRH giúp khởi đầu chu kỳ mới.
- Các Estrogen được tổng hợp từ Cholesterol tại tế bào hạt của noãn nang
theo cơ chế hai tế bào – hai Gonadotropins: Tế bào vỏ của nang noãn, dưới tác dụng
của LH, tổng hợp Dihydroepiandrostenedione (DHEA), là một Androgen, tiền chất
của Estradiol. DHEA được chuyển tiếp thành Androstenedione (q trình dehydro
hóa). Cytochrome của các tế bào vỏ khơng có men Aromatase nên androstenedione
được chuyển vào các tế bào hạt ở phía bên trong của nang noãn. Các tế bào hạt này
sẽ dùng androstenedione làm ngun liệu cho q trình thơm hóa, với xúc tác của
enzyme Aromatase P450 ở cytochrome. Sản phẩm của quá trình thơm hóa là
Estrone/Estradiol. Các diễn biến tại tế bào hạt xảy ra dưới sự chi phối của FSH.
Trong pha hoàng thể, tế bào hạt hồng thể hóa cũng tổng hợp progesterone nhưng
progesterone ở đây khơng chuyển hóa được thành androstenedione vì tế bào hạt
khơng có enzyme 17α-Hydroxylase và 17, 20 –Demolase.
Estradiol tổng hợp được theo máu ngoại vi đến tác động lên cơ quan đích. Tất
cả các cơ quan có nguồn gốc Mullerian đều chịu sự chi phối của estradiol.

20


Hình 5: Thuyết 2 tế bào, 2 gonadotrophins (Nguồn: Manna, S., Review of
Physiology. 2018: Jaypee Brothers Medical Publisher)

Progesterone
Progesterone chỉ được sản xuất sau khi có hiện tượng phóng nỗn xảy ra. Trong

điều kiện khơng có thai, chỉ có hồng thể sản xuất ra progesterone. Đây là hormone
đặc hữu của hoàng thể. Khi người phụ nữ mang thai, gai rau là cơ quan thứ hai của
cơ thể có khả năng sản xuất Progesterone. Hoàng thể cũng sử dụng cholesterol để
sản xuất Progesterone (loại P4). Quá trình này xảy ra dưới sự chi phối của LH.

21


Progesterone có 1 feed-back âm duy nhất lên dưới đồi. Feed-back (-) trên LH dẫn
đến việc hoàng thể tự hủy diệt mình.
Feed-back của progesterone lên vùng dưới đồi chưa được khẳng định, dường
như Progesterone làm giảm nhịp điệu phóng thích GnRH của Hạ đồi, gián tiếp dẫn
đến giảm sút sản xuất LH của tuyến Yên. Cơ quan đích của progesterone cũng là các
cơ quan có nguồn gốc Mullerian.
Bên cạnh các steroid sinh dục, buồng trứng cịn sản xuất 3 nhóm hormone
có bản chất polypeptide là: inhibin B và inhibin A ức chế sự bài tiết FSH, activin
(inhibin-binding protein) làm tăng bài tiết FSH, follistatin (activing-binding protein)
làm giảm tiết FSH.
Inhibin được sản xuất bởi các tế bào hạt của nang noãn. Ngồi ra inhibin cịn
được sản xuất bởi các cơ quan khác như tuyến yên, tuyến thượng thận, thận, tủy
xương, hoàng thể và bánh rau. FSH kích thích các tế bào hạt sản xuất inhibins. Đến
lượt mình, inhibins ức chế sự sản xuất FSH ở các tế bào gonadotropes của tuyến n
trước thơng qua cơ chế điều hịa ngược âm tính. Estradiol có thể kích thích sản xuất
inhibin với cơ chế nội tại ở buồng trứng. Ngay trước thời điểm phóng noãn, sau khi
các receptor ở tế bào hạt tiếp nhận được LH, LH cũng kích thích sản xuất inhibin tại
đây. Inhibin là glycoprotein nhị trùng gồm một chuỗi α gắn với hoặc một chuỗi βA
(tạo thành Inhibin A) hoặc với một chuỗi βB (inhibin B). Inhibin A là sản phẩm ưu
thế được sản xuất ở cuối pha nang noãn và pha hồng thể (chủ yếu từ hồng thể)
trong khi đó inhibin B được sản xuất ở đầu và giữa pha nang nỗn (từ tế bào hạt) của
một chu kỳ bình thường.


22


Inhibin không ức chế bài tiết LH. Hơn thế nữa, với việc ức chế tổng hợp FSH,
inhibin có thể tăng cường hoạt động của LH. Inhibin khơng có hoặc có rất ít tác dụng
với sự tổng hợp các hormone GH, ACTH hay prolactin. Cơ chế ức chế bài tiết FSH
của inhibin có thể do inhibin cạnh tranh chiếm các thụ thể của activin.
Inhibin B được sản xuất từ tế bào hạt nang nỗn có tác dụng ức chế sản xuất FSH
nhưng tác dụng này yếu
Activin cũng được tổng hợp từ chính các tổ chức sản xuất ra inhibin nhưng nó
kích thích sự bài tiết FSH từ các tế bào thùy trước tuyến yên. Activin cũng hiện hiện
ở các tế bào gonadotropes ở tuyến yên, gồm 2 tiểu đơn vị đặc trưng khác biệt với
các tiểu đơn vị β của inhibin A và B. Có 3 loại activin là activin A (2 tiểu đơn vị βA
liên kết với nhau bởi các cầu disulfat), activin B (chứa 2 tiểu đơn vị βB), và activin
AB (1 tiểu đơn vị βA và 1 tiểu đơn vị βB).Activin tăng cường bài tiết FSH do tăng
cường đáp ứng của các tế bào tuyến yên với GnRH thơng qua việc tăng sự xuất hiện
các thụ thể. Ngồi ra activin có tác dụng chế hoạt động của prolactin, ACTH, GH.
Khơng giống như inhibin, activin có nhiều hoạt động khác liên quan đến xương, tế
bào thần kinh, sự liền vết thương và các chức năng tự điều hòa-cận điều hịa ở nhiều
cơ quan khác nhau. Nồng độ activin khơng thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt. Tác
dụng của activin bị ức chế bởi inhibin và follistatin.
Activin cũng sản xuất từ tế bào hạt nhưng có tác dụng kích thích bài tiết FSH.
Ngồi ra activin cịn tác động đến nhiều cơ quan khác
Follistatin

23


Follistatin là một peptide được bài tiết ở các tế bào tuyến n trong đó có các

gonadotropes. Peptide này cịn được gọi là protein ức chế FSH vì hoạt động chính
của nó là ức chế tổng hợp và bài tiết FSH và ức chế sự đáp ứng với GnRH bằng cách
gắn với activin và làm giảm hoạt động của activin. Activin kích thích tổng hợp
follistatin nhưng inhibin ức chế quá trình này.

Hình 6: Trục dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng (Nguồn hình: “Sinh lý phụ khoa”, Bài
giảng chuyên đề, Bm Sản Phụ khoa, ĐHY Huế

3.2.2. Buồng trứng với chức năng ngoại tiết: sự sinh noãn
Khi mới sinh ra, mỗi bé gái chỉ cịn khoảng 1 triệu nỗn ở trên hai buồng trứng,
là các noãn sơ cấp, đang bị block ở kỳ trước của giảm phân I và chứa bộ NST 2n
kép. Các nang này ở trạng thái không hoạt động, tuy nhiên chúng vẫn tiếp tục bị mất
dần do hiện tượng “chết theo chương trình”.
Ngun bào nỗn ngun thủy được bao bọc bên ngoài bởi một lớp tế bào gồm
2 loại tế bào là tế bào vỏ và tế bào hạt. Cấu trúc nang thô sơ ban đầu được gọi là
24


nang nguyên thủy. Trong quá trình phát triển, tế bào hạt gia tăng số lượng thành
nhiều lớp và bắt đầu tích tụ dịch trong nang. Nang nguyên thủy trở thành nang sơ
cấp rồi đến nang thứ cấp sớm, nang thứ cấp muộn. Tất cả các nang nguyên thủy,
sơ cấp, thứ cấp (trước khi trưởng thành) đều chứa noãn sơ cấp.
Đến thời điểm dậy thì (số lượng nang nỗn ở hai buồng trứng còn khoảng
300.000 nang) và trong giai đoạn hoạt động sinh sản, dưới sự điều khiển của trục nội
tiết dưới đồi – tuyến yên, tuyến yên bài tiết FSH làm phát triển nang nỗn, một nhóm
nang nỗn thứ cấp được chiêu mộ sẽ trải qua các quá trình phát triển, chọn lọc, để
có một nang vượt trội phát triển nhanh về kích thước trở thành nang de Graff. Đỉnh
FSH và LH giữa chu kỳ giúp nang noãn này trưởng thành và phóng nỗn. Chỉ lúc
này nỗn bào sơ cấp mới vượt qua block, tiếp tục hoàn thành giảm phân I, cho ra
noãn bào thứ cấp và thể cực thứ nhất cùng chứa bộ NST n kép. Thể cực thứ nhất bị

tiêu biến, noãn thứ cấp bước vào giảm phân II. Tuy nhiên noãn thứ cấp lại bị block
ở trung kỳ (metaphase) của giảm phân II, nên còn được gọi là nỗn MII.
Sau phóng nỗn, phần cịn lại của nang noãn được biến đổi thành một cấu trúc
đặc biệt là hồng thể. Hồng thể có vai trị chế tiết các steroid sinh dục (Estradiol,
inhibin A, đặc biệt là nồng độ cao progesterone) làm tăng nồng độ các hormone này.
Điều hòa ngược âm tính từ nồng độ cao các steroid sinh dục này làm tuyền yên giảm
sản xuất LH, gây ra sự “thối triển” của hồng thể và hình thành một cấu trúc khơng
có chức năng là “bạch thể”. Hồng thể thoái triển kéo theo sự tụt giảm của các
hormone trên, kích thích tuyến yên tăng sản xuất và bài tiết FSH trở lại để kích thích
một đồn hệ nang nỗn thứ cấp mới (đã được chiêu mộ từ trước) phát triển.

25


×