Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

sang kien kinh nghiem

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (180.96 KB, 15 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài Đối với bộ môn ở trường THCS việc sử dụng bản đồ treo tường trong d¹y học Lịch Sử là nguồn cung cấp kiến thức quan trọng cho học sinh. Đó là một trong những phương tiện dạy học không thể thiếu được trong giờ dạy học Lịch Sử và trở thành nhu cầu có tính nguyên tắc trong toàn bộ quá trình dạy học Lịch Sử nói chung và dạy học Lịch Sử 9 nói riêng. Ph¬ng pháp dạy - học Lịch Sử là của riêng mỗi người chỉ cần có kiến thức Lịch sử là có thể dạy được. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII nhận đúng "Phương pháp dạy học, đào tạo chậm được đổi mới chưa phát huy được tính sáng tạo của người học." Vì vậy mỗi giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học, khắc phục lối truyền thụ một chiều để phát huy tính độc lập, sáng tạo của ngươi học, kết hợp nhiều phương pháp dạy học để đạt hiệu quả cao nhất. Từ đặc trưng của việc dạy - học Lịch Sử cần tìm ra phương pháp thích hợp. Do đặc điểm của học tập Lịch Sử không trực tiếp quan sát các sự kiện. Nên phương pháp trực quan có ý nghĩa rất quan trọng, Có nhiều loại đồ dùng trực quan khác nhau, cách sử dụng và hiệu quả cũng khác nhau, song đều có tác dụng nâng cao chất lượng dạy học Lich Sử, gây hứng thú học tập cho học sinh. Nó là "chiếc cầu nối" giữa quá khứ với hiện tại. Có nhiều loại đồ dùng trực quan, trong đó bản đồ Lịch Sử treo tường là loại sử dụng phổ thông có vai trò quan trọng, nó không chỉ giúp học sinh xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian và không gian nhất định, mà còn giúp học sinh suy nghĩ và giải thích các hiện tượng Lich Sử, về mối liên hệ nhân quả, về tính quy luật về trình tự phát triển của Lịch Sử. Giúp học sinh củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học. Việc sử dụng đồ dùng dạy học nói chung, nhất là bản đồ Lịch Sử treo tường nói riêng, không chỉ giúp cho giờ dạy của thầy thêm sinh động, hấp dẫn tránh đơn điệu khô khan, mà còn giúp cho học sinh hứng thú với giờ học, tiếp thu kiến thức bộ môn một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng và ghi nhớ lâu bền. Vì vậy việc sử dụng đồ dùng dạy học là điều cần thiết không thể thiếu được trong điều kiện nước ta hiện nay, đem lại nhiều kết quả về mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Qua thực tiễn giảng dạy và hoc tập Lịch Sử ở trường THCS, tôi nhận thấy nhiều giáo viên chưa nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ về chức năng vai trò của đồ dùng trực quan, nhất là bản đồ treo tường trong dạy học môn Lịch Sử. Vì vậy có không ít giáo viên không chú trọng đến bản đồ thường chỉ dạy "chay" bằng phương pháp thuyết trình hoặc chỉ dùng khi có người dự giờ. Thậm chí trong quá trình sử dụng bản đồ nhiều giáo viên và học sinh vẫn chưa có kĩ năng cần thiết và thành thạo để khai thác nguồn tri thức trên bản đồ. Chính vì vậy học sinh vốn sẵn tâm lí ngại học môn này, không hứng thú học tập, không nắm chắc, không nhớ được kiến thức Lịch Sử trong chương trình. Tình trạng học sinh chỉ thuộc "vẹt" lí thuyết mà không nhớ tên địa danh, nơi xảy ra những sự.

<span class='text_page_counter'>(2)</span> kiện Lịch Sử, những trận đánh lớn, hiện tượng này còn phổ biến trong học sinh hiện nay. Xuất phát từ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trên, một vấn đề đặt ra với giáo viên dạy môn Lịch Sử là phải biết kết hợp và sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn. Đặc biệt là phương pháp sử dụng bản đồ Lịch Sử treo tường nhằm kích thích hứng thú và phát huy tối đa năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo độc lập của học sinh. Qua đó khắc phục những hạn chế trong việc dạy và học môn Lịch Sử ở trường phổ thông hiện nay. Với những lí do trên, bản thân tôi muốn đi sâu nghiên cứu về cách sử dụng bản đồ Lịch Sử treo tường trong dạy học Lịch Sử Việt Nam lớp 9 - THCS. Để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học và tăng thêm sự hứng thú, lòng yêu thích đối với bộ môn. II. Giới hạn đề tài: Với cương vị giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường THCS, tôi chỉ xin trình bày một vài ý kiến nhỏ trong phạm vi hẹp về việc sử dụng bản đồ treo tường trong dạy - học Lịch Sử Việt Nam lớp 9 - THCS. III. Mục đích và nhiệm vụ: a- Mục đích : Nghiên cứu đề tài này nhằm phát huy một cách cao nhất hiệu quả các phương pháp dạy học Lịch Sử góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục b- Nhiệm vụ : Người giáo viên khi nắm chắc đề tài này sẽ vân dụng vào bài giảng của mình để nâng cao chất lượng bài dạy, giúp học sinh nhớ và hiểu nội dung bài học đồng thời tạo sự hứng thú, niềm say mê môn học đối với các em. IV. Phương pháp nghiên cứu: Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã vận dụng những phương pháp cơ bản sau: - Phương pháp nghiên cứu lý luận. - Phương pháp quan sát. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp điều tra..

<span class='text_page_counter'>(3)</span> PHẦN NỘI DUNG I. C¬ së lÝ luËn vµ thùc tiÔn 1. Cơ sở lý luận - Trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học: nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành các khái niệm cơ sở trực quan minh họa sự vật. - Trong dạy học Lịch Sử, phương pháp trực quan góp phần tạo biểu tượng cho học sinh cụ thể hóa các sự kiện và khắc phục tình trạng "Hiện đại hóa" Lịch Sử của học sinh. - Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu biết sâu sắc bản chất của sự kiện Lịch Sử, là phương tiện rất có hiệu lực để hình thành các khái niệm Lịch Sử quan trọng nhất, giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội. - Đồ dùng trưc quan còn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh nhớ kỹ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức Lịch Sử. - Cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thức khái niệm Lịch Sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng tư duy và ngôn ngữ cho học sinh. - Ý nghĩa giáo dục tư tưởng cảm xúc, thẩm mĩ của đồ dùng trực quan cũng rất lớn. Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch Sử là một điều không thể thiếu được. Giáo viên không chỉ chuẩn bị chu đáo về việc nắm vững nội dung các loại đồ dùng trực quan, chế tạo và biết sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học, bao gồm việc trình bày kiến thức mới, ôn tập, tổng kết và kiểm tra đánh giá. Có nhiều cách phân loại đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch Sử, song cơ bản chúng ta có thể chia làm 3 nhóm lớn. + Nhóm thứ nhất: Đồ dùng trực quan hiện vật. + Nhóm thứ hai: Đồ dùng trực quan tạo hình. + Nhóm thứ ba: Đồ dùng trực quan quy ước trong điều kiện cho phép tôi xin đi sâu vào việc sử dụng bản đồ Lịch Sử treo tường. - Bản đồ Lịch Sử là một trong những loại đồ dùng thường được giáo viên sử dụng . . + Về hình thức, bản đồ Lịch Sử không cần có nhiều chi tiết về điều kiện thiên nhiên (khoáng sản, sông núi ...) mà cần có những kí hiệu về biên giới các quốc gia, sự phân bố dân cư, thành phố, các vùng kinh tế, địa điểm xảy ra những biến cố quan trọng (các cuộc khởi nghĩa, cách mạng, chiến dịch ...)..

<span class='text_page_counter'>(4)</span> + Các minh họa trên bản đồ phải đẹp, chính xác, rõ ràng . + Về nội dung, bản đồ Lịch Sử có thể chia làm 2 loại chính: bản đồ tổng hợp và bản đồ chuyên đề. * Bản đồ tổng hợp phản ánh những sự kiện Lịch Sử quan trọng nhất của một nước hay nhiều nước có liên quan ở một thời kỳ nhất định, trong những điều kiện tự nhiên nhất định. Ví dụ: "Bản đồ các nước châu Á" Trong dạy học Lịch Sử Thế Giới lớp 9 THCS có thể sử dụng bản đồ này khi dạy các bài "các nước châu Á, các nước ĐÔNG NAM Á, Trung Quốc, Nhật Bản ..." . Đối với loại bản đồ tổng hợp này giáo viên cần hướng dẫn các em phân biệt màu sắc giữa các nước hay các khu vực, ký hiệu về danh giới, biên giới giữa các nước. * Bản đồ chuyên đề nhằm diễn tả những sự kiện riêng rẽ hay một mặt của quá trình Lịch Sử như diễn biến một trận đánh, sự phát triển kinh tế của một nước trong một giai đoạn Lịch Sử. Ví dụ: Khi dạy phần Lịch Sử Việt Nam lớp 9 - THCS các loại bản đồ sử dụng chủ yếu là bản đồ quân sự về các chiến dịch, về các trận đánh lớn hay các cuộc khởi nghĩa lớn như: - Bản đồ phong trào cách mạng 1930-1931 và Xô Viết - Nghệ Tĩnh. - Bản đồ tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. - Bản đồ chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947. - Bản đồ chiến dịch biên giới - Thu Đông 1950. - Bản đồ các cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. - Bản đồ tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Đối với loại bản đồ này giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm bắt được ký hiệu đường tiến quân của ta và đường hành quân, rút lui của địch, tên các địa danh xảy ra những trận đánh lớn trên bản đồ. + Trong thực tiễn dạy học Lịch Sử cần kết hợp cả hai loại bản đồ trên trong quá trình dạy học Lịch Sử. 2. Cơ sở thực tiễn: - Hiện nay công cuộc cải cách giáo dục đang được triển khai mạnh mẽ ở trường phổ thông đòi hỏi đồng thời phải tiến hành cải cách về hệ thống giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học. Môn Lịch Sử ngày càng được nhận thức đúng vai trò và ý nghĩa của chúng trong việc đào tạo thế hệ trẻ. - Trên thực tế việc đổi mới phương pháp dạy học còn được tiến hành chậm. Vì vậy học sinh chưa thật ham môn học, chất lượng hiệu quả giáo dục chưa cao giáo viên vận dụng phương pháp đổi mới còn nhiều lúng túng. - Về mặt khách quan:.

<span class='text_page_counter'>(5)</span> + Thì việc áp dụng phương pháp dạy học còn chưa thành thạo do mới tiếp cận với đổi mới. + Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn chưa đáp ứng được yêu cầu. - Về mặt chủ quan: + Trình độ của một số giáo viên còn non kém, chưa thực sự chuẩn hóa. + Một số giáo viên thường quen với nếp dạy cũ là dạy chay, đọc - chép ... Đối với học sinh lớp 9 việc nhận thức của các em về môn này còn nhiều hạn chế thậm chí còn nhận thức chưa đúng về vị trí ý nghĩa của môn học. Đa số các em cho môn Lịch Sử là môn phụ cho nên không chú tâm học tập môn này và cũng chưa hình thành cho mình kỹ năng học tập bộ môn măc dù các em đã được học môn này từ lớp 6. Kỹ năng sử dụng bản đồ còn non yếu ... Vì vậy để khai thác bản đồ đạt được hiệu quả cao nhất là một việc không dễ dàng. Muốn đạt mục tiêu giáo dục đề ra thì cần sự nỗ lưc từ hai phía: người dạy và người học. II. Các biện pháp thực hiện: a. Một số yêu cầu chung khi sử dụng bản đồ : Khi sử dụng đồ dùng trực quan, nói chung và bản đồ Lịch Sử nói riêng cần chú ý các nguyên tắc sau: + Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục của bài học để lứa chọn bản đồ tương ứng, thích hợp. Vì vậy cần có một hệ thống bản đồ phong phú phù hợp với các bài học Lịch Sử. + Định rõ phương pháp thích hợp đối với việc, sử dụng bản đồ. Phải đảm bảo cho học sinh được sử dụng một cách đầy đủ, khắc phục tình trạng học sinh chỉ xem để minh họa cho nội dung sự kiện mà giúp cho các em hiểu sự kiện. + Phát huy tính tích cực của học sinh khi sử dụng bản đồ, không chỉ để cụ thể hóa kiến thức mà cần đi sâu phân tích bản chất sự kiện, để tiếp thu kiến thức, hiểu sâu sắc, làm bài kiểm tra ... + Đảm bảo kết hợp lời nói với việc trình bày bản đồ, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành của học sinh khi xây dựng và sử dụng bản đồ. + Kết hợp các loại tài liệu trong khi sử dụng bản đồ. - Việc sử dụng bản đồ trong dạy học Lịch Sử bao giờ cũng kết hợp chặt chẽ với việc sử dung lời nói tài liệu viết. Giáo viên lưu ý học sinh quan sát bản đồ rồi trình bày nội dung. Giáo viên dùng các loại tài liệu tham khảo có liên quan và một số tài liệu trực quan khác làm cho việc trình bày được khoa học hấp dẫn hơn. b. Phương pháp sử dụng bản đồ treo tường: - Đồ dùng trực quan treo tường nói chung và bản đồ treo tường nói riêng là loại đồ dùng nhiều nhất trong dạy học Lịch Sử hiện nay..

<span class='text_page_counter'>(6)</span> + Trước khi sử dụng bản đồ treo tường cần chuẩn bị kỹ (nắm chắc nội dung nào của giờ học). + Trong quá trình sử dụng cần chọn đúng thời điểm treo bản đồ. Không nên treo ở giữa bảng đen vì bảng còn dùng để viết, phải treo chỗ cao ở góc bên phải bảng nơi có đủ ánh sáng cho tất cả học sinh nhìn rõ. Giáo viên phải đứng bên phải bản đồ, dùng que chỉ các địa điểm cho thật chính xác. Khi xác định một vị trí, giáo viên không nên nói một cách mơ hồ rằng vị trí này ở "phía dưới" ở "bên phải" hay "bên trái" mà phải chỉ phương hướng của vị trí như "phía tây" hay "phía bắc" ... Nếu là một khu vực, căn cứ quân sự ... thì giáo viên phải chỉ đúng ý hiệu trên bản đồ. Nếu là con sông thì phải chỉ từ thượng lưu xuống hạ lưu (theo dòng chảy của con sông)... + Giáo viên phải luôn theo dõi, kiểm tra sự tiếp thu của học sinh, giúp các em phân tích, nêu kết luận, khái quát về sự kiện được phản ánh trên bản đồ. + Đối với học sinh việc sử dụng bản đồ không những để ghi nhớ, xác định vị trí các địa điểm Lịch Sử mà còn hiểu rõ nội dung của bản đồ. Hiểu rõ bản đồ không chỉ là biết các chú dẫn, ký hiệu ... mà cần nhìn thấy sau các quy ước trên bản đồ, những hiện tượng, sự kiện sinh động của quá khứ, tính chất phức tạp của những quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội. + Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh "đọc" bản đồ nghĩa là hiểu một cách cụ thể nội dung, các sự kiện Lịch Sử được diễn đạt bằng ngôn ngữ bản đồ từ đó rút ra những kết luận. - Trên đây là những phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường, song để sử dụng một cách hiệu quả cần lưu ý mấy điểm sau: + Muốn chỉ và đọc bản đồ treo tường một cách thông thạo, giáo viên và học sinh không chỉ nắm vững nội dung các sự kiện được thể hiện qua các ký hiệu mà còn phải hiểu rõ những nguyên tắc chung của việc đọc bản đồ Lịch Sử. Đó là việc đọc tên bản đồ để biết bản đồ được sử dụng phù hợp nội dung bài Lịch Sử phục vụ tốt việc dạy học bài này. Điều này nhằm tránh việc sử dụng một cách tùy tiện các loại bản đồ không phù hợp nội dung bài học như bản đồ địa lý, bản đồ hành chính hiện nay. + Đọc tỷ lệ bản đồ ghi ở cuối, để hiểu bản đồ lãnh thổ được trình bày mà mức độ thu nhỏ các đối tượng, sự kiện lịch sử được diễn đạt. + Đọc bản chú giải để hiểu rõ nội dung các ký hiệu thể hiện các sự kiện lịch sử. + Việc sử dụng bản đồ treo tường cũng có nhiều mức độ khác nhau. * Đọc và chỉ đúng nơi xảy ra sự kiện. * Trình bày diễn biến sự kiện theo bản đồ. * Kiểm tra bài cũ theo bản đồ. - Tôi xin đi sâu vào cách sử dụng bản đồ treo tường vào việc dạy học Lịch Sử Việt Nam lớp 9 THCS để khai thác kiến thức qua các bước lên lớp:.

<span class='text_page_counter'>(7)</span> b.1: Dùng bản đồ để kiểm tra đầu giờ, giáo viên có thể treo bản đồ bài học trước để học sinh quan sát và trả lời câu hỏi của giáo viên đặt ra. Việc sử dụng bản đồ để kiểm tra bài cũ đầu giờ sẽ có tác dụng giúp học sinh trình bày kiến thức mà mình nắm được một cách tự tin, mạch lạc tránh được hiện tượng thuộc lòng, học vẹt. Ví dụ: Trước khi dạy bài 25 - phần V Đẩy mạnh kháng chiến toàn dân, toàn diện giáo viên treo bản đồ chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947 lên bảng và đặt câu hỏi . * Dùng bản đồ xác định vị trí, phạm vi của căn cứ địa Việt Bắc trên bản đồ? * Trình bày trên bản đồ diễn biến của chiến dịch Việt Bắc và các chiến trường phối hợp trong cả nước? b.2: Sử dụng bản đồ để khai thác nội dung bài mới. Trong quá trình giảng dạy môn Lịch Sử có không ít giáo viên còn quan niệm bản đồ chỉ là một phương tiện để minh họa do đó thường tập trung giảng xong nội dung kiến thức rồi mới chỉ bản đồ để minh họa cho lời giảng. Như vậy sẽ không phát huy được hiệu quả của bản đồ trong giờ dạy học. Vì thế trong khi giảng giáo viên phải kết hợp các thao tác sau: vừa chỉ bản đồ vừa minh họa bằng lời giảng, chỉ bản đồ đến đâu thì giảng đến đó cho học sinh hiểu và tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất. Ví dụ: Khi dạy về cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tiết 25 mục II) giáo viên treo bản đồ khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam kỳ và Binh Biến Đô Lương lên bảng và nêu câu hỏi: hãy xác định vị trí của Bắc Sơn trên bản đồ. Sau khi học sinh trả lời giáo viên chỉ trên bản đồ vị trí của Bắc Sơn và giới thiệu "Bắc Sơn là một huyện miền núi thuộc tỉnh Lạng Sơn, phía bắc giáp Trung Quốc, phía nam giáp huyện Võ Nhai - Thái Nguyên. Là nơi cách mạng từ rất sớm". Tiếp đó giáo viên gợi mở hướng dẫn học sinh tìm hiểu về nguyên nhân bùng nổ khởi nghĩa Bắc Sơn. Tương tự khi dạy về chiến dịch Lịch Sử Điện Biên Phủ 1954 (tiết 35 - bài 27) dựa vào sách giáo khoa và tài liệu tham khảo giáo viên có thể xây dựng một đoạn tư liệu miêu tả khái quát kết hợp với bản đồ để làm nổi bật vị trí chiến lược quan trọng của Điện Biên Phủ như sau: "Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng lớn nằm ở phía tây vùng rừng núi Tây Bắc có cánh đồng Mường Thanh dài 20km, rộng từ 6 đến 8km, phía bắc giáp Lào. nằm trên một đầu mối giao thông quan trọng có tuyến đường sang Lào, có sông Nậm Rốn chảy theo hướng Nam - Bắc, có sân bay Mường Thanh. Theo đánh giá của Na-va và nhiều nhà quân sự Pháp - Mỹ thì Điện Biên Phủ có một vị trí chiến lược quan trọng chẳng những đối với chiến trường Đông Dương mà còn đối với miền Đông Nam Á. Điện Biên Phủ "như cái bàn xoay đi bốn phía Việt Nam, Lào, Trung Quốc, Mi-an-ma. Như chiếc chìa khóa bảo vệ Thượng Lào. Chính vì vậy, Pháp và Mĩ quyết tâm xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương..

<span class='text_page_counter'>(8)</span> Sau khi giới thiệu xong vị trí Điện Biên Phủ giáo viên tiếp tục trình bày trên bản đồ về lực lượng và cách bố trí phòng ngự của địch ở Điện Biên Phủ "lực lượng của địch ở Điện Biên Phủ 16200 tên Điện Biên Phủ được bố trí thành hệ thống phòng ngự mạnh gồm 49 cụm cứ điểm chia làm 3 phân khu Bắc có Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo, Khu Nam có trung tâm đề kháng là Hồng Cúm. Ngoài ra Điện Biên Phủ còn được bao quanh bởi hệ thống giao thông hào, lưới mìn, dây thép gai dày đặc"... Với cách phòng ngự kiên cố và vững chắc như vậy cả Pháp và Mĩ đều coi Điện Biên Phủ là pháo đài bất khả xâm phạm", là "con nhím khổng lồ giữa núi rừng Tây Bắc", là "cối xay thịt đối với chủ lực của ta". Bằng cách vừa giảng vừa minh họa trên bản đồ như vậy giúp học sinh vừa chăm chú vào bài giảng, vừa phát huy tối đa năng lực nhận thức và tư duy sáng tạo, độc lập của học sinh. Nhờ vậy học sinh có khả năng tiếp thu tốt nhất và say mê với bài học ở trên lớp. Trong bước dạy nội dung bài mới giáo viên cần nghĩ rằng các thao tác chỉ bản đồ kết hợp với lời giảng của mình đều là những thao tác khuôn mẫu để giúp học sinh biết cách đọc và sử dụng bản đồ ngay khi dạy bài mới ở trên lớp. Qua đó tạo cho học sinh có thể tự tiến hành học tập môn Lịch Sử bằng bản đồ kết hợp với sách giáo khoa và vở ghi ở lớp cũng như ở nhà. b.3: Dùng bản đồ để phát vấn học sinh Bản đồ là một công cụ để giáo viên khai thác kiến thức bài học và là một phương tiện để giáo viên hướng dẫn học sinh tìm ra những nội dung chủ yếu của bài học. Vì vậy trong quá trình dạy bài mới giáo viên cần chú ý đến việc sử dụng phương pháp phát vấn đối với học sinh trên cơ sở quan sát bản đồ. Có như vậy mới giúp các em tăng cường rèn kỹ năng đọc bản đồ và bồi dưỡng khả năng tư duy môn Lịch Sử một cách nhẹ nhàng, thường xuyên và liên tục. Để thực hiện được những yêu cầu trên giáo viên cần chú ý đến các điều kiện sau: * Điều kiện thứ nhất: Phải đặt câu hỏi từ dễ đến khó. Khi dạy bài 1 - tiết 2 - mục II(1) sự ra đời của các nước dân chủ nhân dân Đông Âu giáo viên cần đặt câu hỏi vừa mang tính chất cởi mở, vừa mang tính chất dẫn dắt để học sinh có thể hiểu được nội dung kiến thức bản đồ. Ví dụ: Nhìn bản đồ các nước dân chủ nhân dân Đông Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai: Hãy cho biết vị trí của các nước này? Sau khi học sinh trả lời (nằm ở Đông Nam và Trung Âu) tiếp đó giáo viên lại hỏi tiếp: Các nước Đông Âu gồm mấy nước? Học sinh xác định vị trí 8 nước Đông Âu trên bản đồ. Khi dạy bài " các nước Mĩ La Tinh " giáo viên vẫn nêu câu hỏi dẫn dắt học sinh như: Nhìn vào bản đồ cho biết vị trí của các khu vực Mĩ La Tinh? (gồm toàn bộ Trung Và Nam Mĩ) Sau đó giáo viên hỏi tiếp: Tại sao khu vực này được gọi là "sân sau" của Mĩ? Qua đó học sinh có thể hiểu rõ hơn âm mưu và thủ đoạn thâm độc của Mĩ đối với khu vực này. * Điều kiện thứ hai: Đặt câu hỏi từ để dễ đến phức tạp..

<span class='text_page_counter'>(9)</span> Khi dạy về cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 giáo viên có thể đặt câu hỏi theo từng nội dung như: + Dựa vào bản đồ em có nhận xét gì về cuộc chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 ? (ta đánh địch ở nhiều nơi Điện Biên Phủ, Thượng Lào, Trung Lào, Bắc Tây Nguyên ...) tiếp đó giáo viên có thể hỏi tiếp về kết quả của các cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954. Ví dụ: Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 đã đạt được kết quả như thế nào? (Làm phá sản bước đàu kế hoạch Na-va ...) tiếp đó giáo viên có thể đua ra câu hỏi phát vấn khái quát hơn bao gồm nhiều vấn đề phức tạp hơn Ví dụ: Hãy quan sát lược đồ Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân và bản đồ chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 từ đó hãy lý giải vì sao nói cuộc tấn công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 làm phá sản bước đầu kế hoạch Na-va của địch? (kế hoạch tập trung quân ở đồng bằng Bắc Bộ của địch đã bị phá sản cuộc tấn công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 buộc địch phải phân tán ra nhiều nơi như: Điện Biên Phủ, Xê Nô, Luông Pha Băng, Plây Cu). Tiếp đó giáo viên có thể đua ra câu hỏi: Quan sát lược đồ em thấy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của địch có bị cô lập không? Tại sao? b.4: Sử dụng bản đồ vào việc củng cố bài học. Trong bước củng cố nội dung kiến thức vừa học và những tiết ôn tập giáo viên có thể sử dụng bản đồ gọi học sinh lên bảng trình bày những kiến thức dã tiếp thu được trên bản đồ. Bằng cách củng cố bài dựa vào phương pháp trực quan này sẽ giúp học sinh nắm bài ngay tại lớp và nhớ lâu kiến thức. Giáo án minh họa: TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945 VÀ SỰ THÀNH LẬP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ I. Mục tiêu bài học: 1. Về kiến thức: - Hiểu được hoàn cảnh thuận lợi dẫn đến cuộc Tổng khởi nghĩa tháng tám 1945. - Nắm được diễn biến chính cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc. Nắm được ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của CM tháng Tám. - MT: Xác định những địa phương lần lượt tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 : Hà Nội, Huế, Sài Gòn, những tỉnh nổ ra khởi nghĩa sớm nhất trong cả nước trong đó có Hải Dương. + Quảng trường Ba Đình - nơi tổ chức lễ tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945)..

<span class='text_page_counter'>(10)</span> 2. Về kỹ năng: - Rèn kĩ năng: Sử dụng tranh ảnh, tường thuật diến biến cách mạng trên lược đồ, biết phân tích đánh giá sự kiện. - MT: Sử dụng Hình 39 sgk và lược đồ khu giải phóng Việt Bắc, các tỉnh tiến hành Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. 3. Về thái độ: - Giáo dục lòng kính yêu chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng tin vào thắng lợi của cách mạng và niềm tự hào dân tộc. II. Chuẩn bị: 1. Giáo viên: - Soạn bài, Lược đồ Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. 2. Học sinh: - Học, đọc sách giáo khoa. III. Tiến trình dạy - học A. Ổn định lớp: (1 phút) B. Kiểm tra: (4 phút) - Đảng cộng sản Đông Dương đã có chủ trương và khẩu hiệu đấu tranh gì để tiến tới Tổng khởi nghĩa? C. Bài mới:(35 phút) Giới thiệu bài: (1 phút) Qua cao trào kháng Nhật cứu nước lực lượng cách mạng đã được chuẩn bị kĩ lưỡng và chuẩn bị bước vào cuộc Tổng khởi nghĩa. Vậy cuộc Tổng khởi nghĩa được diễn ra trong hoàn cảnh nào? Diễn biến của nó ra sao? ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi được thể hiện như thế nào? Để hiểu vấn đề này chúng ta đi tìm hiểu bài hôm nay. Công việc của thầy và trò. Ghi bảng. - GV giới thiệu cho HS nhớ lại diễn biến CTTG I. Lệnh Tổng khởi nghĩa II giai đoạn cuối: PX Đức bị tiêu diệt, Nhật đầu được ban bố: hàng (8/1945). 1. Hoàn cảnh: +? Trước tình hình thuận lợi đó Đảng ta có chủ - Thế giới: PX Đức, Nhật đầu trương gì? hàng Đồng minh không điều +? Tại sao PX Nhật đầu hàng lại tạo ra thời cơ kiện. cho nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền? - Trong nước: Quân Nhật đang +? Đại hội quốc dân quyết định những vấn đề hoang mang cao độ.  Thời cơ gì? cách mạng đã chín muồi. - Tán thành quyết định của Đảng.. 2. Hội nghị toàn quốc của - GV có thể giới thiệu đình Hồng Thái, cây đa Đảng: Tân Trào. - Thời gian:14-15/8/1945. +?Tại sao Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp - Địa điểm: Tân Trào..

<span class='text_page_counter'>(11)</span> mà sau đó lại phải tổ chức Đại hội quốc dân?. - Quyết định phát động Tổng +? Cho biết sự kiện nào mở đầu cuộc Tổng khởi khởi nghĩa. nghĩa giành chính quyền 1945? 3. Quốc dân đại hội. - Thành lập UB giải phóng dân tộc, quyết định - Họp 16/8/1945, tại Tân Trào. quốc kì, quốc ca. - Chiều 16/8, khởi nghĩa bùng - Quyết định nổi dậy giành chính quyền. nổ từ Tân Trào  Thái - " Con thú dữ ở Á §ông đã ngã gục thì bầy sói Nguyên. con của chúng ở ĐD cũng hết sức ngơ ngác". - Đại hội quốc dân là ĐH của toàn dân còn Hội nghị của Đảng là mang tính chỉ đạo. * Tiểu kết: Như vậy trước thời cơ chín muồi, Đảng ta đã quyết định chớp thời cơ phát động Tổng khởi nghĩa. - MT: Xác định những địa phương lần II. Giành chính quyền ở Hà lượt tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Nội: 8/1945 : Hà Nội, Huế, Sài Gòn, những tỉnh nổ ra khởi nghĩa sớm nhất trong cả nước trong đó có Hải Dương. - GV giới thiệu không khí cách mạng ở HN - 16/8, truyền đơn kêu gọi khởi nghĩa. sau khi Nhật đầu hàng. +? Trước không khí cách mạng đó nói lên điều gì? - Ngày 19/8, Việt Minh tổ chức cuộc mít tình tại nhà hát - GV tường thuật diễn biễn trên lược đồ. lớn  cuộc biểu tình đánh - GV giới thiệu hình 39 SGK. chiếm các công sở chính quyền +? Việc giành chính quyền ở HN một cách địch. Khởi nghĩa thắng lợi. nhanh chóng như vậy có ý nghĩa gì? - Sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền. - Ý nghĩa: Có tác động cổ vũ - HN là trung tâm đầu não của ĐD, từ HN lan đến khởi nghĩa giành chính nhanh như một dây thuốc nổ cổ vũ nhân dân cả quyền trong cả nước. nước. * Tiểu kết : Việc giành chính quyền ở Hà Nội có tác động rất lớn đến việc giành chính quyền trong cả nước.. - GV tường thuật diễn biến trên lược đồ.. III. Giành chính quyền trong cả nước.. +? Hãy cho biết những tỉnh giành chính quyền - 23/8 Huế giành chính quyền. sớm nhất trong cả nước? - 25/8 Sài Gòn giành chính + Sớm nhất: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, quyền. Quảng Nam.. - 28/8 cả nước giành chính.

<span class='text_page_counter'>(12)</span> + Cuối cùng: Hà Tiên và Đồng Nai Thượng.. quyền.. - GV giới thiệu về sự kiện vua Bảo Đại thoái vị. - 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập - GV giới thiệu hình 40.  Nước VNDCCH ra đời. +? Em có nhận xét gì về việc giành chính quyền trong cả nước? - Rất nhanh chóng (12 ngày) và ít đổ máu. * Tiểu kết : Như vậy với sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt nên cách mạng tháng Tám đã thành công trong thời gian ngắn và ít thiệt hại . + MT: Quảng trường Ba Đình - nơi tổ chức lễ tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945).. IV. Ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thành công của Cách mạng tháng Tám: 1. ý nghĩa:. +? Cách mạng tháng Tám thắng lợi có ý nghĩa - Đối với dân tộc: Là sự kiện vĩ lịch sử gì? đại trong lịch sử dân tộc: + Phá tan xiềng xích nô lệ. - GV phân tích rõ vấn đề.. + Lật nhào chế độ quân chủ - Ách thống trị của TD Pháp 1858-1945 = 87 chuyên chế. năm.  Mở ra kỉ nguyên mới. - Đối với thế giới: Cổ vũ tình thần đấu tranh của nhân dân các thuộc địa trên thế giới. +? Vì sao cách mạng đã nhanh chóng giành 2. Nguyên nhân thắng lợi: được thắng lợi trong cả nước? - Khách quan: Điều kiện quốc tế thuận lợi. +? Sự lãnh đạo sáng suốt kịp thời của Đảng và - Chủ quan: CT Hồ Chí Minh trong cách mạng tháng Tám + Truyền thống yêu nước của thể hiện ở những điểm nào? dân tộc ta. - Chuẩn bị về mọi mặt cho Tổng khởi nghĩa.. + Sự lãnh đạo sáng suốt của - Chớp thời cơ (giành chính quyền trước khi Đảng. quân ĐM vào làm nhiệm vụ tước khí giới của + Khối liên minh công nông quân đội Nhật). vững chắc, chuẩn bị chu đáo, toàn diện. * Kết luận: - Với sự chuẩn bị lâu dài của 15 năm, cách mạng tháng Tám đã thành công, chính quyền về tay nhân dân, đây là sự kiện có ý nghĩa lớn trong lịch sử dân tộc..

<span class='text_page_counter'>(13)</span> - Cách mạng Việt Nam bước vào thời kì mới - thời kì đấu tranh và bảo vệ chính quyền. D. Củng cố: (4 phút) Làm bài tập: Hãy điền thời gian với sự kiện cho đúng: Sự kiện. Thời gian. 1. Phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh không điều kiện. 2. Hội nghị toàn quốc của Đảng. 3. Đại hội quốc dân Tân Trào. 4. Quân giải phóng tiến công giải phóng Thái Nguyên. 5. Khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. 6. Khởi nghĩa thắng lợi ở Huế. 7. Khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn. 8. Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. E. Hướng dẫn về nhà: (1 phút) - Học bài cũ, trả lời câu hỏi trong SGK. - Sưu tầm tư liệu (văn, thơ, tranh ảnh) về cuộc Tổng khởi nghĩa 8/1945. - Chuẩn bị bài 24 4. Kết quả: Nhiều năm qua, tôi đã kiên trì thực hiện chuyên đề sử dụng bản đồ treo tường trong dạy học lịch sử nói chung và trong dạy học lịch sử 9 nói riêng và đã thu được kết quả tốt, tuy không dám nói là mỹ mãn song có một thực tế là qua điều tra học sinh đều phát biểu là hiểu bài ngay tại lớp và học bài ở nhà rất chóng thuộc, nhớ lâu.. Qua việc củng cố bài học trong giờ học bằng các câu hỏi đặt ra cho học sinh trả lời và việc kiểm tra bài cũ mỗi ngày khi dạy bài mới tôi cũng thấy rằng lời phát biểu của các em là sự thực. Qua thực nghiệm dạy học ở 2 lớp 9 ở trường năm học 2009-2010. Lớp 9A áp dụng theo chuyên đề. Lớp 9B không áp dụng chuyên đề( chủ yếu học sinh phát hiện nội dung theo sách giáo khoa, có liên hệ, mở rộng đôi chút song còn ít và chưa thường xuyên). Kết quả đạt được như sau:. Lớp. Số HS. 9B (Không áp. 40. Yếu. Trung bình. Khá, giỏi. Số lượng. %. Số lượng. %. Số lượng. %. 6. 15. 28. 70. 6. 15.

<span class='text_page_counter'>(14)</span> dụng) 9A (Áp dụng). 40. 0. 0. 18. 45. 22. 55. Trong khi kiểm tra, tôi đã đưa câu hỏi dưới nhiều dạng: - Câu hỏi học thuộc về kiến thức cơ bản, câu hỏi về rèn luyện kỹ năng. Đặc biệt là câu hỏi trình bày bằng bản đồ, lược đồ. Rõ ràng ở lớp 9A được áp dụng chuyên đề thì kết quả đạt được cao hơn. Số học sinh đạt điểm giỏi, khá nhiều hơn, chứng tỏ chuyên đề có hiệu quả trong dạy học, học sinh nhớ lâu bài hơn, kỹ năng tư duy tốt hơn. KẾT LUẬN Qua thực tế giảng dạy nhiều năm và qua kết quả khảo sát tôi tự rút ra một vài kinh nghiệm về sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy bộ môn Lịch Sử ở trường THCS - Cần có đủ bản đồ cần thiết để giảng dạy. Ngay từ đầu năm học giáo viên phải kiểm tra toàn bộ các loại bản đồ treo tường để phân loại, nếu thiếu phải bổ sung bằng cách có thể mua hoặc vẽ thêm. - Đồ dùng trực quan có thể sử dụng ở tất cả các bước lên lớp: + Dùng để kiểm tra bài cũ + Dùng để cung cấp kiến thức mới + Dùng để củng cố bài ... - Thời điểm sử dụng bản đồ phải đúng lúc không đưa ra quá sớm khi chưa cần thiết để tránh phân tán tư tưởng của học sinh. Sau khi sử dụng xong thu cất đi. - Vị trí treo bản đồ phải hợp lí sao cho cả lớp cùng quan sát được. Thao tác chỉ bản đồ của giáo viên cũng đòi hỏi phải khoa học, đứng sao cho không che khuất bản đồ12. Động tác chỉ bản đồ phải dứt khoát, giảng đến đâu chỉ bản đồ đến đó. Sử dụng bản đồ treo tường trong dạy học Lịch Sử nói chung và dạy học Lịch Sử 9 nói riêng là một phương pháp quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Lịch Sử, tạo niềm say mê hứng thú lòng yêu môn học cho các em. - Qua kết quả trên, tôi thấy chuyên đề này có thể áp dụng với mọi đối tượng học sinh từ lớp 6 đến lớp 9. Tuy nhiên trong trong quá trình dạy học giáo viên cần chú ý đến trình độ nhận thức của các đối tượng học sinh mà nâng cao mức yêu cầu, nhất là đối với học sinh khá giỏi. Trong quá trình nghiên cứu đề tài này với sự nỗ lực của bản thân, vì tiến hành trong khoảng thời gian ngắn và với vốn kiến thức kinh nghiệm còn hạn chế, cho nên chuyên đề này của tôi không tránh khỏi những thiếu sót và ý kiến mang tính chủ quan. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp để tôi tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện và vận dụng những vấn đề tôi đã đề cập đến trong đề tài này vào thực tế dạy học ở trường phổ thông THCS hiện nay..

<span class='text_page_counter'>(15)</span> Tôi xin chân thành cảm ơn!.

<span class='text_page_counter'>(16)</span>

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×