Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (108.29 KB, 10 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Một số biện pháp</b>
<b> nhằm nâng cao chất lợng viết đoạn văn cho học sinh</b>
<b>lớp 3</b>
<b>Phn i : lý do chọn đề tài </b>
<b>1/ Cơ sở lý luận</b>
Nh chúng ta đã biết, mục tiêu của môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học là nhằm
hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói,
đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác t duy cho
học sinh. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con ngời, về văn hóa, văn học của Việt
Nam và nớc ngồi. Bồi dỡng tình u tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn
sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngời
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Việc rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh đợc thể hiện thông
qua các phân mơn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết, Kể chuyện và
Tập làm văn. Trong đó Tập làm văn là phân mơn có tính tích hợp cao về kiến
thức cũng nh kỹ năng mà học sinh đã lĩnh hội từ các phân môn khác. Đặc biệt
đối với học sinh lớp 3, bài Tập làm văn của các em là sản phẩm của sự vận dụng
tổng hợp các kiến thức và kỹ năng tiếp thu đợc trong q trình học tập. Tập làm
văn góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, luyện t duy logic, bồi
dỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm mĩ, hình thành nhân cách của học sinh.
C¸c tác phẩm văn học là kết quả sự bộc lộ đầy tài năng, tâm t tình cảm, t
t-ởng của ngời viết. Ngời viết cảm nhận quan sát cuộc sống, tích luỹ ngày càng
làm giàu mình bằng những biểu tợng, những hiểu biết phong phú, sâu sắc về hiện
thực muôn màu muôn vẻ của cuộc sống.
Trong mi tỏc phm vn học bao giờ cũng có điều bí ẩn, kỳ diệu, bao giờ
cũng thấm đợm một tinh thần nhân văn, một lý tởng thẩm mỹ có khả năng lơi
cuốn và lay động lòng ngời.
Trẻ em đợc tiếp xúc với văn học từ những ngày trớc khi các em bớc vào
tr-ờng tiểu học qua lời ru của mẹ, những câu chuyện kể ly kì hấp dẫn của bà… đã
kích thích trí tởng tợng của trẻ thơ. Hành trang ấy cùng theo các em tới nhà trờng
tiểu học. Đến trờng các em đã đợc học kiến thức văn hoá, đợc học văn học. Xong
việc học văn ở mức “cơ sở ban đầu” cũng chỉ thực sự bắt đầu khi các em bớc vào
lớp 3. Cảm xúc của các em dâng cao, các em đã có khả năng sáng tạo văn. Nếu
đợc học văn theo một chơng trình đúng, phù hợp, một phơng pháp tốt sẽ phát
huy đợc khả năng học tập môn Tiếng Việt của học sinh.
Việc dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 3 rất quan trọng song việc dạy cho
học sinh viết một đoạn văn trong phân môn này là rất khó. Bởi một bài văn hồn
chỉnh bao giờ cũng bắt đầu từ những câu văn, đoạn văn cụ thể. Mặc dù yêu cầu
khi viết văn đối với học sinh lớp 3 mới ở mức độ đơn giản, cha địi hỏi học sinh
phải có bố cục 3 phần rõ ràng, các câu văn phải sinh động, giàu “ý tởng” (chủ
yếu dừng lại ở việc viết đúng, trình bày rõ ràng, nối câu hợp lý…). Trong đó có
nhiệm vụ quan trọng đó là: bồi dỡng óc thẩm mĩ, sự say mê văn học cho các em
là cơ sở ban đầu và nền móng cho việc học văn của các em ở những lớp học, bậc
học tiếp theo.
Làm thế nào để dạy học sinh lớp 3 viết đoạn văn đợc tốt, đó là mục đích
của sáng kiến này đặt ra.
<b>2 / Cơ sở thực tiễn</b>
<i>a) Thực trạng việc dạy học phân môn Tập làm văn của giáo viên:</i>
- Giáo viên còn thiếu chú ý đến việc dạy Tiếng Việt trên quan điểm giao
tiếp - tích hợp nên kết quả đoạn văn của học sinh cha cao.
Ví dụ : Khi viết đoạn văn thì việc sử dụng từ để viết câu rất quan trọng
nh-ng khi dạy tập đọc giáo viên “quên đi” việc cho học sinh cảm nhận hoặc chỉ ra
những từ hay, cách viết câu “đặc biệt” hoặc “giàu hình ảnh” của tác giả bài viết.
<i>b) Thực trạng việc học tập phân môn Tập làm văn của học sinh.</i>
- Học sinh ngại viết những bài tập có yêu cầu viết đoạn văn.
Mc dự hc sinh ó đợc thực hành luyện viết câu, đoạn văn ngắn khá
nhiều trong chơng trình Tiếng Việt 2 xong việc viết câu, đoạn văn của học sinh
còn rất hạn chế.
<i>Cụ thể</i> : Vốn từ học sinh còn nghèo nàn dẫn đến việc sử dụng từ cịn lặp,
vụng, cha đúng.
VÝ dơ : Cô giáo <i>bảo </i>em phải học chăm (sử dụng từ vông).
<i>- </i>Viết câu cha đúng. Nguyên nhân là do cha nắm chắc cấu tạo câu. Mặt
khác học sinh cha chú ý đến việc sử dụng đúng dấu câu, dẫn đến việc dùng dấu
câu một cách bừa bãi, sai quy định, đánh dấu câu tuỳ tiện.
- Một số học sinh khá, giỏi cũng cha chú ý một cách “đúng mức” đến vic
tp vit cõu giu giỏ tr ngh thut.
- Khả năng nối câu, tạo đoạn còn hạn chế.
- Học sinh còn bỡ ngỡ trớc khái niệm đoạn văn.
Qua iu tra v sự hứng thú viết đoạn văn của học sinh trong lớp đầu năm
học 2010-2011 (lớp 3A) và đầu năm học 2011- 2012 (lớp 3B) tôi dạy và đã thu
đ-ợc kết quả sau :
Do cấu trúc chơng trình sách giáo khoa, phần viết đoạn văn trong chơng
trình lớp 3 đợc yêu cầu chủ yếu trong các tiết dạy Tập làm văn với thể loại tả và
kể cụ thể: kể hoặc tả ngắn về ngời thân, gia đình, trờng lớp, quê hơng, lễ hội,
hoạt động thể thao, văn nghệ, hoạt động tập thể,...
Nội dung chơng trình sách giáo khoa hiện hành đòi hỏi mỗi giáo viên cần
phải đổi mới phơng pháp dạy học cho phù hợp với chơng trình ở tất cả các mơn
học nói chung, mơn Tiếng Việt nói riêng đặc biệt là phân mơn Tập làm văn trong
đó cần chú trọng đến việc dạy học sinh viết tốt một đoạn văn.
Do tình hình thực tiễn về việc dạy và học của giáo viên và học sinh hiện
nay (đã nêu ở phần cơ sở thực tiễn). Để đạt đợc mục tiêu dạy và học của phân
môn Tập làm văn nên tôi chọn nội dung đề tài “Một số biện pháp <b>nâng cao</b>
<b>chất lợng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3”. </b>
<b>Phần II: Nội dung sáng kiến</b>
<b>I - Những nội dung đợc đề cập trong sáng kiến </b>
- Lý do chọn đề tài.
- Các biện pháp thực hiện.
- Kết quả kiểm chứng.
- Kết luận.
- Những kiến nghị và đề xuất.
Từ những kết quả điều tra khảo sát thực tiễn của việc dạy và học nêu trên
để khắc phục những hạn chế đó tơi đã tiến hành tìm hiểu và đa ra những biện
pháp thực hiện một số vấn đề, nội dung nhằm nâng cao chất lợng viết đoạn văn
cho học sinh lớp 3.
3/ áp dụng quan điểm tích hợp môn Tiếng việt vào dạy phân môn Tập làm
văn.
4/ Dạy văn nói (rèn kỹ năng nói cho học sinh).
5/ Dạy cách viết đoạn văn (giúp học sinh nối câu tạo đoạn tốt hơn).
6/ Hớng dẫn học sinh thực hành viết đoạn văn.
Sau đây tôi xin trình bày cụ thể từng biện pháp nhằm nâng cao chất lợng
viết đoạn văn cho học sinh lớp 3.
<i><b>1- Biện pháp thứ nhất</b>:</i> Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ
Để học sinh có định hớng đúng đắn, có lịng u thích văn học và có hứng
thú khi viết đoạn văn thì giáo viên cần giúp học sinh hiểu đợc chỉ có sự u thích
văn học mới có sự ni dỡng say mê. Cần thờng xuyên đọc thơ, văn để bồi dỡng
lòng yêu văn học, thấy đợc sự trong sáng, phong phú và đặc sắc của ngôn ngữ
dân tộc, nâng cao năng lực xúc cảm, trau dồi lòng hớng thiện...và muốn “làm
thân” với văn thơ thì chúng ta phải có tấm lịng chân thật, tình cảm thiết tha yêu
mến văn thơ.
Khi dạy tập đọc tôi yêu cầu các em nắm chắc từng nội dung đoạn văn và ý
nghĩa nội dung cả bài văn, tôi cho các em học thuộc những đoạn văn, những bài
thơ hay sau đó kiểm tra lại trong giờ học sau. Khi dạy kể chuyện cũng vậy tôi
<i><b>2/ Biện pháp thứ 2</b>:</i> Giúp học sinh xác định cần phải tích luỹ vốn hiểu
<b>biết về thực tế cuộc sống </b>
Có nghĩa là học sinh cần hiểu đợc có những cảnh vật, sự vật, con ngời, sự
việc diễn ra quanh ta tởng chừng nh tất quen thuộc nhng nếu ta không chú ý
quan sát, nhận xét để ghi nhớ và có cảm xúc thì khó mà làm giàu thêm vốn hiểu
biết của mình.
Ví dụ: Khi dạy về chủ đề ngời lao động phải giao phiếu về nhà các em
điền vào theo mẫu in sẵn (hãy kể về những ngời lao động: ngời lao động trí óc là
những ai? Làm những cơng việc gì? Ngời lao động chân tay là những ai? Làm
những cơng việc gì? Em có suy nghĩ gì về những ngời lao động?...).
Hay để dạy tốt bài “Nói về quê hơng” (Tuần 11- Tiếng Việt 3 tập 1) thì
giáo viên chọn ngày đẹp trời, chọn cảnh vật để quan sát rồi dẫn học sinh đến địa
điểm đó để chơi trò chơi do giáo viên định hớng và quan sát cảnh vật có gì đẹp,
thơ mộng khơng.
<i><b>3/ Biện pháp thứ 3: áp dụng quan điểm tích hợp môn Tiếng Việt vào</b></i>
<b>dạy phân môn tập làm văn lớp 3 - khi viết đoạn văn ngắn </b>
<i><b>3.1 - Khi dạy về từ ngữ</b></i>
a. Phn mở rộng vốn từ cho học sinh nằm chủ yếu trong nội dung phân
môn “Luyện từ và câu”. Vậy khi dạy phân môn luyện từ và câu với nội dung:
mởrộng vốn từ. Bằng biện pháp s phạm của mình giáo viên cần đặc biệt quan
tâm tới việc “khai thác” tối đa vốn từ sẵn có theo chủ điểm học tập và thực tế.
Ví dụ: Khi dạy bài luyện từ và câu tuần 6 (TV3- tập I) mở rộng vốn từ về
trờng học thì ngồi việc giúp học sinh đa ra một số từ ngữ rất dễ thấy đó là: giáo
viên, học sinh, trờng, lớp, bàn ghế,... giáo viên cần giúp học sinh tìm ra đợc
những từ ngữ chỉ tình cảm thầy trị, bạn bè nh: u thơng, đồn kết,... bằng cách
đặt câu hỏi: “Em hãy nêu tình cảm mà thầy, cô dành cho em?”. Học sinh sẽ nêu
ra một số từ ngữ: chăm sóc, yêu thơng, chỉ bảo, dạy dỗ,... (chú ý học sinh tìm
đ-ợc nhiều từ đặc biệt từ gần nghĩa, cùng nghĩa).
b. Khi dạy các bài tập đọc (trong chủ điểm) nh bài “Nhớ lại buổi đầu đi
học” giáo viên cần liên hệ thực tế bản thân từng học sinh. Ngoài câu hỏi trong
sách giáo khoa giáo viên cần có thêm câu hỏi:
Từ đó học sinh sẽ mở rộng đợc thêm rất nhiều từ, do vậy khi viết đoạn văn
“Kể về buổi đầu đi học” chắc chắn học sinh sẽ viết tốt hơn.
c. Thông qua các phần học, bài học, môn học giáo viên phải kích thích
đ-ợc sự tìm tịi, khám phá của học sinh về cách dùng từ đúng, hay và tác dụng của
việc dùng từ đúng, hay đó.
Ví dụ: Nhận xét về cách sử dụng từ đợc gạch chân trong đoạn văn sau:
“Tiếng ve kêu rền rĩ. Tiếng kéo lách cách của những ngời bán thịt bị khơ.
Tiếng cịi ơ tơ xin đờng gay gắt, tiếng cịi tàu hoả thét lên và tiếng bánh sắt lăn
trên đờng ầm ầm”.
(¢m thanh thµnh phè - TV3 - T1)
(Những từ gạch chân là những từ tả âm thanh. Đoạn văn có nhiều từ chỉ
âm thanh cho ta thấy đợc cuộc sống ồn ào, náo nhiệt của thành phố).
Đối với học sinh khá, giỏi ta có thể mở rộng thêm để học sinh làm quen
với dạng bài cảm nhận về giá trị của từ ở mức độ khó hơn.
Ví dụ: Em có nhận xét gì về cách sử dụng từ đợc gạch chân trong 2 câu
thơ sau:
Cá non xanh tËn ch©n trêi
Cá non xanh rợn chân trời
(Yêu cầu ở đây giáo viên giúp học sinh nhận biết từ “rợn” có giá trị gợi tả,
biểu cảm hơn rất nhiều từ “tận” vì nếu là “Cỏ non xanh tận chân trời” thì chỉ là
một bức tranh thiên nhiên rộng. Cịn câu “Cỏ non xanh rợn chân trời” thì ngồi ý
nghĩa của bức tranh thiên nhiên rộng cịn thể hiện đợc cảm xúc, tình cảm của
ng-ời trớc cảnh).
d. Mặt khác để học sinh viết đợc câu đúng (đúng về ngữ nghĩa) thì học
sinh phải hiểu đợc nghĩa của từ. Từ đó học sinh tránh nhầm lẫn.
Để chỉ tính nết một học sinh nhanh nhẹn, lém lỉnh, đáng yêu ta có thể sử
dụng từ “láu lỉnh” để viết cõu:
Bạn Nam rất láu lỉnh.
(Nhng ở đây học sinh còn hay nhầm giữa từ láu lỉnh với láu cá)
<b>* Nói tóm lại : Khi dạy học cần giúp học sinh cã vèn tõ phong phó, hiĨu</b>
nghÜa tõ, t¸c dơng cđa từ, cách sử dụng từ .
<i><b>3.2 / Khi dạy về câu </b></i>
Khác với việc cung cấp cho học sinh kiến thức về câu trong chơng trình
Tiếng việt cải cách giáo dục. ở chơng trình Tiếng việt 3 học sinh nhận biết về
câu, các mẫu câu thông qua hệ thèng vÝ dơ, bµi tËp cơ thĨ:
Đối với phần “câu” trong chơng trình Tiếng việt 3 học sinh chỉ ôn lại các
mẫu câu, bộ phận câu đã học ở lớp 2. Do vậy ở đây tôi không đề cập đến cách
dạy học sinh phân tích các bộ phận câu cũng nh cách nhận biết câu, tác dụng của
từng kiểu câu. Mà ở đây tôi sẽ đi vào cách hớng dẫn học sinh rèn kỹ năng,
viết đúng (đúng cấu tạo, đúng nội dung) dựa trên việc học sinh đã nắm đợc mẫu
câu, dấu hiệu nhận biết cũng nh tác dụng của từng mẫu câu, kiểu câu.
Tuy nhiên ở đây tôi sẽ rèn kỹ năng viết câu theo các mức độ sau:
<b>* Mức độ 1: Tập viết câu đúng</b>
Cã nghÜa lµ: câu có giá trị về nội dung thông báo.
Vỡ trc khi có thể viết đợc câu văn hay có giá trị, gợi cảm, khơng rờm rà
tối nghĩa thì học sinh phải viết đợc câu đúng:
Ví dụ : - Q tơi rất đẹp.
- Tôi đi học.
Để học sinh viết đợc câu đúng, giáo viên chú ý học sinh đọc, nói câu
đúng. Vì chỉ nói thành câu thì viết thành câu mới có hiệu quả cao hơn.
Vì sao giáo viên phải hớng dẫn đọc vắt hai dũng th:
Cỏc anh v
Mái ấm nhà vui
Tiếng hát câu cời
Vì chỉ có đọc nh vậy mới hiểu đợc nghĩa “đích thực” của câu thơ muốn
diễn tả.
(Dạng bài tập này học sinh chủ yếu dựa vào mẫu để thực hiện).
<b>* Mức độ 2 : Tập chữa câu rờm rà, câu tối nghĩa.</b>
Tác dụng của dạng bài tập này đó là học sinh nhận thấy câu văn viết rờm
rà, khó hiểu thì học sinh tránh.
Ví dụ : Q tơi thì q tơi rất đẹp.
Em giữ quyển vở cho sạch và em bọc bìa cho sạch sẽ.
(Hng gii quyt: i vi dng bi tập này giáo viên cho học sinh nhận
xét về cách viết câu cho sẵn hoặc giáo viên lấy ví dụ cụ thể từ những bài viết của
học sinh sau đó cho học sinh tự sửa sau khi nhận xét).
<b>* Mức độ 3 : Tập viết câu văn gợi tả, gợi cảm</b>
Ví dụ 1: - Cánh đồng lúa rất xanh.
- Cánh đồng lúa xanh mơn mởn, màu xanh non ngọt ngào, thơm
mát toả ra mênh mơng.
Ví dụ 2: - Con đờng dài và nhỏ.
- Con đờng nhỏ, dài ngoằn ngoèo trông nh những chú trăn khổng
lồ đang uốn lợn.
(ở dạng bài tập này, giáo viên đa ra những ví dụ cụ thể tự chuẩn bị (nh 2 ví
dụ trên) hoặc chắt lọc từ những bài viết của học sinh rồi cho học sinh nhận xét,
so sánh xem câu văn nào hay hơn từ đó khuyến khích học sinh có ý thức tập viết
câu giàu hình ảnh).
<b>* Mức độ 4: Tập cho học sinh nhận xét về cách viết câu có bố cục tiêu</b>
biểu.
VÝ dơ 1 :
a - Ai trång c©y...
Em trồng cây...
Em trồng cây.
(Bài hát trồng cây - TV3 - T2- Trang 109)
b - Rừng cọ ơi ! Rừng cọ !
(Mặt trời xanh của t«i - TV3 - T2 - Trang 125)
Ví dụ : Trong bài thơ “Vàm Cỏ Đông” (TV3 - T1 ) có câu hỏi :
Dịng sơng Vàm Cỏ Đơng có những nét gì đẹp? (Khổ thơ 2).
Học sinh phải nhận biết đợc đâu là hình ảnh tả vẻ đẹp của dịng sơng Vàm
Cỏ Đơng. Từ đó học sinh học đợc khi tả vẻ đẹp của dịng sơng ta cần viết câu
văn có những hình ảnh nh thế nào cho hay.
<i><b>3.3/ </b><b>Khi d¹y vỊ dÊu c©u</b></i>
Trong chơng trình Tiếng Việt 3 phần học về dấu câu học sinh chủ yếu ôn
lại cách sử dụng các dấu câu đã học ở lớp 2: dấu chấm; dấu phẩy; dấu hỏi; dấu
chắc đợc cách sử dụng và tác dụng. Cần cho học sinh luyện tập, thực hành
nhiều ở bất c mụn hc, phn hc no.
Ví dụ: Trong các bài tập về điền dấu câu, giáo viên cho học sinh tự làm,
học sinh nêu cách làm .
Hc sinh phi núi đợc lý do vì sao mình lại điền dấu câu đó vào vị trí đó.
Ví dụ: Vì sao lại điền dấu (!) mà không phải dấu chấm vào cuối câu sau:
Lan học giỏi quá!
- Khi dạy những phân môn, bài học có nội dung liên quan đến dấu câu
giáo viên cần chú ý khai thác triệt để.
Ví dụ: Khi dạy bài Tập đọc “Cuộc họp của chữ viết” (TV3 - T1) học sinh
phải thấy đợc nếu sử dụng dấu câu tuỳ tiện thì ngời đọc khơng hiểu gì mà cịn
gây ra sự buồn cời, từ đó học sinh rút kinh nghiệm cho bản thân và có ý thức khi
sử dụng dấu câu.
Hoặc ở đây giáo viên có thể đa ra một số ví dụ khác về sự thay đổi nội
dung câu văn cần thông báo nếu sử dụng sai dấu cõu:
Ví dụ 1: Lan, Mai chăm học thật. ( Chỉ Lan và Mai cùng chăm học)
- Nếu sử dụng: Lan! Mai chăm học thật.
(Chỉ một ngời khác kể với Lan về bạn Mai chăm häc)
Ví dụ 2: Chú lính bớc vào đầu chú. Đội mũ sắt dới chân. Đi đôi giày da
trên trán lấm tấm mồ hơi.
<i>(Cc häp cđa ch÷ viÕt - TV3 - TËp 1- Trang 44<b>)</b></i>
Tôi cho học sinh đọc chậm, dừng lại, nghỉ hơi đúng dấu câu (trong ví dụ
2), cho học sinh chú ý lắng nghe sau đó hỏi về nội dung câu văn và cho học sinh
phân tích câu văn đó. Lúc này học sinh mới dễ dàng nhận ra cái sai của cách đặt
dấu câu. Vì đặt dấu câu sai nên sai nghĩa của câu văn dẫn đến sai nghĩa của cả
đoạn văn. Sau đó giáo viên chốt lại khi viết đoạn văn ta phải đặt đúng dấu câu để
đảm bảo đúng nghĩa của câu văn, đoạn vn ta cn vit.
<i><b>3.4/ Khi dạy về biện pháp tu tõ</b></i>
Đây là phần kiến thức mới trong nội dung chơng trình mơn Tiếng Việt 3
mới. Trong văn học có rất nhiều biện pháp tu từ song ở chơng trình Tiếng Việt 3
chỉ đề cập đến hai biện pháp tu từ điển hình đó là: Biện pháp tu từ nhân hố và so
sánh.
Vậy vì sao chúng ta cần dạy tốt và chú trọng đến biện pháp tu từ khi rèn
kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh?
Theo tôi bởi lẽ: Biện pháp so sánh có tác dụng: làm cho câu văn cụ thể, có
hình ảnh. Tác dụng của biện pháp nhân hoá giúp cho sự vật đợc miêu tả sinh
động, gần gũi, dễ hiểu hơn.
Đối với hai biện pháp tu từ này sách giáo khoa có nhiều loại hình bài tập
song ta có thể quy về hai dạng bài chủ yếu đó là:
+ TËp nhËn biÕt dÊu hiƯu, t¸c dụng của hai biện pháp tu từ so sánh và nhân
hoá.
+ Viết câu, có sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá.
* Dạng bài tập: Nhận biết dấu hiệu, tác dụng của câu có sử dụng biện
pháp tu từ so sánh, nhân hoá.
ở mỗi biện pháp tu từ này khi dạy học sinh về cách nhận biết dấu hiệu
chứng tỏ là câu có sử dụng biện pháp so sánh hay nhân hoá chúng ta nên đi theo
các bíc sau:
+ Bớc 1: Giáo viên đa ra một hệ thống ví dụ cụ thể và cùng học sinh phân
tích ví dụ đó.
+ Bớc 3: Dựa vào dấu hiệu nhận biết học sinh đặt câu có sử dụng biện
pháp tu từ dựa vào dấu hiệu đã nhận biết.
+ Bớc 4: Giúp học sinh nắm đợc tác dụng của mỗi biện pháp tu từ vừa học.
<b>Bớc 3: Sau khi học sinh đã nhận biết đợc dấu hiệu nhận biết của mỗi biện</b>
pháp tu từ giáo viên giúp học sinh tự đặt câu có sử dụng biện pháp tu từ đó.
(Chó ý híng dÉn häc sinh chän nh÷ng sù vËt thËt quen thuéc).
(VÝ dụ: Da bạn ấy trắng nh tuyết; Chị Bút xinh x¾n,...)
Bớc 4: Từ việc học sinh xác định đợc dấu hiệu nhận biết; đặt câu có sử
dụng biện pháp tu từ; học sinh nói những cảm nhận của mình về giá trị câu có sử
dụng biện pháp tu từ và câu không sử dụng biện pháp tu từ.
VÝ dô :
+ B¹n Lan rÊt xinh.
B¹n xinh nh đoá hoa hồng vừa nở .
+ ánh trăng chiếu qua kẽ lá .
ánh trăng vạch kẽ lá nhìn xuống .
* Dạng bài: Tập viết câu, đoạn văn có sử dụng biện pháp so sánh, nhân
hoá.
Khi dy dạng bài này giáo viên cần chú ý yêu cầu học sinh dựa trên dấu
hiệu nhận biết để viết xong câu có sử dụng biện pháp tu từ khơng chỉ phù hợp ở
dấu hiệu bên ngồi mà cần có nội dung phù hợp thực tế.
VÝ dơ: Con mÌo nhµ em to nh cái thùng gánh nớc.
(Dấu hiệu bên ngoài trong câu này cho ta thấy câu có sử dụng biện pháp
so sánh thông qua từ chỉ sự so sánh nh, xong câu văn lại thiếu tính thực tế).
i vi dạng bài tập này giáo viên có thể chọn lọc một số câu, đoạn văn,
khổ thơ có sử dụng biện pháp tu từ: nhân hố, so sánh điển hình làm mẫu cho
học sinh tham khảo. Từ đó học sinh sẽ chú ý đến việc viết câu, đoạn văn, khổ thơ
có sử dụng biện pháp tu từ để tăng giá trị nội dung của bài viết.
<i><b>4 /BiƯn ph¸p 4 :</b></i><b> Dạy văn nói (rèn kỹ năng nói) </b>
Trong thc tế dạy học nhiều giáo viên cha chú ý rèn kỹ năng nói cho học
sinh để phục vụ cho việc rèn kỹ năng viết.
Song theo tôi việc viết câu văn, đoạn văn có thành cơng hay khơng phụ
thuộc nhiều vào sự chuẩn bị “ngơn ngữ nói” của học sinh. Ngồi việc “nói” rèn
cho học sinh sự mạnh dạn, tự tin thì học sinh đợc rèn kỹ năng nói, t duy phát
Mặt khác dựa vào bài nói của học sinh, giáo viên nắm bắt đợc ý hiểu nội
dung bài viết của học sinh một cách nhanh nhất. Từ đó, giáo viên có thể sửa,
điều chỉnh, bổ sung cho bài khơng chỉ của mình học sinh đó mà có thể cho cả
lớp.
Qua thực tế những học sinh nào chuẩn bị bài nói tốt thì bài viết sẽ tốt hơn.
Tiết Tập làm văn tuần 7:
Yêu cầu của bài gồm : - Kể lại buổi đầu đi học.
- Viết lại những điều đã kể thành một đoạn văn.
Nh vậy trớc khi học sinh viết đoạn văn theo yêu cầu, học sinh phải kể đợc
những điều mình sắp viết. Để kể đợc học sinh phải có sự chuẩn bị bài chu đáo.
Qua phần kể của học sinh, giáo viên nhận biết đợc học sinh đó có xác định đúng
yêu cầu của bài hay khơng? Kể có đúng nội dung khơng? Cách sử dụng từ đặt
câu thế nào? Từ đó giáo viên phải sửa lỗi cho học sinh.
+ Tất nhiên để thực hiện đợc tốt phần kể theo u cầu bài tập thì khơng
phải chỉ đến lúc đó học sinh mới đợc kể, học cách trình bày một đoạn văn mà
học sinh cần phải rèn luyện kỹ năng nói thành câu thơng qua việc trả lời các câu
hỏi của cô trong các tiết học, thông qua việc tranh luận, trao đổi cùng bạn bè,...
và đặc biệt quan trọng đó là vai trị của phân mơn Kể chuyện. Phân mơn Kể
chuyện khơng chỉ giúp các em nói câu đúng mà cịn giúp các em nói câu sáng
tạo, có giá trị nghệ thuật.
Chính vì thế giáo viên cần chú ý đến ngơn ngữ nói của học sinh trớc khi
rèn kỹ năng viết cho học sinh (mặc dù ta vốn chú trọng đến ngơn ngữ viết hơn).
<i><b>5/ BiƯn ph¸p thø 5</b>:</i> <b>Dạy cách viết đoạn văn cho học sinh (giúp học</b>
<b>sinh nối câu tạo đoạn tốt hơn)</b>
Khi liờn kt cỏc câu tạo thành đoạn văn học sinh thờng chỉ chú ý đến dấu
hiệu hình thức bên ngồi (đủ bộ phận câu) mà cha chú ý đến nội dung giữa các
câu. Tức là học sinh nghĩ gì viết đó sao cho đủ số lợng câu.
VÝ dô : Khi häc sinh viết một đoạn văn ngắn (từ 5-7 câu) kể lại buổi đầu
em đi học có học sinh viết nh sau:
Sõn trờng thật đơng ngời, st nữa thì em khóc. Em đến chơi cùng các
bạn. Chúng em vào lớp. Cô giáo gọi tên từng bạn để làm quen. Khi ông đi về em
hơi lo lo và hơi sợ sợ. Em bớc ríu cả chân. Ngày đầu tiên đi học, ơng em đã đa
em đến trờng. Em nhìn thấy mấy bạn học mẫu giáo với em đang đứng chơi dới
gốc bàng. Lúc đó em đã bắt đầu thấy yêu lớp học mới của mình. Em thấy giọng
cơ thật dịu dàng, em nghĩ chắc cô hiền lắm”.
- Giáo viên cho học sinh đọc lại đoạn văn mà mình đã làm cho cả lớp nghe
sau đó phân tích từng câu văn xem nội dung ý nghĩa của các câu đã liên kết với
nhau cha để học sinh tìm ra những điểm cha đúng về cách sắp xếp câu văn. Sau
đó giáo viên hớng dẫn học sinh sắp xếp lại câu văn cho phù hợp với nội dung của
bài và hớng dẫn học sinh cách trình bày bố cục của một đoạn văn bao giờ cũng
có: câu mở đoạn (tức là giới thiệu đoạn văn mà mình định viết), sau đó là thân
đoạn (những câu viết về nội dung đoạn văn), cuối cùng là câu kết đoạn (có thể
nêu cảm nghĩ hoặc nêu một nhận xét về nội dung vừa viết).
Sau khi hớng dẫn học sinh viết đoạn văn có bố cục rõ ràng có nhiều em đã
viết đoạn văn kể về buổi đầu đi học rất hay và em học sinh viết đoạn văn nh ở ví
dụ nêu trên đã sắp xếp lại các câu một cách hợp lý, ý các câu trong đoạn văn đợc
Qua thùc hµnh lun tËp với những dạng bài tập nh trên chắc chắn học
sinh sẽ nối câu tạo đoạn văn có bố cục, nội dung chặt chẽ hơn.
<i><b>6/ Biện pháp thứ 6</b></i>: <b>Hớng dẫn học sinh thực hành viết đoạn văn</b>
Tuy ó cung cấp cho học sinh hàng loạt những kiến thức về cách dùng từ,
đặt câu, sử dụng dấu câu, luyện nói,...nhng đối với từng bài tập thực hành viết cụ
thể chúng ta cần làm tốt các bớc theo quy trình sau:
- Xác định, nắm chắc yêu cầu của bài (giáo viờn, hc sinh).
- Học sinh thực hành nói theo yêu cầu của bài viết (nếu bài không có
phần luyện nói).
- Giáo viên nhận xét bổ sung.
- Hc sinh thc hnh viết theo yêu cầu của bài tập (giáo viên theo dừi giỳp
hc sinh cũn yu).
- Giáo viên chấm nhận xét một số bài.
Ví dụ: Bài tập 2 chơng trình Tập làm văn tuần 15 yêu cầu nh sau:
- Dựa vào bài tập làm văn miệng tuần trớc hÃy viết một đoạn văn giới
thiệu về tổ em.
+ Bc 1: - Học sinh đọc yêu cầu đề bài:
+ Bớc 2: Giáo viên yêu cầu khoảng 2-3 học sinh khá giỏi trình bày miệng
đoạn văn giới thiệu về tổ của mình, học sinh và giáo viên nhận xét bổ sung.
+ Bớc 3: Giáo viên yêu cầu học sinh viết vào vở (giáo viên theo dõi giúp
đỡ học sinh còn yếu).
+ Bớc 4: Giáo viên chấm nhận xét, đọc một số bài viết tiêu biểu.
* Những vấn đề cần chú ý khi yêu cầu học sinh viết đoạn văn:
- Đối với những bài có câu hỏi gợi ý: tuyệt đối giáo viên không đợc yêu
cầu học sinh phải viết đoạn văn bằng cách trả lời lần lợt những câu hỏi theo gợi
ý.
- Tuỳ thuộc vào đối tợng học sinh giáo viên có thể u cầu cụ thể:
+ Ví dụ : Đối với học sinh trung bình giáo viên chỉ yêu cầu học sinh viết
câu đúng, câu văn rõ ràng.
Đối với học sinh khá giỏi giáo viên có thể khuyến khích sự sáng tạo của
học sinh nh viết câu văn có hình ảnh sinh động, có sử dụng biện pháp tu từ, tập
bố cục đoạn văn theo 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận.
- Gi¸o viên cần phải biết trân trọng những suy nghĩ sáng tạo của các em
mặc dù chỉ rất nhỏ.
- Giỏo viờn cần phải tạo bầu khơng khí lớp học nhẹ nhàng, thoải mái.
Và đặc biệt giáo viên cần coi trọng khâu chấm, nhận xét bài. Chấm
-nhận xét bài chính là đánh giá cái đợc, cái cha đợc của học sinh. Mục đích của
việc chấm bài là đánh giá kết quả bài viết của học sinh và chuẩn bị tốt hơn cho
những bài viết sau.
Chính vì thế khi chấm bài giáo viên cần chấm kỹ, sửa lỗi cho học sinh một
cách triệt để đồng thời ghi lại những ý có sáng tạo, cách sử dụng từ, hình ảnh có
giá trị của học sinh.
Khi nhận xét bài giáo viên cần chỉ rõ cái đợc, cái cha đợc của bài về từng
khía cạnh nh :
+ Bài viết đúng nội dung, đủ số lợng, câu theo yêu cầu cha.
+ Cách dùng từ, viết câu ra sao (từ nào, câu nào viết hay, hay ở chỗ nào, từ
nào sử dụng cha hợp lý, câu nào viết cha đúng yêu cầu học sinh sửa lại). (Có thể
học sinh ghi lại những câu văn hay để học tập).
+ Việc liên kết các câu đã phù hợp cha...
Sau đó, đối với những bài viết cha tốt giáo viên yêu cầu các em về nhà viết
lại bài, giáo viên vẫn tiếp tục kiểm tra.
<b>III/ KÕt qu¶ kiĨm chøng</b>
Sau khi thực hiện 6 biện pháp trên tôi nhận thấy về mặt chuyên môn tôi
hiểu biết thêm nhiều và tự tin h¬n.
Qua kiểm tra đánh giá kết quả cuối năm học 2010-2011 (lớp 3A)-khi tôi
cha áp dụng kinh nghiệm vào giảng dạy phân môn tập làm văn. Năm học
2011-2012, tôi đã áp dụng kinh nghiệm trên vào giảng dạy và lớp của tôi đã thu đợc
kết quả nh sau:
So sánh kết quả hai năm học tôi thấy kết quả viết đoạn văn của học sinh
Trong q trình giảng dạy phân mơn Tiếng Việt nói chung và phân mơn
Tập làm văn nói riêng đặc biệt là dạy cho học sinh viết tốt đoạn văn lớp 3 mỗi
giáo viên cần phải ln ln nghiên cứu, sáng tạo tìm ra những biện pháp hữu
hiệu nhất để giảng dạy cho học sinh c th:
- Để nâng cao chất lợng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3 ngời giáo viên
cần nắm chắc chơng trình.
- Thng xuyờn d gi, hc hi kinh nghiệm, nghiên cứu tài liệu, sách
tham khảo để trau dồi thêm kiến thức và phơng pháp dạy học.
- Chú ý đến quan điểm tích hợp trong chơng trình Tiếng Việt để dạy viết
văn cho học sinh.
- Giáo viên cần chú ý rèn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh khi
dạy văn.
- T¹o høng thó tÝch l vèn hiĨu biết cho các em bằng cách giao việc về
nhà su tầm, quan sát, lắng nghe rồi viết những điều quan sát, nghe thấy trong
cuộc sống vào phiếu học tập.
Vic hng dẫn học sinh có hứng thú trong khi dạy viết đoạn văn, bài văn
không phải một sớm một chiều, một tiết học nhất định. Vì thế ngời giáo viên cần
phải có lịng kiên trì và sự say mê nghiên cứu văn học.
<b> 2. §Ị xt, kiÕn nghị</b>
<b>2.1. </b><i>Đề xuất với tổ chuyên môn và nhà trờng </i>
- Tổ trởng chuyên môn mặc dù đã nắm đợc các phơng pháp giảng dạy của
chơng trình Tiểu học xong cần phải nghiên cứu, sáng tạo tìm ra những phơng
pháp giảng dạy hữu hiệu nhất cho phân môn Tiếng Việt đặc biệt là phân môn
Tập làm văn để bồi dỡng chun mơn cho đồng nghiệp trong tổ, khối.
- Ban gi¸m hiệu nhà trờng quán triệt tinh thần trách nhiệm và lơng tâm
nghề nghiệp của giáo viên trong dạy học.
<i><b>2.2. </b> xuất với Phòng Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo.</i>
- Đối với những sáng kiến kinh nghiệm của các đồng chí giáo viên trong
ngành có giá trị áp dụng trong giảng dạy phòng giáo dục cần in thành tập san để
các trờng học tập những kinh nghiệm q báu.
- Có sự khuyến khích động viên những sáng kiến hay.
Trên đây là suy nghĩ của cá nhân tơi về kinh nghiệm (góp phần nâng cao
chất lợng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3). Viết sáng kiến này tơi muốn trao đổi
và xin ý kiến góp ý chân thành của các bạn đồng nghiệp.
Trân trọng cảm ơn!