Tải bản đầy đủ (.pdf) (187 trang)

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý lễ hội truyền thống ở quận đồ sơn, thành phố hải phòng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (27.95 MB, 187 trang )

Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO

TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI

********

Nguyễn thị xuân

quản lý lễ hội truyền thống
ở quận đồ sơn, thành phố hải phòng

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
MÃ số: 60310642

LUậN VĂN THạC Sĩ QUảN Lý VĂN HóA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Quang Lê

Hà Nội, 2015


1
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tác giả
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Quang Lê. Các kết quả
nghiên cứu và các kết luận trong luận văn này là trung thực, không sao chép
từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào. Việc tham khảo các
nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo
đúng quy định.


Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Xuân


2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC ....................................................................................................................... 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .............................................................................. 4
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI, QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN
VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở QUẬN ĐỒ SƠN ................................................... 11

1.1. Cơ sở lý luận về lễ hội và quản lý lễ hội truyền thống ............................. 11
1.1.1. Khái niệm.............................................................................................. 11
1.1.2. Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý lễ hội.............................................. 18
1.1.3. Nội dung công tác quản lý nhà nước về lễ hội ở cấp Quận..................... 18
1.2. Tổng quan về lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn.................................... 22
1.2.1. Khái quát về quận Đồ Sơn ..................................................................... 22
1.2.2. Khảo sát các lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn ................................... 31
Tiểu kết ............................................................................................................. 50
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở
QUẬN ĐỒ SƠN ............................................................................................................. 52


2.1. Bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý lễ hội ở quận Đồ Sơn ......................... 52
2.1.1. Bộ máy tổ chức quản lý lễ hội ............................................................... 52
2.1.2. Cơ chế quản lý lễ hội ............................................................................. 53
2.2. Các hoạt động quản lý lễ hội ..................................................................... 55
2.2.1. Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội ........................................................... 55
2.2.2. Quản lý các điều kiện tổ chức lễ hội ...................................................... 58
2.2.3. Quản lý dịch vụ, môi trường, an ninh trật tự .......................................... 63
2.2.4. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ
quản lý ............................................................................................................ 67
2.2.5. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và khen thưởng tại lễ hội ... 67


3
2.3. Đánh giá hiệu quả công tác quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn quận
Đồ Sơn............................................................................................................... 69
Tiểu kết ............................................................................................................. 72
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG Ở QUẬN ĐỒ SƠN ........................................................................ 73

3.1. Phương hướng quản lý lễ hội truyền thống trong giai đoạn hiện nay .... 73
3.1.1. Xu hướng biến đổi của lễ hội truyền thống ............................................ 73
3.1.2. Định hướng quản lý lễ hội truyền thống trong giai đoạn hiện nay .......... 76
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội quận
Đồ Sơn............................................................................................................... 79
3.2.1. Nhóm giải pháp về cơng tác lãnh đạo, chỉ đạo ....................................... 79
3.2.2. Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý và cơ cấu nhân sự........................... 86
3.2.3. Nhóm giải pháp về bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội truyền thống ............ 91
3.2.4. Nhóm giải pháp về nâng cao vai trò của cộng đồng trong việc tổ chức và
quản lý lễ hội truyền thống ............................................................................ 105

3.3. Một số kiến nghị với các cơ quan chức năng cấp trên ........................... 107
3.3.1. Kiến nghị đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ............................. 107
3.3.2.Kiến nghị đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hải Phòng .. 109
Tiểu kết ........................................................................................................... 110
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 113
PHỤ LỤC..................................................................................................................... 116


4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

DL,VH&TT

Du lịch, Văn hóa và Thơng tin

LSVH

Lịch sử văn hóa

Nxb

Nhà xuất bản

PGS

Phó Giáo sư


TNHH MTV

Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

TP

Thành phố

Tr

Trang

TS

Tiến sĩ

UBND

Ủy ban Nhân dân

VH,TT&DL

Văn hóa, Thể thao và Du lịch

VHTT

Văn hóa Thơng tin

VHTT&TT


Văn hóa Thơng tin và Thể thao

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Tồn cầu hoá hiện đang là xu thế tất yếu, khách quan, tác động mạnh mẽ tới
tất cả các quốc gia, dân tộc, đến đời sống xã hội của cả cộng đồng nhân loại, cũng như
cuộc sống của mỗi con người. Trong bối cảnh đó Việt Nam đang thực hiện mở rộng
hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế trên các lĩnh vực trong đó
có lĩnh vực văn hóa, thực hiện giao lưu, hợp tác, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại
để làm giàu thêm vốn văn hóa của dân tộc đồng thời chú trọng bảo tồn bản sắc dân tộc,
bảo tồn các giá trị di sản văn hóa truyền thống. Tuy nhiên tồn cầu hố khơng chỉ tạo ra
cho Việt Nam những cơ hội, mà cả những thách thức to lớn. Trong các thách thức đó
thì thách thức về văn hố, về việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, các giá trị truyền
thống được coi là một trong những thách thức lớn nhất. Một mặt Việt Nam cần bảo tồn
các giá trị di sản văn hóa truyền thống, nhưng mặt khác cần phải biết phát huy, khai
thác các giá trị văn hóa truyền thống đó phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước,
đúng với vai trò “là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” đã được Đảng và
Nhà nước ta hết sức quan tâm và được cụ thể hóa trong các quan điểm, chính sách về
bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, mở đầu với Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) và
được tiếp tục phát triển với nhiều chủ trương, chính sách thiết thực và hiệu quả đã là
động lực mạnh mẽ cho hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc
trong đó có di sản văn hóa lễ hội truyền thống.
1.2. Lễ hội truyền thống là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật

thể, hợp thành kho tàng di sản văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam. Lễ hội truyền
thống là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong
thời gian và không gian xác định, thông qua các hoạt động lễ hội, tái hiện lại một thời
kỳ lịch sử gắn với một nhân vật lịch sử nhất định, hay một sự kiện nhất định trong lịch
sử dân tộc, lịch sử địa phương. Lễ hội thể hiện những giá trị văn hóa như phong tục, tập
quán, các quan niệm về cuộc sống, về xã hội, về tự nhiên, các tục hèm, những điều
kiêng kị của một cộng đồng dân cư, một vùng, miền nhất định. Thông qua các hoạt
động lễ hội góp phần giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, biết ơn những anh


6
hùng có cơng với đất nước, những người có cơng khai phá vùng đất, lập làng, những vị
tổ nghề. Đồng thời cũng giáo dục ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tương thân
tương ái trong một cộng đồng dân cư. Ngày nay, việc tham gia các lễ hội truyền thống
đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân nhằm thỏa mãn khát vọng trở
về cội nguồn và đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong
sinh hoạt văn hóa cộng đồng, góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa. Có thể nói, lễ hội
truyền thống là thành tố quan trọng cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc.
1.3. Đồ Sơn là một bán đảo được tạo bởi dãy núi chín ngọn vươn ra vịnh Bắc
Bộ và một ngọn tách ra đứng một mình là hịn núi Độc. Đồ Sơn giữ một vị trí rất
quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của thành phố Hải
Phịng. Cơ cấu kinh tế của tồn Quận trong đó ngành du lịch, dịch vụ chiếm khoảng
70%; đánh bắt thủy sản, nông nghiệp chiếm 23%; công nghiệp, xây dựng 7%. Kinh tế
- xã hội Quận phát triển với tốc độ khá cao, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,
mức độ đầu tư cho văn hóa, đặc biệt là cho công tác bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa vật thể và phi vật thể tăng lên, hệ thống các di tích lịch sử văn hóa của địa
phương được quan tâm đầu tư tu bổ, tôn tạo bằng cả kinh phí của nhà nước và của
nhân dân. Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phục hồi, phát triển của các lễ hội
truyền thống trên địa bàn Quận. Theo thống kê của Phịng Du lịch, Văn hóa và Thơng
tin quận Đồ Sơn năm 2014 thì trên địa bàn Quận có 3 lễ hội truyền thống: lễ hội chọi

trâu truyền thống Đồ Sơn, lễ hội Đảo Dấu, lễ hội Đền Bà Đế.
Tuy nhiên, do quận Đồ Sơn mới được thành lập từ năm 2007 theo Nghị định
số 145/2007/NĐ-CP, ngày 12/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ, nên cơng tác quản
lý lễ hội còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, nảy sinh khơng ít tiêu cực, đặt ra cho các
cơ quan quản lý văn hóa của địa phương nhiều vấn đề phải lưu tâm giải quyết để
đảm bảo cho hoạt động văn hóa nói chung và hoạt động lễ hội nói riêng đúng định
hướng, lành mạnh và hiệu quả, phát huy cao nhất các giá trị văn hóa, xã hội trong
đời sống đương đại. Trên hết là việc đánh giá đúng thực trạng và tìm ra những cách
thức quản lý lễ hội truyền thống có hiệu quả nhất nhằm giữ gìn, bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của địa phương.


7
Nhìn chung, đây là một vấn đề có tính chất chiến lược, nhưng cho đến nay
chưa có cơng trình chun khảo nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về
công tác quản lý lễ hội trên địa bàn quận Đồ Sơn. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Quản lý lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn - thành phố Hải Phòng” làm luận
văn tốt nghiệp cao học, chun ngành Quản lý văn hóa.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về lễ hội không phải là vấn đề mới, mà đã được giới nghiên cứu
văn hóa hết sức quan tâm, từ trước đến nay đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về lễ
hội dưới nhiều góc độ.
Dưới góc độ quản lý văn hóa, có các cơng trình: Đề tài nghiên cứu cấp bộ
của Bộ Văn hóa Thơng tin “Quản lý lễ hội dân gian cổ truyền thực trạng và giải
pháp” của hai tác giả Nguyễn Thu Linh và Phan Văn Tú (2004); Luận án Tiến sĩ
Văn hóa học “Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ từ năm
1945 đến nay” của tác giả Bùi Hoài Sơn (2007); Sách “Quản lý lễ hội cổ truyền
hiện nay” của Phạm Thị Thanh Quy, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội (2009)… Các
cơng trình này đã phân tích thực trạng, yếu tố tích cực, hạn chế của hoạt động lễ hội
và quản lý lễ hội, từ đó đưa ra những giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý lễ hội.

Dưới góc độ nghiên cứu văn hóa dân gian, nghiên cứu dân tộc học có các cơng trình
đã được xuất bản như: Nếp cũ hội hè đình đám của Toan Ánh, Nhà xuất bản Thành
phố Hồ Chí Minh (1991); Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh, Nhà xuất
bản Văn hóa Thơng tin, Hà Nội (2002)… chủ yếu miêu tả các lễ hội dân gian truyền
thống ở các địa phương thuộc đồng bằng trung du Bắc Bộ.
Ngồi ra cịn có nhiều bài viết về lễ hội trên các báo, tạp chí chủ yếu đứng
trên quan điểm của nhà quản lý nêu lên thực trạng hoạt động tổ chức lễ hội, phê
phán những mặt hạn chế của các hoạt động lễ hội diễn ra ở vùng Đồng Bằng Bắc
Bộ và trên cả nước như: “Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của
người Việt ở Đồng Bằng Bắc Bộ, do PGS.TS. Nguyễn Quang Lê làm chủ biên, Nhà
xuất bản Văn hóa Thơng tin (2001); “Nhìn lại lễ hội dân gian 2010” của tác giả Lê
Hồng Lý (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 321 năm 2011)…


8
Ở phạm vi địa phương của quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phịng đã có một số
cơng trình viết về lễ hội như: “Đồ Sơn thắng cảnh và du lịch” do Nhà xuất bản Hải
Phòng xuất bản (1997), đây là cơng trình nghiên cứu về du lịch, lễ hội, giới thiệu và
cung cấp những thông tin về du lịch và lễ hội của Đồ Sơn. Sách “Đồ Sơn lịch sử &
Lễ hội chọi trâu” và cuốn “Tản mạn Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn” của tác giả Đinh Phú
Ngà do Nhà xuất bản Văn hóa Thơng tin Hà Nội xuất bản (2003). Đây là những
cơng trình nghiên cứu về lịch sử quê hương Đồ Sơn và lễ hội chọi trâu truyền thống
Đồ Sơn. Trong đó đã đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển của mảnh đất Đồ
Sơn với những nét độc đáo trong phong tục, tập quán; đa dạng trong văn hóa, tín
ngưỡng và di tích lịch sử; nổi bật và đặc sắc nhất là truyền thuyết, lịch sử, huyền
thoại và những thăng trầm của Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn.
Cuốn “Kiến An tỉnh, Kiến Thụy phủ, Đồ Sơn tổng, Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc
Xuyên tam xã thần sắc” hiện nằm trong mảng sách thần tích thần sắc của kho tài
liệu Hán Nơm - Viện Nghiên cứu Hán Nơm mang kí hiệu ADa. 12/5. Nội dung sách
bao gồm 42 trang chép thần sắc ba xã, xã Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Xuyên thuộc tổng

Đồ Sơn thờ thần Điểm Tước. Tổng cộng gồm 16 đạo thần sắc của các triều đại vua
khác nhau. Thần Điểm Tước duệ hiệu là “Điểm Tước Thần Vương” vị Thượng
đẳng thần đầu tiên ở Đồ Sơn, vị thuỷ thần và cũng là Thành hoàng làng của cả vùng
Đồ Sơn gắn liền với các lễ hội truyền thống của Đồ Sơn…
Tuy nhiên, vẫn chưa có một cơng trình chun khảo nào tập trung nghiên
cứu về các vấn đề lý luận để từ đó áp dụng vào giải quyết các vấn đề cấp thiết của
thực tiễn đang đặt ra trên phương diện quản lý lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn
- thành phố Hải Phịng nên đây sẽ là cơng trình đầu tiên đề cập đến vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đi sâu khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng những ưu điểm, hạn
chế và nguyên nhân trong công tác quản lý lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn. Trên
cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội
truyền thống ở quận Đồ Sơn trong thời kỳ cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa.


9
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về quản lý lễ hội truyền thống.
Tìm hiểu khái quát về quận Đồ Sơn và lễ hội truyền thống của quận Đồ Sơn.
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống
ở quận Đồ Sơn hiện nay.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội truyền thống
ở quận Đồ Sơn trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về lễ hội và công tác quản lý lễ hội truyền
thống ở quận Đồ Sơn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu Quản lý lễ hội ở quận Đồ Sơn (từ ngày 12/9/2007 đến nay do

quận Đồ Sơn mới được thành lập theo Nghị định số 145/2007/NĐ-CP, ngày
12/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ), thực trạng quản lý, tổ chức bộ máy và các
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống; nhằm bảo tồn và phát huy
có hiệu quả những giá trị của lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn trong giai đoạn
hiện nay.
4.3. Thời gian nghiên cứu
Từ năm 2007 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng
và Nhà nước về quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc.
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Quản lý văn hóa, Lịch sử, Bảo tàng
học, Xã hội học…


10
- Phương pháp khảo sát điền dã, phỏng vấn, thống kê, chụp ảnh, phân tích và
tổng hợp tài liệu kết hợp với khảo sát thực tế.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là một cơng trình nghiên cứu đầy đủ, hệ thống về lễ hội truyền
thống và quản lý lễ hội ở quận Đồ Sơn từ năm 2007 đến nay. Đồng thời chỉ ra
những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong công tác quản
lý lễ hội. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quản
lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo về công tác quản lý lễ hội truyền
thống ở quận Đồ Sơn và các địa bàn khác tương đồng với quận Đồ Sơn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03
chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về lễ hội, quản lý lễ hội và tổng quan về lễ hội
truyền thống ở quận Đồ Sơn
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội truyền
thống ở quận Đồ Sơn


11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI, QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN
VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở QUẬN ĐỒ SƠN
1.1. Cơ sở lý luận về lễ hội và quản lý lễ hội truyền thống
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Lễ hội truyền thống
Theo từ nguyên, lễ hội là sự kết hợp của hai từ Hán - Việt là lễ và hội; còn
theo từ điển Tiếng Việt năm 2002, Nhà xuất bản Đà Nẵng “Lễ là những nghi thức
tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó”.
Trong thực tế “lễ” có nhiều ý nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tạp. Chữ
“lễ” được hình thành và biết tới từ thời kỳ Chu (thế kỷ 12 trước công nguyên), lúc
đầu chữ “lễ” được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc, nhà Chu cúng tế thần tổ
tông gọi là tế lễ. Theo cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì lễ là “cách bày
tỏ kính ý hoặc đồ vật để bày tỏ kính ý” [1, tr.385].
Dần dần, chữ “lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân biệt trên,
dưới, sang, hèn, thứ bậc lớn, nhỏ, thân, sơ trong xã hội khi đã phân hoá thành đẳng cấp.
Cuối cùng khi xã hội đã phát triển thì ý nghĩa của “lễ” càng được mở rộng như lễ
Thành hoàng, lễ gia tiên, lễ cầu an, lễ cầu mưa… Do ngày càng mở rộng phạm vi nên
đến đây “lễ” đã mang ý nghĩa bao quát mọi nghi thức ứng xử của con người với tự
nhiên và xã hội. Như vậy ta có thể đi đến một khái niệm chung, khái niệm Lễ mà
chúng ta đang bàn đến ở đây không phải là chữ lễ của đạo Khổng: “Lễ trong lễ hội là
một hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lịng tơn kính của dân làng đối với

các thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thần Thành hồng nói riêng. Đồng
thời lễ cũng phản ánh những nguyện vọng ước mơ chính đáng của con người trước
cuộc sống đầy dãy những khó khăn mà bản thân họ chưa có khả năng cải tạo”.
Lễ là phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người.
Lễ mang ý nghĩa là nghi thức, là hành vi cúng tế của con người hướng tới các thần
linh để cầu mong sự che chở, phù hộ. Lễ là nơi gửi gắm nỗi niềm tâm linh và ước


12
vọng của con người. Còn Hội là sự tập hợp, hội họp đơng người, ở đó diễn ra một
hệ thống trị chơi, trị diễn, cuộc đấu, văn hóa nghệ thuật, thể thao rất phong phú và
đa dạng, là đời sống văn hóa thường nhật. Theo Từ điển tiếng Việt năm 2002 “Hội
là cuộc vui chung cho đông đảo người tham dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt”.
Nhưng nếu chỉ có vậy nhiều khi chưa thành “Hội” phải bao gồm các yếu tố
sau đây mới đủ ý nghĩa của nó: “Hội” phải được tổ chức nhân dịp kỷ niệm một sự
kiện quan trọng nào đó liên quan đến bản làng, cộng đồng dân tộc; “Hội” đem lại
lợi ích tinh thần cho mọi thành viên của cộng đồng mang tính cộng đồng cả tư cách
tổ chức lẫn mục đích của nó. “Hội” có nhiều trị vui đến mức hỗn độn. Đây là sự
cộng cảm cần thiết của phương diện tâm lý sau những ngày tháng lao động vất vả
với những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày mà ai cũng phải trải qua. Đến với
“Hội” mọi người sẽ được giải toả, thăng bằng trở lại. Vậy khái niệm “Hội” tập trung
lại như sau: “Hội” là sinh hoạt văn hố tơn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phát
từ nhu cầu cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng
cá nhân, hạnh phúc cho từng dịng họ, từng gia đình. Sự sinh sơi nảy nở của gia súc,
sự bội thu của những mùa màng mà bao đời nay đã quy tụ vào niềm mơ ước chung
với bốn chữ “Nhân - Khang - Vật - Thịnh”. Hội là mơi trường sinh hoạt văn hóa
lành mạnh trong dân gian, nó đã có và tồn tại từ ngàn xưa. Hội có sức sống lâu bền
bởi nó khơng chỉ thỏa mãn nhu cầu tâm linh cho mọi người, mà còn thỏa mãn cả
nhu cầu sáng tạo nghệ thuật và hưởng thụ nghệ thuật của quần chúng. Nó cịn là
chất keo để cố kết cộng đồng bởi trong nó có sức quy tụ cộng đồng gặp gỡ giao lưu

với nhau, cùng nhau tổ chức các trò chơi, trò diễn mang bản sắc văn hóa của cộng
đồng làng xã nơi đây.
Tóm lại, “Hội” là để vui chơi, chơi thỏa thích, thoải mái. Nó khơng bị ràng
buộc bởi nghi lễ tơn giáo, đẳng cấp, tuổi tác. Sau những tháng ngày làm ăn lam lũ,
dân làng chờ đón ngày hội như chờ đón một niềm tin vui cộng đồng. Họ đến với hội
trong tinh thần cộng cảm, hồ hởi, sảng khối và hồn tồn tự nguyện. Ngồi vui
chơi giải trí, ngồi gặp gỡ bạn bầu, mọi người về dự hội đều cảm thấy hình như
mình cịn được thêm một cái gì nữa. Phải chăng đó là “lộc thánh”, “lộc thần”. Hay


13
tất cả gọi chung là lộc hội. Thứ quyền lợi vơ hình ấy chỉ có trong ngày hội và ai
muốn được thì phải đến tận nơi mà nhận chứ khơng ai có thể nhận thay cho ai.
Chính vì vậy mà hội rất đông, rất nhộn nhịp. Những ngày làng vào đám, nhịp sống
thơn dã tưng bừng hẳn lên. Đó là một thực tế ai cũng thấy, cũng cảm nhận được.
Tuy nhiên các nhà nghiên cứu văn hóa vẫn chưa nhất quán trong cách sắp
xếp cụm từ “Lễ hội” hay “Hội lễ”. Tác giả Bùi Thiết (1993) cho rằng khi phần hội
phong phú hơn thì gọi là “Hội lễ”, khi phần lễ lấn át thì gọi là “Lễ hội” [58, tr.7].
PGS.TS. Nguyễn Quang Lê trong “Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền
thống của người Việt ở Đồng Bằng Bắc Bộ” có nói về cấu trúc nội dung của Lễ hội
truyền thống và các loại hình Lễ hội truyền thống.
Giáo sư Ngơ Đức Thịnh thì chỉ ra một cách cụ thể:
Lễ hội là một hiện tượng tổng thể, không phải là thực thể chia đôi (phần lễ
và phần hội) một cách tách biệt như một số học giả đã quan niệm mà nó
được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín ngưỡng nào đó (thường
là tơn thờ một vị thần linh lịch sử hay một vị thần linh nghề nghiệp nào
đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hóa, phát
sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội. Cho nên trong lễ hội, phần lễ là phần
gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp [88, tr.37].
Như vậy từ “Hội” bản thân nó đã gắn bó hữu cơ với từ “Lễ” (khơng có lễ thì

khơng có hội). Trong ngôn ngữ thường ngày người ta thường dùng từ “Hội” để gọi
chung cho lễ hội đó và đó chỉ là một hình thức tu từ mà thơi, lấy cái bộ phận để chỉ
cái toàn bộ, lấy hội để chỉ lễ hội. Về cơ bản, khái niệm “Lễ hội” đã đi vào đời sống
văn hóa ở nước ta và thường được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật
hay các văn bản hành chính nhà nước…
Tóm lại, cả phần lễ và phần hội đều nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh, nhu cầu
giải trí, thể hiện sức mạnh, tài năng, tái hiện cuộc sống của con người. Hội gắn liền
với Lễ và chịu sự quy định của Lễ, có Lễ mới có Hội.
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hố cộng đồng phổ biến và
đậm đà bản sắc dân tộc, là sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và


14
phát triển trong q trình lịch sử, có giá trị đặc biệt trong sự cố kết cộng đồng ngày
càng bền chặt hơn, đồng thời là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại. Người Việt Nam từ
hàng ngàn đời nay có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”. Lễ hội là sự kiện thể
hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tơn vinh những hình tượng thiêng, được
định danh là những vị “Thần” - những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền
thoại. Hình tượng các vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người.
Đó là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới,
tạo dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người
chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần
gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc... Lễ hội là sự kiện
tưởng nhớ, tỏ lịng tri ân cơng đức của các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc.
Lễ hội truyền thống chủ yếu do nhân dân đứng ra tổ chức và mọi người dân
đều được tham gia. Lễ hội truyền thống cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ
những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức
giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá
trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố
tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí... Lễ hội truyền thống cịn là dịp con người

được giải toả, dãi bày phiền muộn, lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở
che đặng vượt qua những thử thách đến với ngày mai tươi sáng hơn. Lễ hội truyền
thống được coi như bảo tàng sống, tồn tại đồng hành và tạo nên ký ức văn hóa của
dân tộc, có sức sống lâu bền và lan tỏa trong đời sống nhân dân. Lễ hội truyền thống
là bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể. Việc tổ chức lễ hội truyền
thống góp phần tích cực trong việc giao lưu với các nền văn hóa thế giới, tạo nền
tảng vững chắc cho văn hóa Việt Nam có sức mạnh chống lại sự ảnh hưởng tiêu cực
của văn hóa ngoại lai.
Tựu chung lại có thể hiểu: Lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và
lưu truyền theo phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái văn
hóa lịch sử; được truyền lại trong các cộng đồng với tư cách như một phong tục
tập quán.


15
Như vậy có nhiều cách hiểu và định nghĩa về lễ hội truyền thống khác nhau,
tùy thuộc vào góc độ tiếp cận. Tuy nhiên khi tiếp cận lễ hội truyền thống theo
hướng của quản lý văn hóa sẽ bao trùm lên tất cả các yếu tố, các sự kiện của lễ hội
đang diễn ra trong đời sống hiện nay gồm cả truyền thống dân gian và tái sáng tạo
mang tính bác học. Bên cạnh đó, lĩnh vực quản lý văn hóa sẽ quan tâm nhiều đến
việc bảo tồn, phát huy, khai thác và phát triển những vốn liếng truyền thống cũng
như sự tái sáng tạo các giá trị tạo nên các sự kiện của lễ hội phục vụ và đáp ứng nhu
cầu tinh thần của nhân dân trong đời sống văn hóa hiện nay.
1.1.1.2. Quản lý lễ hội truyền thống
Thuật ngữ “quản lý” được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, có nhiều cách
giải thích thuật ngữ quản lý khác nhau. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ
chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều
phải thừa nhận, chịu một sự quản lý nào đó. Vì thế, các nhà nghiên cứu ở từng lĩnh
vực đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý. Theo nghĩa rộng: quản lý là

hoạt động có mục đích của con người còn theo nghĩa hẹp: quản lý là sự sắp đặt,
chăm nom công việc
Trong khoa học xã hội, Từ điển tiếng Việt (2005) định nghĩa quản lý là “sự
trông nom, coi sóc, gìn giữ các cơng việc”. Thuật ngữ “Quản lý” ở nước ta thường
được hiểu là sự lãnh đạo, điều hành, giám sát của người hoặc tổ chức cấp trên đối
với người hoặc tổ chức cấp dưới.
Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực Nhà nước,
chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối
nội, đối ngoại của Nhà nước. Tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản
lý nhà nước. Bằng chính sách và pháp luật, Nhà nước trao quyền cho các tổ chức
hoặc cá nhân để họ thay mặt Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước. Quản
lý nhà nước trong các lĩnh vực hành pháp là quản lý hành chính nhà nước.
Quản lý có vai trị, chức năng quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội hiện
nay. Đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa, hoạt động quản lý văn hóa là vấn đề nhạy cảm


16
và phức tạp bởi quản lý văn hóa mang tính đặc thù do nó có phạm vi rộng và có mặt
hầu hết ở mọi hoạt động của con người. Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động
của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam. Quản lý văn hóa nhằm đưa các hoạt động văn hóa vào nề nếp theo
đúng chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước. Với vai trò là thiết chế trung
tâm trong hệ thống chính trị, Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho nhân dân
đều được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có các quyền về văn hóa
như quyền tự do ngơn luận, quyền tự do học tập, sáng tác, sáng tạo phê bình văn hóa
nghệ thuật, tự do sinh hoạt tơn giáo tín ngưỡng… Nhà nước có trách nhiệm điều tiết
để đảm bảo sự hài hịa giữa các thành tố văn hóa, điều tiết lợi ích văn hóa của các giai
tầng, các u cầu phát triển và thỏa mãn nhu cầu văn hóa của toàn xã hội.
Ở Trung ương, các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về văn hóa là Chính
phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Chính phủ thống nhất quản lý và phát triển

sự nghiệp văn hóa nghệ thuật trên cả nước. Thi hành các biện pháp để bảo tồn và
phát triển văn hóa, chống lại các hiện tượng, hành vi truyền bá tư tưởng văn hóa
phản động, đồi trụy, các hủ tục mê tín dị đoan. Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch trình các dự án, pháp lệnh về tổ chức hoạt động và quản lý văn hóa,
quyết định quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển văn hóa. Ban hành các Nghị
định, chế tài quản lý, quyết định các chính sách đầu tư, tài trợ, hợp tác với nước
ngoài về tổ chức các hoạt động phát triển văn hóa.
Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan hành chính pháp chế ở địa phương thực
hiện các chức năng quản lý nhà nước về văn hóa ở địa phương mình theo quy định
của pháp luật. Các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trực thuộc tỉnh, thành phố, các
Phịng Văn hóa và Thơng tin cấp huyện, các Ban Văn hóa xã, phường, thị trấn là cơ
quan chuyên môn trực tiếp tham mưu tư vấn giúp Ủy ban nhân dân các cấp quản lý
văn hóa ở địa phương mình.
Nhà nước tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật về văn
hóa. Chính sách pháp luật về văn hóa được hiểu là những nguyên tắc thực hiện tư
tưởng chủ đạo của Nhà nước về chủ trương, đương lối, phương pháp xây dựng và


17
phát triển nền văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước. Song
song với việc tiến hành các chính sách về văn hóa, để quản lý văn hóa, Nhà nước đã
ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về văn hóa nhằm phát huy tác dụng của
văn hóa đối với việc hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần
của con người, chế ước những ảnh hưởng tiêu cực, loại bỏ những hủ tục lạc hậu.
Quản lý văn hóa bằng pháp luật là một yêu cầu mang tính tất yếu khách
quan. Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước tạo ra một hành lang
pháp lý an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Quản lý lễ hội là một lĩnh vực cụ thể trong ngành văn hóa.
Quản lý lễ hội là quản lý nhà nước đối với hoạt động của lễ hội, đó là việc
nghiên cứu, xây dựng, củng cố, hồn thiện hệ thống chính sách, luật pháp có liên

quan và can thiệp bằng các công cụ này nhằm mục đích phù hợp với đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước và hệ thống pháp luật hiện hành cũng như Quản lý
nhà nước đối với hoạt động của lễ hội truyền thống là làm cho lễ hội được vận hành
theo đúng quy luật của văn hóa, nội dung của tế lễ phải phù hợp với truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, nội dung của phần hội phải phù hợp và mang lại lợi ích sinh
hoạt cho cộng đồng hiện tại.
Tóm lại, quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội nói chung, lễ hội truyền
thống nói riêng được hiểu là q trình sử dụng các cơng cụ quản lý như chính sách,
pháp luật, các nghị định, chế tài, tổ chức bộ máy vận hành và các nguồn lực để
kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động của lễ hội bằng các phương thức tổ chức
thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì việc thực hiện hệ thống chính
sách, hệ thống các văn bản pháp quy, chế tài của Nhà nước đã ban hành. Quản lý
lễ hội là một q trình thực hiện bốn cơng đoạn: xác định nội dung và phương thức
tổ chức; xây dựng kế hoạch; tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, giám sát thực
hiện; tổng kết, đúc kết kinh nghiệm. Quản lý lễ hội đáp ứng các nhu cầu phát triển;
đó là việc huy động, tổ chức và điều hành các nguồn lực nhằm tôn vinh và phát
triển các giá trị vốn có trong lễ hội truyền thống phù hợp với nhu cầu văn hóa, kinh
tế và xã hội của cộng đồng, địa phương, đất nước.


18
1.1.2. Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý lễ hội
Cơ sở pháp lý của việc thực thi công tác quản lý nhà nước về lễ hội truyền
thống là dựa trên hệ thống các chính sách và pháp luật hiện hành của Nhà nước.
Luật pháp và văn bản mang tính pháp quy nêu trên đã thể hiện rõ mục tiêu của quản
lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội truyền thống là duy trì và thực hiện nghiêm
minh các điều khoản đã được ghi trong luật và các văn bản pháp quy, nghị định, chế
tài và các văn bản liên quan [Pl.2, tr.117].
Theo quy định hiện hành, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách
nhiệm cấp phép, kiểm tra, giám sát hoạt động lễ hội. Đồng thời, phối hợp với các cơ

quan chức năng như: công an, quản lý thị trường, môi trường, giao thông vận tải, y
tế,… xử lý sai phạm trong lễ hội. Trên thực tế, hoạt động lễ hội có tác động tới các
mặt của đời sống xã hội ở khu vực, địa điểm tổ chức. Do đó việc chịu trách nhiệm
quản lý nhà nước nói chung thuộc chính quyền sở tại nhưng được phân chia trách
nhiệm cụ thể cho các đơn vị chức năng thuộc cơ quan quản lý nhà nước có liên
quan. Do đó, cơng tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm tùy từng vụ việc mà có
những cơ quan chức năng chịu trách nhiệm giải quyết.
1.1.3. Nội dung công tác quản lý nhà nước về lễ hội ở cấp Quận
1.1.3.1. Quản lý nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội truyền thống
Có thể nói Lễ hội là một hoạt động xã hội chung của con người, trong mỗi dân
tộc đều có những lễ hội và lễ hội là nơi biểu hiện bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân
tộc rõ nét nhất. Vì thế bảo tồn và phát huy nền văn hóa phải gắn với việc bảo tồn và
phát huy các giá trị của lễ hội. Đây là công tác đặc biệt quan trọng trong công tác
quản lý lễ hội. Trong thực tế, không có mơi trường nào lưu giữ và chuyển giao những
giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc sinh động, đầy đủ hơn lễ hội. Trong môi trường
lễ hội, các cảm xúc thẩm mỹ và các giá trị sáng tạo được tiếp nối liên tục, những tín
hiệu văn hóa được tái sinh theo chu kỳ, sự nhắc lại, lựa chọn, bổ sung và sáng tạo
luôn tiếp diễn và để lại dấu ấn trong các chu kỳ ấy một cách bất tận. Lễ hội vừa là nơi
lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất, vừa là môi trường hướng


19
con người về với quá khứ. Vì vậy Lễ hội truyền thống không chỉ là một di sản quá
khứ để lại mà còn là một nguồn tài nguyên, một tài sản vô giá, là vốn liếng của nhiều
lĩnh vực văn hóa - xã hội và kinh tế của thời hiện đại. Ngày nay trong bối cảnh xây
dựng, phát triển đất nước và giao lưu hội nhập với thế giới, việc bảo tồn và phát huy
các giá trị di sản lễ hội - di sản văn hóa đã và đang đặt trách nhiệm rất nặng nề đối với
những người làm công tác quản lý văn hóa, quản lý lễ hội.
1.1.3.2. Quản lý kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống
Quản lý nhà nước về kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống là nói đến

việc hạch tốn ngân sách thu chi các hoạt động của lễ hội. Trên thực tế tổ chức lễ
hội nhằm mục đích tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa yêu nước, quảng bá hình ảnh
thương hiệu và các sự kiện hoạt động mang tính kinh doanh, dịch vụ. Việc quản lý
nhà nước được thực hiện bởi cơ quan thuế vụ và bằng cách áp dụng định mức thuế
theo luật pháp và quy định khác của địa phương. Những lễ hội truyền thống do Nhà
nước chủ trương và đầu tư thì việc quản lý thu - chi sẽ do cơ quan tài chính đủ thẩm
quyền của các cấp tổ chức lễ hội chịu trách nhiệm. Đối với những lễ hội truyền
thống do cộng đồng đóng góp kinh phí và tham gia quản lý thu - chi (phương thức
xã hội hóa) thì việc quản lý nhà nước chủ yếu là cùng với các cơ quan hữu quan và
đại diện cộng đồng mở hội bàn bạc phương thức tổ chức và xây dựng quy chế quản
lý thu - chi tài chính cho riêng lễ hội đó và cùng với các bên liên quan, cán bộ quản
lý văn hóa có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và xử lý sai phạm các vấn
đề có liên quan đến kinh tế tài chính của lễ hội.
Tổ chức quản lý hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động lễ hội trong cơ chế
thị trường, từ xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế hạch toán kinh tế
độc lập, cùng với quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Đặc trưng của nền kinh
tế thị trường là sản xuất kinh doanh dịch vụ hàng hóa để tồn tại và phát triển, chúng
ta phải đổi mới cơ chế quản lý trong mọi lĩnh vực. Kinh phí tổ chức lễ hội truyền
thống thời gian trước đây lấy từ sản phẩm của ruộng đình, ruộng chẻm (của cơng)
ngày nay khơng cịn. Kinh phí để tổ chức mở hội phải dựa vào sự đóng góp của
người dân trong cộng đồng hoặc phải tạo ra các nguồn thu ngân sách, tích lũy kinh


20
phí để mở hội cho những năm sau. Tất nhiên, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị
trường luôn có mặt tích cực và tiêu cực. Vấn đề đặt ra làm thế nào để phát huy tính
tích cực, hạn chế ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực là sự địi hỏi về tư chất và năng
lực của cơng tác quản lý. Một thực tế hiện nay nếu không tạo ra được các nguồn thu
trong lễ hội thì sẽ hạn chế nguồn lực cho việc tổ chức hội.
1.1.3.3. Quản lý các hoạt động dịch vụ, môi trường và trật tự công cộng

Quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ, mơi trường, vệ sinh an tồn
thực phẩm, trật tự giao thơng và trật tự nơi cơng cộng, phịng chống cháy nổ, chống
tệ nạn xã hội và các hành vi quá khích trong lễ hội là một trong những nội dung
trọng yếu của công tác quản lý lễ hội. Đây là nội dung rất phức tạp và triển khai
thực hiện nó khơng phải là việc đơn giản.
Có thể nói rằng đây là nội dung nhạy cảm nhất trong tổ chức bất kỳ lễ hội
nào, đơn vị hoặc cơ quan chủ trì tổ chức lễ hội thường phối hợp cơng việc với các
cơ quan chức năng khác như: Công an, Cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Quản lý thị
trường, Y tế… nhằm đạt được kết quả tốt nhất. Hoạt động phối hợp này của các cơ
quan chức năng được thể hiện ở sự thống nhất trong xây dựng kế hoạch triển khai
chi tiết khi tổ chức lễ hội với các tình huống được bàn bạc kỹ lưỡng giữa các bên
liên quan. Đồng thời đưa ra các phương án xử lý phù hợp trong điều kiện thực tế,
đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ một cách tối ưu, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử
lý kịp thời các trường hợp vi phạm.
Để thực hiện tốt công tác quản lý trong lĩnh vực này, Ban tổ chức lễ hội cần
quy hoạch khu vực tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ dưới hình thức “hội chợ”
theo các nguyên tắc: dự tính vừa đủ về lượng trong thực tế của quy mô tổ chức và
lượng khách dự hội; xây dựng các mẫu, tiêu chuẩn thẩm mỹ về hình thức các quầy
hàng; quy định nghiêm ngặt những tiên chuẩn chất lượng dịch vụ; khu vực tổ chức
hoạt động kinh doanh dịch vụ phải thuận tiện cho du khách, nhưng không được đưa
vào khuôn viên di tích và các khơng gian liên quan đến trị diễn, văn nghệ; ngoài
việc đề treo biển báo “cấm xả rác” phải có nơi xả rác thuận lợi và các phương tiện
đựng rác có hình thức dễ nhìn; phải có biện pháp mạnh mẽ hạn chế tình trạng


21
“người ăn xin” phổ biến trong các lễ hội truyền thống hiện nay. Thi hành xử phạt
hành chính mang tính giáo dục và răn đe; phổ biến nội dung nội quy, quy chế của
Ban tổ chức lễ hội trên phương tiện thông tin cổ động trực quan như: biển bảng,
panô, băng rôn…; chủ động phân luồng, phân tuyến giao thông và các phương án

chống ùn tắc. Chuẩn bị sẵn các phương tiện và lực lượng ứng cứu các trường hợp
khẩn cấp như cháy nổ, xung đột, cướp giật, y tế…
1.1.3.4. Xã hội hóa trong quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống
Trong lịch sử ở các triều đại phong kiến qn chủ nước ta cũng đã có những
chính sách văn hóa nhằm duy trì hoạt động lễ hội trong các làng - xã như “tạo lệ”,
“vệ linh”, “ruộng đình”, “ruộng chùa”…Song về cơ bản là của dân, nguồn lực chính
để tổ chức lễ hội vẫn là do dân đóng góp theo “lệ làng” như thế với tính chất “tự sản
tự tiêu” của văn hóa làng cũng có thể coi văn hóa đã từng được “xã hội hóa” trong
suốt quá trình lịch sử ở nước ta.
Thời kỳ trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và thời kỳ phát triển nền
kinh tế theo cơ chế bao cấp, các hoạt động văn hóa - nghệ thuật được tổ chức, chủ
yếu do Nhà nước cấp kinh phí và quản lý trong hầu hết các khâu của quá trình sản
xuất sáng tạo, phân phối lưu thơng, bảo quản và tiêu dùng văn hóa.
Bước sang thời kỳ đổi mới, xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang cơ
chế thị trường hoạch toán kinh tế độc lập theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong
khi nhà nước ta đang trong quá trình xây dựng và hồn thiện hệ thống các văn bản
chính sách pháp luật về văn hóa để phù hợp với tình hình thực tiễn, đồng thời sẵn có
truyền thống dân chủ trong hoạt động văn hóa ở cộng đồng làng xã, trong bối cảnh sự
tác động toàn diện của nền kinh tế thị trường và xu hướng giao lưu hội nhập quốc tế,
nhân dân ta đã tự “xã hội hóa” hầu hết từ các khâu: sản xuất sáng tạo đến phân phối
lưu thông, bảo quản và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa nhất là trong lĩnh vực phục
dựng các giá trị văn hóa truyền thống như di tích, lễ hội truyền thống… đáp ứng các
nhu cầu sinh hoạt của đời sống tinh thần hàng ngày ở mỗi cộng đồng dân cư.
Xã hội hóa là đỉnh cao của sự hiệp tác và công lao động xã hội, lao động kinh
tế, là biến một số hoạt động mang tính cá nhân trở thành hoạt động mang tính xã hội,


22
mà bản chất của nó là “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Cùng với ý nghĩa văn hóa
là của dân, do dân và vì dân cùng với chính sách dân bàn, dân làm, dân kiểm tra của

Nhà nước ta, các phong trào văn hóa - văn nghệ - thể thao đã phát triển sôi động hơn
bao giờ hết. Bởi đó là sự phát triển của các quan hệ lợi ích giữa văn hóa - kinh tế - xã
hội theo quy luật vận động tất yếu và khách quan. Xây dựng các chính sách sẽ tạo
điều kiện và cơ hội thúc đẩy nhanh q trình xã hội hóa văn hóa. Xã hội hóa đương
nhiên trở thành cơ chế và phương thức vận hành của đời sống xã hội.
Cơ chế của xã hội hóa hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động lễ hội truyền
thống nói riêng là sự huy động tham gia của các nguồn lực xã hội và các khâu của
quá trình hoạt động dựa trên việc xác lập những quan hệ lợi ích nhiều chiều. Xã hội
hóa các hoạt động văn hóa đã làm gia tăng và phong phú đa dạng hơn các sản phẩm
văn hóa cả về số lượng và chất lượng, góp phần khơng nhỏ vào sự phát triển đời
sống tinh thần và vật chất của cộng đồng cũng như tồn xã hội. Xã hội hóa hoạt
động lễ hội truyền thống là việc thiết lập và vận hành các quan hệ lợi ích giữa người
mở hội, người dự hội với các tổ chức kinh tế - xã hội khác nhằm bảo tồn và phát
huy di sản vô giá này cho hôm nay và mai sau.
Quản lý nhà nước về xã hội hóa hoạt động lễ hội truyền thống hiện nay địi hỏi
phải có và đổi mới cơ chế quản lý thích hợp. Cơng cụ quản lý dựa trên cơ sở chính
sách pháp luật của Nhà nước. Các văn bản, nghị định, quy chế, chế tài của Chính phủ;
các nội dung, quy định của địa phương và phẩm chất, năng lực chuyên môn của đội
ngũ cán bộ thực hiện chức năng quản lý trong việc tổ chức vận hành thanh tra, kiểm
tra, giám sát, linh hoạt, nhạy cảm cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung phù hợp trong các
điều kiện hoàn cảnh thực tế của từng địa phương, của từng lễ hội truyền thống.
1.2. Tổng quan về lễ hội truyền thống ở quận Đồ Sơn
1.2.1. Khái quát về quận Đồ Sơn
1.2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Quận Đồ Sơn thành phố Cảng Hải Phòng thành lập theo Nghị định số
145/2007/NĐ-CP, ngày 12/9/2007 của Chính phủ gồm 7 phường: Ngọc Xuyên,


23
Ngọc Hải, Vạn Hương, Vạn Sơn, Bàng La, Hợp Đức, Minh Đức. Quận Đồ Sơn có

diện tích tự nhiên 4.237,29 ha, dân số 51.417 người, địa giới hành chính: phía Đơng
và phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ, phía Tây giáp huyện Kiến Thuỵ, phía Bắc giáp
quận Dương Kinh. Các phường Ngọc Xuyên, Ngọc Hải, Vạn Sơn, Vạn Hương vốn
là địa bàn các xã: Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Tuyền (Đời vua Đồng Khánh (1885-1888)
kiêng huý đổi là Ngọc Xuyên), huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn Thừa tuyên Hải
Dương đặt năm 1459 đời Lê Thánh Tông. Thực ra, vùng đất này đã có tên từ rất lâu
đời như tên Nê Lê có từ thời Hùng Vương, Đồ Sơn, Đại Bàng (Bàng Động) đã thấy
từ đầu đời Hậu Lý (1010 - 1225). Các phường trung tâm của quận xa xưa gồm 8
vạn chài nên thường gọi Đồ Sơn - Bát Vạn. Đó là các vạn: Bún, Hoa, Hương, Lẻ,
Lê, Ngang, Tác, Thủ (Thốc). Đây là những vạn chài nổi tiếng vùng ven biển Hải
Đơng, ngư dân dầy dạn sóng gió, ra khơi vào lộng.
Theo truyền ngơn thì dân chài Đồ Sơn định cư ở vùng biển dãy núi Cửu
Long từ đời các vua Hùng dựng nước. Người ta phân định địa giới các vạn dựa vào
các vụng bể, các thung lũng, vách núi. Do đất rộng, dân thưa, hơn nữa lại phải
đương đầu với bão bể, sóng thần, cướp bể nên dân Đồ Sơn, sẵn sàng đón nhận dân
các nơi đến cùng sinh sống. Dân thôn Ngân Hà ở dưới núi Vạn Thủ, Đồ Sơn gốc ở
làng Cao Mại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đi đánh cá ngồi khơi bị gió lớn
thổi dạt vào Vạn Thủ nên xin định cư, rước cả Thành hoàng bản thổ là Tam Vị
Thánh Nương ra quê mới dựng đình thờ, dân quen gọi là Đình Chài. Đình mới được
cơng nhận di tích lịch sử cấp thành phố. Sau Kháng chiến chống Pháp thắng lợi
(1946 - 1954) và nhu cầu phát triển kinh tế, văn hoá du lịch nên dân nhiều nơi đến
làm ăn sinh sống học tập khá nhiều, có phường dân nhập cư đơng hơn dân bản địa
nhưng đặc sắc của cư dân Đồ Sơn - Bát Vạn vẫn giữ được, đồng thời tiếp thu những
yếu tố tích cực lành mạnh của dân mới cộng cư. Nếu khơng có truyền thống văn hố
đặc sắc lâu đời, chắc không thể bảo lưu được.
Trở lại vùng Đồ Sơn - Bát Vạn, dãy núi chính là Cửu Long sơn, vốn là
những đảo ngồi khơi do q trình biển lùi dần tích tụ phù sa đã nối liền các


24

đảo nhỏ lại liền nhau thành một bán đảo có thế 9 con rồng vươn ra đảo Dấu,
cịn ở phía đơng đứng trơ một núi nhỏ. Phương dao có câu:
Chín con theo mẹ một dòng
Còn một con út ra lòng bất nhân
Đông kia núi Độc phản thân
Tây kia núi Mẫu chín lần ơm con.
1.2.1.2. Văn hóa truyền thống
1.2.1.2.1. Văn học dân gian
Đồ Sơn là nơi có vốn văn vần dân gian phong phú với những ca dao, tục ngữ,
ngạn ngữ, phương ngơn, hị, vè phản ánh đậm nét cảnh vật và cuộc sống người Đồ
Sơn xưa và nay.
Tuy nhiên mảng văn xuôi dân gian ở Đồ Sơn bao gồm những huyền tích,
thần thoại và truyền thuyết… Những tác phẩm này có nhiều yếu tố hoang đường,
nhưng đều chứa đựng những nhân tố hiện thực. Đó là sự tích những vị thần Thành
hoàng làng, những nhân vật lịch sử, những người có cơng đến “Khai thiên, lập địa”
vùng đất này.
* Sự tích lục vị Tiên Cơng
Tuy rằng, hiện nay cịn có những ý kiến khác nhau về những người đầu tiên
đến Đồ Sơn sinh cơ lập nghiệp, nhưng người Đồ Sơn đều tơn vinh 6 cụ của sáu
dịng họ có cơng đầu khai phá mở mang đất đai. Đó là các cụ: Lương Ni Nường,
Lê Hải Bộ, Đinh Chàng Ngọ, Hồng Đại Hùng, Nguyễn Thanh Sam và Phạm Cao
Sơn. Sáu cụ đều được người Đồ Sơn lập đền thờ và về sau được phong tôn thần là
Lục vị Tiên công.
* Truyền thuyết Nam hải Lão Đảo thần vương
Truyền thuyết Nam hải Lão Đảo thần vương. Người Đồ Sơn có nhiều truyền
thuyết về vị thần được tôn thờ này. Ngôi đền xây từ bao giờ và thờ vị thần nào, hiện
nay chưa có những ghi chép có tính khoa học. Song căn cứ và dấu tích và truyền



×