Tải bản đầy đủ (.pdf) (209 trang)

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh phú thọ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.83 MB, 209 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HOÁ,THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

BÙI THỊ QUỲNH NGA

QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH PHÚ THỌ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ VĂN HÓA
MÃ SỐ: 60 31 73

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. BÙI VĂN TIẾN

HÀ NỘI - 2012


2

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................ 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ................................................................... 4
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ TỔNG
QUAN LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH PHÚ THỌ .........................12
1.1. Những vấn đề lý luận về quản lý lễ hội truyền thống .........................12


1.1.1. Lễ hội và lễ hội truyền thống ................................................................12
1.1.2. Quản lý lễ hội và truyền thống ..............................................................16
1.1.3. Nội dung quản lý lễ hội truyền thống ...................................................21
1.2. Tổng quan lễ hội truyền thống ở tỉnh Phú Thọ ...................................27
1.2.1. Diện mạo đời sống – xã hội tỉnh Phú Thọ ............................................27
1.2.2. Lễ hội truyền thống ở tỉnh Phú Thọ ......................................................37
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở
TỈNH PHÚ THỌ ...........................................................................................52
2.1. Bộ máy và cơ chế quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh Phú Thọ..........52
2.1.1. Tổ chức bộ máy, cơ cấu nhân sự quản lý lễ hội ....................................52
2.1.2. Tổ chức bộ máy, cơ cấu nhân sự Ban tổ chức lễ hội ............................59
2.1.3. Cơ chế quản lý lễ hội.............................................................................60
2.2. Hoạt động quản lý lễ hội truyền thống tỉnh Phú Thọ .........................61
2.2.1. Xây dựng, chỉ đạo thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về lễ hội .61
2.2.2. Quản lý chuyên môn nghiệp vụ bảo vệ và phát huy giá trị lễ hội ........68
2.2.3. Quản lý các nguồn lực cho tổ chức lễ hội .............................................76
2.2.4. Quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng .......................83
2.2.5. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và khen thưởng..............................88
2.3. Đánh giá công tác quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh Phú Thọ .........90
2.3.1. Những ưu điểm chính ............................................................................90


3

2.3.2. Hạn chế ................................................................................................... 96
2.3.3. Nguyên nhân của thành tựu và những hạn chế .....................................100
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH PHÚ THỌ .....................................................104
3.1. Xu hướng biến đổi lễ hội truyền thống và định hướng quản lý lễ
hội truyền thống ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.......................104

3.1.1. Xu hướng biến đổi lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội đương
đại ....................................................................................................................104
3.1.2. Định hướng quản lý lễ hội truyền thống trong giai đoạn hiện nay .......110
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý lễ hội truyền
thống ở tỉnh Phú Thọ ....................................................................................113
3.2.1. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế chính sách quản lý lễ hội ..114
3.2.2. Hoàn thiện văn bản pháp quy về tăng cường tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật về lễ hội.............................................................................121
3.2.3. Giải pháp về quản lý nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của lễ hội
truyền thống.....................................................................................................124
3.2.4. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ chuyên môn nghiệp vụ ...............................................................................126
3.2.5. Tăng cường quản lý và đầu tư các nguồn lực về con người, tài chính,
cơ sở vật chất cho tổ chức lễ hội. ....................................................................129
3.2.6. Tăng cường quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng ....131
3.2.7. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi
phạm trong hoạt động lễ hội............................................................................134
3.2.8. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong tổ chức và quản lý lễ hội ............137
KẾT LUẬN ....................................................................................................141
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................144
PHỤ LỤC .......................................................................................................145


4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Tên đầy đủ


- BCH

Ban chấp hành

- ĐCSVN

Đảng Cộng sản Việt Nam

- GS.

Giáo sư

- GDP

Tổng thu nhập quốc nội

- HĐND

Hội đồng nhân dân

- KHXH

Khoa học xã hội

- Nxb

Nhà xuất bản

- PGS.


Phó Giáo sư

- PGĐ.

Phó Giám đốc

- TP.

Thành phố

- TS

Tiến sĩ

- tr.

Trang

- UBND

Ủy ban nhân dân

- VH-TT

Văn hóa - Thơng tin

- VHTT

Văn hóa Thơng tin


- XHCN

Xã hội chủ nghĩa

- [26, tr.7]

Xem tài liệu tham khảo số 26, trang 7

- [PL 2,tr.194 - 196]

Xem phụ lục 2, trang 194 đến trang 196

- > 100

Hơn 100


5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu

Tên bảng

Trang

Cơ cấu cán bộ quản lý di tích - lễ hội cấp huyện, thị

55


bảng
2.1

thành năm 2012
2.2

Cơ cấu cán bộ VHTT cấp xã, phường, thị trấn năm 2012

57

2.3

Tuyên truyền về lễ hội trên các phương tiện thông

73

tin đại chúng từ năm 2005 đến năm 2012


6

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Lễ hội truyền thống là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa
phi vật thể, hợp thành kho tàng di sản văn hóa quý báu của dân tộc. Lễ hội
truyền thống là nét đẹp văn hóa được hình thành, làm phong phú và phát triển
theo chiều dài của lịch sử dân tộc. Ngày nay, việc tham dự các lễ hội truyền
thống đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân nhằm thỏa
mãn khát vọng trở về cội nguồn và đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng
như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, góp phần tạo nên sự

đa dạng văn hóa. Có thể nói, lễ hội truyền thống là thành tố quan trọng cấu
thành bản sắc văn hóa dân tộc.
Hiện nay, các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam đều thống nhất với
nhau rằng: lễ hội truyền thống là một hiện tượng có tính chất tổng hợp, chứa
đựng trong nó cả tín ngưỡng tơn giáo, phong tục tập qn, diễn xướng dân
gian và văn nghệ dân gian. Nó là thời điểm mạnh của sinh hoạt cộng đồng,
trong lễ hội truyền thống có sự lắng đọng qua thời gian những lớp phù sa văn
hóa khác nhau, mỗi lễ hội truyền thống tồn tại đến hơm nay đều là kết quả của
q trình tiếp biến văn hóa lâu dài. Q trình tiếp biến ấy, khiến cho lễ hội
truyền thống luôn mang dáng vẻ của thời đại mà vẫn không mất đi diện mạo
ban đầu, cái cấu trúc hai mảng lễ và hội của nó. Là một sinh hoạt văn hóa tín
ngưỡng của cộng đồng, lễ hội truyền thống chứa đựng hai yếu tố cái thiêng và
cái tục, chất thế tục hòa quyện vào chất thiêng tạo nên sự “cộng mệnh và
“cộng cảm”.
Khi người dân có năng lực và điều kiện để làm chủ bản thân thì tín
ngưỡng khơng cịn là cứu cánh duy nhất nữa, niềm tin vào sự linh thiêng của
thần thánh chuyển hóa dần nhường chỗ cho những tình cảm thiêng liêng trở
thành cảm hứng chủ đạo của lễ hội truyền thống trong bối cảnh xã hội hiện
nay. Đó là sự thiêng liêng của tình cảm nhớ về cội nguồn, nơi chôn rau cắt


7

rốn, lịng tơn kính và biết ơn tổ tiên, tình yêu và niềm tự hào về quê hương đất
nước. Vì vậy mà chức năng tín ngưỡng của lễ hội có phần giảm thiểu, chức
năng vui chơi giải trí của phần hội được tăng cường. Các trò chơi dân gian,
những làn điệu dân ca, dân vũ được khai thác thu hút đông đảo các tầng lớp
nhân dân tham gia. Lễ hội là dịp thể hiện truyền thống văn hóa, tiềm năng
phát triển của địa phương và lòng mến khách của người dân bản địa.
1.2. Lễ hội truyền thống là thành tố nằm trong di sản văn hóa phi vật thể

của dân tộc Việt Nam. Quản lý và tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống để
phát huy những giá trị văn hóa thuộc về các cơ quan hành chính, hành pháp,
được cơ quan lập pháp và Chính phủ quy định quyền hạn và trách nhiệm giao
cho Bộ VH,TT&DL cùng chính quyền, cơ quan văn hóa, các đơn vị chức
năng các cấp triển khai thực hiện trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình.
Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống được quy định dựa trên các văn
bản Nghị quyết về đường lối chính sách, hệ thống luật pháp của Đảng, Nhà
nước ban hành. Bộ VH,TT&DL có nhiệm vụ triển khai cụ thể hóa thành
những luật định, chế tài, hướng dẫn của UBND, ngành Văn hóa, các đơn vị
chức năng tổ chức thực hiện công tác bảo tồn, quản lý, thanh tra, kiểm tra,
giám sát, khích lệ, động viên thơng qua các dự án, kế hoạch, chương trình tổ
chức các hoạt động nhằm phát huy tích cực các giá trị văn hóa trong xu thế xã
hội hóa dưới chế độ Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cũng chính là bảo tồn sống các giá trị
văn hóa của lễ hội truyền thống, là diện mạo bản sắc văn hóa, là di sản văn
hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam.
1.3. Phú Thọ là tỉnh trung du thuộc đồng bằng Bắc bộ, cửa ngõ lên vùng
Tây Bắc. Đây cũng là nơi giao lưu của ba con sơng lớn: sơng Đà, sơng Lơ và
sơng Thao. Theo dịng lịch sử, Phú Thọ chính là thủ đơ của nền văn minh Âu
Lạc mà chứng tích đến nay vẫn cịn nguyên vẹn để mỗi người dân đất Việt
tìm về và bày tỏ tấm lòng biết ơn với tổ tiên, với cội nguồn dân tộc.


8

Đền Hùng trên đất Phú Thọ có sức hút kỳ diệu về một nhu cầu tâm linh sâu
rộng và thiết yếu, không phải quốc gia nào, dân tộc nào cũng có được. Từng
tấc đất, từng lá cây, ngọn cỏ nơi đây đều đậm hồn của khí thiêng sơng núi, đất
trời. Mảnh đất tự hào vang vọng mãi lời dạy bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc cho muôn đời con cháu mai sau: “Các

Vua Hùng đã có cơng dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Truyền thống ấy đã khắc sâu dấu ấn kiên cường oanh liệt của nhân dân trên
khắp mảnh đất trung du này, cùng với sự thừa hưởng ưu đãi của thiên nhiên
và tạo hóa để lại cho Phú Thọ những di sản văn hóa đặc sắc. Cùng với hệ
thống di sản văn hóa vật thể là di sản văn hóa phi vật thể thấm đẫm bản sắc
cội nguồn thể hiện ở các diễn xướng dân gian, văn nghệ dân gian, truyện kể,
thơ ca… và đặc biệt là các lễ hội truyền thống muôn màu của các tộc người
tạo nên sự hấp dẫn, say đắm lòng người trở thành những tiềm năng để xây
dựng đời sống văn hóa, để phục vụ và phát triển du lịch ở Phú Thọ hiện nay.
Lễ hội truyền thống chiếm vị trí hết sức quan trọng trong đời sống văn
hóa tâm linh vùng đất Tổ. Theo thống kê toàn tỉnh hiện có 230 lễ hội truyền
thống, trong đó có 30 lễ hội đặc sắc thường xuyên được tổ chức đã thu hút
đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị
trường, trong xu thế giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay, văn hóa truyền
thống, đặc biệt là lễ hội nếu không được bảo tồn và phát huy sẽ đứng trước
nguy cơ mai một hoặc bị cải tiến theo hướng thương mại hóa. Vậy để thực
hiện tư tưởng chủ đạo của Nghị quyết BCH Trung ương ĐCSVN (Khóa XI):
Tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và
đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Để
bảo tồn các giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống trong thời kỳ hội nhập,
phát triển hiện nay và phát huy các giá trị đó trong đời sống văn hóa của nhân
dân và phục vụ phát triển du lịch, thì vấn đề cấp thiết hiện nay là phải nâng


9

cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý lễ hội. Với tinh thần đó, tơi
triển khai việc nghiên cứu đề tài “Quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh Phú
Thọ” trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu

Đề tài lễ hội từ lâu đã được nghiên cứu khá nhiều dưới những góc độ và
những quan điểm khác nhau. Có thể kể các cơng trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
2.1. Những cơng trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về lễ hội truyền thống
- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ (Bộ VHTT nay là Bộ VH,TT&DL) Quản lý
lễ hội dân gian cổ truyền thực trạng và giải pháp, của hai tác giả: Nguyễn
Thu Linh và Phan Văn Tú (2004); Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian
(2005), của Hoàng Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội; Luận án Tiến sĩ Văn
hóa học Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ từ năm
1945 đến nay, của tác giả Bùi Hoài Sơn (2007); Luận văn Thạc sĩ Quản lý văn
hóa Quản lý lễ hội cổ truyền trên địa bàn tỉnh Hà Tây, tác giả Phạm Thị
Thanh Quy (2009)…Các cơng trình này đã đánh giá thực trạng của quản lý lễ
hội, từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống.
- Lễ hội truyền thống và hiện đại (1984), của tác giả: Thu Linh, Đặng
Văn Lung, Nxb Văn hóa, Hà Nội; Nếp cũ hội hè đình đám (1991), của tác giả
Toan Ánh, Nxb TP. Hồ Chí Minh; Lễ hội cổ truyền, do tác giả Lê Trung Vũ
(Chủ biên) (1992), Nxb KHXH, Hà Nội; Đình miếu và lễ hội dân gian (1992),
của tác giả Sơn Nam, Nxb TP. Hồ Chí Minh; Lễ hội truyền thống trong đời
sống xã hội hiện đại (1994), do tác giả Đinh Gia Khánh (Chủ biên), Nxb.
KHXH, Hà Nội; Những vùng đất, thần và tâm thức người Việt (1996) của
Trần Quốc Vượng, Nxb KHXH, Hà Nội; Lễ hội một nét đẹp trong sinh hoạt
văn hóa cộng đồng (1998), của Hồ Hoàng Hoa, Nxb KHXH, Hà Nội…
Những cơng trình này nghiên cứu dưới góc độ văn hóa dân gian, dân tộc học
về lễ hội cổ truyền gồm: các giá trị của lễ hội, chức năng và vai trò của lễ hội,


10

cấu trúc lễ hội cổ truyền, các loại lễ hội cổ truyền, tâm thức dự hội, trẩy hội của
người Việt.
2.2. Các cơng trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu các vấn đề mối

quan hệ giữa văn hóa truyền thống với phát triển du lịch
Lễ hội dân gian và du lịch Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (2002),
của tác giả Nguyễn Chí Bền, Nxb VHTT, Hà Nội; “Bảo tồn và quản lý di sản
thế giới trong quy hoạch phát triển du lịch bền vững” (2004), của tác giả
Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (6), tr.5; “Thực trạng và
những vấn đề đặt ra để phát triển du lịch bền vững” (2004), của tác giả Phạm
Trung Lương, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (12), tr.24; “Tổ chức du lịch lễ hội
và sự kiện ở Việt Nam” (2004), của tác giả Nguyễn Quang Lân, Tạp chí Du
lịch Việt Nam, (10), tr.7; Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch (2004),
của tác giả Dương Văn Sáu, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; Quản lý di sản
văn hóa với phát triển du lịch của tác giả Lê Hồng Lý (Chủ biên) (2010),
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; v.v…Những cơng trình này tập trung
nghiên cứu vai trị của lễ hội, của di sản văn hóa trở thành tiềm năng phát
triển du lịch.
2.3. Một số cơng trình khoa học điển hình nghiên cứu về văn hóa ở tỉnh Phú Thọ
- Lễ hội truyền thống vùng đất Tổ (2005); Về miền lễ hội cội nguồn dân
tộc Việt Nam (2007 - 2011), 5 tập; Tổng tập Văn nghệ dân gian đất Tổ (2000
- 2004), 5 tập, của nhiều tác giả giới thiệu về truyền thuyết, lễ hội, tín ngưỡng,
trị chơi dân gian, tục lệ, làng nghề, tri thức dân gian, dân ca, dân vũ…, do
Hội Văn nghệ Dân gian tỉnh Phú Thọ xuất bản.
- Văn Kim Chung (2003 - 2005), Điều tra, sưu tầm, nghiên cứu hệ thống
hóa và bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Phú Thọ, Đề án nghiên cứu
khoa học cấp tỉnh, Sở VH,TT&DL tỉnh Phú Thọ đã đề cập một cách toàn diện
đầy đủ về nội dung, tầm quan trọng của việc gìn giữ tổng thể sự đa dạng vốn


11

di sản văn hóa phi vật thể ở tỉnh Phú Thọ và một số bài báo đăng trên các tạp
chí trong và ngồi tỉnh.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng quản lý lễ hội truyền thống tỉnh
Phú Thọ hiện nay để qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ góp phần phát triển kinh
tế - văn hóa - xã hội của địa phương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về lễ hội và quản lý lễ hội truyền thống.
- Nghiên cứu tổng quan lễ hội truyền thống ở tỉnh Phú Thọ
- Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng quản lý lễ hội truyền thống tỉnh
Phú Thọ từ năm 2002 đến nay.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống ở
tỉnh Phú Thọ.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh Phú Thọ và giải pháp nâng
cao hiệu quả quản lý lễ hội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Không gian nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, khảo sát: Một số lễ hội truyền thống tiêu
biểu ở các huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
4.2.2. Thời gian nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu công tác quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh
Phú Thọ từ năm 2002 đến nay.


12

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước về
quản lý di sản văn hoá và lễ hội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, luận văn triển khai những phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau: phương pháp khảo sát điền dã, phỏng vấn, phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp nghiên cứu liên
ngành: Quản lý văn hoá, Văn hóa học, Dân tộc học, Bảo tàng học...
6. Đóng góp của luận văn
- Làm sáng tỏ một số đặc trưng của lễ hội truyền thống và vai trò của
quản lý nhà nước đối với lễ hội truyền thống.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống ở
tỉnh Phú Thọ từ năm 2002 đến nay.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhằm phát huy các giá
trị văn hóa của lễ hội truyền thống góp phần xây dựng đời sống văn hóa và
phát triển du lịch ở tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác quản lý lễ hội ở
tỉnh Phú Thọ.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
được kết cấu 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý lễ hội và tổng quan về lễ hội
truyền thống ở tỉnh Phú Thọ
Chương 2. Thực trạng quản lý lễ hội truyền thống ở tỉnh Phú Thọ
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống ở
tỉnh Phú Thọ


13


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ LỄ
HỘI TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH PHÚ THỌ
1.1.Những vấn đề lý luận về quản lý lễ hội truyền thống
1.1.1. Lễ hội và lễ hội truyền thống
Theo từ nguyên, lễ hội là sự kết hợp của hai từ Hán - Việt là lễ và hội.
Theo cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì, lễ là “cách bày tỏ kính ý
hoặc đồ vật để bày tỏ kính ý” [1, tr. 385].
Thiều Chửu trong cuốn Tự điển Hán Việt của mình cũng định nghĩa
tương tự, ơng cịn giải thích rõ thêm rằng lễ là “theo cái khn mẫu của người
đã qua mà định ra các phép tắc, từ quan hơn, tang tế cho đến đi đứng, nói
năng đều có cái phép nhất định” [38, tr. 322].
Đồn Văn Chúc trong cuốn Văn hóa học (1997) cũng cho rằng lễ là sự
bày tỏ kính ý trong từng hồn cảnh cụ thể, chẳng hạn:
Lễ thành hồng là cuộc bày tỏ kính ý cầu mong phúc lành và dự
phòng bất trắc cho cộng đồng làng xã; Lễ gia tiên là các ngày giỗ,
bày tỏ kính ý tưởng nhớ người quá cố trong gia đình hay gia tộc nói
chung; Lễ chuyển đoạn (vào làng, khao vọng) là cuộc bày tỏ kính ý
vui mừng đối với sự chuyển đoạn tuổi cũng là chuyển vai trò xã hội
của cá nhân; Lễ cưới là cuộc bày tỏ kính ý vui mừng đối với sự kiện
hơn phối của đôi trai gái đến tuổi trưởng thành; Lễ tang là cuộc bày
tỏ kính ý buồn bã đối với sự qua đời của một cá nhân thành viên
nhóm; Lễ hạ dịng thể hiện cuộc bày tỏ kính ý dự phịng bất trắc đối
với việc vào mùa sản xuất, đồng thời kích thích ý chí người sản
xuất; Lễ kỳ an là cuộc bày tỏ kính ý cầu an khang và khử trừ sự xấu
(ma quỷ) khi bước vào mùa dịch bệnh (mùa hè)… [39, tr.124 -130].


14


Hội có nghĩa là “cuộc vui được tổ chức chung cho đông đảo người tham
dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt” [111].
Như vậy, lễ hội là một từ ghép, về mặt này, hai từ lễ hội gần tương
đương với hai từ trong tiếng Anh, tiếng Pháp là Ceremony (lễ) và Festival (hội).
Trên thực tế, không phải tất cả các tác giả lúc nào cũng có sự rạch rịi vì
sao lại dùng từ lễ hội mà không dùng từ hội hè, hay hội lễ. Tác giả Lê Văn Kỳ
thì cho rằng dùng từ hội lễ như thế mới nhấn mạnh được ý nghĩa tích cực của
các cuộc vui chơi, sinh hoạt tập thể và mới hạn chế các tiêu cực lạc hậu mà sự
thực hành lễ gây ra, ông viết:
Đành vẫn biết là lễ mở đầu, là tiếng nói tâm linh đầy thành kính,
nhưng chỉ tự thân nó thì làm sao thay được cả cuộc sống đời thường
mà cả cộng đồng đang vật lộn, đang hướng tới? Nếu như không có
những trị chơi, những động tác tập dượt nghề nghiệp, những cuộc
đọ sức, đua tài của người tứ xứ trên một diễn trường nhất định thì
chưa thể nói đó là một hội lễ theo đúng nghĩa của nó [56].
Tuy nhiên các nhà nghiên cứu văn hoá vẫn chưa nhất quán trong cách
sắp xếp cụm từ " Lễ hội" hay "Hội lễ". Tác giả Bùi Thiết (1993) cho rằng “khi
phần hội phong phú hơn thì gọi là "Hội lễ", khi phần lễ lấn át thì gọi là "Lễ
hội" [58, tr.7]. Cịn GS. Ngơ Đức Thịnh thì chỉ ra một cách cụ thể hơn rằng:
Lễ hội là một hiện tượng tổng thể, không phải là thực thể chia đôi
(phần lễ và phần hội) một cách tách biệt như một số học giả đã quan
niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín
ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay một
vị thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các
hiện tượng sinh hoạt văn hố, phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ
hội. Cho nên trong lễ hội, phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội
là phần phát sinh tích hợp” [88, tr.37].



15

Như vậy từ “Hội” bản thân nó đã gắn bó hữu cơ với từ “Lễ” (khơng có lễ
thì khơng có hội). Trong ngôn ngữ thường ngày người ta thường dùng từ
"Hội" để gọi chung cho lễ hội đó và đó chỉ là một hình thức tu từ mà thơi, lấy
cái bộ phận để chỉ cái toàn thể, lấy hội để chỉ lễ hội. Về cơ bản, khái niệm "Lễ
hội" đã đi vào đời sống văn hoá ở nước ta và thường được sử dụng trong các
văn bản quy phạm pháp luật hay các văn bản quản lý hành chính nhà nước, v.v...
Về mặt học thuật, các nhà nghiên cứu văn hố có nhiều cách trình bày
khái niệm và định nghĩa lễ hội. Từ điển bách khoa Việt Nam (2005) viết:
Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lịng tơn kính
của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng
của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng
thực hiện, cịn hội là sinh hoạt văn hố, tơn giáo, nghệ thuật của
cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát
triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho
từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dịng họ, sự sinh sôi nảy nở
của gia súc, sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm
mơ ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh" [90, tr.37].
Lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng và
tơn giáo. Khi con người chưa đủ khả năng chế ngự và làm chủ thiên nhiên,
làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình, vẫn bị chi phối và bất lực trước
những bất công và bất trắc, trước những ngẫu nhiên và may rủi. Vì vậy họ đặt
niềm tin vào thần linh của trời đất, của sơng núi. Vì thế ở các làng xã xưa
thường xây miếu thờ thiên thần, thổ thần, thuỷ thần, sơn thần. Lễ hội cổ
truyền đã phản ánh hiện tượng đó. Tơn giáo tín ngưỡng có ảnh hưởng đáng kể
đối với lễ hội. Tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanh
thế, ngược lại lễ hội thông qua tơn giáo tín ngưỡng để thần linh hố những gì
của trần tục.



16

Lễ hội được coi như một cấu trúc bao gồm hai phần chức năng là lễ và
hội. Trong cuốn Folklore một số thuật ngữ đương đại, các tác giả Ngô Đức
Thịnh và Frank Proscha đưa ra định nghĩa: “Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm
định kỳ biểu thị thế giới quan của một nền văn hố hay nhóm xã hội thơng
qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trị chơi truyền thống [86, tr.136]. Đây có
lẽ là một định nghĩa khá đầy đủ về những lễ hội kỷ niệm đã trở thành truyền thống.
Liên quan đến thuật ngữ "lễ hội truyền thống" cịn có “lễ hội cổ truyền"
đơi khi được sử dụng để nói về cùng một đối tượng. Trong sách báo hay các
cơng trình văn hố ở Việt Nam, từ "Truyền thống" và từ "Cổ truyền" cũng
được coi là tương đương với từ Tradition của tiếng La tinh, Anh, Pháp, Đức.
Cổ truyền hay truyền thống đều là từ Hán - Việt.
Trong cuốn Hán Việt Từ điển bách khoa của Đào Duy Anh cắt nghĩa
truyền thống: “thống gồm có nghĩa là mối tỏ, dường mối, đầu gốc; còn truyền
là trao lại, trao cho và chúng luôn đi liền với nhau mang ý nghĩa "Đời nọ
truyền xuống đời kia"” [1, tr. 390].
Khái niệm "Lễ hội truyền thống" cũng thường được hiểu là bộ phận
những giá trị tốt đẹp, tích cực trong lễ hội cổ truyền đã được các thế hệ nối
tiếp tái tạo và khẳng định xứng đáng được bảo tồn và phát huy trong đời sống
văn hoá hiện đại.
Lễ hội truyền thống còn được hiểu như là một thành tố quan trọng cấu
thành hình thái văn hố lịch sử tương ứng với những mơ hình xã hội được tổ
chức khác nhau. "lễ hội truyền thống" có nghĩa là lễ hội của các xã hội truyền thống.
Trong khoa học xã hội phương Tây, xã hội truyền thống được hiểu là
những tập hợp người được tổ chức bởi các đơn vị cộng đồng, dựa trên ưu thế
của tính chất cộng đồng, tính chất truyền thống cũng được gọi là "Cộng đồng
ký ức", để phân biệt với "Cộng đồng khế ước", là những tập hợp người được
tổ chức thành các tập đoàn dựa trên ưu thế của tính chất duy lý. Như vậy,



17

có thể hiểu rằng xã hội truyền thống là các cộng đồng thị tộc, bộ lạc, liên
minh bộ lạc, các xã hội truyền thống là các cộng đồng thị tộc, bộ lạc, liên
minh bộ lạc, các xã hội tiền công nghiệp tồn tại trước khi hình thành những
cộng đồng dân tộc quốc gia. Theo cách hiểu này thì "lễ hội truyền thống"
đồng nhất với "lễ hội cổ truyền", "lễ hội dân gian" là lễ hội trong đời sống văn
hoá tinh thần của các xã hội truyền thống, những hình thái văn hố xã hội
xuất hiện trước hình thái văn hố xã hội hiện đại.
Tựu chung lại có thể hiểu: Lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo
và lưu truyền theo phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái
văn hố lịch sử, được truyền lại trong các cộng đồng với tư cách như một
phong tục tập quán.
Có thể có nhiều cách hiểu và định nghĩa về lễ hội truyền thống khác
nhau, tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận, nhưng nhìn chung các học giả, các nhà
nghiên cứu đều đã chỉ ra cấu trúc hai mặt trong một chỉnh thể của lễ hội
truyền thống, đó là một hệ thống hành vi nghi thức biểu đạt thế ứng xử của
cộng đồng hướng tới một đối tượng thần linh nhất định và tổ hợp của những
hoạt động văn hoá nghệ thuật nhằm phụ trợ và minh họa cho các hành vi nghi
lễ. Tuy nhiên khi tiếp cận lễ hội truyền thống theo hướng của quản lý văn hoá
sẽ bao trùm lên tất cả các yếu tố, các sự kiện của lễ hội đang diễn ra trong đời
sống đương đại gồm cả truyền thống dân gian và tái sáng tạo mang tính bác
học. Mặt khác, lĩnh vực quản lý văn hoá sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc bảo
tồn, phát huy, khai thác và phát triển những vốn liếng truyền thống cũng như
sự tái sáng tạo các giá trị tạo nên các sự kiện của lễ hội phục vụ và đáp ứng
nhu cầu tinh thần của nhân dân trong đời sống văn hoá đương đại.
1.1.2. Quản lý lễ hội truyền thống
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có

cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Mọi ngành khoa học nghiên cứu về
quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa riêng về quản lý.


18

Trong khoa học tự nhiên, định nghĩa về quản lý là định nghĩa của điều
khiển học. Theo điều khiển học thì: “Quản lý là sự điều khiển, định hướng,
chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật
hay nguyên tắc, luật định tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận
động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước [51, tr.52].
Trong khoa học xã hội, Từ điển Tiếng Việt (2005) định nghĩa quản lý là
“sự trơng nom, coi sóc, gìn giữ các cơng việc”. Thuật ngữ “Quản lý” ở nước
ta thường được hiểu là sự lãnh đạo, điều hành, giám sát của người hoặc tổ
chức cấp trên đối với người hoặc tổ chức cấp dưới.
Ở các nước phương Tây, xuất phát từ ngôn ngữ La tinh cổ đại, khái
niệm quản lý “manus” có nghĩa là “bàn tay” còn “thực hiện quản lý” là “nắm
trong bàn tay”. Theo tiếng Trung Quốc: quản lý là sự sắp xếp, xử lý và chỉ
đạo. Về lý thuyết, quản lý xã hội là sự tác động xã hội, nhằm mục đích duy
trì, những đặc điểm về chất, điều chỉnh hồn thiện và phát triển những đặc
điểm đó. Quản lý là một khoa học dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát
triển của các đối tượng khác nhau, đồng thời quản lý cịn là một nghệ thuật.
Những hình thức quản lý có ý thức ln gắn liền với hoạt động có mục tiêu,
có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con người, thực hiện qua
những thể chế xã hội, thơng qua mục đích, nội dung, cơ chế quản lý và
phương pháp quản lý các hiện tượng xã hội tuỳ thuộc vào chế độ chính trị xã hội.
Trong cuốn Lý luận quản lý hành chính nhà nước, Mai Hữu Luân (2003)
đã xác định: “Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của chủ thể vào
một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của
con người nhằm duy trì sự ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những

mục đích nhất định” [62, tr.485]. Nói ngắn gọn hơn “Quản lý là sự tác động
của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [17, tr.56].
Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực Nhà
nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các


19

chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước. Như vậy, tất cả các cơ quan nhà
nước đều làm chức năng quản lý nhà nước. Bằng chính sách và pháp luật,
Nhà nước trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt Nhà nước
tiến hành hoạt động quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
hành pháp là quản lý hành chính nhà nước.
Quản lý nhà nước về văn hoá là hoạt động của bộ máy nhà nước trong
lĩnh vực hành pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam. Với
vai trị là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, Nhà nước đại diện cho
nhân dân, đảm bảo cho mọi công dân đều được thực hiện các quyền cơ bản
của mình, trong đó có các quyền về văn hố như quyền tự do ngôn luận,
quyền tự do học tập, sáng tác, sáng tạo phê bình văn hố nghệ thuật, tự do
sinh hoạt tơn giáo tín ngưỡng, v.v…Nhà nước có trách nhiệm điều tiết để đảm
bảo sự hài hoà giữa các thành tố văn hố, điều tiết lợi ích văn hoá của các giai
tầng, các yêu cầu phát triển và thoả mãn nhu cầu văn hố của tồn xã hội.
Ở Trung ương, các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về văn hố là
Chính phủ và Bộ VH,TT&DL. Chính phủ thống nhất quản lý và phát triển sự
nghiệp văn hoá - nghệ thuật trên cả nước. Thi hành các biện pháp để bảo tồn
và phát triển văn hoá, chống các hiện tượng, hành vi truyền bá tư tưởng văn
hoá phản động, đồi trụy, các hủ tục mê tín dị đoan. Chính phủ và Bộ
VH,TT&DL trình các dự án, pháp lệnh về tổ chức hoạt động và quản lý văn
hoá, quyết định quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển văn hoá. Ban
hành các nghị định, chế tài quản lý, quyết định các chính sách, đầu tư, tài trợ,

hợp tác với nước ngoài về việc tổ chức hoạt động phát triển văn hố.
UBND là cơ quan hành chính pháp chế nhà nước ở các địa phương thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hoá trong địa phương mình theo quy
định của pháp luật. Các Sở VH,TT&DL trực thuộc tỉnh, thành phố, các phòng
VH-TT cấp huyện, các ban văn hóa ở các xã, phường, thị trấn là cơ quan


20

chuyên môn trực tiếp tham mưu tư vấn giúp UBND các cấp quản lý văn hố ở
địa phương mình.
Nhà nước tiến hành quản lý văn hố bằng chính sách và pháp luật về văn
hố. Chính sách về văn hố được hiểu tổng thể là những nguyên tắc thực hiện
tư tưởng chủ đạo của Nhà nước về chủ trương đường lối, phương hướng xây
dựng và phát triển nền văn hoá phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất
nước. Song song với việc tiến hành các chính sách về văn hoá, để quản lý văn
hoá, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về văn hoá nhằm
phát huy tác dụng của văn hoá đối với sự hình thành nhân cách, nâng cao chất
lượng đời sống tinh thần của con người, chế ước những ảnh hưởng tiêu cực,
loại bỏ những hủ tục lạc hậu.
Quản lý văn hoá bằng pháp luật là một yêu cầu mang tính tất yếu khách
quan. Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước tạo ra một
hành lang pháp lý an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc.
Quản lý lễ hội là một lĩnh vực quản lý cụ thể trong ngành Văn hóa. Theo
tác giả Bùi Hồi Sơn thì:
Quản lý lễ hội là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua
việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện
các văn bản, quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục
đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng

đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội
của từng địa phương nói riêng, của cả nước nói chung [73].
Tác giả Phạm Thanh Quy lại cho rằng:
Quản lý lễ hội bao gồm quản lý nhà nước và những hình thức quản
lý khác đối với các hoạt động lễ hội. Quản lý lễ hội nhằm đáp ứng
các nhu cầu phát triển được hiểu là sự tổ chức, huy động các nguồn


21

lực. Nói cách khác thì quản lý lễ hội nhằm các mục tiêu lợi ích cơng
cộng hoặc mục tiêu lợi nhuận hoặc xu hướng phát triển đất nước [69, tr.20].
Như vậy, quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội nói chung, lễ hội
truyền thống nói riêng được hiểu là q trình sử dụng các cơng cụ quản lý
như chính sách, pháp luật, các nghị định chế tài, tổ chức bộ máy vận hành và
các nguồn lực khác để kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động của lễ hội bằng
các phương thức tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì
việc thực hiện hệ thống chính sách, hệ thống các văn bản pháp quy, chế tài
của Nhà nước đã ban hành. Quản lý lễ hội bao gồm một q trình thực hiện 4
cơng đoạn: thứ nhất là xác định nội dung và phương thức tổ chức; thứ hai là
xây dựng kế hoạch; thứ ba là tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, giám sát
việc thực hiện và thứ tư là tổng kết, đúc kết kinh nghiệm.
Cơ sở pháp lý của việc thực thi công tác quản lý nhà nước về lễ hội
truyền thống là dựa trên hệ thống các chính sách và pháp luật hiện hành của
Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, cụ thể và trực tiếp gồm:
- Luật di sản văn hố của nước Cộng hịa XHCN Việt Nam.
- Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về hoạt
động tơn giáo - tín ngưỡng.
- Quy chế tổ chức lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001/QĐBVHTTDL ngày 23/8/2001 của Bộ Trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
- Nghị định số 154/2004/NĐ-CP ngày 9/8/2004 của Thủ tướng Chính

phủ về nghi thức Nhà nước trong việc tổ chức lễ hội - mít tinh, lễ kỷ niệm,
trao tặng và đón nhận các danh hiệu.
- Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội
ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số
308/2008/QĐ-TTg.
- Các quy định cụ thể của chính quyền địa phương nơi diễn ra lễ hội.


22

Luật pháp và văn bản mang tính pháp quy nêu trên đã thể hiện rõ mục
tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội truyền thống là duy trì và
thực hiện nghiêm minh những điều khoản đã được ghi trong luật và các văn
bản pháp quy - nghị định - chế tài, các văn bản liên quan. Cụ thể mục tiêu và
nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội truyền thống là gìn
giữ và phát huy những giá trị của di sản lễ hội, khơi dậy truyền thống yêu
nước, niềm tự hào dân tộc, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Đảm bảo quyền
tự do sinh hoạt văn hố tơn giáo - tín ngưỡng, an ninh trật tự cơng cộng và an
tồn của người dân tham gia lễ hội. Nghiêm cấm, chống sự lạm dụng tín
ngưỡng vào các mục đích vụ lợi. Tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ, đáp ứng
nhu cầu của du khách, đảm bảo tính minh bạch thu - chi trong lễ hội, bảo vệ
môi trường sống, phát triển hoạt động lễ hội với đa mục tiêu về hiệu quả văn
hoá - kinh tế - xã hội.
Theo quy định hiện hành, ngành VH,TT&DL chịu trách nhiệm cấp
phép, kiểm tra, giám sát hoạt động lễ hội (đã được cụ thể hoá trong Quy chế
tổ chức lễ hội do Thủ tướng Chính phủ ban hành). Đồng thời phối hợp cùng
các cơ quan chức năng như Công an, Quản lý thị trường, Môi trường, Giao
thông, Y tế… xử lý sai phạm trong hoạt động lễ hội. Trên thực tế, hoạt động
lễ hội có tác động tới các mặt của đời sống xã hội ở khu vực, địa điểm tổ
chức. Do vậy, việc chịu trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung thuộc chính

quyền sở tại, nhưng được phân chia trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị chức
năng thuộc cơ quan nhà nước có liên quan. Do đó, cơng tác kiểm tra, giám sát
và xử lý vi phạm tuỳ từng vụ việc, hiện tượng mà có những cơ quan chức
năng chịu trách nhiệm giải quyết.
1.1.3. Nội dung quản lý lễ hội truyền thống
1.1.3.1. Quản lý nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội truyền thống
Đây là công tác đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý lễ hội. Trong
thực tế, khơng có mơi trường nào lưu giữ và chuyển giao những giá trị văn


23

hoá của cộng đồng dân tộc sinh động hơn, đầy đủ hơn lễ hội. Trong môi
trường lễ hội, các cảm xúc thẩm mỹ và các giá trị sáng tạo được tiếp nối liên
tục, những tín hiệu văn hố được tái sinh theo chu kỳ, sự nhắc lại, sự lựa
chọn, bổ sung và sáng tạo luôn tiếp diễn và để lại dấu ấn trong các chu kỳ ấy
một cách bất tận. Các thế hệ cứ thế nối tiếp nhau và sống trong những khơng
gian lịch sử dường như khơng có điểm bắt đầu. Trong lễ hội, những rung cảm
của con người được hòa quyện với quá khứ, trở về với cội nguồn tổ tiên,
khơng gian, thời gian như hồ nhập làm một.
Có thể nói, lễ hội vừa là nơi lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hoá tinh
thần và vật chất, vừa là môi trường hướng con người về với quá khứ, nhập
vào cái “hữu hạn”, hướng tới cái “ vô hạn” trong sự thăng hoa theo từng cung
bậc cảm xúc của mỗi thành viên trong cộng đồng.
Lễ hội truyền thống không chỉ là một di sản quá khứ để lại mà còn là
một nguồn tài nguyên, một tài sản vơ giá, là vốn liếng của nhiều lĩnh vực văn
hóa - xã hội và kinh tế của thời hiện đại. Trong bối cảnh xây dựng, phát triển
đất nước và giao lưu hội nhập với thế giới hiện nay, việc bảo tồn và phát huy
các giá trị di sản lễ hội - di sản văn hóa đã và đang đặt trách nhiệm rất nặng nề
lên vai những người làm công tác quản lý văn hóa, quản lý lễ hội.

1.1.3.2. Quản lý kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống
Quản lý nhà nước về kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống là nói
đến việc hạch tốn ngân sách thu chi các hoạt động của lễ hội.
Trên thực tế tổ chức lễ hội nhằm mục đích tuyên truyền giáo dục chủ
nghĩa yêu nước, quảng bá hình ảnh thương hiệu và các sự kiện hoạt động
mang tính kinh doanh, dịch vụ. Việc quản lý nhà nước được thực hiện bởi cơ
quan thuế vụ và bằng cách áp dụng định mức thuế theo luật pháp và quy định
khác của địa phương. Những lễ hội truyền thống do Nhà nước chủ trương và
đầu tư thì việc quản lý thu - chi sẽ do cơ quan tài chính đủ thẩm quyền của


24

các cấp tổ chức lễ hội chịu trách nhiệm. Đối với những lễ hội truyền thống do
cộng đồng đóng góp kinh phí và tham gia quản lý thu - chi (phương thức xã
hội hố) thì việc quản lý nhà nước chủ yếu là cùng với các cơ quan hữu quan
và đại diện cộng đồng mở hội bàn bạc phương thức tổ chức và xây dựng quy
chế quản lý thu - chi tài chính cho riêng lễ hội đó và cùng với các bên liên
quan, cán bộ quản lý văn hoá có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và
xử lý sai phạm các vấn đề có liên quan đến kinh tế tài chính của lễ hội.
Tổ chức quản lý hoạt động văn hố nói chung, hoạt động lễ hội trong
cơ chế thị trường, từ xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế
hạch toán kinh tế độc lập, cùng với quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh.
Đặc trưng của nền kinh tế thị trường là sản xuất kinh doanh dịch vụ hàng hoá
để tồn tại và phát triển, chúng ta phải đổi mới cơ chế quản lý trong mọi lĩnh
vực. Kinh phí tổ chức lễ hội truyền thống thời gian trước được lấy từ sản
phẩm của ruộng đình, ruộng chèm (của cơng) ngày nay khơng cịn. Kinh phí
để tổ chức mở hội phải dựa vào sự đóng góp của người dân trong cộng đồng
hoặc phải tạo ra các nguồn thu ngân sách, tích luỹ kinh phí để mở hội cho
những năm sau. Tất nhiên, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường ln

có mặt tích cực và tiêu cực. Vấn đề đặt ra làm thế nào để phát huy tính tích
cực, hạn chế ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực là sự địi hỏi về tư chất và
năng lực của cơng tác quản lý. Một thực tế hiện nay nếu không tạo ra được
các nguồn thu trong lễ hội thì sẽ hạn chế nguồn lực cho việc tổ chức hội.
1.1.3.3. Quản lý các hoạt động dịch vụ, môi trường và trật tự công cộng
Quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ, mơi trường, vệ sinh an tồn
thực phẩm, trật tự giao thơng và trật tự nơi cơng cộng, phịng chống cháy nổ,
chống tệ nạn xã hội và các hành vi quá khích trong lễ hội là một trong những
nội dung trọng yếu của công tác quản lý lễ hội. Đây là nội dung rất phức tạp
và triển khai thực hiện nó khơng phải là việc đơn giản.


25

Có thể nói rằng đây là nội dung nhạy cảm nhất trong tổ chức bất kỳ lễ
hội nào, đơn vị hoặc cơ quan chủ trì tổ chức lễ hội thường phối hợp công việc
với các cơ quan chức năng khác như: Cơng an, Quản lý thị trường, Phịng
chống cháy nổ, Y tế cộng đồng... nhằm đạt được một kết quả tốt nhất. Hoạt
động phối hợp này của các cơ quan chức năng được thể hiện ở sự thống nhất
trong xây dựng kế hoạch triển khai chi tiết khi tổ chức lễ hội với các tình
huống được bàn bạc kỹ lưỡng giữa các bên liên quan. Đồng thời đưa ra các
phương án xử lý phù hợp trong điều kiện thực tế, đảm bảo hoàn thành nhiệm
vụ một cách tối ưu, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý kịp thời các trường
hợp vi phạm.
Để thực hiện tốt công tác quản lý trong lĩnh vực này, Ban Tổ chức lễ hội
cần chú ý quan tâm các vấn đề sau:
Quy hoạch khu vực tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ dưới hình
thức “chợ hội” theo các ngun tắc:
- Dự tính vừa đủ về lượng trong thực tế của quy mô tổ chức và lượng
khách dự hội.

- Xây dựng các mẫu, tiêu chuẩn thẩm mỹ về hình thức lều quán.
- Quy định nghiêm ngặt những tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ.
- Thống nhất quy định và niêm yết giá cả của các loại dịch vụ.
- Khu vực tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ phải thuận tiện cho du
khách, nhưng không được đưa vào khn viên di tích và các khơng gian liên
quan đến trò diễn, trò chơi, thi đấu thể thao, văn nghệ.
- Ngoài việc đề treo biển báo “cấm xả rác” phải có nơi xả rác thuận lợi
và các phương tiện đựng rác có hình thức dễ nhìn.
- Phải có biện pháp mạnh mẽ hạn chế tình trạng “người ăn xin” phổ biến
trong các lễ hội truyền thống hiện nay. Thi hành xử phạt hành chính mang
tính giáo dục và răn đe.


×