Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

Lý luận về lợi tức của C.Mác và sự vận dụng vào nền tài chính trong nền kinh tế thị trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (121.59 KB, 18 trang )

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

MƠN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LENIN
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN VỀ LỢI TỨC CỦA CÁC MÁC VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO PHÁT
TRIỂN TÀI CHÍNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Học viên: Nguyễn Hà My
Mã sinh viên: 2055280029
Lớp: KT&QL (CLC) K40
GVHD: Nguyễn Thị Kim Thu

Hà Nội- 2021
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ


MƠN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC- LENIN
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN VỀ LỢI TỨC CỦA CÁC MÁC VÀ SỰ VẬN DỤNG
VÀO PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM
Học viên: Nguyễn Hà My
Mã sinh viên: 2055280029
Lớp: KT&QL (CLC) K40
GVHD: Nguyễn Thị Kim Thu
Chữ kí học viên

Nguyễn Hà My


Hà Nội- 2021

MỤC LỤC
2


3


A. Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Do nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường nên trong kinh doanh sản xuất, các
hoạt động của doanh nghiệp cũng như công ty đều hướng vào mục tiêu là lợi tức. Đối
với các doanh nghiệp sản xuất thì hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động cơ bản
nhất đương nhiên vấn đề sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu sản xuất như thế nào đều
phải căn cứ vào nhu cầu thị trường. Do đó lợi tức của hoạt động sản xuất kinh doanh có
ảnh hưởng quyết định đến kết quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh và dẫn đến
một số ảnh hưởng quyết định tới kết quả của các hoạt động khác.
Sản xuất kinh doanh phải có lãi thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và đứng vững
trên thị trường. Vì vậy, vấn đề được đặt ra là phải nghiên cứu phân tích tình hình lợi tức
của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó nâng cao hoạt động sản
xuất kinh doanh vì lợi tức quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Vì vậy, em chọn đề tài “ Lý luận về lợi tức của C.Mác và sự vận dụng vào phát
triển thị trường tài chính trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Kế thừa lý luận về kinh tế của chủ nghĩa Mác- Lenin và các kết quả
của những nhà khoa học đi trước, tiểu luận tập trung nghiên cứu về lý luận về lợi tức và
làm rõ sự vận dụng vào phát triển tài chính trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Nhiệm vụ: Nghiên cứu các lý luận về lợi tức của C. Mác và sự vận dụng vào phát
triển tài chính trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.

3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận là lý luận về lợi tức của C.Mác và sự vận dụng
vào phát triển tài chính trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở nghiên cứu: dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lenin mà trực tiếp
là học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác.
Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và đặc biệt là
phương pháp trừu tượng hoá khoa học - phương pháp nghiên cứu kinh tế điển hình của
Các Mác.
5. Kết cấu của tiểu luận
Bài tiểu luận có kết cấu gồm 2 chương:
Chương 1: Lý luận về lợi tức của C.Mác
Chương 2: Sự vận dụng lý luận về lợi tức của C. Mác vào phát triển tài chính
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
4


Trong q trình là tiểu luận, do trình độ cịn có hạn và đề tài nghiên cứu rộng nên
khó tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, em rất mong nhận được lời chỉ dẫn của thầy cô để
bài tiểu luận của mình được hồn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.

5


B. Phần nội dung
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ LỢI TỨC CỦA C.MÁC
1.1. Sự hình thành tư bản cho vay trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Tư bản cho vay xuất hiện từ rất lâu, được hình thành trước khi nền kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa được xác lập dưới hình thái tư bản cho vay nặng lãi. Gọi là tư

bản cho vay nặng lãi vì tỷ suất lợi tức thường rất cao. Vì vậy, tư bản cho vay nặng lãi
đang kìm hãm sự phát triển của sản xuất.
Tư bản cho vay trong chủ nghĩa tư bản khác với tư bản cho vay nặng lãi vì tư bản
cho vay trong chủ nghĩa tư bản là một bộ phận của tư bản công nghiệp được tách ra
trong q trình tuần hồn của tư bản. Sở dĩ là vậy vì sự xuất hiện của tư bản cho vay
vừa là sự cần thiết và có khả năng thực hiện. Điều đó được thể hiện ở chỗ trong q
trình tuần hồn và chu chuyển của tư bản cơng nghiệp ln có một số tư bản tiền tệ tạm
thời nhàn rỗi. Số tiền nhàn rỗi ấy không sinh lời, không đem lại một khoản thu nhập
nào cho nhà tư bản. Tuy nhiên, đối với nhà tư bản, tiền phải đẻ ra tiền. Vì vậy mà nhà
tư bản phải đưa cho người khác vay. Xét về phương diện khác, tư bản đi vay cũng rất
cần tiền để mở rộng kinh doanh sản xuất. Do đó, tất yếu nhà tư bản có phải đi vay.
Từ hai mặt trên dẫn đến sinh ra sự vay mượn lẫn nhau. Và từ mối quan hệ vay
mượn ấy mà tư bản nhàn rỗi trở thành tư bản cho vay.
Vậy, tư bản cho vay trong chủ nghĩa tư bản là bộ phận tư bản xã hội dưới hình
thái tiền tệ, được tách ra từ sự vận động tuần hoàn của tư bản nhất định để gia nhập
vào sự vận động tuần hoàn của tư bản khác.
Đặc điểm của tư bản cho vay trong chủ nghĩa tư bản:
Quyền sử dụng tách khỏi quyền sở hữu: Chủ thể sở hữu tư bản không phải là chủ
thể sử dụng và chủ thể sử dụng tư bản chỉ được sử dụng trong một khoảng thời gian
nhất định và khơng có quyền sở hữu.
Là hàng hóa đặc biệt: người bán khơng mất quyền sở hữu, người mua chỉ được
quyền sở hữu trong một khoảng thời gian. Sau khi sử dụng, tư bản cho vay không mất
đi giá trị sử dụng và giá trị ấy được bảo tồn, thậm chí nó cịn tăng thêm. Gía cả tư bản
cho vay được quyết định bởi giá trị sử dụng của nó là khả năng thu được lợi nhuận bình
qn. Do đó khơng những khơng được quyết định bởi giá trị, mà còn thấp hơn nhiều so
với giá trị
Là hình thái tư bản phiến diện nhất nhưng được sử dụng nhiều nhất: tư bản cho
vay tạo ra ý nghĩ tiền đẻ ra tiền, che giấu đi quan hệ bóc lột vì khơng phản ánh rõ
nguồn gốc lợi tức cho vay.
Tư bản cho vay được vận động theo cơng thức: T – T’ trong đó T’ = T + z (z là lợi

tức). Nhìn vào cơng thức này, ta có thể thấy được mối quan hệ giữa tư bản cho vay và
tư bản đi vay, tiền đẻ ra tiền.
6


1.2. Nguồn gốc và bản chất của lợi tức, tỷ suất lợi tức.
1.2.1. Nguồn gốc và bản chất của lợi tức.
Theo lý luận của C. Mác về lợi tức, tư bản cho vay là tư bản sinh lợi tức.
Đứng về phía nhà tư bản cho vay, do họ nhường quyền sử dụng tư bản của mình
cho người khác trong một thời gian nhất định nên thu được lợi tức từ việc đó. Cịn về
phía nhà tư bản đi vay, họ đi vay để hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu được lợi
nhuận bình qn. Tuy nhiên, vì khơng có tư bản hoạt động nên họ phải đi vay. Do đó,
họ phải trích một phần lợi nhuận bình qn thu được để trả cho tư bản cho vay.
Như vậy, lợi tức là một phần của lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động thu được nhờ
sử dụng tư bản đi vay và phải trả cho nhà tư bản cho vay. Tuy nhiên, trên thực tế thì lợi
tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản
cho vay, căn cứ vào số lượng tư bản mà nhà tư bản cho vay cho nhà tư bản đi vay sử
dụng.
Nguồn gốc của lợi tức là một phần giá trị thặng dư do cơng nhân sáng tạo ra trong
q trình sản xuất. Tuy nhiên, việc nhà tư bản cho vay thu được lợi tức đã che giấu
được thực chất bóc lột của tư bản chủ nghĩa. Và dựa vào công thức vận động của tư bản
cho vay, ta có thể thấy được bản chất của lợi tức.
1.2.2. Tỷ suất lợi tức
Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ tính theo phần trăm giữa tổng số lợi tức và số tư bản tiền tệ
cho vay (thường tính theo tháng, quý hoặc năm).
Nếu gọi lợi tức là z, tỷ suất lợi tức là z’, ta có công thức:
z=
Tỷ suất lợi tức cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Tỷ lệ phân chia lợi nhuận thành lợi tức và lợi nhuận của nhà tư bản hoạt động.

Quan hệ cung cầu của tư bản cho vay. Tuy nhiên, ảnh hưởng của quan hệ cung cầu
với tỷ suất lợi tức có sự khác biệt với ảnh hưởng của quan hệ cung cầu với giá cả hàng
hóa.
Giới hạn tối đa của tỷ suất lợi tức là tỷ suất lợi nhuận bình quân. Tỷ suất lợi tức
khơng có giới hạn tối thiểu tuy nhiên nó lại phải lớn hơn khơng (0 < z’ < ’). Trong giới
hạn đó, tỷ suất lên xuống phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của tư bản cho vay và biến
động theo chu kì vận động của tư bản công nghiệp. Trong điều kiện của chủ nghĩa tư
bản, tỷ suất lợi tức ln ln có xu hướng giảm.

7


CHƯƠNG 2: SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ LỢI TỨC CỦA C.MÁC VÀO PHÁT
TRIỂN TÀI CHÍNH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở
VIỆT NAM
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, lợi tức là một khái niệm dùng để chỉ chung các
khoảng lợi nhuận thu được khi đầu tư, kinh doanh, sản xuất hay là khoản tiền lãi thu
được nhờ việc cho vay hoặc gửi tiết kiệm tại ngân hàng. Trong một số trường hợp, lợi
tức sẽ có một số tên gọi khác nhau: trong đầu tư chứng khoán hay đầu tư nói chung thì
lợi tức được gọi là cổ tức; trong tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi theo kỳ hạn thì lợi tức được
8


gọi là lãi hoặc tiền lãi; còn trong một số hoạt động kinh doanh đầu tư khác, lợi tức cịn
có thể được gọi là lợi nhuận. (Wikipedia về lợi tức).
2.1. Kết cấu lợi tức trong doanh nghiệp trong nền tài chính Việt Nam
Lợi tức là kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh sản xuất, là chỉ tiêu đánh
giá kết quả hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị
trường ngày nay, với cơ chế hạch toán kinh doanh, phạm vi kinh doanh của các doanh
nghiệp được mở rộng, các doanh nghiệp có thể đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau mà

lợi tức thu được cũng đa dạng hơn theo các phương thức đầu tư của doanh nghiệp.
Nếu xét theo nguồn gốc hình thành, lợi tức của doanh nghiệp bao gồm:
Lợi tức trước thuể = lợi tức từ hoạt động kinh doanh + lợi tức từ hoạt động tài chính +
lợi tức từ hoạt động bất thường
Lợi tức từ hoạt động kinh doanh là lợi tức do tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của
doanh nghiệp, là khoản chênh lệch giữa doanh số của chuyển động kinh doanh, sản
xuất trừ đi giá thành toàn bộ sản phẩm đã tiêu thụ và đi thuê theo quy định ( trừ đi thuế
thu nhập của doanh nghiệp)
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng có thể tham gia vào hoạt động tài chính.
Hoạt động tài chính chủ yếu là các hoạt động liên quan tới việc đầu tư vốn bên ngoài
doanh nghiệp: liên kết kinh doanh, cho thuê tài sản,… Đó là các khoản thu lợi tức và
làm tăng lợi tức cho các doanh nghiệp.
Lợi tức thu được từ các hoạt động khác mà doanh nghiệp không thể dự kiến trước
hoặc có thể dự kiến trước nhưng khó có khả năng thực hiện. Lợi tức thu được từ hoạt
động này gồm lợi tức các khoản phải trả không có chủ nợ, thu hồi các khoản nợ khó địi
đã được bỏ và các khoản thu từ việc bán tài sản sau khi đã bù trừ hao hụt mất mát, lãi
thu từ nhượng bán,…
Đối với những doanh nghiệp kinh doanh sản xuất và mơi trường kinh tế khác nhau
thì lợi tức của từng bộ phận chiếm tỷ trọng khác nhau thì doanh số thu được của từng
bộ phận chiếm tỷ trọng khác nhau trong tổng số lợi tức thu được của doanh nghiệp.
Điều quan trọng là phải xem xét cơ cấu lợi tức trong doanh nghiệp để từ đó có thể thấy
được tỷ trọng của lợi tức và dễ dàng có thể đánh giá, xem xét kết quả của từng hoạt
động. Và từ đó tìm ra những yếu tố tích cực cũng như tồn tại trong từng hoạt động của
doanh nghiệp và đặc biệt là để đưa ra những yếu tố tích cực nhằm nâng cao lợi tức thu
được cho doanh nghiệp.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi tức của doanh nghiệp
2.2.1. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng nghành nghề, từng doanh nghiệp
Đây là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp,
từ đó ảnh hưởng tới doanh thu và lợi tức của doanh nghiệp. Trong ngành công nghiệp,
sản phẩm đa dạng, trình độ kỹ thuật cao ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên cũng như

thời vụ nên mức tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng, thường xuyên, liên tục do đó mà lợi
9


tức thu về là cao. Cịn trong nghành nơng nghiệp, sản xuất theo thời vụ, tập trung chủ
yếu vào mùa thu hoặch sản phẩm, thị trường không ổn định và đặc biệt là chịu ảnh
hưởng của thiên nhiên nên lợi tức thu về là không cao và không ổn định. Trong ngành
xây dựng, do sản xuất theo đơn đặt hàng và thời gian thi công dài nên việc tiêu thụ sản
phẩm là lâu nên lợi tức thu lại được cũng không cao,…
2.2.2. Khối lượng hàng hoá tiêu thụ
Trong khi các yếu tố khác khơng đổi thì khối lượng hàng hố tăng lên sẽ làm cho
doanh thu tăng, kéo theo lợi tức cũng tăng. Tuy nhiên, nếu khối lượng sản phẩm được
đưa ra thị trường càng nhiều thì doanh thu tăng càng tăng nhưng đó mới chỉ là khả
năng. Vậy vấn đề ở đây là sản phẩm đưa ra có thật sự phù hợp với thị trường và sực hấp
dẫn của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra đối với người tiêu dùng hay không. Nếu sản
phẩm đưa ra không phù hợp với nền kinh tế thị trường và không phù hợp với người tiêu
dùng sẽ có những tác động ngược đối với việc làm gia tăng lợi tức của doanh nghiệp.
Nếu lượng hàng hoá cung cấp quá lớn, dù sản phẩm có hấp dẫn, giá cả có hợp lý nhưng
sức mua là hạn chế do vậy sẽ không thể bán hết được. Và ngược lại, nếu lượng sản
phẩm đưa ra q ít, khơng đủ để đáp ứng nhu cầu của thị trường cũng như là của nền
kinh tế thị trường thì tất yếu doanh thu sẽ giảm và dẫn đến giảm lợi tức thu được của
doanh nghiệp. Mặt khác, nếu bộ phận khách hàng không được đáp ứng nhu cầu sẽ phải
tìm đến những sản phẩm cùng loại trên thị trường và do đó doanh nghiệp sẽ mất đi một
lượng khách hàng đáng kể, mất uy tín dẫn tới lợi tức giảm. Vì vậy, doanh nghiệp cần
phải đánh giá đúng nhu cầu thị trường và khả năng sản xuất của mình để đưa ra thị
trường khối lượng sản phẩm thích hợp, nhằm đảm bảo doanh thu tiêu thụ cao, tối đa
hố lợi tức cho doanh nghiệp mình.
2.2.3. Chất lượng của sản phẩm, dịch vụ
Chất lượng của sản phẩm và dịch vụ cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy
hoặc kìm hãm việc tiêu thụ sản phẩm và do đó ảnh hưởng đến thu nhập của doanh

nghiệp. Với việc nâng cao chất lượng của sản phẩm, doanh nghiệp mới có lợi thế để
cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường. Đó khơng chỉ là vấn đề liên quan đến lợi ích của
doanh nghiệp, lợi ích của người tiêu dùng mà cịn liên quan đến lợi ích chung của tồn
bộ nền kinh tế thị trường.
Trong kinh doanh, khơng có gì đảm bảo rằng một sản phẩm đã được giới thiệu
trên thị trường và được tiếp nhận thì sản phẩm đó sẽ tiếp tục thành công. Tuy nhiên,
nếu như chất lượng của sản phẩm phải ln được cải tiến, nâng cao thì khả năng thu
được nhiều lợi tức cho doanh nghiệp. Với chất lượng tốt doanh nghiệp không chỉ dễ
dàng tiêu thụ mà cịn có thể nâng cao giá bán, góp phần tăng doanh thu, tăng lợi tức.
Ngược lại, chất lượng kém sẽ gây ra nhiều khó khăn trong cơng tác tiêu thụ của doanh
nghiệp, ngay cả khi giá bán thấp nhưng nhưng tiêu dùng chưa chắc đã chấp nhận.
Có thể nói, nâng cao chất lượng sản phẩm, sẽ làm tăng thêm giá trị sử dụng, kéo
dài tuổi thọ của sản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm, thúc đẩy
tốc độ vòng quay vốn tăng nhanh và nâng cao lợi tức của doanh nghiệp.
10


2.2.4. Ảnh hưởng của giá cả sản phẩm
Về nguyên tắc, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá và giá cả hàng
hoá. Trong cơ chế thị trường hiện nay, giá cả được hình thành một cách tự phát trên cơ
sở thoả thuận giữa người mua và người bán và do đó doanh nghiệp có thể hồn tồn sử
dụng giá cả như một cơng cụ để kích thích tiêu thụ sản phẩm từ đó tăng doanh thu, tăng
lợi tức cho doanh nghiệp.
Đối với những thị trường mà sức mua cịn hạn chế, giá cả lại có ý nghĩa vơ cùng
quan trọng. Một mức giá thấp có thể thu hút được nhiều người mua và ngược lại, với
mức giá cao có thể làm giảm sức mua đi rất nhiều. Có thể thấy rõ điều này ở thị trường
nơng thơn và miền núi- nơi có mức thu nhập trung bình thấp và minh chứng là sự
chiếm lĩnh của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường nước ta thời gian qua.
Như vậy, doanh nghiệp có thể đẩy mạnh hay hạn chế tiêu thụ sản phẩm, quyết
định doanh thu và lợi tức của doanh nghiệp đều phụ thuộc vào những chính sách giá cả

mà doanh nghiệp đưa ra.
2.2.5. Kết cấu hàng hóa tiêu thụ
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, để nâng cao hiệu quả lợi tức và tránh rủi ro
trong hoạt động kinh doanh sản xuất, các doanh nghiệp thường phải kinh doanh nhiều
ngành hàng, nhiều loại sản phẩm khác nhau để đáp ứng được những thị hiếu tiêu dùng
khác nhau. Tuy nhiên, khi đưa ra thị trường không phải mặt hàng nào cũng có lượng
tiêu thụ như nhau mà khi bán ra: có sản phẩm tiêu thụ lớn, có sản phẩm tiêu thụ ít và
thay đổi thường xun dẫn đến kết cấu hàng hóa ít nhiều bị ảnh hưởng đến doanh thu
và lợi tức của doanh nghiệp. Vì vậy, khi đã nắm bắt được nhu cầu và thị hiếu của thị
trường, doanh nghiệp sẽ phải nghiên cứu đến chu kỳ sống của sản phẩm và đưa ra được
những đề xuất cơ cấu sản phẩm hợp lý. Điều này sẽ tránh được tình trạng ứ đọng hàng
hố, thúc đẩy lượng tiêu thụ và từ đó nâng cao lợi tức.
2.2.6. Ảnh hưởng của thị trường tiêu thụ
Yếu tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc tiêu thụ sản phẩm. Thị trường là nơi
tiêu thụ sản phẩm. Nó cũng là nơi cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin quan
trọng để lập kế hoạch đầu tư vào sản xuất và đưa ra thị trường những sản phẩm phù hợp
với nhu cầu của nền kinh tế thị trường. Như vậy, thị trường sẽ tạo điều kiện tăng doanh
thu, nâng cao lợi tức cho doanh nghiệp
2.3. Giải pháp vận dụng lý luận về lợi tức của C.Mác vào phát triển tài chính
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Khi hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp có thể nhanh chóng
thu hồi được vốn đầu tư và từng bước chuyển đổi sang công nghệ tiên tiến, phù hợp với
sự phát triển của xã hội để đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu tiêu dùng. Đẩy nhanh tích lũy
lợi tức, tăng trưởng và bổ sung nhanh vốn thương mại để doanh nghiệp vẫn sẽ giữ được
uy tín và vị thế của mình trên thị trường, trên cơ sở đáp ứng nhu cầu về sản phẩm, hàng
hóa, dịch vụ, nâng cao nhanh chóng khả năng cạnh tranh, giành được hiệu quả kinh
11


doanh tối đa. Nâng cao lợi tức chính là điều kiện tiên quyết và là cơ sở để tăng trưởng

thêm nữa lợi tức.
Suy cho cùng, mong muốn phấn đấu tăng lợi tức đối với các doanh nghiệp luôn là
nhu cầu cấp thiết đối với sự phát triển từng bước của doanh nghiệp, đặc biệt là trong
nền kinh tế thị trường hiện nay.
2.3.1. Xây dựng phương án kinh doanh phù hợp
Điều này có ý nghĩa sống cịn đối với sự tồn tại và phát triển của một doanh
nghiệp bởi mục tiêu chính trong hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp là lợi
tức. Bằng cách phân tích tình hình, tập hợp các yếu tố và dữ liệu chủ yếu liên quan đến
hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần lập kế hoạch kinh doanh để đạt
được các mục tiêu đã đề ra.
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, các doanh nghiệp cần phải tuân thủ theo trình tự để
xây dựng các phương án kinh doanh, sản xuất:
Xác định vị thế của mình trong nền kinh tế thị trường, xác định được điểm mạnh
cần phát huy và điểm yếu cần khắc phục cũng như là xác định được mối quan hệ với
nhà cung cấp, với khách hàng và với cả đối thủ cạnh tranh.
Cần tiến hành nghiên cứu thị trường, xem xét tình hình, tìm hiểu những nhu cầu
mà nền kinh tế thị trường chưa đáp ứng được, khảo sát biến động của giá cả
Tiếp theo là cần xác định mặt hàng mà doanh nghiệp sản xuất kinh doanh để đưa
ra phương án kinh doanh phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thị trường, xác định đối
tượng mục tiêu, khả năng độc quyền hay phải cạnh tranh và đặc biệt là phải đổi mới,
cải tiến công nghệ và sản phẩm.
Sau khi xác định được sản phẩm thương mại sản xuất, doanh nghiệp phải lựa chọn
công nghệ sản xuất và cách thức tiêu thụ hàng hóa và điều đặc biệt là doanh nghiệp
phải xác định được lợi tức dự tính thu được từ phương pháp kinh doanh sản xuất nay.
Doanh nghiệp phải lựa chọn mơ hình tổ chức quản lý, xác định các rủi ro tiềm ẩn
và lập ra các kế hoạch chi tiết như: kế hoạch nguyên vật liệu, sản xuất, tài chính, nhân
sự, tiêu thụ . . . trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay.
Có thể nói, việc tạo dựng một kế hoạch kinh doanh phù hợp, đã giúp cho doanh
nghiệp thực sự làm chủ hoạt động của mình. Khơng chỉ vậy, đưa ra kế hoạch kinh
doanh sản xuất còn tạo tiền đề cho doanh nghiệp chủ động và sử dụng có hiệu quả các

nguồn lực chưa được khai thác hay khai thác chưa triệt để. Đồng thời, giúp cho các
doanh nghiệp biết trước được lợi nhuận sẽ được tạo ra để từ đó có phương án phân phối
hợp lý, tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh sau này. Bằng cách này,
lập kế hoạch kinh doanh phù hợp là một hoạt động góp phần nâng cao lợi tức cho
doanh nghiệp.
12


2.3.2. Lựa chọn, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn
Việc phát triển kinh doanh khi doanh nghiệp ngày càng phát triển đòi hỏi nguồn
vốn ngày càng nhiều. Việc lựa chọn, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn
đồng nghĩa với việc nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh phải luôn được đảm bảo.
Và việc hoạt động kinh doanh khơng bị đình trệ bởi vì lý do hết vốn và chi phí bỏ ra để
được quyền sử dụng là thấp nhất.
Ngoài phần vốn cổ phần mà doanh nghiệp có khi thành lập, vốn cổ phần của
doanh nghiệp còn tăng lên trong quá trình hoạt động kinh doanh bằng cách bổ sung lợi
tức thành vốn. Tuy nhiên, nhu cầu về vốn của doanh nghiệp thường lớn hơn số vốn tự
có, nên doanh nghiệp phải huy động vốn từ bên ngoài. Và sự phát triển của nền kinh tế
thị trường đã làm nảy sinh nhiều cơng cụ tài chính ngày càng phong phú và đa dạng
như: Cổ phiếu, trái phiếu,… giúp các doanh nghiệp huy động nguồn tiền nhàn rỗi nằm
phân tán, rải rác trong tầng lớp dân cư tập trung lại thành nguồn tài chính to lớn cho các
doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc sử dụng các cơng cụ tài chính để tập trung vốn, huy
động vốn lại không phải là một điều dễ dàng. Mỗi công cụ thị trường mà doanh nghiệp
sử dụng sẽ đem lại những lợi thế nhất định cho doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng có
thể nảy sinh ra những bất lợi. Vì vậy, trước khi quyết định huy động vốn, doanh nghiệp
cần phải: Xác định mục đích của việc huy động và lợi ích thu được từ việc sử dụng vốn
huy động; xác định số vốn cần huy động.
Như vậy, việc huy động vốn có ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn, nhưng việc sử
dụng có hiệu quả các nguồn vốn là điều không dễ dàng và thường mang tính quyết định
đối với sự thành cơng của một dự án mà doanh nghiệp tham gia.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định, các doanh nghiệp cần:
Quản lý đầy đủ cơ cấu tài sản cố định trong doanh nghiệp, đầu tư theo chiều sâu,
hình thành đội ngũ có trình độ và tay nghề cao, vận hành sử dụng tốt máy móc thiết bị
nhằm tăng năng suất lao động.
Đánh giá lại tài sản theo sự biến động của thị trường nhằm bảo toàn vốn cố định.
Cần quản lý các tài sản thừa, tài sản quá hạn sử dụng để tránh tình trạng vốn cố định
khơng tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Như vậy, quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều
vào việc tổ chức và sử dụng vốn. Việc huy động vốn kịp thời có ý nghĩa quan trọng,
giúp doanh nghiệp nắm bắt được cơ hội kinh doanh sản xuất. Mặt khác, nó cịn có thể
giảm bớt thiệt hại do ứ đọng vốn và tránh giảm đi lợi tức của doanh nghiệp.
2.3.3. Tổ chức hợp lý quá trình thu mua và dự trữ hàng hóa
Q trình thu mua và dự trữ hàng hoá được tổ chức hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động, giảm thiểu chi phí phát sinh trong khâu mua và dự trữ hàng hoá
nhằm đạt lợi tức tối đa cho doanh nghiệp.
13


Doanh nghiệp cần phải thiết lập nguồn dự trữ thích hợp để đảm bảo hoạt động sản
xuất kinh doanh ổn định với chi phí dự trữ thấp nhất. Nếu khối lượng dự trữ quá lớn,
ngoài việc tăng rủi ro, thất thoát, mất tài sản, ứ đọng vốn kinh doanh, doanh nghiệp cịn
phải chịu nhiều loại chi phí dự trữ. Ngược lại, nếu dự trữ quá ít, sản xuất và tiêu thụ bị
ngưng trệ, khơng kịp thời gây mất lịng tin của khách hàng và tăng các chi phí khơng
cần thiết.
Có thể nói, đây là yếu tố cốt yếu trong việc tổ chức q trình mua và dự trữ hàng
hố, là sự dự báo chính xác về tình hình tiêu thụ hàng hoá trong kỳ kế hoạch. Khi đã
xác định được tình hình tiêu thụ trong kỳ kế hoạch, doanh nghiệp cần phải xác định số
lượng đơn đặt hàng và khối lượng hàng trong mỗi lần đặt sao cho giảm thiểu chi phí đặt
hàng và chi phí dự trữ là thấp nhất.
2.3.4. Tổ chức hợp lý quá trình tiêu thụ và thanh toán tiền hàng

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại được đều phải có lợi
thế cạnh tranh hơn hẳn so với đối thủ của mình. Việc tạo ra một phương thức hợp lý để
đẩy mạnh q trình tiêu thụ hàng hố và tạo ra một phương thức thanh toán dễ dàng và
thuận tiện để thu hút khách hàng là một trong những mối quan tâm chính của doanh
nghiệp. Tổ chức tốt q trình thanh tốn tiền hàng sẽ đẩy mạnh khối lượng hàng hoá
tiêu thụ, tăng thị phần cho doanh nghiệp, đẩy mạnh tốc độ luân chuyển vốn, giảm được
định phí trên mỗi đơn vị sản phẩm, nhờ vậy mà lợi tức thu được của doanh nghiệp sẽ
tăng lên. Tuy nhiên, để tổ chức tốt q trình tiêu thụ và thanh tốn hàng hóa, cần:
Xây dựng một mạng lưới phân phối hiệu quả: tuỳ theo đặc điểm hoạt động sản
xuất kinh doanh, đặc điểm mặt hàng, khả năng về vốn mà doanh nghiệp lựa chọn một
hay nhiều phương thức bán hàng phù hợp trên cơ sở xây dựng một mạng lưới tiêu thụ
thích ứng với phương thức đã chọn
Có các chính sách quảng cáo nhằm đẩy mạnh lượng tiêu thụ hàng hóa của
doanh nghiệp: Để giới thiệu hàng hoá cho người tiêu dùng được biết, quan tâm đến
sản phẩm của mình, doanh nghiệp có thể thực hiện chính sách này dưới các hình thức
quảng cáo trên các phương tiện truyền tin ( như: Ti vi, radio, tạp chí, tờ rơi,…), thực
hiện các chương trình khuyến mại, chương trình thể thao, tham gia hội chợ triển lãm,
chào hàng trực tiếp đến khách hàng tiềm năng
Cung cấp các dịch vụ sau khi bán: Đây là một công cụ để chứng tỏ rằng doanh
nghiệp đặt giá trị về sự tín nhiệm trong kinh doanh lên hàng đầu, thường được áp dụng
đối với doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá có giá trị cao, thời gian sử dụng lâu. Cung
cấp dịch vụ sau bán sẽ tạo lòng tin cho khách hàng đến với sản phẩm của mình càng
nhiều, tăng doanh thu, tăng lợi tức cho doanh nghiệp. Cũng từ đó mà việc thanh tốn
tiền hàng cũng ảnh hưởng khơng nhỏ đến mức tiêu thu và từ đó ảnh hưởng tới lợi tức.
2.3.5. Tiết kiệm chi phí hết mức có thể nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng
Đối với một doanh nghiệp, tiết kiệm chi phí là cách cơ bản để tăng lợi tức và tạo
điều kiện cho doanh nghiệp hạ thấp giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, tiết kiệm chi phí
14



khơng đồng nghĩa với cắt giảm chi phí. Để tiết kiệm chi phí mà vẫn phải đảm bảo chất
lượng, doanh nghiệp cần:
Tăng tốc độ dòng chảy để giảm tỷ lệ chi phí;
Khơng ngừng cải tiến phương thức kinh doanh phục vụ, áp dụng tốt chế độ kế
toán tránh những chi phí phát sinh khơng đáng có;
Lựa chọn nguồn hàng phù hợp;
Xác định số đơn đặt hàng và lượng hàng mỗi lần đặt sao cho chi phí mua và dự trữ
là thấp nhất;
Lập dự tốn chi phí: cần lập dự tốn trên cơ sở lập kế hoạch tài chính hàng năm,
quyết tốn hàng tháng, định kỳ, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chi phí, có biện
pháp tránh lãng phí, khai thác mọi khả năng sử dụng chi phí.
Để tiết kiệm chi phí, doanh nghiệp phải khéo léo kết hợp giữa việc vận dụng quy
luật giá trị và các đòn bẩy kinh tế với việc khuyến khích mọi người tham gia vào cơng
tác quản lý chi phí, có như vậy mới có thể hạ thấp chi phí theo hướng tích cực và có ý
nghĩa.
2.3.6. Phân phối và sử dụng lợi tức hợp lý
Phân phối lợi tức hợp lý thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa tích luỹ, cung
cấp và tiêu dùng nhằm đảm bảo phát triển sản xuất kinh doanh, thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng hợp lý của người lao động trong doanh nghiệp và khuyến khích họ phấn đấu cho
sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Trong trường hợp bị hạn chế, việc phân phối lợi tức
nên được dành phần lớn để tích luỹ, tạo điều kiện để mở rộng và cải tiến hoạt động sản
xuất, kinh doanh, góp phần thu được nhiều lợi tức đồng thời tăng tích luỹ vốn nhiều
hơn cho doanh nghiệp.Việc phân phối hợp lý sẽ trở thành động lực thúc đẩy sản xuất
kinh doanh phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp tục cơng việc kinh
doanh của mình.
Trên đây là một số giải pháp cũng như vận dụng lý luận về lợi tức của C. Mác vào
phát triển tài chính của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.

15



Kết luận
Lợi tức đóng một vai trị vơ cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của bất kì doanh nghiệp nào. Một doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay
không, điều quan trọng là doanh nghiệp đó có tạo ra được lợi tức hay khơng. Lợi tức là
đòn bẩy kinh tế quan trọng, đồng thời là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản để đánh giá hiệu
quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Vì vậy, người quản lý kinh doanh có
nghĩa vụ phải điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả và làm cho lợi tức
không ngừng tăng lên. Xuất phát từ thực tiễn như vậy, em thấy rằng, việc xác định đúng
đắn lợi tức và tìm ra các biện pháp nâng cao lợi tức đã và đang và sẽ tiếp tục là vấn đề
được quan tâm, giải quyết trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.

16


Tài liệu tham khảo
1. Phạm Văn Dũng (Chủ biên): Kinh tế chính tị Mác-Lênin, tập II, Nxb ĐHQG-HN,
2003.
2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc qia HN, 2001
3. Ngơ quang Minh, Kinh tế Nhà nước và quá trình đổi mới doanh nghiệp thương mại,
Nxb Chính trị quốc gia HN.
4. Đồn Duy Thành: Vai trò then chốt của doanh nghiệp thương mại trong kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chinh trị quốc gia, 2001.
5. Trương Văn Bân: Bàn về cải cách tồn diện doanh nghiệp thương mại, Nxb Chính trị
quốc gia HN, 1996.
6. PT. Ngô Trần ánh: Kinh tế và quản lý doanh nghiệp, Nxb Thống kê, 2003.
7. PGS, NGND Lê Mậu Hân, và PGS, TS Trình Mưu: Lịch sử Đảng cộng sản Việt
Nam- Nxb Chính trị quốc gia HN, 2003.
17



8. Đoàn Duy Thành: Đảng lãnh đạo kinh tế và đảng viên làm kinh tế trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2002.
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lenin, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2007.
10. Lợi tức: />
18



×