Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

49. TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VÀ PH.ANGGHEN VỀ NGUYÊN TẮC: ĐẢNG CỘNG SẢN LÀ MỘT TỔ CHỨC ĐỘC LẬP CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN. Ý NGHĨA TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (199.39 KB, 23 trang )

MỞ ĐẦU
C.Mác và Ph.Ang-ghen là lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân. Hai ông
là người đầu tiên nêu lên những tư tưởng cơ bản về tổ chức, hoạt động của Đảng
cộng sản của giai cấp công nhân. Đồng thời hai ông đã trực tiếp tham gia vào
phong trào công nhân để giác ngộ họ và từng bước xây dựng tổ chức cộng sản
đầu tiên của giai cấp vô sản. “Tổ chức liên đoàn những người cộng sản” do hai
ông thành lập và lãnh đạo đã thể hiện sự vận dụng những tư tưởng cơ bản đó vào
hoạt động thực tiễn của phong trào công nhân. C.Mác và Ph.Ang-ghen đã trực
tiếp thảo ra “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và “Điều lệ của Liên đoàn những
người cộng sản”. Sau đó C.Mác đã soạn thảo ra “Tun ngơn thành lập Hội liên
hiệp công nhân quốc tế” và cùng với Ph.Ang-ghen soạn thảo “Điều lệ chung và
các qui chế hành chính” của Quốc tế I. Đó là những văn kiện có tính chất cương
lĩnh và cơ sở tổ chức của các tổ chức Cộng sản đầu tiên trên thế giới. Bằng
những văn kiện nổi tiếng nói trên, C.Mác và Ph.Ang-ghen đã có những cống
hiến vơ giá trong việc nêu ra và lí giải những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của
chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân, được khái quát thành bảy nguyên
tắc, đó là:
Một là: Đảng cộng sản là một tổ chức độc lập của giai cấp công nhân. Hai
là: Đảng cộng sản phải thể hiện tính vơ sản rõ rệt. Ba là: Đảng phải được xây
dựng trên những nguyên tắc dân chủ triệt để. Bốn là: Điều kiện, tiêu chuẩn
những người vào Đảng thừa nhận thế giới quan cộng sản. Năm là: Đảng phải
thường xuyên được củng cố vững chắc. Sáu là: Đảng phải có cơ cấu tổ chức phù
hợp. Bảy là: Chủ nghĩa quốc tế là một nguyên tắc xây dựng Đảng.
Trong bài tiểu luận này, tác giả chỉ tập trung làm rõ thêm nguyên tắc:
Đảng cộng sản là một tổ chức độc lập của giai cấp công nhân. Ý nghĩa trong
công tác xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam .
* Một số khái niệm:
- Đảng là gì: Đảng là tổ chức chính trị, sản phẩm tự nhiên của cuộc đấu
tranh chính trị của một giai cấp. Bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của một giai



-2cấp, tầng lớp nhất định, tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng để đấu tranh
giành, bảo vệ lợi ích của tầng lớp, giai cấp đó.
- Đảng cộng sản là gì: Đảng cộng sản là chính Đảng cách mạng của giai
cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân chống giai
cấp tư sản. Bao gồm những người ưu tú nhất trong giai cấp công nhân, nhân dân
lao động, tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng đấu tranh giành quyền lợi
cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động.
Nghĩa là: Đảng cộng sản là một hiện tượng chính trị-xã hội gắn liền với
đấu tranh chính trị của giai cấp; có q trình ra đời, phát triển và tiêu vong. Đảng
cộng sản bao gồm những người tự nguyện, lấy hoạt động chính trị làm sự
nghiệp. Đảng khơng bao gồm tồn bộ giai cấp. Mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của
Đảng là đấu tranh giành, bảo vệ quyền lợi, lợi ích cho chính giai cấp, tầng lớp
đó.
- Giai cấp vơ sản là gì: Giai cấp vơ sản là một tập đồn xã hội ổn định,
hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp
hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hố
ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến, trực tiếp tham gia vào quá
trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là
lực lượng chủ yếu để tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên
chủ nghĩa xã hội (CNXH). Ở các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN). Giai cấp vô
sản là những người khơng có hoặc về cơ bản khơng có tư liệu sản xuất. Họ phải
làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư. Ở các
nước CNXH, họ là những người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư
liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của tồn xã
hội, trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ.
C.Mác đã dùng những thuật ngữ khác nhau để nói về giai cấp cơng nhân
như: giai cấp vơ sản-một giai cấp hồn tồn chỉ dựa vào việc bán sức lao động
của mình, lao động làm thuê cho CNTB ở thế kỉ XIX; giai cấp vô sản hiện đại;
giai cấp công nhân hiện đại; giai cấp đại công nghiệp ….như những cụm từ đồng



-3nghĩa để biểu thị một khái niệm: giai cấp công nhân-con đẻ của nền đại công
nghiệp TBCN; giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương
thức sản xuất hiện đại.
Dù khái niệm giai cấp vô sản với nhiều tên gọi khác nhau thế nào đi nữa,
C.Mác và Ph.Ang-ghen chỉ rõ: “vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vơ sản
thực ra là gì và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vơ sản buộc phải
làm gì về mặt lịch sử”1.
1. Đảng cộng sản là một tổ chức độc lập của giai cấp công nhân:
Theo C.Mác và Ph.Ang-ghen: “Đảng công nhân phải hành động sao cho thật
có tổ chức, thật thống nhất, thật độc lập nhất, nếu như nó khơng muốn … lại bị giai
cấp tư sản lợi dụng và bám đi nó mà lê đi” 2. Độc lập ở đây khơng phải là đơn độc,
cơ độc, khép kín, khơng phải là hội kín mà các giai cấp và nhân dân lao động không
biết. Đảng phải luôn liên hệ chặt chẽ với giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Đảng không đối lập với các tổ chức khác của giai cấp vơ sản. Ngược lại, Đảng phải
tích cực hoạt động, phải truyền bá tư tưởng của CNXH khoa học vào trong các tổ
chức đó, hướng hoạt động của các tổ chức đó vào quĩ đạo cách mạng vơ sản. Quan
điểm của C.Mác và Ph.Ang-ghen về Đảng độc lập, nghĩa là Đảng cộng sản phải độc
lập về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không bị lệ thuộc vào giai cấp tư sản.
1.1. Độc lập về chính trị:
C.Mác và Ph.Ang-ghen cho rằng, độc lập về chính trị có ý nghĩa quyết
định nhất đối với mọi hoạt động của Đảng. Bởi vì: nó bảo đảm cho Đảng có
cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn trong mọi thời kì của cách mạng; đồng
thời có cương lĩnh, đường lối chính trị đúng, Đảng mới xác định được phương
hướng hành động đúng. Ngược lại, nếu khơng có cương lĩnh, đường lối đúng,
phong trào công nhân sẽ bị chao đảo, mất phương hướng và dẫn tới thất bại.
Bên cạnh đó, trong q trình lãnh đạo cách mạng, Đảng phải luôn đối mặt
với sự chống phá của kẻ thù, bọn cơ hội và những đảng viên thoái hoá biến chất.
Ph.Ang-ghen đã cảnh báo: phong trào vô sản nhất định phải trải qua những bước
1 C.Mác và Ph.Ang-ghen, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 56.

2 C.Mác và Ph.Ang-ghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 342-343.


-4phát triển khác nhau, trong mỗi bước đều có những người dừng lại, họ khơng đi
xa hơn được nữa. Vì vậy, nếu Đảng khơng kiên định mục tiêu, lí tưởng cách
mạng thì chắc chắn Đảng sẽ tự “bng vũ khí” đầu hàng trước sự chống phá,
mua chuộc của kẻ thù.
Để Đảng cộng sản ln độc lập về chính trị, trước hết, Đảng phải ln kiên
định mục tiêu, lí tưởng Cộng sản chủ nghĩa (CSCN), là xoá bỏ chế độ tư hữu,
xố bỏ giai cấp tư sản, xây dựng thành cơng chủ nghĩa cộng sản (CNCS) trên
tồn thế giới, đó là mục tiêu cuối cùng của nhân loại.
Đồng thời, Đảng phải xác định được hệ tư tưởng của mình đó là CNXH
khoa học; ln giữ vững bản lĩnh chính trị trong mọi tình huống, nhất là ở những
bước ngoặt của cách mạng; đấu tranh không khoan nhượng với hệ tư tưởng của
giai cấp tư sản và tư tưởng thù địch khác; luôn bổ sung và phát triển hệ tư tưởng
CNXH khoa học, nếu khơng muốn nó cứng đờ và chết.
Cùng với việc kiên định mục tiêu, lí tưởng, hệ tư tưởng, Đảng phải có
đường lối, cương lĩnh, chiến lược, sách lược đúng đắn.
Đường lối, cương lĩnh, chiến lược, sách lược, đó là định hướng chính trị,
mục tiêu chính trị của giai cấp. Có đường lối, cương lĩnh, chiến lược, sách lược
đúng đắn thì Đảng mới chèo lái con thuyền cách mạng đi đúng hướng.
Đường lối, cương lĩnh, chiến lược, sách lược của Đảng phải là sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa lí luận và thực tiễn. Lí luận, là lí luận của CNXH khoa học, đó
là lí luận khoa học và cách mạng. Thực tiễn, là thực tiễn của đất nước, của dân tộc.
Đường lối của Đảng phải phản ánh đúng thực tiễn, đúng qui luật khách
quan, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của giai cấp công nhân, của quãng đại
quần chúng nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đường lối chính trị phải góp
phần làm chuyển biến cách mạng, trực tiếp thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của
Đảng, của giai cấp phát triển. Đường lối đó khơng được cứng nhắc, khn mẫu,
bất biến. Mà nó phải khơng ngừng được bổ sung và phát triển bằng sự đóng góp

cơng sức, trí tuệ của mọi đảng viên, quần chúng. Nghĩa là, đường lối đó ln ln
vận động, phát triển đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đáp ứng lợi ích chính đáng


-5của nhân dân. Bởi vì, theo C.Mác và Ph.Ang-ghen: đường lối và thực tiễn có mối
quan hệ biện chứng với nhau. Thực tiễn ln năng động và phát triển, vì vậy
đường lối phải phát triển theo, nếu khơng nó sẽ lạc hậu trước cuộc sống.
Đường lối, cương lĩnh trước khi thông qua, được mọi đảng viên, quần
chúng thảo luận dân chủ, khi thảo luận xong được biểu quyết thống nhất. Mọi
đảng viên của Đảng phải tuân thủ nghiêm ngặt. Nghĩa là, đường lối, cương lĩnh
của Đảng là tập trung thống nhất.
Có thể nói, cương lĩnh, đường lối đúng đắn sẽ đảm bảo sự đoàn kết thống
nhất trong toàn Đảng, thống nhất ý chí, tư tưởng và hành động, tránh được nguy
cơ phân liệt, chia rẽ trong Đảng. Đường lối chính trị đúng đắn là vũ khí lí luận
sắc bén vũ trang cho đảng viên và quần chúng cách mạng đấu tranh chống các
khuynh hướng tư tưởng cơ hội “tả”, “hữu khuynh” trong Đảng.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, năm 1785 bất chấp lời phê phán của
C.Mác, những nhà lãnh đạo Đảng Ai-dơ-nắc đã thông qua “Cương lĩnh Gôta”
một cương lĩnh chịu ảnh hưởng nhiều quan điểm của Látxan - một kẻ cơ hội, với
đường lối thoả hiệp, cải lương. Chính sự thoả hiệp về cương lĩnh của những nhà
lãnh đạo Đảng Ai-dơ-nắc đã trở thành một trong những nguyên nhân của sự
biến chất của Đảng dân chủ-xã hội Đức và làm nảy sinh chủ nghĩa cơ hội.
1.2. Độc lập về tư tưởng:
Cùng với độc lập về chính trị, Đảng phải độc lập về tư tưởng. Theo C.Mác
và Ph.Ang-ghen Đảng cộng sản phải lấy CNXH khoa học là hệ tư tưởng duy nhất.
Vì đó là hệ tư tưởng cách mạng và khoa học nhất của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động. CNXH khoa học đã chỉ ra: con người khơng những nhận thức được
thế giới mà cịn cải tạo được thế giới. Đặc biệt, CNXH khoa học đã chỉ ra cho giai
cấp công nhân và nhân dân lao động mục tiêu, con đường, hình thức đấu tranh
cách mạng. Hệ tư tưởng đó được xây dựng trên nền tảng cơ sở vật chất của phong

trào công nhân, phù hợp với qui luật khách quan của lịch sử. Đồng thời đáp ứng
được lợi ích, nguyện vọng của giai cấp cơng nhân và nhân dân lao động, đó là xố
bỏ chế độ tư hữu, bóc lột của giai cấp tư sản, xây dựng xã hội mới tốt đẹp, xã hội


-6CSCN. Còn các loại hệ tư tưởng khác như: CNXH khơng tưởng của Xanh-ximơng, Phu-ri-ê, Ơoen; CNXH khơng tưởng Weiterning đã khơng giải thích được
bản chất thối nát của CNTB, con đường làm cách mạng chỉ là giáo dục, nêu
gương chứ khơng phải bằng cuộc cách mạng xã hội; cịn loại hệ tư tưởng của giai
cấp tư sản là hết sức phản động, chỉ nhằm lừa bịp, mê hoặc giai cấp công nhân và
quần chúng nhân dân lao động mà thôi.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” C.Mác và Ph.Ang-ghen đã khẳng
định: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư
tưởng thống trị” 3. Giai cấp công nhân là giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất
tiên tiến của thời đại, vì vậy hệ tư tưởng của giai cấp công nhân cũng là hệ tư
tưởng tiên tiến, cách mạng và khoa học nhất. Bởi vậy, Đảng phải xác định được
hệ tư tưởng CNXH khoa học là hệ tư tưởng thống trị trong xã hội.
Cho nên, Đảng phải khẳng định và kiên trì hệ tư tưởng CNXH khoa học,
coi đó là hệ tư tưởng duy nhất, không thể thay thế. Đảng phải vũ trang cho mình
hệ tư tưởng đó, khơng dung nạp, khơng chấp nhận sự tồn tại của đa hệ tư tưởng
trong Đảng. Nghĩa là khơng chấp nhận đa ngun chính trị. Lí luận của CNXH
khoa học phải ln giữ vai trị nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của
Đảng, trong bất kì tình huống nào cũng khơng được xa rời nó.
Đồng thời Đảng phải ra sức truyền bá, giáo dục giác ngộ giai cấp công
nhân và nhân dân lao động để hệ tư tưởng đó trở thành hệ tư tưởng thống trị trong
đời sống xã hội, luôn là chỗ dựa tinh thần cho quần chúng trong mọi điều kiện,
mọi hồn cảnh.
Để giữ vững tính độc lập của hệ tư tưởng và phát huy sức mạnh vai trị
của nó trong xã hội. Đảng phải không ngừng đấu tranh không khoan nhượng với
hệ tư tưởng phi vô sản, thù địch, các quan điểm sai trái phản động để bảo vệ,
củng cố và phát triển hệ tư tưởng của mình.

1.3. Độc lập về tổ chức:

3 C.Mác và Ph.Ang-ghen, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 66.


-7Cùng với độc lập về chính trị và tư tưởng, theo C.Mác và Ph.Ang-ghen,
Đảng phải độc lập cả về tổ chức.
Tổ chức đảng hình thành do nhu cầu của giai cấp vô sản chống lại giai cấp
tư sản. Đảng được hình thành đúng qui luật khách quan của lịch sử đấu tranh
giai cấp của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Tổ chức là phương thức tập hợp
lực lượng cách mạng của Đảng. Tổ chức là nguồn sức mạnh to lớn của Đảng.
Bằng sự tổ chức, Đảng qui tụ được nhiều lực lượng quần chúng mà lực lượng
này tuy rất hùng hậu nhưng cũng rất tản mạn, tổ chức họ lại và lãnh đạo họ đấu
tranh. Khi đó Đảng mới thực sự có một lực lượng vật chất to lớn mà khơng có
một thứ vũ khí nào sánh được.
Tổ chức của Đảng là một chỉnh thể, chặt chẽ, khoa học, cách mạng nhất.
Đảng không phải là sự hợp nhất của các tổ chức, các phe phái chính trị.
Để cho Đảng ln có một tổ chức vững mạnh, Theo C.Mác và Ph.Angghen: Đảng phải được xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc dân chủ triệt để,
giữ vững kỉ luật tự giác nghiêm minh. C.Mác nhấn mạnh: ngày nay chúng ta
nhất thiết phải duy trì kỉ luật trong Đảng nếu không mọi cái sẽ mất hết. Các văn
kiện của “Đồng minh những người cộng sản” và Quốc tế I cũng như hoạt động
thực tiễn của các tổ chức đó đã nói lên rằng: cơ sở để xây dựng các tổ chức đó
về mặt tổ chức là nguyên tắc tập trung dân chủ. Mặc dù lúc bấy giờ C.Mác và
Ph.Ang-ghen chưa có một định nghĩa nào như vậy. Nhưng các văn kiện của
“Đồng minh” và của Quốc tế I do C.Mác thảo ra đã nêu rõ: mọi thành viên của
“Đồng minh” đều tham gia vào việc bầu cử các cơ quan lãnh đạo, vào việc dự
thảo và thông qua cương lĩnh, điều lệ, các cơ quan cấp dưới phải phục tùng cơ
quan cấp trên, thiểu số phục tùng đa số. Đảng phải được tổ chức thống nhất từ
trung ương đến cơ sở, từ trên xuống dưới, từ toàn Đảng đến các chi bộ đảng.
Đảng phải có điều lệ thống nhất, có kỉ luật thống nhất. Nghĩa là, ln làm cho

Đảng thành một chỉnh thể, thành một cơ thể sống. Do đó, nếu một khâu nào đó,
một q trình nào đó khơng chặt chẽ thì đều có ảnh hưởng đến tính độc lập của
tổ chức. Tập trung đi liền cùng với dân chủ, việc phát huy dân chủ được thực


-8hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với việc tôn trọng kỉ luật của Đảng, một kỉ luật
sắt, tự giác, nghiêm minh đối với tất cả mọi thành viên. Kinh nghiệm của “Đồng
minh những người cộng sản” và đặc biệt là của Quốc tế I đã cho thấy, việc chấp
hành đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ là điều kiện vô cùng quan trọng để
bảo đảm sức chiến đấu của Đảng, để Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình.
Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gơta” C.Mác và Ph.Ang-ghen đã
phê phán mạnh mẽ Đảng xã hội Đức: sát nhập tổ chức một cách tuỳ tiện, vô
nguyên tắc, dẫn tới một sự thoả hiệp, nhân nhượng về cương lĩnh, đường lối của
Đảng, làm cho phong trào công nhân rơi vào khủng hoảng và mất phương
hướng.
Để củng cố sự thống nhất đội ngũ của các tổ chức Cộng sản về tư tưởng
và tổ chức, theo C.Mác và Ph.Ang-ghen, Đảng phải luôn đấu tranh kiên quyết
chống lại bọn cơ hội, xét lại, những quan điểm phản XHCN, bọn Bacurin và
những tên cơ hội khác chui vào Quốc tế I; chống lại tất cả những đảng viên vi
phạm kỉ luật Đảng. C.Mác và Ph.Ang-ghen đã chứng minh rằng: củng cố hàng
ngũ của Đảng, đuổi ra khỏi Đảng những phần tử thù địch và cơ hội là qui luật
phát triển của Đảng. Ph.Ang-ghen còn nhấn mạnh: trong mỗi bước phát triển của
phong trào vơ sản đều có những người dừng lại, họ khơng đi xa hơn được nữa,
vì vậy nhất thiết phải duy trì kỉ luật nghiêm minh trong Đảng nhằm làm cho
Đảng là một tổ chức thống nhất cao và triệt để.
* Mối quan hệ giữa độc lập về chính trị với tư tưởng và tổ chức của
Đảng:
Độc lập về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng tuy là ba phạm trù khác
nhau nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng không tách rời.
Cương lĩnh, đường lối của Đảng là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi

hành động của Đảng. Nó quyết định, chi phối công tác tư tưởng và công tác tổ
chức. Bởi vì , có đường lối chính trị đúng mới có thể xác định được phương
hướng hành động đúng, mới có phương hướng tư tưởng và tổ chức đúng.


-9Xây dựng Đảng về tư tưởng không những dựa vào đường lối, nhiệm vụ
chính trị của Đảng, mà cịn phải gắn liền với việc xây dựng Đảng về tổ chức. Tư
tưởng có thơng suốt thì tổ chức mới chặt chẽ, nội bộ mới đoàn kết, thống nhất,
hành động mới tự giác.
Cơng tác tổ chức được hình thành trên cơ sở cương lĩnh, đường lối chính
trị. Chức năng của tổ chức là thực hiện thắng lợi cương lĩnh, đường lối chính trị
của Đảng. Nếu tổ chức vững mạnh, hoạt động có hiệu quả cao thì cương lĩnh,
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được thực hiện tốt. Ngược lại, tổ
chức yếu kém, năng lực và hiệu quả hoạt động của tổ chức thấp thì đường lối,
chính sách của Đảng khơng được thực hiện tốt. Mặt khác, tổ chức không những
chỉ có chức năng tổ chức thực hiện đường lối mà cịn có chức năng góp phần xây
dựng đường lối, cụ thể hoá đường lối và qua hoạt động tổng kết thực tiễn, đúc kết
kinh nghiệm, bổ sung phát triển đường lối, chính sách của Đảng cho đúng đắn,
phù hợp hơn. Đồng thời, công tác tổ chức là cơ sở vật chất bảo đảm cho tư tưởng
được củng cố, biến thành hành động, thành hiện thực. Và công tác tư tưởng, cơng
tác tổ chức được tiến hành ở trình độ cao là điều kiện quyết định việc thực hiện
thắng lợi cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng.
* Ý nghĩa trong công tác xây dựng Đảng cộng sản:
- Tư tưởng cuả C.Mác và Ph.Ang-ghen về nguyên lí: Đảng là một tổ chức
độc lập của giai cấp cơng nhân, có ý nghĩa phương pháp luận khoa học đối với
công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Vì vậy, địi hỏi các
Đảng cộng sản phải có đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu; phải có đủ trình
độ, bản lĩnh lãnh đạo cách mạng, đặc biệt trong những lúc khó khăn thử thách;
khơng ngừng tu dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng; đấu tranh
kiên quyết với những quan điểm sai trái và những người cộng sản phải khơng

ngừng bổ sung phát triển lí luận về xây dựng Đảng .
- Hiện nay, Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị, nhưng lại là hạt
nhân lãnh đạo hệ thống chính trị. Tính độc lập và với vai trò lãnh đạo của Đảng,


- 10 đòi hỏi Đảng phải tiên phong trước mọi tổ chức, trên mọi tổ chức cả về lí luận
và thực tiễn; cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; cả về phẩm chất và năng lực.
- Đảng phải mở rộng mối quan hệ với quần chúng, với các tổ chức xã hội
khác để làm tốt công tác vận động cách mạng, để họcùng tham gia xây dựng
Đảng nhằm qui tụ sức mạnh đồn kết xung quanh Đảng. Có như vậy Đảng mới
củng cố được tính độc lập, có như vậy Đảng mới thực sự vững mạnh.
2. Ý nghĩa trong xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam:
Vận dụng đúng đắn, sáng tạo những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ang-ghen,
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm xây dựng Đảng
cộng sản Việt Nam luôn vững mạnh khơng ngừng trên cả ba mặt: chính trị, tư
tưởng và tổ chức.
2.1. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị:
Từ ngày thành lập đến nay Đảng ta đã luôn xác định cương lĩnh, đường
lối, chính sách, xác định chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng đúng đắn
trong từng thời kì cách mạng.
Ngay Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng ngày 3/2/1930, Đảng ta đã đề ra
được “Chính cương sách lược vắn tắt”. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã bao
quát được những vấn đề có định hướng quan trọng của cách mạng Việt Nam:
con đường cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn, trước hết làm cách
mạng tư sản dân quyền thắng lợi rồi tiến thẳng lên làm cách mạng XHCN. Đó
là đường lối cách mạng hết sức đúng đắn và khoa học. Cương lĩnh đó là kết quả
của một q trình tìm tịi, tiếp thu lí luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu kinh
nghiệm cách mạng thế giới, khảo sát và phân tích sâu sắc thực tiễn cách mạng
nước ta. Có thể nói, ngay từ khi mới ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã sớm có
ngay một cương lĩnh, đường lối đúng đắn. Với đường lối, phương pháp cách

mạng chính xác, Đảng đã sớm đưa cách mạng Việt Nam đi đúng quĩ đạo cách
mạng của thời đại, gắn độc lập dân tộc với CNXH, chấm dứt sự khủng hoảng về
đường lối cách mạng ở nước ta kéo dài hơn bảy thập kỉ. Với cương lĩnh đúng
đắn đó, giai cấp cơng nhân Việt Nam thơng qua đội tiền phong của mình là Đảng


- 11 cộng sản Việt Nam, đã qui tụ được lực lượng quần chúng đơng đảo của tồn dân
tộc làm nên lịch sử một cách tự giác, có tổ chức, giành thắng lợi ngày càng to
lớn.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã cho chúng ta thấy, những năm cuối của
thập kỉ 90, thế kỉ XX, trước sự sụp đổ của hệ thống CNXH các nước Đông Âu
và Liên Xô, không ít người hoài nghi về con đường đi lên CNXH của nước ta.
Trước bước ngoặt lịch sử đó Đảng ta đã nhạy bén, sáng suốt, kịp thời đề ra
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội” hết
sức đúng đắn, kịp thời định hướng tư tưởng cho toàn Đảng, toàn dân ta vững
bước tiến lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN.
Thực tế cách mạng thế giới đã chứng minh, các nước XHCN ở Đông Âu
và Liên Xô trước đây bị sụp đổ nhanh chóng do có nhiều nguyên nhân, trong đó
có nguyên nhân quan trọng là do không kiên định mục tiêu, lí tưởng CSCN; từ
bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin.
Ngày nay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực đang điên cuồng chống phá
Đảng ta, chúng bày đặt xuyên tạc cương lĩnh, đường lối của Đảng. Chúng cho
rằng: nền kinh tế thị trường thì làm gì có định hướng XHCN, nền kinh tế thị
trường là của CNTB. Hoặc chúng còn cho rằng, CNXH làm gì có nhiều thành
phần kinh tế, nếu có thì phải có đa Đảng lãnh đạo … Đó là những quan điểm hết
sức phản động nhằm chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng ta. Vì vậy chúng ta
phải xây dựng Đảng ln vững mạnh về chính trị.
Để xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, phát triển đường lối cách
mạng đi đúng hướng, Đảng cần làm tốt một số vấn đề cơ bản sau đây:
Một là: Đảng phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và trong bất kì tình huống nào cũng khơng được xa rời nó. Chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi
hành động của Đảng. Đảng phải “vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa


- 12 Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những tinh hoa, trí tuệ của thời đại, nhạy bén
nắm bắt cái mới, xử lí những vấn đề thực tiễn đặt ra” 4.
Hai là: Đảng phải ln có cương lĩnh, đường lối đúng đắn. Đảng phải tích
cực khảo sát thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm, trân trọng sáng kiến của các địa
phương và cơ sở, khơng ngừng phát triển lí luận chỉ đạo thực tiễn ngày càng tốt
hơn. Đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui
luật khách quan, chống giáo điều bảo thủ và chống nơn nóng, chủ quan duy ý
chí. Thực tế khách quan, qui luật khách quan là căn cứ khoa học để Đảng định ra
chiến lược, sách lược cách mạng, đồng thời là cơ sở để phát triển và cụ thể hoá
đường lối cách mạng của Đảng.
Thắng lợi của cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân, trước hết là thắng lợi
của đường lối chính trị đúng đắn. Tiến hành cách mạng XHCN trên phạm vi cả
nước, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Đảng ta đã mắc những sai lầm về
chủ trương, chính sách lớn về chỉ đạo chiến lược, về tổ chức thực hiện trong
thực tiễn. Nguyên nhân, là do có lúc Đảng đã xa rời thực tế bất chấp qui luật,
giáo điều, bảo thủ, chủ quan, duy ý chí.
Thực tế từ sau Đại hội lần thứ VI (1986), nhiệm vụ xây dựng Đảng về
chính trị đã được Đảng ta tập trung coi trọng, nhất là việc hoàn chỉnh đường lối
đổi mới, hoạch định những chủ trương, chính sách lớn nhằm cụ thể hoá đường
lối đổi mới trên từng lĩnh vực kinh tế-xã hội của đất nước. Nhiều Nghị quyết của
Đảng có giá trị làm chuyển biến căn bản tình hình kinh tế-xã hội, bảo đảm cho
cuộc sống mới đi đúng định hướng XHCN.
Ngày nay, với đường lối đổi mới, cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước,
Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tếxã hội, quốc phòng-an ninh. “Đạt được những thành tựu nói trên là do Đảng ta
có bản lĩnh chính trị vững vàng và đường lối lãnh đạo đúng đắn” 5.


4 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội ĐBTQ giữa nhiệm kì khố VII, tháng 01/1994, tr.
59.
5 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội ĐBTQ lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 1996, tr. 17.


- 13 Ba là: Trên nền tảng kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, Đảng phải tích cực học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới, nhất
là các nước có nhiều thành tựu về kinh tế-xã hội một cách có chọn lọc phù hợp
với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta.
Trong xu thế hội nhập mở cửa với thế giới hiện nay, đòi hỏi Đảng phải hết
sức tỉnh táo, linh hoạt trong việc vận dụng cương lĩnh, đường lối. Nghị quyết
Hội nghị lần thứ Tám BCHTW Đảng chỉ rõ: Chúng ta thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các
quan hệ quốc tế trên nguyên tắc tơn trọng độc lập chủ quyền, tồn vẹn lãnh thổ
của nhau.
Có thể nói, xây dựng Đảng về chính trị là yếu tố quan trọng hàng đầu
trong xây dựng Đảng. Tuy nhiên cương lĩnh, đường lối của Đảng có được thực
hiện trên thực tế hay khơng là cịn phụ thuộc rất lớn vào công tác tư tưởng và
công tác tổ chức của Đảng.
2.2. Xây dựng Đảng về tư tưởng:
Sức mạnh của Đảng bắt nguồn trước hết từ đường lối chính trị đúng đắn
và sự đoàn kết thống nhất tư tưởng trong tồn Đảng. Trước những diễn biến
phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, cơng tác tư tưởng càng có vị trí
đặc biệt quan trọng.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, và đã kiên định với chủ nghĩa Mác-Lênin.
Đến Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ VII Đảng ta chính thức xác định: cùng
với chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động, coi đó là hệ tư tưởng duy nhất của Đảng,
của giai cấp cơng nhân Việt Nam, nó chi phối toàn bộ đời sống của xã hội. Đồng

thời Đảng đã ra sức truyền bá hệ tư tưởng đó vào giai cấp công nhân và nhân
dân lao động. Khi Đảng chưa ra đời, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn những cán bộ
cốt cán nhất của cách mạng Việt Nam để bồi dưỡng, đào tạo họ thành những cán
bộ đi vào phong trào công nhân và nhân dân lao động để truyền bá chủ nghĩa


- 14 Mác-Lênin, làm cho họ giác ngộ cách mạng, thấy được mình là ai và phải làm
gì. Trước những năm 30 của thế kỉ XX, các phong trào yêu nước, phong trào đấu
tranh công nhân của nhân dân ta mặc dù diễn ra với qui mô lớn, được quần
chúng ủng hộ rộng rãi, như: cuộc bãi công của 600 thợ nhuộm ở Chợ lớn năm
1922 mà Nguyễn Ái Quốc coi đó chỉ là “do bản năng tự vệ” của những người
công nhân “không được giáo dục và tổ chức”. Năm 1928-1929 có nhiều cuộc bãi
cơng khác như: cơng nhân xi măng Hải Phòng, sợi Nam Định, xe lửa Trường
Thi (Vinh)… Nhưng tất cả các phong trào đều bị đàn áp và thất bại. Bởi vì
những phong trào này chưa có Đảng lãnh đạo và điều quan trọng nhất là chưa có
một hệ tư tưởng đúng đắn dẫn đường. Các phong trào đều tự phát vì mục tiêu về
kinh tế, đòi dân sinh, dân quyền. Chỉ từ khi hệ tư tưởng của chủ nghĩa MácLênin được truyền bá vào Việt Nam, Đảng có cương lĩnh, đường lối, chiến lược,
sách lược đúng đắn nên đã đưa dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Thực tế cho thấy, có nhiều ngun nhân làm nên thành cơng của cơng
cuộc đổi mới trong gần 20 năm qua. Song, có thể khẳng định rằng, quá trình đổi
mới Đảng đã đi đúng hướng, phát triển có hiệu quả là do có tư tưởng chỉ đạo
đúng đắn và làm tốt công tác tư tưởng lí luận.
Vì vậy, Đảng phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
coi đó là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, trên cơ
sở đó vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta.
Đảng tăng cường cơng tác nghiên cứu lí luận, tổng kết kinh nghiệm, làm
rõ con đường đi lên CNXH của Việt Nam, nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất
cao trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.
Đồng thời Đảng bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ
trí tuệ và năng lực lãnh đạo cho mọi cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện thực

hiện cơ chế thị trường, định hướng XHCN, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế.
Đặc biệt hết sức chú ý nâng cao bản lĩnh chính trị cho Đảng và mọi cán bộ, đảng
viên của Đảng. Bởi lẽ: bản lĩnh chính trị là một trong những yếu tố tạo nên sức
mạnh của Đảng. Hội nghị lần thứ Ba BCHTW Đảng khoá VII đã nêu rõ: Một


- 15 trong những mục tiêu đổi mới và chỉnh đốn Đảng là phải nâng cao bản lĩnh
chính trị, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng. Đại hội VIII của Đảng một lần
nữa lại nhấn mạnh: Đảng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng
lực cho mọi cán bộ, đảng viên của Đảng.
Bản lĩnh chính trị của Đảng, đó là sự vững vàng, kiên định con đường
cách mạng đã lựa chọn trên cơ sở nắm vững và biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các qui luật khách quan của thực tiễn. Bản
lĩnh chính trị cũng là sự độc lập, tự chủ trong việc quyết định hướng đi đúng đắn
của đất nước, của dân tộc, nhất là hiện nay tình hình quốc tế hiện nay đang diễn
ra phức tạp. Ở những bước ngoặt khó khăn nhất của cách mạng, bản lĩnh chính
trị của Đảng là chủ động, bình tĩnh, khơng bao giờ tỏ ra dao động, do dự, chán
nản hay sa vào tuyệt vọng. Bản lĩnh chính trị là ý chí, là niềm tin khơng gì lay
chuyển được và cũng là quyết tâm biến ý chí và niềm tin vào những mục tiêu
cách mạng thành hiện thực. Chính nhờ có bản lĩnh chính trị mà trong 75 năm
qua, trải qua chặng đường đầy khó khăn, thử thách, Đảng ta đã dẫn dắt dân tộc ta
giành thắng lợi cả trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cả trong cách
mạng XHCN và trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Bản lĩnh chính trị của Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên phụ thuộc vào
một điều kiện vô cùng quan trọng và có ý nghĩa quyết định đó là phải giữ vững
và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, mà Đại hội ĐBTQ lần thứ
VIII của Đảng đã chỉ rõ.
Cùng với việc nâng cao bản lĩnh chính trị, chúng ta phải Phải tăng cường
giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá
nhân. Đây là một trong 4 nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Nghị quyết

Đại hội IX của Đảng đã chỉ ra.
Từ ngày thành lập và trong suốt quá trình của cách mạng, Đảng và Bác
Hồ khơng lúc nào xem nhẹ việc giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, nâng cao
đạo đức cách mạng, Chính vì vậy, trong quá trình đấu tranh hi sinh gian khổ, hay
trong đời sống khó khăn, thiếu thốn, tuyệt đại bộ phận cán bộ đảng viên vẫn giữ


- 16 vững khí phách cách mạng, nêu cao đạo đức người cộng sản, chiến đấu và chiến
thắng kẻ thù, nêu cao tấm gương sáng để nhân dân noi theo. Tuy nhiên, trong đội
ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng vẫn có khơng ít người thiếu tu dưỡng, thiếu rèn
luyện, bng thả dẫn đến suy thối về chính trị, đạo đức, lối sống làm ảnh hưởng
đến uy tín của Đảng.
Ngay từ Đại hội lần thứ V, Đảng ta đã nhận định tình trạng sa sút phẩm
chất, giảm sút ý chí chiến đấu ở một bộ phận cán bộ, đảng viên: “Nhiều người
sai lầm trong sinh hoạt, quan liêu trong tác phong, đã đi đến chỗ biến chất trong
lối sống, thoái hố về chính trị” 6. Đại hội VIII của Đảng nhận định: “Một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lí tưởng,
mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỉ luật, sa đọa về đạo đức lối
sống. Một số thối hố về chính trị, tuy rất ít nhưng hoạt động của họ gây ra hậu
quả hết sức nghiêm trọng” 7. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: “Tình trạng tham
nhũng và sự suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lịng tin trong nhân dân” 8.
Sự suy thối, biến chất về tư tưởng và lập trường chính trị của đảng viên
hiện nay, trước hết là dẫn đến chỗ phủ nhận những giá trị tư tưởng và những
nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhất là trong
bối cảnh chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Sự phủ nhận về mặt lí
luận tất yếu sẽ có những quan điểm chính trị sai lầm và phản động. Đó là sự phủ
nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là địi xố bỏ Điều 4 trong
Hiến pháp của nước Cộng hồ XHCN Việt Nam; phủ nhận q trình phát triển

theo định hướng XHCN ở Việt Nam; ở mức thấp hơn là công khai ca ngợi xã hội
tư bản, coi sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là nền tảng quyết định sự phát triển
của nền kinh tế thị trường của nước ta, từ đó xem nhẹ vai trò sở hữu của nhà nước
về tư liệu sản xuất. Sự dao động, giảm sút ý chí và sự suy thoái, biến chất về tư
6 ĐCSVN, Văn kiện đại hội ĐBTQ lần thứ V, Nxb ST, H. 1982, tr.25.
7 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội ĐBTQ lần thứ VIII, Nxb CTQG, H. 1996, tr. 137.
8 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội ĐBTQ lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 1996, tr. 15.


- 17 tưởng, chính trị ở các dạng trên xuất hiện với những mức độ khác nhau và được
thể hiện dưới nhiều hình thức như: phát biểu chính thức và khơng chính thức
trước các hội nghị sinh hoạt, thể hiện trong khi giao tiếp với các đối tượng bên
ngoài hoặc với quần chúng xung quanh, qua các phương tiện thông tin đại chúng
… Những biểu hiện đó dù ở mức độ khác nhau song rất nguy hiểm, khơng những
làm xói mịn nền tảng tư tưởng, lập trường cũng như tơn chỉ, mục đích cao cả của
Đảng mà cịn ảnh hưởng rất nặng nề đến tư tưởng của quần chúng, gây hoang
mang về tư tưởng trong quần chúng, làm mất dần lịng tin của quần chúng đối với
Đảng.
Sự suy thối về đạo đức, về lối sống cũng là một dạng biểu hiện của sự
thoái hoá, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong công cuộc đổi
mới đất nước hiện nay, sự sa đọa, thoái hoá về đạo đức, lối sống của cán bộ,
đảng viên thường biểu hiện dưới các dạng khác nhau như: Xa rời lối sống cần,
kiệm, liêm , chính để chạy theo lối sống thực dụng, tất cả vì đồng tiền, sống xa
hoa lãng phí; sống trụy lạc, trác táng trong các hộp đêm, nhà hàng; sống ích kỉ,
hẹp hịi, chỉ muốn “mọi người vì mình” mà khơng thực hiện lối sống “mình vì
mọi người” để gần gũi, gắn bó với quần chúng …
Tất cả những điều đó đã gây ảnh hưởng tiêu cực đối với quần chúng, cản
trở q trình xây dựng nền văn hố tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nguy hại
hơn là nó làm giảm uy tín của Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm xói mịn
thuần phong mĩ tục tốt đẹp của dân tộc ta.

Để nâng cao tư tưởng và lập truờng chính trị, rèn luyện đạo đức cách
mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cần phải “thường xuyên bồi dưỡng cho cán bộ,
đảng viên quan điểm, đường lối của Đảng, nâng cao trình độ nhận thức, kiên
định con đường đi lên CNXH, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” 9. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của
từng cán bộ, đảng viên.

9 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội ĐBTQ lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 1996, tr. 15.


- 18 Chấn chỉnh và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, tăng cường cơng tác
giáo dục, quản lí đảng viên. Thực hiện có nề nếp chế độ tự phê bình và phê bình
trong các cấp uỷ đảng, trước hết là từ cán bộ, đảng viên, sự giám sát của công
luận. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan kiểm tra đảng,
thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân.
Các cấp uỷ đảng và người đứng đầu các cấp, các ngành từ trung ương đến
cơ sở phải chịu trách nhiệm chống tham nhũng ở nơi mình phụ trách, khi phát
hiện có tham nhũng, lãng phí tiêu cực thì tuỳ theo mức độ và tính chất vi phạm
mà xem xét hình thức kỉ luật nghiêm minh.
Khơng ngừng hồn thiện các chính sách, pháp luật, trước hết là về quản lí
ngân sách, quản lí tài sản cơng, quản lí đất đai nhằm phát huy mặt tích cực, hạn
chế mặt tiêu cực. Cần phải thực hiện tốt các biện pháp chống suy thoái phẩm
chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà Đại hội VIII đã nêu ra. Mà
biện pháp hàng đầu là mỗi cá nhân phải tự tu dưỡng, tự rèn luyện.
Đẩy mạnh việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lí luận, thảo luận dân chủ,
sớm kết luận những vấn đề mới và bức xúc từ thực tiễn đặt ra; nâng cao sự thống
nhất với quan điểm, đường lối của Đảng; kiên quyết chống đa nguyên chính trị,
đa Đảng đối lập; chủ nghĩa giáo điều, kinh nghiệm; cũng như chủ nghĩa xét lại,
chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc; nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng,
chống “diễn biến hồ bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
thù địch; tăng cường sự nhất trí cao trong Đảng, sự nhất trí về chính trị và tinh

thần trong nhân dân.
Đó là những nội dung hết sức quan trọng trong việc xây dựng Đảng vững
mạnh về tư tưởng. Nhưng công tác tư tưởng có thực hiện hiệu quả hay khơng,
một phần rất lớn là nhờ công tác tổ chức của Đảng.
2.3. Xây dựng Đảng về tổ chức:
Sức mạnh của Đảng về chính trị, tư tưởng được bảo đảm bằng sức mạnh
về tổ chức. Tổ chức chặt chẽ, kỉ luật nghiêm minh sẽ tạo ra sức mạnh cho Đảng.
Bởi vì, tổ chức là cơ sở vật chất cho sự tồn tại của Đảng. Xây dựng Đảng về tổ


- 19 chức là xây dựng một hệ thống tổ chức từ trên xuống dưới, xây dựng đội ngũ
cán bộ đảng viên, xây dựng phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng những
tiêu chuẩn sinh hoạt Đảng, xây dựng mối quan hệ giữa Đảng với nhà nước và
các tổ chức quần chúng trong hệ thống chính trị.
Hiện nay, quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng Đảng, đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn,
nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Đại hội IX của
Đảng chủ trương: “Trong những năm tới, tồn Đảng phải tiếp tục thực hiện có
hiệu quả các nghị quyết về xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết TW6 (lần 2) khoá
VIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng” 10, làm cho Đảng thực sự vững mạnh về
chính trị, tư tưởng và tổ chức, đặc biệt cần tập trung làm tốt một số công tác
quan trọng sau đây:
Một là: Phải tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện đạo đức
cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân: (đã phân tích ở phần trên)
Hai là: Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ:
Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận
mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây
dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công
việc”11. Trên cơ sở chiến lược cán bộ thời kì đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại
hố đất nước, Hội nghị BCHTW 3 (khoá VIII) của Đảng đã xác định và từ thực

tiễn công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ hiện nay. Đại hội IX của Đảng khẳng định:
phải tiếp tục đổi mới công tác cán bộ và cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau
đây:
Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lí ở các
cấp vững mạnh về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có
trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo, gắn bó với nhân dân.

10 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội ĐBTQ lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 52-53.
11 Hồ Chí Minh, Tồn tập, tập 5, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 269.


- 20 Có cơ chế chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
trọng dụng những người có đức, có tài.
Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo cơng tác cán bộ và
quản lí đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người
đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về cơng tác cán bộ.
Làm tốt công tác qui hoạch và tạo nguồn cán bộ; đánh giá, bồi dưỡng, lựa
chọn, sử dụng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và tín
nhiệm của nhân dân là thước đo chủ yếu.
Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lí, kết hợp các độ tuổi,
bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển …
Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên dù ở cấp nào đi
ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng và thoái hoá biến chất. Đảng lãnh đạo
xây dựng và thực hiện qui hoạch cán bộ, bố trí cán bộ các cơ quan Đảng, lãnh
đạo chặt chẽ công tác cán bộ của nhà nước và giới thiệu cán bộ lãnh đạo chủ
chốt của nhà nước, các đoàn thể quần chúng. Kiên quyết chống tham nhũng và
các hiện tượng tiêu cực khác trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Làm tốt cơng tác
cán bộ là góp phần rất quan trọng trong việc giữ vững được sự lãnh đạo của
Đảng đối với hệ thống chính trị và đối với xã hội.
Ba là: Xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở Đảng:

Tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở.
Vì vậy, Đảng ta thường xuyên quan tâm đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Đảng
mạnh là do các chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng phải tập trung củng cố tổ chức đảng làm
cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu lãnh
đạo trong công cuộc đổi mới, địi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới, kiện tồn tổ
chức bộ máy của Đảng ở tất cả các cấp từ trung ương đến cơ sở, nâng cao sức
chiến đấu, tăng cường sức mạnh về tổ chức, tăng cường kỉ luật của Đảng.


- 21 Trong tình hình hiện nay, Hội nghị BCHTW 3 (khố VII) chỉ rõ, cơng tác
tổ chức phải giải quyết được một số vấn đề sau: Thực hiện đúng nguyên tắc tổ
chức và sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ và ngăn chặn
tệ vô tổ chức vô kỉ luật trong Đảng; chấn chỉnh hệ thống tổ chức bộ máy của
Đảng ở các cấp; chỉnh đốn các tổ chức cơ sở đảng; xác định rõ tiêu chuẩn đảng
viên trong tình hình mới, sàng lọc đội ngũ đảng viên, phát triển đảng viên mới.
Bốn là: Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng:
Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong cơng tác xây dựng Đảng
hiện nay. Thực tiễn tình hình đất nước, tình hình xây dựng Đảng địi hỏi Đảng
phải kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo.
Trong kiện toàn tổ chức, và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng,
nhiệm vụ cơ bản hàng đầu là phải củng cố vững chắc nguyên tắc tập trung dân
chủ trong mọi hoạt động và sinh hoạt của Đảng ở tất cả các cấp.
Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước
quản lí cũng là một vấn đề cần coi trọng.
Đảng phải qui tụ và phát huy cao ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của nhân
dân tham gia hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; xây dựng
hiến pháp, pháp luật và các văn bản pháp qui của nhà nước.
Bảo đảm để nhân dân tích cực tham gia có hiệu quả vào việc tổ chức và

giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng.
Xây dựng nhà nước thực sự dân chủ, là công cụ chủ yếu để thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân. Đảng không quản lí điều hành thay nhà nước.
Tăng cường năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở
đảng, phát huy tốt vị trí, vai trị của mọi cán bộ, đảng viên.
Tăng cường công tác kiểm tra của Đảng, chú trọng kiểm tra việc thực hiện
các Nghị quyết, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ và qui chế làm việc,
nâng cao phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.
Tóm lại: Để Đảng cộng sản là một tổ chức độc lập của giai cấp công nhân,
chúng ta phải “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ


- 22 chức ngang tầm với nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo
sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta” 12. Đảng cần tự đổi mới theo hướng trở
thành tấm gương về dân chủ trong hệ thống chính trị nói chung, trong xã hội nói
riêng. Đảng phải trở thành biểu tượng về danh dự, lương tâm và trí tuệ của thời
đại, như Lê-nin đã dạy. Đảng phải vững vàng về chính trị, kiên định và sáng suốt
về tư tưởng, chặt chẽ và hợp lí về tổ chức; vận dụng đúng đắn sáng tạo ngun lí
đó của C.Mác và Ph.Ang-ghen vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, nhằm đạt mục
tiêu: “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh” 13 vẫn luôn là nhiệm vụ cơ bản của Đảng và dân tộc ta.
Việc xây dựng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong Quân đội nhân dân
Việt Nam là nhiệm vụ hết sức quan trọng của hoạt động CTĐ, CTCT. Nhằm làm
cho Quân đội luôn là công cụ bạo lực sắc bén, là lực lượng chính trị, lực lượng
chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng và Nhà nước XHCN và của nhân dân.
Chúng ta phải tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng
với Quân đội, bảo đảm cho Quân đội luôn mang bản chất giai cấp cơng nhân,
hồn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó.
Đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với các tư tưởng thù địch,
phản động, sai trái; bọn cơ hội, xét lại để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách và luật pháp của nhà nước, để không ngừng xây dựng Đảng, Qn
đội ln vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

12 ĐCSVN, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH, Nxb ST, H. 1991, tr. 11.
13 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội ĐBTQ lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 85-86.



×