TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GỊN
SAIGON UNIVERSITY
TẠP CHÍ KHOA HỌC
SCIENTIFIC JOURNAL
ĐẠI HỌC SÀI GÒN
OF SAIGON UNIVERSITY
Số 73 (01/2021)
No. 73 (01/2021)
Email: ; Website: />
ỨNG DỤNG LOGIC PHI HÌNH THỨC TRONG LẬP LUẬN
NGÔN NGỮ TỰ NHIÊN VÀ PHÁT HIỆN NGỤY BIỆN
Applying informal logic in natural language argumentation and detecting
fallacies
ThS. Nguyễn Hoàng Hiệp
Đài Truyền hình TP.HCM
TĨM TẮT
Logic phi hình thức là logic được sử dụng trong các lập luận ngôn ngữ tự nhiên và được xem là phương
thức tốt nhất để phát hiện các lí lẽ ngụy biện trong lí lẽ đời thường. Logic phi hình thức được sử dụng để
đánh giá, phân tích và cải thiện các lí lẽ đời thường trong quá trình trao đổi giữa cá nhân, trong quảng
cáo, tranh luận chính trị, tranh cãi pháp lý cũng như trong các hình thức truyền thơng đại chúng. Để lập
luận một cách hợp lý, chúng ta phải: (1) lập luận trên cơ sở các tiền đề hợp lý, (2) có tất cả thông tin liên
quan củng cố, bổ trợ cho tiền đề, và (3) lập luận một cách hợp lý. Trái với lập luận chặt chẽ, đó là ngụy
biện. Ngụy biện là những kiểu lập luận sai nhưng lại có vẻ như là kiểu lập luận đúng. Lập luận một cách
ngụy biện khi khơng đáp ứng ba tiêu chí trên.
Từ khóa: lập luận, logic phi hình thức, ngơn ngữ tự nhiên, ngụy biện
ABSTRACT
Informal Logic is the study of logic as used in natural language arguments and considered the best way
to detect fallacious arguments in informal reasoning. Informal logic is used to assess, analyse and
improve the informal reasoning in the course of personal exchange, advertising, political debate, legal
argument, and in other forms of mass media. To reason cogently, we must: (1) reason from justified
premises, (2) include all relevant information at our disposal, and (3) reason validly. Contrary to the
cogent reasoning, it is a fallacy. Fallacies are patterns of poor reasoning which appear to be patterns of
good reasoning. We reason fallaciously when we do not satisfy 3 criteria above.
Keywords: argumentation, informal Logic, natural languages, fallacies
người không thể tư duy nếu không dùng
đến ngôn ngữ. Khái niệm được thể hiện
bằng từ ngữ, phán đoán được thể hiện bằng
câu, suy luận được thể hiện bằng chuỗi
câu. Cho nên ngôn ngữ được sử dụng như
một công cụ để tư duy, diễn đạt những điều
chúng ta tư duy thành những diễn ngơn.
Trong q trình giao tiếp, con người cũng
thông báo, biểu đạt tư tưởng, chứng minh,
1. Đặt vấn đề
Đối tượng của logic nói chung, và
logic hình thức nói riêng là cấu trúc hình
thức khái qt và quy luật của tư duy.
Trong logic người ta xây dựng những
phương pháp tiếp cận và nhận thức thế
giới. Đó là xây dựng những khái niệm,
phán đoán, các phương pháp suy luận, nêu
giả thuyết, chứng minh, bác bỏ, v.v. Con
Email:
53
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 73 (01/2021)
thuyết phục, lập luận, bác bỏ... nghĩa là
chúng ta đều tư duy. Vì vậy, cũng có
những quy luật ngơn từ để biểu hiện, phản
ánh tư duy và tiếp nhận thông tin. Đi đôi
với lập luận đúng là lối nói ngụy biện, lập
luận sai. Ngụy biện là những kiểu lập luận
sai nhưng lại có vẻ như là kiểu lập luận
đúng; nó khiến người nghe hoặc người tiếp
nhận thơng tin “bị đánh lừa” lập luận đó
tưởng là đúng nhưng thực ra là sai do bị
đánh tráo khái niệm hoặc một lí lẽ, thơng
tin nào đã bị giấu đi.
2. Nội dung chính
2.1. Logic phi hình thức xuất phát từ
lập luận đời thường
Logic là bộ môn giúp nâng cao khả
năng tư duy, nhận xét, phân tích, đánh giá
vấn đề. Với quan niệm như trên, nhiều
người đã nhận định: logic có thể được đưa
vào ứng dụng trong lập luận ngôn ngữ tự
nhiên. Lập luận trong ngôn ngữ tự nhiên là
các diễn ngôn đời thường mà chúng ta
thường xuyên thực hiện như giải quyết các
tranh cãi, tranh luận, thực hiện các yêu cầu
về thông tin, xử lý các vấn đề tranh
luận.v.v. Tuy nhiên những ai đã từng
nghiên cứu sâu logic sẽ nhận thấy rằng khả
năng “nội lực” của logic để giải quyết tất
cả các vấn đề thực tế trong cuộc sống xã
hội hàng ngày rất hạn chế ở một số phương
diện quan trọng.
Logic hình thức cho ta các quy luật để
hình thành các khái niệm, các phán đốn và
đặc biệt các phương pháp suy lý để tiến
hành các lập luận trên các phán đốn đó.
Một đặc điểm cơ bản của logic hình thức là
xem mỗi phán đốn hoặc đúng, hoặc sai.
Logic hình thức thường khơng quan tâm
đến nội dung của các phán đoán, mà chỉ
quan tâm đến các quan hệ chuyển đổi giá
trị chân lý của các phán đoán. Các quy luật
cơ bản của logic hình thức là quy luật đồng
nhất (A là A), quy luật bài trung (A hoặc
không A), quy luật phi mâu thuẫn (không
thể đúng cả A và khơng A). Logic hình
thức là logic hai giá trị, nó địi hỏi mọi phán
đốn mà nó xét phải có giá trị đúng hoặc
sai (Phan Đình Diệu, 1993, tr.34).
Ví dụ: Logic có mệnh đề Nếu A thì B
Như trong mệnh đề tốn “Nếu số nào
chia hết cho 6 thì số đó cũng chia hết cho
2”. Ở trường hợp này, chia hết cho 6 là
điều kiện đủ để chia hết cho 2.
Từ (A) sẽ suy ra mệnh đề phản – đảo
tương đương: Nếu khơng B thì khơng A
Như trong mệnh đề “Nếu số nào
không chia hết cho 2 (như các số 3, 5, 7…)
thì cũng khơng chia hết cho 6”. Trong
trường hợp này. Chia hết cho 2 là điều kiện
cần để chia hết cho 6.
Tuy nhiên trong diễn ngôn đời thường,
ngưởi ta còn coi A là điều kiện đủ duy nhất
của (B). Nghĩa là từ (A) sẽ “suy ra” không
đúng một cách logic những mệnh đề
(C), (D):
(C) Nếu khơng A thì khơng B
(D) Nếu B thì A
Nhưng trong đời sống, ta lại thường
gặp nhiều phán đốn mà tính đúng sai khó
được xác định rõ ràng. Trong các trường
hợp đó, khó có thể thực hiện các lập luận
logic hình thức, nhất là khi gặp phải các lập
luận, lí lẽ trong cuộc sống thường nhật, đặc
biệt gặp phải các lập luận “cố ý” làm cho
người tiếp nhận hiểu lầm, hiểu sai sự thật –
ngụy biện (Nguyễn Đức Dân, 2018, tr.67).
Trong thực tế đã xuất hiện một vấn đề
nổi cộm là khi áp dụng logic hình thức,
chúng ta rất khó biết biết chính xác những
lí lẽ được viện dẫn ra để lập luận thì lí lẽ
nào được xem là đúng và lí lẽ nào chưa
chặt chẽ. Khi sử dụng logic hình thức trong
các diễn ngơn đời thường, thì rất khó xác
định các tiền đề, kết đề có chức năng
54
NGUYỄN HỒNG HIỆP
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GỊN
nhiệm vụ như thế nào.
Với những yêu cầu cấp thiết phải có
một phương thức mới để có thể đánh giá,
nhận xét các diễn ngơn xã hội hàng ngày
một cách chính xác, từ logic hình thức con
người từng bước hình thành một bộ mơn
mới đó là logic phi hình thức. Logic phi
hình thức giúp con người nâng cao khả
năng lập luận đời thường trên các lĩnh vực
giao tiếp xã hội, quảng cáo, tranh luận
trong lĩnh vực chính trị, lí lẽ pháp lý và
truyền thơng thơng tin đại chúng.
Chúng ta có thể tìm thấy nhiều tài liệu
về sự phát triển của logic phi hình thức của
nhiều tác giả về sự ứng dụng của logic hình
thức (informal logic) trong cuộc sống. Các
tác giả đã mạnh dạn đưa các dẫn chứng về
diễn ngôn, lập luận sai, ngụy biện ngay
trong đời sống được trích dẫn từ báo chí,
các phương tiện thơng tin đại chúng, quảng
cáo và các tranh luận, thuyết trình, phát
biểu trong các chiến dịch tranh cử của các
chính trị gia để minh họa cho các bài học
về logic như cuốn Logic and
Contemporary Rhetoric: The Use of Reason
in Everyday Life của Howard Kahane,
Politicians and Rhetoric The Persuasive
Power of Metaphor của Jonathan
Charteris-Black, Metaphor and Discourse
của Andreas Musolff, Say it Like Obama
and Win! The Power of Speaking with
Purpose and Vision của Shel Leanne hoặc
trên website
/>files/2018-06/Rhetoric_of_the_Inaugural_
Address.pdf.
Mối liên hệ giữa logic hình thức và
logic phi hình thức khơng đơn giản. Logic
phi hình thức là một ngành học về logic để
ứng dụng trong các lí lẽ ngơn ngữ tự nhiên.
Logic phi hình thức phức tạp hơn do rất
khó tách cấu trúc logic hình thức ra khi nó
đã “ăn sâu” vào lí lẽ. Logic phi hình thức
cũng khó hơn logic hình thức do ngữ nghĩa
của các lời nhận định trong ngôn ngữ tự
nhiên phức tạp hơn nhiều so với ngữ nghĩa
của hệ thống logic hình thức. Qua đó
chúng ta thấy logic phi hình thức ra đời đã
đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội
và của ngôn ngữ học.
Logic phi hình thức là một chuyên
ngành xây dựng một phương pháp luận để
đánh giá, lý giải, phân tích và xây
dựng những lập luận trong diễn ngôn đời
thường cũng như diễn ngôn khoa học, từ
nói năng trao đổi hàng ngày, tranh
luận, quảng cáo, bình luận báo chí, cho đến
diễn từ chính trị, báo cáo khoa học, v.v.
Logic phi hình thức bao gồm cả những suy
luận theo logic truyền thống lẫn những suy
luận phi hình thức (Nguyễn Đức Dân,
2013, tr.3). Vì vậy, có thể khẳng định logic
phi hình thức là logic đời thường, là những
lí lẽ, lập luận đời thường khơng theo quy
tắc của logic hình thức.
Để lập luận được chặt chẽ, khơng rơi
vào tình trạng bị sai, đồng thời phát hiện
những kiểu ngụy biện đổi trắng thành đen,
thì lập luận phải đảm bảo đúng quy chuẩn,
nghĩa là có đủ ba thành tố logic gồm: tiền
đề/luận cứ, lí lẽ và kết đề. Trong đó:
Tiền đề là một hoặc nhiều dữ liệu xuất
phát làm căn cứ cho lập luận. Từ đây suy
ra kết đề.
Lí lẽ là những yếu tố mà nhờ nó chúng
ta xuất phát từ tiền đề để suy ra kết đề.
Kết đề là sự khẳng định đích hoặc là
khẳng định mục tiêu.
Do đó, một lập luận có sức thuyết
phục cao sẽ hội tụ và thoả mãn ba điều
kiện sau:
Thứ nhất, người phát ngôn phải đưa ra
những tiền đề hợp lý và đã được chứng
minh là đúng.
55
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 73 (01/2021)
Thứ hai, bản thân người phát ngôn
phải nắm chắc tất cả các thông tin, các lí lẽ
có giá trị và liên quan đến các tiền đề đã
được nêu ra.
Thứ ba, các lập luận của người phát
ngơn phải đúng và hợp lý. Điều này có
nghĩa là khi đã có đã cơ sở xác đáng để
chấp nhận tiền đề đã đưa ra là đúng thì mới
thuyết phục người nghe chấp nhận kết luận
của lập luận.
Ví dụ:
Lí lẽ trong Tuyên ngôn độc lập bất hủ
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều được dựa
trên luận đề Tun ngơn độc lập của nước
Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và
Dân quyền của cách mạng Pháp (1791):
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền
bình đẳng. Tạo hố cho họ những quyền
khơng ai có thể xâm phạm được; trong
những quyền ấy có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”
(Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ) và
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về
quyền lợi, và phải ln ln được tự do và
bình đẳng về quyền lợi” (Tuyên ngôn
Nhân quyền và Dân quyền của Pháp). Đây
là những luận cứ được Chủ tịch Hồ Chí
Minh viện dẫn, có tính pháp lý cao và được
nhiều quốc gia cơng nhận.
Từ chính những lập luận chắc chắn
trên, Bác Hồ đã mở rộng theo đúng tinh
thần tự do, dân chủ, bình đẳng: Suy rộng
ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc
trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân
tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung
sướng và quyền tự do. Đây là những lí lẽ
(lập luận suy diễn) mà không ai bác bỏ
được một khi đã công nhận luận đề trong
tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Pháp. Với
những cơ sở lập lập luận và lí lẽ trên, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận:
“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và
độc lập, và sự thật đã thành một nước tự
do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam
quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,
tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự
do, độc lập ấy”.
2.2. Thuyết Ngụy biện
Các cơng trình đầu tiên về logic phi
hình thức đều có khuynh hướng phân tích
các lập luận thơng thường trong xã hội
dưới dạng các ngụy biện. Các định nghĩa
truyền thống đã đưa ra cách giải thích về
ngụy biện như sau: Ngụy biện là các kiểu
lập luận sai nhưng lại có vẻ rất giống các
lập luận đúng (Christoper W. Tindale,
2007, tr.2). Cách định nghĩa chung chung,
không rõ ràng, cụ thể là việc xác định khi
nào lập luận sai có vẻ như lập luận đúng là
một điều rất khó, nhất là khi hình thức bên
ngồi mang tính chủ quan dễ thuyết phục
người nghe. Ví dụ: một người nhờ xuất
thân từ một thành phần tốt (bố của ơng ta
là một người bình thường) mà trở thành
một quan chức lớn; con ơng ta khơng ra gì,
chỉ lêu lỏng, ăn chơi; được cái may cháu
ông ta lại khá, đỗ tiến sĩ ở một trường đại
học danh giá nước ngồi; rất tự hào về
cháu nhưng ơng rất bực tức với con trai,
thường mắng con là đồ khơng ra gì. Một
lần khơng chịu được, đứa con khơng ra gì
này đã cãi lại ông như sau:
Cha của cha không bằng cha của con.
Con của cha cũng không bằng con của
con. Sao cha lại mắng con là đồ bỏ đi?
Quan chức nọ tức quá nhưng không
biết bác bỏ như thế nào (Nguyễn Đức Dân,
2005, tr.252).
Thực chất ngụy biện (lập luận sai) là
những lập luận không hội tụ đủ tất cả ba
điều kiện của một lập luận mà thiếu đi một
hay hai hoặc cả ba điều kiện như đã trình
bày ở phần trên. Do đó khi người nghe tiếp
nhận “lập luận” của một lối ngụy biện dễ
56
NGUYỄN HỒNG HIỆP
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GỊN
tưởng lầm đó là một lập luận đúng, chính
xác vì về mặt hình thức bản thân “lập luận”
đó cũng có đủ ba yếu tố nhưng một hoặc
hai hoặc cả ba điều kiện về thực chất
khơng đạt u cầu. Vì thế trong đời sống
thường nhật có khi chúng ta gặp những
người lập luận có bài bản với những lí lẽ
dường như thật sự theo đúng các quy tắc
suy diễn logic, nhưng người phát ngơn đã
“cố tình” vi phạm một cách rất tinh vi quy
tắc suy luận nào đó (ba điều kiện tiên
quyết của lập luận đúng) để dẫn đến một
hoặc một số kết luận ngược đời hoặc
khơng hợp lí, trái ngược với những cảm
nhận thơng thường. Những kết luận đó
người nghe cảm thấy sai, khơng hợp lí
nhưng lại rất khó bác bỏ.
Ví dụ:
Ngày càng nhiều người dân Sài Gòn
uống bia Tiger hơn các loại bia khác
(tiền đề).
Vậy anh cũng nên uống bia Tiger (kết
luận).
Khi mới nghe qua lời quảng cáo trên,
nhiều người đã cho rằng là một lập luận
hợp lí. Nhưng thực chất đây là một lối nói
ngụy biện, vì là một “lập luận” khiếm
khuyết, hàm chứa một suy luận khơng có
căn cứ. Thực ra mẫu quảng cáo trên đã cố
ý ẩn đi một tiền tề không chắc chắn nên
người nghe, người đọc đã bị “qua mặt”, đó
là “Bia được nhiều người uống nhất là loại
bia ngon nhất”. Bởi vì trên thực tế không
phải loại bia nào được nhiều người uống
nhiều nhất là loại bia ngon nhất. Loại bia
được nhiều người uống nhiều nhất, có thể
vì hợp túi tiền, có thể vì trước đây có cơ
may chiếm lĩnh thị trường sớm (nhân
quảng cáo chiêu khách vào những năm con
cọp) và đã tạo thành thói quen, có thể vì
loại bia đó có chương trình khuyến mại
“uống trúng thưởng” với các phần thưởng
lớn như đồng hồ Thụy Sĩ, xe hơi Toyota
Landcruiser… (thực ra nhiều người cho
rằng loại bia số một hiện nay là bia
Heineken).
Xét trên góc độ logic, các ngụy biện
đều rơi vào dạng sau đây: tiền đề không
chắc chắn, các dẫn chứng cần thiết không
được nêu ra/bị lược bỏ, và sự suy luận
không có căn cứ.
Ngồi ra cũng có rất nhiều ý kiến phê
bình đối với thuyết ngụy biện với hai lí do
sau: thứ nhất, các ngụy biện truyền thống
là phương tiện lập luận mơ hồ, không rõ
ràng và không phục vụ cho người học hiểu
được các lí lẽ; thứ hai, nếu quá tập trung
vào thuyết ngụy biện thì sẽ dẫn đến việc
người học, người nghiên cứu chỉ chuyên
tâm vào các lập luận sai thay vì phải tập
trung nghiên cứu các lí lẽ, lập luận đúng.
Theo quan điểm của tác giả, điều này
không đúng vì chúng ta nghiên cứu thuyết
ngụy biện nhằm hướng đến mục đích giúp
người học phát hiện ra những lí lẽ sai lầm
để lập luận chặt chẽ hơn. Nhà nghiên cứu
David Hitchcock đã từng đề cập đến việc
giảng dạy cách lập luận đúng thơng qua
việc giới thiệu về lối nói ngụy biện giống
như cách người ta hướng dẫn tập tennis
“cách tốt nhất để người chơi không mắc
phải những lỗi kỹ thuật cơ bản thì hãy cho
người tập được thấy hết những điểm sai
trong quá trình chơi và yêu cầu người tập
hãy chỉ rõ đó là những lỗi kỹ thuật gì và tự
đưa ra cách sửa chữa những lỗi sai đó”
(David Hitchcock, 1995).
2.3. Một số kiểu ngụy biện tiêu biểu
thường gặp trong các lí lẽ thường ngày
Ngụy biện thực ra khơng phải thứ gì
đó q xa xơi, mà đơi khi chúng ta dùng
hàng ngày nhưng không hề hay biết. Ngụy
biện là những lập luận chứa mâu thuẫn
logic nội tại hoặc có vẻ theo đúng logic
57
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 73 (01/2021)
hình thức nhưng thực ra đã phạm sai lầm ở
một điểm nào đó, là những lập luận sai mà
được dùng với mục đích để giành phần
thắng bằng cách đổi trắng thay đen.
2.3.1. Ngụy biện cơng kích
Đây là một loại ngụy biện phổ biến
nhất, nguy hiểm nhất; thay vì chứng minh
lý lẽ, lập luận cho đối phương là sai lầm thì
người nói lại tấn cơng vào cá nhân tranh
luận thuần tuý, hoặc chỉ nhắm tới những
đặc điểm cá nhân không tốt của đối
phương để rồi kết luận lí lẽ của họ là sai,
khơng đáng tin cậy. Ví dụ:
Bác sĩ khun tơi khơng nên uống cà
phê, liệu có đúng khơng đấy khi mà tơi
thấy bác sĩ cũng thường xuyên uống cà
phê! (Nguyễn Đức Dân, 2018, tr.254).
Sự “chất vấn phê phán thói quen của
ơng bác sĩ là khơng thoả đáng, khơng thích
đáng đối với những lời khun có tính chất
chun mơn về y khoa” cho những bệnh
nhân có huyết áp cao (nên phải kiêng
những chất kích thích như cà phê). Đây
cũng là 01 kiểu ngụy biện “Anh cũng vậy”.
Đó là cách chứng minh lập luận của đối
phương là sai vì khơng đúng với những gì
họ đã làm, một hình thức tư duy “Nói một
đàng làm một nẻo” nên không tin vào sự
thành thực trong lời tư vấn của bác sĩ.
Ví dụ:
Ơng là người làm kinh tế, biết gì về
khoa học vũ trụ, mà nói chuyện khoa học
khơng gian vũ trụ.
Lập luận này khơng thuyết phục vì
người nói khơng chứng minh vì sao người
chun làm kinh tế/kinh doanh (có chun
mơn về kinh tế) lại khơng thể nói chuyện
về khoa học không gian. Bởi lẽ chưa chắc
người làm kinh tế lại khơng biết gì về khoa
học khơng gian, v.v. Biết đâu người làm
kinh tế nhưng họ có nghiên cứu về vũ trụ,
không gian hoặc trước đây bản thân họ là
nhà khoa học không gian nhưng không làm
khoa học mà chuyển sang làm kinh tế.
Nguỵ biện cơng kích tinh vi ở chỗ
trong chi tiết có thể là những tình huống
đúng, dựa vào đó người ta lập luận theo
một hướng trái chiều, gây bất lợi cho cá
nhân (bị tấn công) thay vì căn cứ những
tình huống đó để đưa ra những lý lẽ tốt.
Tấn cơng vào hồn cảnh đối phương
bằng cách chỉ ra đối phương đơn thuần chỉ
sinh ra từ hoàn cảnh, mục đích (gia đình,
trình độ học vấn, nghề nghiệp…) của họ
cho nên không đúng trong trường hợp tổng
quát. Đây cũng chính là nguỵ biện cơng
kích cá nhân.
Ví dụ:
Anh làm được như người ta đi rồi
hẵng nói. Có giỏi thì làm như họ đi.
Kiểu lập luận này thường gặp các bình
luận (comments) trên các mạng xã hội như
Facebook, Youtube, Twitter.v.v.
2.3.2. Ngụy biện lợi dụng uy tín
Đây là loại ngụy biện dùng những
nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái
mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của
mình. Đây là kiểu lý lẽ, điều gì của người
uy tín nổi tiếng cũng đúng; nếu nói khác,
là sai.
Ví dụ:
“Mẹ khơng biết vì sao con mặc kiểu áo
này đâu. Mark Zuckerberg bao giờ cũng
mặc áo thun kiểu này”.
Người con đã dùng kiểu ngụy biện lợi
dụng uy tín. Đây là lập luận sai bởi
Mark Zuckerberg không phải là chuyên gia
thời trang (Mark Zuckerberg là một tỉ phú,
đồng sáng lập của Facebook). Thực tế,
nhiều người nổi tiếng, nhưng có những lĩnh
vực họ khơng rành nên xảy ra kiểu ngụy
biện này về lĩnh vực, về sở trường của
người được viện dẫn.
Trong kiểu ngụy biện này cịn có ngụy
58
NGUYỄN HỒNG HIỆP
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GỊN
biện nặc danh. Đó là kiểu ngụy biện với
những lí lẽ được viện dẫn hay trích dẫn
nhưng lại khơng nói đích danh đó là ai.
Thậm chí chính người lập luận cũng không
biết chuyên gia ở đây là ai. Nên người lập
luận theo tin đồn. Kiểu ngụy biện này khá
là phổ biến hiện nay, nhất là trên báo chí,
truyền thơng; khơng muốn nói rõ nguồn tin
từ đâu, ai nghiên cứu, khi nào. Cách nói
vậy khơng khả tín, khơng xác thực. Có
những lập luận sai từ uy tín khơng kiểm
chứng như:
Ví dụ:
Một viên chức Nhà Trắng cho biết…
Nhưng viên chức này là ai, chức vụ ở đâu,
chẳng ai kiểm chứng được cả.
Ví dụ:
Ơng ấy là một chuyên gia, vậy ông ta
đúng. Vấn đề là chuyên gia về lĩnh vực
nào? Một chuyên gia trong lĩnh vực này
nhưng có thể mù tịt về lĩnh vực kia.
2.3.3. Ngụy biện bù nhìn
Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc,
bóp méo quan điểm hay phát biểu của
người khác, để làm luận điểm tấn công.
Đây là kiểu ngụy biện dùng các lập luận
thay thế quan điểm hay lập luận A của đối
phương bằng cách trình bày sai lệch, xuyên
tạc, bóp méo hoặc phóng đại thành B.
Ví dụ:
A: Những ngày nắng ráo thật tuyệt.
B: Anh nói vậy khơng được. Nếu ngày
nào cũng nắng ráo, chúng ta sẽ chẳng có
mưa. Thế là hạn hán, đói kém và có người
chết đói.
B đã bóp méo lời A, vì A chỉ nói có
những ngày nắng ráo chứ khơng phải nói
ngày nào cũng nắng ráo (Nguyễn Đức Dân,
2018, tr.294).
2.3.4. Ngụy biện lợi dụng cảm xúc
Là kiểu ngụy biện sử dụng cảm xúc
của bản thân để khai thác, trong đó chủ yếu
là lịng trắc ẩn. Loại kiểu lập luận này
thường dùng những từ ngữ cảm tính (buồn,
thất vọng…) để tác động, lay động suy
nghĩ người đọc, làm người khác phân tâm
không chú ý tới sự kiện để chứng minh
mình đúng hoặc kết luận nào đó được chấp
nhận. Kiểu ngụy biện này kêu gọi sự thông
cảm của người khác bằng cách nêu nhiều
yếu tố bao gồm cả những tình huống và đối
nhân xử thế của người nói. Kiểu lập luận
này đi vào lòng người hơn là lý trí. Hiển
nhiên sự thương cảm đó khơng phải là
những chứng cứ hiển nhiên cho một hành
động nào đó. Thơng thường những cảm
xúc đó là giận dữ, buồn, thất vọng.v.v.
Ví dụ:
Thân chủ của tôi là một phần quan
trọng của cộng đồng này. Nếu anh ta bị bắt
thì khơng chỉ thành phố này thiệt hại mà
anh ta và gia đình sẽ tổn thất nặng nề. Từ
trong thâm tâm ông chánh án không thể
khơng mở rộng vịng tay cho một phán
quyết “vơ tội đối với anh ta sao?”
Ví dụ trên cho thấy cách áp dụng kiểu
ngụy biện lợi dụng cảm xúc ở trên khơng
liên quan đến những chứng cứ có tội hay
vơ tội của thân chủ.
2.3.5. Ngụy biện lợi dụng đám đông
Loại ngụy biện này cho rằng một lý lẽ
được đám đông ủng hộ thì nó đúng. Số
đơng ln đúng; quan điểm, lý lẽ nào được
số đơng ủng hộ thì nó phải đúng. Tuy
nhiên khơng phải hầu hết mọi người tin
một điều gì đó đúng, khơng có nghĩa là
điều đó là chân lý. Không phải niềm tin
nào của đại chúng luôn luôn đúng. Chúng
ta cũng biết trước thế kỷ XV, mọi người
cho rằng mặt trời quay quanh trái đất. Tuy
nhiên điều đó khơng đúng.
Ví dụ:
“Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành
khuyết tật” là câu nói của bị cáo Diệp Thị
59
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 73 (01/2021)
Hồng Liên (cựu trưởng phịng khảo thí)
tại phiên tịa xét xử sơ thẩm 15 bị cáo trong
vụ án gian lận điểm thi THPT năm 2018 tại
Hịa Bình. “Thẳng lưng” được hiểu là
những điều đúng, điều tốt, những người tốt
mà lại bị coi là dị biệt, là khuyết tật thì q
đau xót. “Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ
thành khuyết tật”, là lối lập luận sai (ngụy
biện lợi dụng đám đông, cụ thể là tập thể bị
cáo gian lận điểm).
Ví dụ:
“- Con ăn mặc gì mà kỳ quặc vậy? Hở
cổ, hở nách, hở bụng”.
- Cụ “Khốt” ơi, bọn bạn con chúng nó
đều mặc như vậy”.
Người con chê cha mẹ mình cổ hủ và
bảo vệ quan điểm của mình theo số đơng điều gì được nhiều người tin là đúng và
làm như vậy nên tôi cũng tin là đúng.
2.3.6. Ngụy biện đe dọa
Loại ngụy biện này thực chất là một sự
đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho
người đối thoại phải chấp nhận một kết
luận nào đó. Người tranh luận dùng loại
ngụy biện này để đe dọa, ám chỉ đến những
điều không hay xảy ra với người đối thoại
để làm họ chùn bước, và từ đó phải chấp
nhận quan điểm của hắn một cách bị ép
buộc. Do đó, kiểu ngụy biện này cịn gọi là
“viện tới cây gậy”, rất hay được dùng trong
trao đổi giữa người lớn và trẻ em trong gia
đình, hay trong mơi trường có mối quan hệ
bất bình đẳng như giữa lãnh đạo và nhân
viên hoặc trong giới chính khách.
Ví dụ:
Khơng chơi game nữa! Muốn sống thì
đi làm bài tập ngay.
Nếu các anh làm vậy, tôi sẽ đưa việc
này lên mạng đấy.
Nhân viên: Thưa anh, sao em phải làm
thêm việc này trong khi bảng mô tả công
việc trong hợp đồng lao động với cơng ty
khơng hề đề cập đến!
Giám đốc: Tơi có thể tìm ngay người
khác thay chỗ của anh ở cơng ty này!
2.4. Các bộ phận cấu thành logic phi
hình thức
Logic phi hình thức khơng chỉ dừng lại
ở mức độ chỉ nghiên cứu thuyết ngụy biện
như lúc ban đầu xuất hiện. Ngày nay, logic
phi hình thức đang nỗ lực một cách toàn
diện hơn và đi vào nghiên cứu đa dạng, đa
ngành hơn để hiểu được bản chất của lí lẽ
đời thường cũng như đánh giá được 1í lẽ
đời thường. Mặc dù đã có nhiều vấn đề
được trình bày trong logic phi hình thức
được xem là đầy đủ, vẫn có thể có những
vấn đề các nhà ngơn ngữ đang cịn nghiên
cứu, tranh luận. Nhưng với tình hình thực
tế hiện tại của logic phi hình thức, chúng ta
có thể đưa ra bản phác thảo bao qt tồn
diện về lí lẽ trong ngơn ngữ tự nhiên gồm
các thành phần, đặc điểm sau:
a. Lí lẽ trong ngơn ngữ tự nhiên là sự
giải thích, thanh minh về các quy tắc giao
tiếp mà các tranh luận luôn ln phải dựa
vào đó.
b. Cần có sự phân biệt khác nhau giữa
các loại hội thoại, vì đây là những “mơi
trường” lí lẽ diễn ra trong q trình giao
tiếp. Từ đó, các hội thoại này sẽ có những
bước đi kế tiếp để có các lí lẽ thích hợp
hoặc khơng thích hợp nhằm phù hợp với
mơi trường hội thoại. Ví dụ: lí lẽ trong
thảo luận khoa học khác với lí lẽ trong
đàm phán.
Về các loại hội thoại, chúng tôi xin
giới thiệu cách phân loại của Douglas
Walton (có tám loại hội thoại) (Douglas
Walton, 1997, tr.605):
60
NGUYỄN HỒNG HIỆP
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GỊN
Bảng 1. Tám thể loại hội thoại
Loại hội
thoại
Tình huống ban
đầu
Mục đích cá nhân của
Mục đích chung Những lợi
người tham gia phát ngơn
của hội thoại
ích đem lại
Thuyết phục Các ý kiến đưa Thuyết phục đối tượng
(Persuasion) ra không giống
nhau - bất đồng
ý kiến
Giải quyết các Hiểu quan
bất đồng ý kiến điểm, ý
kiến của
nhau
u cầu về Khơng biết gì
thơng tin về vấn đề đang
tìm hiểu
Tìm kiếm thơng tin cần
biết
Chứng minh
được hoặc bác
bỏ những phỏng
đốn ban đầu
Thu thập
thêm được
thơng tin,
kiến thức
Đưa ra quan điểm, mục
đích cá nhân
Thực hiện trên
cơ sở suy nghĩ
cân nhắc thận
trọng
Để ra các
ưu thế cá
nhân
Đàm phán
Lợi ích của các Làm tăng thêm các lợi ích Các bên thoả
bên mâu thuẫn cho mỗi bên
thuận với nhau
lẫn nhau
Các bên
đều có lợi
Tìm kiếm
thơng tin
Một bên đối
tượng thiếu
thông tin
Nắm bắt thông tin
Tranh cãi
Mâu thuẫn cá
nhân
Tranh cãi quyết liệt và làm Bộc lộ nhiều
bẽ mặt đối phương
mâu thuẫn gây
gắt
Trút hết nỗi
niềm và
cảm xúc
Tranh luận
Đối nghịch
nhau về quan
điểm, ý kiến
Thuyết phục đối tượng thứ Thể hiện hết các
3 (trong tình huống đối
lí lẽ sắc bén,
thoại tay ba)
mạnh mẽ nhất
với hai đối
tượng cịn lại
Các thơng
tin được
trao đổi qua
lại giữa các
đối tượng
với nhau
Bàn bạc
Dự tính về các
kết quả tương
lai
Sư phạm Khơng biết gì
giữa thầy trị về một đối
trong giờ học tượng, hiện
tượng
Giảng dạy và học tập
Truyền đạt kiến Có được sự
thức, thơng tin giúp đỡ
trong q
trình tìm
mục tiêu
Truyền đạt kiến Lưu trữ
thức
được những
vấn đề đã
được truyền
đạt
Nguồn: Walton. Douglas N., How Can Logic Best Applied to Arguments? Logic Journal
of IGOL (Interest Group on Pure and Applied Logic), tập 5, trang 60.
61
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 73 (01/2021)
3. Kết luận
Như vậy, có thể nhận định logic phi
hình thức chính là lập luận trong ngơn
ngữ tự nhiên nói chung và trong các diễn
ngơn đời thường nói riêng. Logic phi hình
thức có thể được xem là “công cụ” hữu
hiệu trong việc phát hiện thể loại ngụy
biện trong đời thường. Đây là nguyên
nhân hình thành nên một loại logic mới,
đó là logic phi hình thức; một kiểu logic
trong trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Việc
áp dụng logic phi hình thức trong các diễn
ngơn đời thường không những giúp chúng
ta cải thiện việc lập luận, nâng cao lí lẽ
trong q trình trao đổi giữa cá nhân mà
cịn nâng cao tính thuyết phục với lí lẽ
hợp lý trong các lĩnh vực quảng cáo, tranh
luận chính trị, tranh cãi pháp lý và truyền
thơng đại chúng. Tóm lại, một lập luận
chặt chẽ phải hội tụ ba yếu tố: (1) lập luận
trên cơ sở các tiền đề hợp lý, (2) có tất cả
thơng tin liên quan củng cố, bổ trợ cho
tiền đề, và (3) có những lí lẽ lập luận hợp
lý. Trái với lập luật chặt chẽ, đó là ngụy
biện (lập luận cố ý sai). Ngụy biện là
những kiểu lập luận sai nhưng lại có vẻ
như là kiểu lập luận đúng.
Các kết quả hợp lý và giải thích cho
chúng ta biết khi nào người ta có thể cho
biết một câu này là kết quả hợp lý xuất
phát từ một câu kia.
c. Các tiêu chí tổng quát để xây dựng
nên các lí lẽ đúng. Các tiêu chí này có thể
kết hợp với một giả định của kết quả hợp lý
và chúng sẽ chỉ rõ những điều kiện chung
nhằm có được các lí lẽ suy diễn, quy nạp
và dẫn nhập.
d. Các định nghĩa về lược đồ lí lẽ xác
thực để xác định rõ các dạng lập luận đúng.
e. Một số thuyết ngụy biện có thể đóng
vai trị (hoặc có thể là khơng) trong việc
hiểu và đánh giá các lí lẽ đời thường.
f. Các nhân tố có tác động đến lời nói
để có sức thuyết phục và các khái niệm
trong thuật hùng biện (như yếu tố lí lẽ, yếu
tố biểu cảm, gây xúc động, lí lẽ đặc điểm,
tính cách người nghe) sẽ đóng vai trị quan
trọng trong việc hiểu và đánh giá các lí lẽ
đời thường.
g. Các giải thích cho các nhiệm vụ
biện chứng gắn liền với các lí lẽ trong các
tình huống đặc biệt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đỗ Hữu Châu. (2003). Đại cương ngôn ngữ học – Ngữ dụng học, tập 2. Hà Nội: NXB
Giáo dục.
Copi, Irving. (1957). Introduction to Logic, New York: Maxmillan.
Christoper W. Tindale. (2007). Fallacies and Argument Appraisal, Cambridge University
Press.
Nguyễn Đức Dân. (1996). Logic và tiếng Việt. TP.HCM: NXB Giáo dục.
Nguyễn Đức Dân. (1997). Logic – Ngữ nghĩa – Cú pháp. Hà Nội: NXB Đại học và Trung
học chuyên nghiệp.
Nguyễn Đức Dân. (1998). Ngữ dụng học. Hà Nội: NXB Giáo dục.
Nguyễn Đức Dân. (2003). Nhập mơn Logic hình thức. NXB Đại học Quốc gia TP.HCM.
62
NGUYỄN HỒNG HIỆP
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GỊN
Nguyễn Đức Dân. (2005). Nhập mơn Logic hình thức và Logic phi hình thức. NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội.
Nguyễn Đức Dân. (2013). Giới thiệu về logic phi hình thức. Tạp chí Ngơn ngữ, số 7, 2013.
Nguyễn Đức Dân. (2018). Mn màu lập luận. NXB Trẻ.
Phan Đình Diệu. (1993). Lơgíc hình thức và nhận thức khoa học. Tạp chí Triết học, số 4,
tr.34-37.
Hitchcook, David. (1995). Do Fallacies Have a Place in the Teaching of Reasoning Skill
or Critical Thinking? In Hansen, Hans V. and Robert C. Pinto, eds, Fallacies:
Classical and Contemporary Readings.University Park, PA: Penn State Press.
Kahane, Howard and Nancy M. Cavender. (1988). Logic and Contemporary Rhetoric: The
Use of Reason in Everyday Life (5th Edition). Beltmont: Wadsworth.
Walton. Douglas N. (1997). How Can Logic Best Applied to Arguments? Logic Journal of
IGOL (Interest Group on Pure and Applied Logic), Volume 5, Page 603-614.
Ngày nhận bài: 17/8/2020
Biên tập xong: 15/01/2021
63
Duyệt đăng: 20/01/2021