LỊCH SỬ
ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH ĐỊNH
(1930 - 1945)
1
2
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LỊCH SỬ
ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH ĐỊNH
(1930 - 1945)
Thaùng 9-2015
3
4
LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện chủ trương của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh
ủy Bình Định chỉ đạo biên soạn tập sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Bình Định giai đoạn 1930 - 1945 để ghi lại một trong những
chặng đường đấu tranh anh dũng chống thực dân, đế quốc của
Đảng bộ, quân và dân tỉnh nhà. Tập sách được xuất bản lần
đầu vào dịp kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/1990).
Sau khi được xuất bản, tập sách đã góp phần to lớn trong
công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, đấu
tranh cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế
hệ trẻ.
Do điều kiện in ấn đã lâu, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định
(khóa XVIII) chủ trương tái bản tập sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Bình Định 1930 - 1945 để phục vụ tốt hơn công tác nghiên cứu,
tuyên truyền, giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng của
địa phương. Ban Thường vụ Tỉnh ủy xin trân trọng giới thiệu tập
sách với đồng bào, đồng chí, bạn đọc trong và ngoài tỉnh.
BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY BÌNH ĐỊNH
5
6
PHẦN MỘT
ĐẢNG BỘ RA ĐỜI VÀ CUỘC ĐẤU TRANH
GIÀNH CHÍNH QUYEÀN
(1930 - 1945)
7
8
Chương mở đầu
BÌNH ĐỊNH
1. ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI
Bình Định nằm giữa vùng Duyên hải miền Trung, ở tọa độ
địa lý 13003’-14042’ vó bắc và 108035’-109018’ kinh đông.
Trước năm 1913, nhiều vùng của Gia Lai - Kon Tum còn
thuộc về Bình Định. Diện tích hiện nay khoảng 6.100 km2. Bắc
giáp Quảng Ngãi, nam kề Phú Yên, tây dựa Gia Lai - Kon Tum,
đông hướng ra biển Đông. Trước 1945, Bình Định có 4 phủ:
Hoài Nhơn, An Nhơn, Tuy Phước, Phù Mỹ; 3 huyện: Phù Cát,
Bình Khê, Hoài Ân và thành phố Quy Nhơn. Năm 1947, lập
3 huyện miền núi: An Lão, Vónh Thạnh, Vân Canh.
Một thời (938 - 1470), đây là trung tâm của Vương quốc
Chămpa cổ, với thủ đô thành Đồ Bàn. Từ 1471 đến 1602,
Bình Định mang tên phủ Hoài Nhơn. Năm 1602, Nguyễn Hoàng
đổi thành phủ Quy Nhơn. Những năm 1771 - 1799, Quy Nhơn là
cái nôi của phong trào Tây Sơn, với người anh hùng dân tộc kiệt
xuất Nguyễn Huệ - Quang Trung. Năm 1799, Nguyễn Ánh có đế
quốc Pháp giúp sức, chiếm được thành Hoàng Đế, đổi Quy Nhơn
ra Bình Định, nhằm đề cao cái gọi là công lao “bình định” phong
trào Tây Sơn của ông ta.
Địa hình Bình Định đa dạng, gồm các vùng: rừng núi, đồng
bằng, ven biển, hải đảo và đô thị. Đồng bằng tuy hẹp, bị núi đồi
chia cắt thành nhiều mảnh (1.700 km2, chiếm 17,5% diện tích tự
nhiên), song là cánh đồng lớn của miền Trung, sau Thanh Hóa
và Nghệ An. Đất khá màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây
9
lương thực và cây công nghiệp. Trước năm 1945, diện tích cây
dâu và cây dừa Bình Định chiếm từ 1/3 đến 1/2 diện tích trồng
dâu và dừa của Trung bộ. Đây còn là vùng chăn nuôi lớn, năm
1965 có tới 180.000 con bò, gần 250.000 con heo. Núi đồi chiếm
hơn 4/5 diện tích. Ít núi cao, nhưng khá hiểm trở, giàu lâm thổ
sản và cây thuốc q, có nguồn thủy năng và khoáng sản đáng
kể. Bờ biển dài ngót 140 km, có nhiều cửa sông, cồn bãi, đầm
ghềnh, hải đảo, với thềm lục địa rộng. Quy Nhơn là một thành
phố biển đẹp, nơi nghỉ mát và du lịch hấp dẫn, lại có cảng biển
lớn, có đầm sâu và kín.
Bình Định nằm ở một vị thế địa lý quan trọng có tầm chiến
lược, là tụ điểm của một số đường quốc gia về thủy, bộ, hàng
không và đường sắt. Đường chiến lược 19 nối cảng biển Quy Nhơn
và miền Trung với các thị xã Kon Tum, Pleiku và Buôn Ma Thuột,
với Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Đường số 1 và đường sắt
xuyên Việt ra Bắc vào Nam đều thuận lợi. Sân bay Phù Cát lớn,
có thể tiếp nhận nhiều loại máy bay phản lực. Bình Định từng là
nơi diễn ra một số cuộc đụng đầu lịch sử (Chămpa - Việt với
Nguyên Mông; Tây Sơn với Pháp, Tây Ban Nha,…).
Bình Định là một trong số tỉnh đông dân của miền Trung và
Việt Nam. Dân số cuối thời Tự Đức (1880) chỉ tính các huyện
đồng bằng, khoảng 390.000 người. Năm 1932, có 701.344 người.
Năm 1945, gần 750.000 người. Năm 1953, hơn 727.942 người.
Tháng 4/1989, có 1.246.178 người.
Bình Định là nơi sinh cơ lập nghiệp của 4 tộc người anh em:
Ba Na, Chăm, H’rê, Việt (Kinh). Đồng bào Ba Na, Chăm, H’rê
là cư dân bản địa, tha thiết sống tự do, chân chất và kiên cường
chống đế quốc, phong kiến. Thành Đồ Bàn, thành đá Tà Kơn
(Konplo, Vónh Thạnh)… là những minh chứng hùng hồn. Lớp
người Việt đầu tiên vốn là lưu dân, “dân mộ”, “tội đồ”, “tù
binh”, v.v… tức những lớp người cùng cực của xã hội phong kiến.
10
Tổ tiên anh em Tây Sơn vốn là “tù binh” của chúa Nguyễn trong
đợt đánh nhau với chúa Trịnh năm 1653 - 1658. Những lớp người
mất tự do và khốn cùng đó, cả Kinh và Thượng, sớm biết cố kết
lại, không tiếc mồ hôi và xương máu, biến miền đất hoang dã
vùng phiên trấn(1) thành những xóm làng đông đúc, trù phú.
Chính những điều kiện kinh tế - xã hội và hoàn cảnh lịch sử
đó tạo cho cư dân Bình Định vừa có những phẩm chất q của
người Việt Nam (như: cần cù và sáng tạo, nhân ái, kiên cường…),
vừa có các sắc thái riêng. Tính khẳng khái, hào hiệp, xả thân
vì nghóa lớn… mà tiêu biểu là Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân,
Mai Xuân Thưởng, Tăng Bạt Hổ,… được hun đúc từ cuộc sống
gian khổ để khai phá vùng đất mới của lớp người cùng khổ.
Người lao động thì năng nổ, khéo tay,… từng làm nên nhiều công
trình độc đáo, những sản phẩm thủ công nổi tiếng cả trong và
ngoài nước(2). Kẻ só thì thông tuệ, thanh bạch, tài hoa…(3). Như
các địa phương khác, người Bình Định là cư dân nông nghiệp
lạc hậu, nên không tránh khỏi những thói quen, tâm lý,… của
người sản xuất nhỏ.
2. AI VỀ BÌNH ĐỊNH!
Bình Định được xem là trung tâm của một vùng văn hóa,
nhiều tầng và nhiều lớp đan xen, với những nét tiêu biểu cho
bản sắc của một khu vực dân cư rộng lớn(4).
(1)
Từ 1470 - 1611, dãy núi Cù Mông là biên giới giữa Đại Việt và Chămpa.
Về kiến trúc có Tháp Chàm. Hàng thủ công có nhiễu, lụa đậu ba, bún
song thằn, nón ngựa…
(2)
Tuổi trẻ học giỏi có Lê Văn Chân (Phù Mỹ) đậu tiến só lúc 18 tuổi,
Nguyễn Văn Hiển (Phù Cát) đậu hoàng giáp lúc 20 tuổi,… Cao Xuân Dục, trong
Đăng khoa lục cho Lê Văn Chân là “thiếu tuấn nhất nhân”.
(3)
Những nhà văn hóa lớn: Đào Duy Từ, Đào Tấn, Xuân Diệu…
Nhà thơ Huy Cận nói về đặc trưng của vùng văn hóa này: “… hát tuồng nổi
tiếng, với các điệu hò khỏe có mượt mà có, với thơ, từ của các thi bá một thời”.
(4)
11
Thành Cha (Nhơn Lộc), Đồ Bàn (Nhơn Hậu, An Nhơn),
Thị Nại (Phước Hòa, Tuy Phước), một thời từng là đế đô, thương
cảng sầm uất của Chămpa. Gần chục tháp, với các ngọn nổi
tiếng: Dương Long, Cánh Tiên… và hàng chục phế tích tháp ở
An Nhơn, Tuy Phước, v.v… ghi nhận một giai đoạn phát triển rực
rỡ của nghệ thuật Chàm. Ấp Tây Sơn, hòn Ông Bình, bến Trường
Trầu (Tây Sơn), thành Hoàng Đế (An Nhơn), tân phủ Càn Dương
(Phù Cát)… sừng sững dáng đứng của phong trào Tây Sơn,
Linh Đổng, Hương Sơn, Hòn Úc… đặc biệt di tích các phong trào
cách mạng 1930 - 1975 ken dày ở các huyện. Trường thi Hương
(1851 - 1915), thi võ (1667 - 1884), trường Quốc Học Quy Nhơn
(1921 - 1945), thu hút những só tử, võ sinh, học sinh cả một vùng
từ Nam - Ngãi đến Khánh - Thuận. Bình Định còn là một trung
tâm Phật giáo và Thiên chúa giáo của Đàng trong, với những
ngôi chùa cổ kính: Quang Hoa (Tuy Phước), Thập Tháp (An Nhơn),
Linh Phong (Phù Cát), và nhà thờ Gò Thị (Tuy Phước)…
Cảnh quan Bình Định là một tặng vật của thiên nhiên. Các
dãy núi Bích Kê, Lạc Phụng, Vọng Phu, Dương An,… chi nhánh
của Trường Sơn - đâm sầm ra biển Đông, đón sóng bạc nhấp
nhô. Những dòng sông Lại, Côn,… khi ào ạt, lúc lượn lờ ôm chặt
những cánh đồng xanh biếc lúa, ngô. Thác LơPinh (Vónh Thạnh),
Hầm Hô (Tây Sơn), đá Vọng Phu (Phù Cát), Ghềnh Ráng và
Suối Tiên (Quy Nhơn),… là những vùng nước non kỳ thú. Các bãi
biển quanh năm sóng vỗ của Thiện Chánh (Hoài Nhơn), Đề Gi
(Phù Cát), Quy Hòa (Quy Nhơn),… vẫy gọi khách du lịch xa gần.
Bình Định vốn là một trung tâm nổi tiếng về võ thuật, với
dòng võ Tây Sơn độc đáo. Luyện võ trở thành phong trào quần
chúng rộng rãi, cha truyền con nối. Ca dao Việt Nam có câu:
Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định cầm roi, đi quyền
12
Các lớp võ só chân chính từ Đinh Văn Nhưng (tức ông Chãng)
và Đặng Văn Long (Thiết lý Đặng), Bùi Thị Xuân và Võ Văn Dũng,
Vũ Thị Huấn và Nguyễn Văn Lộc,… thời Tây Sơn, cho tới Võ Hóa,
Bùi Điền, Tăng Bạt Hổ, Phạm Toản, Lê Tuyên,… phong trào
Cần Vương, đều hiến dâng tài nghệ và cả tuổi thanh xuân cho
sự nghiệp cứu nước, cứu dân.
Bình Định là mảnh đất màu mỡ cho cây văn hóa dân gian
đơm hoa kết quả. Ca dao, tục ngữ, chuyện cười, ca lý, hát kết,
hò vè, hơ-môn,… nồng đượm tình người, ấm áp cảnh sắc và phong
vị xứ dừa. Những hội dân gian: đỗ giàn, đua ngựa, bơi thuyền,
múa lân, đâm trâu,… bừng bừng khí thế thượng võ. Bình Định là
cái nôi của ca kịch bài chòi và tuồng cổ. Với tài năng đa dạng
Đào Tấn (1845 - 1907), cùng nhiều lớp nghệ só tài danh, dòng
tuồng Bình Định góp phần xứng đáng vào việc đưa nghệ thuật
sân khấu tuồng cổ Việt Nam lên đỉnh cao, mang tính nhân văn
sâu sắc. Đây còn là nơi sản sinh và nuôi dưỡng một lớp nhà thơ
nổi tiếng: Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,…
Đồng bào Bình Định mãi mãi nâng niu một kỷ niệm thiêng
liêng của những năm 1909 - 1910. Anh Nguyễn Tất Thành, sau
này là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, trên đường ra nước ngoài
tìm phương cứu nước, đã dừng chân lại đây một thời gian(1). Tại
Bình Định, Anh ở với cha là cụ Nguyễn Sinh Huy đang làm tri
huyện Bình Khê, đi lại các nơi: An Nhơn, Tuy Phước,… Nơi Anh
ở lâu nhất là thành phố Quy Nhơn.
3. GÁNH NẶNG ĐẾ QUỐC, PHONG KIẾN
Ngoài tình cảnh chung cả nước, gánh nặng đế quốc, phong
kiến của người dân Bình Định cũng có những đặc thù.
(1)
Hồ Chí Minh, những sự kiện, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, HN, 1987, trang 13.
13
Năm 1799, chiếm được thành Hoàng Đế, Nguyễn Ánh lập
tức xóa tên Quy Nhơn. Các năm 1802 - 1808, Gia Long triệt hạ
ấp Tây Sơn, san bằng thành Hoàng Đế,… gán cho các địa danh
lịch sử đó những cái tên có tính chất phỉ báng (Bình Định, An Tây
rồi An Khê, Nam An và Bắc Thuận,…). Đối với dân chúng, nhà
Nguyễn đàn áp thẳng tay, cưỡng bức đồng bào Chăm di cư, rẻ
rúng và vùi dập só phu(1).
Về kinh tế, Gia Long mở cuộc chiến tranh cướp ruộng đất
của nông dân Bình Định ngót nửa thế kỷ (1799 - 1839). Sử chính
thống nhà Nguyễn và cả Minh Mạng cũng phải thừa nhận sự
thật lịch sử này. Tô thuế các loại ruộng công, tư và quan điền,
đồn điền,… của Bình Định rất nặng. Những chính sách kinh tế
hiểm độc trên đã dẫn tới các hậu quả đáng lẽ không thể xảy ra
ở vùng đất trù phú này. Năm 1822, ấp Chánh Thuận (nay thuộc
Cát Hanh) và 2 ấp khác, dân phiêu tán. Năm 1824, 1860, 1863,…
nhiều làng dân bỏ đi nơi khác kiếm sống(2).
Ách áp bức và bóc lột nghiệt ngã của nhà Nguyễn gây ra
những biến động sâu sắc, để lại nhiều hậu quả về tư tưởng, tình
cảm và tâm lý cho nhiều thế hệ dân cư Bình Định. Những chấn
thương lịch sử xã hội đó, nhất là tình trạng phân tán, thụ động,…
khá nặng nề.
Từ năm 1876, nhất là sau khi cuộc khởi nghóa của Mai Xuân
Thưởng bị dập tắt, đế quốc Pháp xúc tiến ngay việc vơ vét tài
nguyên và nhân lực Bình Định. Ngót 30 năm (1887 - 1925), hơn
Gauthier, công sứ Quy Nhơn 1933 - 1937, nhận xét “cấu trúc xã hội
Bình Định chỉ có hương lý và dân cày, số quan lại về hưu rất ít”. Theo Địa dư
mông học Bình Định và tạp chí Nam Phong: Năm 1932, Bình Định có 126.880
chánh nạp, mà chỉ có 5.277 chức sắc và miễn diêu, miễn sai. Một tỉnh khác cũng
ở miền Trung, số chánh nạp 53.213 (tức không bằng 1/2), mà tới 5.344 chức sắc,
miễn diêu và miễn sai.
(2)
Nguyễn Thế Anh, Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới triều các vua Nguyễn.
SG, 1971.
(1)
14
40 công ty, hãng buôn tư bản như những con đỉa háu máu bám
chặt vào các động mạch chính của cơ thể kinh tế địa phương.
Paris, Pérignon, Delignon, Mathey, De Montpezat, Marvoire,…
cướp hơn 40.000 mẫu rừng và đất, ruộng của dân Bình Khê,
An Nhơn, Hoài Nhơn, Vân Canh, An Lão,… Louis Rideau chiếm
đứt 1.000 mẫu vườn dừa sai quả của dân các làng Huân Công,
Tân Mỹ, Trường An, Cửu Lợi,… (Hoài Nhơn). Đến năm 1929,
theo tài liệu của Pháp(1), bọn côlông Pháp chiếm hơn 5.361 ha
(chỉ tính đất canh tác), tức hơn 4,26% diện tích trồng trọt địa
phương. Như vậy, bình quân một người Pháp “dân sự” (năm 1930)
chiếm hơn 23 ha, tương đương bình quân chiếm hữu ruộng đất
của một người Pháp toàn Đông Dương, gấp 160 lần một người
dân địa phương (0,119 ha). Kỹ thuật canh tác các đồn điền
Pháp không hơn gì nông dân. Thuế ruộng của chủ đồn điền rất
thấp. Trong tài khóa 1931 - 1932, diện tích canh tác của dân
Bình Định chỉ hơn 19 lần, nhưng tiền thuế phải nạp gấp 245 lần
(264.000đ/410đ). Gặp thiên tai, chủ đồn điền được Nhà nước
“trợ cấp” (2).
Từ cuối thế kỷ XIX, nhiều hãng buôn độc quyền Pháp đổ
xô đến Quy Nhơn, lập thương quán. Đó là Descours et Cabaud,
Denis Frèrés, L’UCIA (L’Union commerciale Indochine et
Africaine), SFATE (Société Francais - Annamite de textille et
export), Poinsard et Veyret,… Dựa vào tư sản mại bản người Hoa
(Hòa Thoại, Phước Hiệp, Khe Tong,…), tư bản Pháp không những
khống chế thị trường và bóc lột nặng nề nhân dân Bình Định, mà
còn thao túng và vơ vét tài nguyên các tỉnh lân cận: Quảng Ngãi,
Phú Yên và Tây Nguyên.
(1)
Bulletin des amis du vieux Huế, số 1 - 2 năm 1931.
Sau cơn bão tháng 11/1910, Khâm sứ Trung Kỳ, trong Nghị định số 227
tháng 12/1910, cấp cho Delignon 800đ, Mathey 300 đồng bạc Đông Dương.
(2)
15
Cái gọi là công nghiệp của Pháp ở Bình Định không là bao.
Lập hãng dệt Delignon (1902) nhằm khống chế nghề dệt lụa
nổi tiếng của Bình Định, và cũng để cạnh tranh với hàng tơ lụa
của Trung Quốc, Nhật Bản. Xưởng hột vịt FIARD (1896) xuất
sang Pháp cạnh tranh với bột trứng Syrie. Công ty SICA (1904)
và SADCA (1914), độc quyền nấu và bán rượu cho dân các tỉnh
từ Quảng Ngãi vào Phú Yên, Tây Nguyên. Trong các xí nghiệp,
tư bản Pháp kết hợp lối bóc lột tư bản với bóc lột phong kiến để
thu lợi nhuận cao(1).
Đến năm 1936, ngoài đường Quốc lộ số 1 đã rải nhựa, Pháp
làm thêm đường số 19, các đường hàng tỉnh (5,6) và liên tỉnh (6),
hoàn thành đoạn đường sắt Đà Nẵng - Quy Nhơn - Nha Trang
(10/1936). Cảng Quy Nhơn sau lần nâng cấp năm 1935, tàu
3.000 tấn có thể cập bến. Công ty STACA có xưởng sửa chữa tại
Quy Nhơn, thao túng việc chuyên chở hàng hóa và hành khách
đoạn đường bộ Đà Nẵng - Nha Trang. Hãng vận tải đường thủy
(Messageries Maritimes) độc quyền chuyên chở hàng hóa xuất
nhập khẩu cảng Quy Nhơn.
Thuế thân từ 10.228 đồng (1898) tăng lên 300.800 đồng
(1931). Một xuất đinh từ 10 xu tăng lên 3đ,20 (tương đương 1 tạ
thóc lúc đó). Thuế ruộng đất từ 27.369 đồng (1898) tăng lên
364.000 đồng (1931). Năm 1931, riêng thuế nạp cho ngân sách
Trung Kỳ và Đông Dương của Bình Định tới 876.000 đồng,
tương đương 27.000 tấn theo giá lúa đầu 1932, tức gần 30% sản
lượng thóc bình quân hàng năm của địa phương. Năm 1933, dân
Bình Định phải “tiêu thụ” 1.200 kg thuốc phiện bằng tiền 10.000
tấn thóc. Nếu tính các loại thuế khóa, những khoản “phù thu
lạm bổ” của nha lại và cường hào… thì gánh nặng thuế khóa của
người dân Bình Định đến quằn lưng.
(1)
16
Delignon, năm 1937 vốn 3.600.000 francs, lãi 1.098.000 francs.
Một tỉnh hơn 700.000 dân, đến 1935, ngoài bệnh viện
Quy Nhơn (1906) với 100 giường, mới có trạm xá Bồng Sơn. Tỷ
lệ học sinh tiểu học rất thấp so với dân số của tỉnh, với nhiều
tỉnh(1). Năm 1932, cả tỉnh có 3 trường tiểu học toàn cấp (6 lớp),
10 trường sơ học (3 - 4 lớp), 60 trường dự bị (2 lớp). Trong khi
đó, nhà lao Quy Nhơn xây cất năm 1930 rất kiên cố, một lúc có
thể giam 400 - 600 tù. Tại Quy Nhơn và các huyện lỵ, thậm chí
nhiều làng, nhan nhản những “tiểu bài” bán rượu và thuốc phiện
(RA, RO). Tài sản văn hóa vô giá của Bình Định cũng bị vơ vét.
Năm 1886, các nhà “khảo cổ” Pháp dùng tàu Mê-Kông chở hơn
80 tấn, gồm tượng đồng và đá, phù điêu,… của các tháp Chàm
về nước(2).
Cái gọi là “công cuộc khai hóa” của đế quốc Pháp tại Bình
Định chẳng những phá vỡ sự phát triển tự nhiên của nền kinh tế
địa phương mà còn kìm hãm nền kinh tế đó trong tình trạng
què quặt và lạc hậu, hoàn toàn bị trói chặt vào cỗ xe “kinh tế
mẫu quốc”.
4. CƠ CẤU XÃ HỘI:
Chính sách thuộc địa của Pháp gây những tác động lớn đối
với Bình Định. Cơ cấu xã hội có sự biến động sâu sắc. Các giai
cấp cũ bị phân hóa, một số lực lượng xã hội mới ra đời.
Học sinh tiểu học Bình Định so với dân số năm 1928 là: 0,5%
- Học sinh tiểu học Bình Định so với dân số năm 1944 là: 0,7%
- Học sinh tiểu học Đông Dương so với dân số năm 1928 là: 0,8%
- Học sinh tiểu học Thái Nguyên so với dân số năm 1932 là: 1,8%
- Học sinh tiểu học Bình Thuận so với dân số năm 1927 là: 2%
- Học sinh tiểu học Hà Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang) so với dân số năm 1932 là:
1,2%.
- Học sinh tiểu học An Giang (Long Xuyên, Châu Đốc) so với dân số năm
1944 là: 1,7%
(1)
(2)
Charles Lemire, Notes sur le Bình Định, Revue Indochine 1900.
17
Từ đợt khai thác lần thứ nhất (1897 - 1914) của Pháp, lực
lượng công nhân xí nghiệp Bình Định xuất hiện. Công nhân gồm
các ngành dệt, chế biến thực phẩm, giao thông vận tải, xây dựng,
cơ khí sửa chữa,… Đông là thợ dệt, chế biến thực phẩm, v.v…
Trong đợt khai thác lần thứ hai, thêm một số xí nghiệp mới SITA,
CADASTRE, nhà đèn, đề-pô Diêu Trì và Quy Nhơn, gara Trần
Sanh Thại,… Đội ngũ công nhân tăng, nhất là lớp thợ kỹ thuật
của Trường Kỹ nghệ Thực hành Huế. Chưa tính số lao động các
hãng buôn ở Quy Nhơn, 5 xưởng dệt thủ công người Hoa ở An Thái,
lực lượng công nhân xí nghiệp Bình Định gần 7.000 người.
Công nhân Bình Định xuất thân từ nông dân, thợ thủ công bị
bần cùng hóa trong quá trình khai thác của Pháp. Số lượng chiếm
tỷ lệ nhỏ (khoảng 1%), trình độ văn hóa và kỹ thuật thấp, nhưng
công nhân Bình Định khá tập trung, tính chất vô sản hiện đại
ngày càng tăng. Đại bộ phận công nhân tập trung các xí nghiệp từ
70 đến 2.000 người (Delignon, SADCA, STACA, FIARD, SITA,
cảng, đề-pô Diêu Trì và Quy Nhơn, hãng Flachet - Lê Phát An,…).
Như cả nước, công nhân Bình Định chịu 3 tầng áp bức, bóc
lột. Gắn bó với nông dân, sinh trưởng một vùng đất có truyền
thống yêu nước kiên cường, công nhân Bình Định là giai cấp đại
diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ, triệt để cách mạng của địa
phương. Quá trình thành lập Đảng bộ, các cao trào 1930 - 1931,
1936 - 1939, 1940 - 1945, công nhân là một trong hai lực lượng
cách mạng cơ bản của địa phương. Trong Cách mạng tháng Tám,
họ là lực lượng nòng cốt của cuộc khởi nghóa tại thành phố
Quy Nhơn và các huyện lỵ Bình Khê, An Nhơn, Tuy Phước.
Nông dân là lực lượng xã hội đông đảo nhất của Bình Định.
Trước năm 1945, họ chiếm tỷ lệ trên dưới 95%(1) dân số địa
Theo Henry Yves, L’économie agricole de l’Indochine số hộ từ không tấc
nào đến vài mẫu ta của Bình Định là 95,3%. Theo điều tra của Nông hội Khu 5:
trước 7/1954, nông dân Bình Định khoảng 92,2%.
(1)
18
phương. Họ là đối tượng chính của chính sách bóc lột và thống
trị của đế quốc Pháp và phong kiến. Bị hất khỏi ruộng vườn,
nhưng cơ sở công nghiệp tại chỗ không dung nạp nổi đội quân bị
bần cùng hóa rất đông đảo này. Một số phải rời quê hương, làm
cu ly các đồn điền, công trường của Pháp ở nam Đông Dương và
Tân Đảo. Phần đông sống lây lất với khẩu phần ruộng công,
ruộng lãnh canh của địa chủ, hoặc chạy bữa bằng cày thuê, cuốc
mướn. Trong kiếp sống nô lệ đó, đồng bào các dân tộc miền núi
còn chịu trăm bề cay đắng và cơ cực hơn. Ngoài ách áp bức và
bóc lột, sự khinh miệt của đế quốc và phong kiến, họ còn bị bọn
chủ làng phạt vạ, bắt nhuốc... và bị trói buộc, giam hãm bằng
hàng chục tập tục hủ lậu.
Nông dân Bình Định mang trong mình khí phách Tây Sơn,
vốn có mối hận thù dân tộc và giai cấp rất sâu đậm với đế quốc
và phong kiến. Họ là lực lượng chủ yếu của những phong trào
chống Pháp, chống sự bóc lột của giai cấp địa chủ. Từ khi có
Đảng, nông dân Bình Định càng phát huy vai trò lực lượng cách
mạng chủ lực, là người bạn tin cậy nhất của giai cấp công nhân
trong phong trào cách mạng địa phương. Trong Cách mạng tháng
Tám, nông dân là lực lượng nòng cốt của cao trào chống Nhật,
cứu nước và khởi nghóa giành chính quyền các huyện.
Tiểu tư sản Bình Định gồm: tiểu thương, tiểu chủ, giáo
viên, học sinh, trí thức, văn nghệ só, dân nghèo thành thị,... bị đế
quốc, tư sản, phong kiến bóc lột và khống chế, nên đời sống của
họ bấp bênh. Các lò nấu dầu dừa, chế biến sắn, khai thác hải
sản,… của người Việt bị bọn tư sản người Hoa chèn ép. Công
chức nhỏ với đồng lương chết đói, lại bị rẻ rúng. Học sinh thiếu
trường, bị nhồi sọ nặng nề. Trước năm 1945, số người Bình Định
có bằng tú tài, đại học, viên chức rất ít. Tầng lớp tiểu tư sản
thường dao động. Song họ, nhất là trí thức, học sinh có tình cảm
19
dân tộc sâu đậm, nhạy cảm với thời cuộc, rất hăng hái cách
mạng, nên giữ vai trò quan trọng đối với các phong trào đô thị.
Tư sản Bình Định rất ít, phần lớn là loại nhỏ. Phần đông
làm các nghề dịch vụ, một số kinh doanh công nghiệp (xà phòng,
dệt,…). Trần Sanh Thại vừa có gara ô tô, vừa có xưởng xà phòng,
bị hãng STACA chèn ép, phải bán gara. Lê Phát An có xưởng
dệt và nhuộm ở Tân An (Nhơn Hòa, An Nhơn), có ô tô chở hàng
cũng bị Delignon thôn tính. Tư sản Bình Định có khuynh hướng
dân tộc, dân chủ. Bị lệ thuộc về kinh tế với đế quốc, dính líu với
phong kiến, làm giàu bằng bóc lột công nhân, nên tinh thần dân
tộc, dân chủ của họ cũng có giới hạn.
Trước năm 1954, bình quân chiếm hữu của một nhân khẩu
địa chủ là 1 mẫu 6 sào, gấp 12 lần một nhân khẩu bần nông
(1 sào 1 thước), hơn 4 lần so với một nhân khẩu trung nông
(3 sào 9 thước). Song các thủ đoạn bóc lột tô tức thì rất trắng
trợn, nhất là các mánh khóe thao túng ruộng đất công của bọn
cường hào. Một số địa chủ chiếm ruộng đất vài làng, thậm chí
nhiều huyện (Ký Viết ở Phù Cát,…). Địa chủ gốc Hoa cũng chiếm
hữu nhiều ruộng: Quách Bình (Tây Sơn) ngót 400 mẫu, Tạ Thủy
Nguyên (An Nhơn) hơn 200 mẫu,… Giai cấp địa chủ Bình Định
cấu kết với Pháp để duy trì ách bóc lột nhân dân. Đế quốc
Pháp dựa vào địa chủ để thống trị và bóc lột nhân dân. Song
giữa địa chủ và thực dân, không phải là không có mâu thuẫn
về quyền lợi. Phần lớn địa chủ nhỏ, nhất là con em họ có tinh
thần dân tộc.
Tình hình kinh tế - xã hội Bình Định chứng tỏ: sự cấu kết
giữa đế quốc Pháp và giai cấp địa chủ là đặc trưng chủ yếu của
chế độ thuộc địa Việt Nam. Nắm vững đặc trưng chủ yếu này có
ý nghóa rất quan trọng đối với việc đề ra đường lối chiến lược,
sách lược của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhaân daân.
20
5. BÌNH ĐỊNH MÀ KHÔNG THỂ “BÌNH ĐỊNH” ĐƯC!
Phát huy truyền thống Tây Sơn quật khởi, nhân dân Bình Định
không ngừng đứng lên chống đế quốc và tay sai.
Từ giữa tháng 8/1885, hưởng ứng hịch Cần Vương, nghóa
quân đã nổi dậy ở các huyện Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Tuy Phước,
An Nhơn, v.v... và cuối tháng 8/1885 chiếm được thành Bình Định.
Đầu tháng 9/1885, Pháp phải mở cuộc hành binh chiếm lại thành
Bình Định(1). Song cho tới cuối 1886, nghóa quân vẫn làm chủ
tình hình toàn tỉnh, vừa đưa quân phối hợp chiến đấu với nghóa
quân Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận.
Đầu 1887, Pháp và triều đình Huế huy động gần 7.000 quân
các loại, để đàn áp. Nghóa quân chiến đấu rất dũng cảm trong
các trận Bồng Sơn, Kim Sơn, Phù Ly, Bầu Sấu, Thủ Thiện,
Đồng Hươu,… Phong trào Cần Vương Bình Định là một trong
những cuộc khởi nghóa lớn của phong trào Cần Vương cả nước
(1885 - 1890), là đỉnh cao của phong trào các tỉnh Nam Trung bộ.
Mai Xuân Thưởng bị lăng trì, dân chúng bị Nguyễn Thân và
Trần Bá Lộc tàn sát hàng loạt. Nhưng các chiến só yêu nước
Bình Định không sờn chí. Phạm Toản lập căn cứ trong rừng sâu,
kéo dài cuộc kháng chiến đến năm 1890. Nguyễn Đa chạy vào
Thất Sơn (An Giang), tiếp tục cuộc chống Pháp. Tăng Bạt Hổ
qua Xiêm, Trung Quốc, Nhật, rồi trở về nước cùng Phan Bội Châu
cổ động phong trào Đông Du (1905 - 1908), Võ Trứ cùng
Trần Cao Vân gây dựng lực lượng trong nông dân và sư sãi
hai tỉnh Bình Định và Phú Yên, phát động cuộc khởi nghóa
Sông Cầu (1898).
Trước nạn xâm lăng của Pháp, nhiều người con ưu tú của
Bình Định trên đất Nam bộ và Huế, cũng có những ứng xử cao
Cuộc hành binh do tướng Roussel De Courcy, Tổng Chỉ huy quân viễn
chinh Pháp tại Trung và Bắc Kỳ, chỉ huy.
(1)
21
đẹp. Ngày 3/8/1864, Nguyễn Văn Viện cùng một số người thuộc
hoàng tộc, tổ chức cuộc binh biến tại Huế để bắt Khâm sứ Pháp
và phái đầu hàng. Võ Duy Dương, tức “Ngũ linh Dương”, sau khi
tham gia bảo vệ thành Gia Định và cuộc khởi nghóa Trương Định,
đã về Đồng Tháp Mười khởi nghóa, đánh những trận oanh liệt:
Cái Nước, Đồng Tháp Mười, chợ Cao Lãnh,… Nguyễn Văn Lịch
tức Nguyễn Trung Trực, người con của Tân An (Long An), nhưng
chính quán, thôn Vónh Hội, tổng Trung An, Phù Cát (nay là xã
Cát Hải), với chiến công đốt cháy tàu “Hy Vọng” (Espérance)
của Pháp, và câu nói bất hủ trước lúc hy sinh: “Bao giờ đất này
hết cỏ thì người Nam mới hết chống Tây”, kế thừa xứng đáng
khí phách Tây Sơn.
Từ 16/4 - 19/5/1908, nhân dân nổi dậy chiếm các huyện lỵ:
Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ, Tuy Phước, An Nhơn, Tây Sơn…
Ngót 30.000 quần chúng bao vây chặt thành Bình Định, sôi
sục chống sưu cao thuế nặng, đòi trừng trị bọn “sâu dân mọt
nước”. Sau cuộc khởi nghóa 1885 - 1887, đây là cuộc nổi dậy
có qui mô toàn tỉnh và quyết liệt. Đế quốc Pháp phải điều 3 đại
đội lính thuộc địa đóng tại Hà Nội, Hải Phòng về Bình Định,
để giải vây bọn tay sai và đàn áp đẫm máu quần chúng. Cụ
Huỳnh Thúc Kháng, một trong những người khởi xướng phong
trào chống thuế Trung bộ năm 1908, đánh giá: “Cuộc cự sưu
Nam - Ngãi vừa lan đến Bình Định thì ngọn sóng khởi lên một
cách bồng bột hơn các nơi khác”(1).
Những năm 1900 - 1914, đồng bào miền núi Bình Định cũng
liên tiếp đứng lên chống sưu thuế, nhất là chống cướp đất
(3/1900, 4/1902, 1904, 1905, 1909…). Nhân dân Vónh Thạnh
kéo dài cuộc đấu tranh ngót 30 năm (1900 - 1929). Nghóa quân
làng Kon ng (Vónh Hảo) bắt tên quan ba Barist, đồn trưởng
Huỳnh Thúc Kháng, Phong trào chống thuế Trung Kỳ năm 1908, Ích Trí,
Huế, 1946.
(1)
22
Định Quang kiêm kiểm lý Vónh Thạnh, đồng bào H’rê An Lão
ở Nước Giáp, Nước Đinh… chống Pháp cướp đất rất quyết liệt.
Để đối phó lại phong trào quần chúng đế quốc Pháp phải dùng
máy bay ném bom các làng Cha Ó (Vónh An), Kon ng,… Những
năm 30 của thế kỷ XX, tuy đã chốt được một số đồn tại An Lão,
Vónh Thạnh và Vân Canh, song đế quốc Pháp không thể nào
kiểm soát được miền núi Bình Định.
Nông dân Bình Định không ngừng dấy lên phong trào chống
giai cấp địa chủ phong kiến. Trước hết, đó là phong trào đấu tranh
chống cuộc chiến tranh chiếm đoạt ruộng đất của Nguyễn Ánh.
Người Pháp viết về phong trào này: “nông dân Bình Định chống
lại cuộc cướp đất của Nguyễn Ánh rất dữ dội. Khắp nơi dấy lên
những cuộc nổi loạn”(1). Dù Minh Mạng cho tiến hành cái gọi là
“chiết bán sung công” (tức lấy 1/2 ruộng tư làm ruộng công),
cũng không xoa dịu được phẫn nộ của nông dân Bình Định. Năm
1840 - 1841, tức sau 2 năm thi hành “chiết bán sung công”, có
tới 300 vụ tranh chấp giữa nông dân và địa chủ. Hầu hết các
huyện xảy ra không ngớt những vụ nông dân hỏi tội bọn ác bá.
Nông dân không ngừng nổi dậy chống sự bóc lột của giai cấp
địa chủ là một nét rất đặc sắc của phong trào đấu tranh của
Bình Định trước 1930.
*
*
*
Các cuộc đấu tranh sôi động của nhân dân Bình Định trong
những năm cuối thế kỷ XIX và đầu XX góp phần đẩy xã hội
thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam lún sâu vào cơn khủng
hoảng trầm trọng. Cuộc khủng hoảng này là nạn nước, mà cũng
là sự thách thức lịch sử đối với năng lực và trí tuệ của nhân dân
cả nước, của mỗi địa phương.
(1)
Revue Indochine số 81, 1900.
23
Biết bao thế hệ chiến só yêu nước Bình Định ngã xuống cho
công cuộc tìm đường cứu nước, cứu nhà. Các phong trào đó không
đi tới thành công vì thiếu sự lãnh đạo của một tổ chức cách
mạng kiểu mới, với một đường lối chính trị có thể giải quyết
đúng đắn các vấn đề chiến lược, sách lược đặt ra cho đất nước
và quê hương trong thời đại mới.
Dòng sông vượt qua bao núi cao, rừng rậm, vách đá cheo
leo,… để đến với biển cả. Các phong trào đấu tranh của nhân
dân Bình Định trong thời gian này có những bước quanh co.
Song đó là sự vươn mình và tìm tòi hướng đi không biết mệt
mỏi của các thế hệ chiến só yêu nước tiền bối, thực sự chuẩn bị
mảnh đất cho chủ nghóa xã hội gieo hạt giống của công cuộc
giải phóng(1).
(1)
24
Hồ Chí Minh, Sđd, tập I trang 10.
Chương I
CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG ĐẦU TIÊN
(1928 - 1930)
1. VẬN HỘI MỚI, PHONG TRÀO MỚI
Đầu những năm 1930, Việt Nam đứng trước ngưỡng cửa
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc kiểu mới, trong cao trào
cách mạng mà Lênin gọi là “Phương Đông thức tỉnh”, dấy lên
sôi sục sau Cách mạng tháng Mười Nga (11/1917).
Sau tiếng bom của Phạm Hồng Thái (6/1924) tại Sa Điện
(Quảng Châu, Trung Quốc), cả nước dâng lên những đợt sóng
đấu tranh đòi các quyền dân tộc và dân chủ. Phong trào công
nhân có bước chuyển biến về chất, tiêu biểu là cuộc bãi công
ngày 04/8/1925 của công nhân hãng Ba Son, Sài Gòn. Phong
trào đấu tranh đòi trả lại tự do cho cụ Phan Bội Châu (từ tháng
10 đến tháng 12/1925), để tang cụ Phan Chu Trinh (cuối tháng
3/1926), lan từ Nam chí Bắc. Trước khí thế tiến công mới của
cách mạng Việt Nam, đế quốc Pháp phải đưa VaRen (VaRenne),
đảng viên Đảng xã hội Pháp bị khai trừ, sang làm toàn quyền
Đông Dương thay cho MécLanh, với ngón lừa bịp mới rất xảo
quyệt “Pháp Việt đề huề”.
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ Pháp đi Liên Xô. Người tham
gia các Đại hội: Quốc tế Nông dân (12 - 15/10/1923), Quốc tế Cộng
sản lần thứ V (17/6 - 8/7/1924). Đầu năm 1925, tại Quảng Châu,
Người lập Thanh niên cộng sản đoàn, và Việt Nam Thanh niên
Cách mạng đồng chí hội (2/1925) để tập hợp và giác ngộ những
thanh niên yêu nước có xu hướng cộng sản chủ nghóa. Người mở
25