Tải bản đầy đủ (.pdf) (182 trang)

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý lễ hội truyền thống ở huyện vụ bản, tỉnh nam định

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.12 MB, 182 trang )

1

Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO

TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI

********
Vũ quỳnh hương

Quản lý lễ hội truyền thống
ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
MÃ số: 60310642

LUậN VĂN THạC Sĩ QUảN Lý VĂN HóA

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Phan Văn Tú

Hµ Néi, 2015


2

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS Phan Văn Tú. Những nội dung trình bày trong luận
văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được
ai cơng bố dưới bất kỳ hình thức nào. Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu


của người khác, tơi đều trích dẫn rõ ràng. Tơi hồn tồn chịu trách nhiệm
trước nhà trường về sự cam đoan này.
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn

Vũ Quỳnh Hương


3

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC ....................................................................................................... 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................... 5
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ TỔNG
QUAN VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN VỤ BẢN ............................... 13

1.1. Cơ sở lý luận ..................................................................................... 13
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về lễ hội, quản lý lễ hội truyền thống .... 13
1.1.2. Nội dung quy chế trong quản lý lễ hội truyền thống huyện Vụ Bản.... 23
1.2. Tổng quan về lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản ...................... 34
1.2.1. Khái quát chung về huyện Vụ Bản ............................................... 34
1.2.2. Tổng quan về lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản ..................... 38
Tiểu kết chương 1 .................................................................................... 49
Chương 2: THƯC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở
HUYỆN VỤ BẢN ........................................................................................... 51

2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý lễ hội truyền thống tại huyện
Vụ Bản ........................................................................................... 51

2.1.1. Tổ chức cơ cấu nhân sự trong quản lý lễ hội................................. 51
2.1.2. Cơ chế quản lý lễ hội .................................................................... 54
2.2. Thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản ... 56
2.2.1. Xây dựng, chỉ đạo thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về lễ hội.. 56
2.2.2. Thực trạng công tác quản lý dịch vụ vệ sinh môi trường, an ninh
trật tự tại lễ hội ....................................................................................... 66
2.3. Đánh giá công tác quản lý lễ hội tại huyện Vụ Bản trong thời
gian qua ............................................................................................. 75
2.3.1. Những ưu điểm............................................................................. 75
2.3.2. Những hạn chế ............................................................................. 80
2.3.3. Nguyên nhân tồn tại ..................................................................... 83
Tiểu kết chương 2 .................................................................................... 85


4

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN VỤ BẢN ............................................................ 86

3.1. Xu hướng biến đổi lễ hội truyền thống và định hướng quản lý lễ hội
truyền thống ở huyện Vụ Bản trong giai đoạn hiện nay ....................... 86
3.1.1. Xu hướng biến đổi lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội
đương đại ......................................................................................... 86
3.1.2. Định hướng quản lý lễ hội truyền thống huyện Vụ Bản trong giai
đoạn hiện nay ......................................................................................... 89
3.2. Các giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội
truyền thống tại huyện Vụ Bản .............................................................. 93
3.2.1. Hoàn thiện văn bản pháp quy và tăng cường tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật về lễ hội .................................................................... 93
3.2.2. Giải pháp về tổ chức quản lý và cơ cấu nhân sự ........................... 99

3.2.3. Giải pháp về công tác bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội ................. 106
3.3. Một số kiến nghị với cơ quan chức năng cấp trên ........................ 112
3.3.1. Kiến nghị với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ......................... 112
3.3.2. Kiến nghị với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định ..... 113
3.3.3. Kiến nghị với Phịng Văn hóa huyện Vụ Bản ............................. 115
Tiểu kết chương 3 .................................................................................. 117
KẾT LUẬN.................................................................................................. 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 121
PHỤ LỤC .................................................................................................... 126


5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Tên đầy đủ

- BCH

Ban chấp hành

- ĐCSVN

Đảng Cộng sản Việt Nam

- GS.

Giáo sư


- GDP

Tổng thu nhập quốc nội

- HĐND

Hội đồng nhân dân

- KHXH

Khoa học xã hội

- Nxb

Nhà xuất bản

- PGS.

Phó Giáo sư

- PGĐ.

Phó Giám đốc

- TP.

Thành phố

- TW


Trung ương

- TS

Tiến sĩ

- tr.

Trang

- UBND

Ủy ban nhân dân

- VH-TT

Văn hóa - Thơng tin

- VHTT

Văn hóa Thông tin

- XHCN

Xã hội chủ nghĩa


6

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Lễ hội truyền thống là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống
văn hóa tinh thần của người Việt Nam từ xưa đến nay. Lễ hội truyền thống là
sinh hoạt văn hóa, là sản phẩm tinh thần được hình thành và phát triển trong
q trình lịch sử lâu đời. Người Việt có truyền thống “uống nước nhớ nguồn”.
Lễ hội thể hiện truyền thống q báu đó của dân tộc, tơn vinh những vị thần,
danh tướng có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại như anh hùng chống
giặc ngoại xâm, những người khai phá vùng đất mới, những vị tổ nghề
nghiệp... những nhân vật truyền thuyết chi phối đời sống trần gian, giúp con
người sống hướng thiện... Lễ hội là dịp con người được trở về với nguồn cội
thiêng liêng. Hoạt động này còn thể hiện sức mạnh cộng đồng, làng xã, quốc
gia, dân tộc. Lễ hội truyền thống cũng là nhu cầu sang tạo và hưởng thụ
những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của mọi tầng lóp dân cư, là hình
thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát
huy những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, kết hợp giữa yếu tố tâm
linh và các trò chơi đua tài, giải trí.
Trải qua bao thăng trầm lịch sử cùng với tỉnh thần yêu nước, đấu tranh
chống giặc ngoại xâm triền miên, chính những dấu ấn lịch sử hào hùng đó đã
để lại cho dân tộc biết bao di sản quý giá: di sản văn hóa vật thể và di sản văn
hóa phi vật thể. Lễ hội dân gian truyền thống chính là một trong những di sản
văn hóa phi vật thể quý báu của dân tộc, góp phần quan trọng trong nền văn
hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong xu thế tồn cầu hóa, cuộc sống hiện đại được tác động về mọi
mặt, kể cả văn hóa diễn ra khắp tồn thế giới, một mặt giúp chúng ta được
tiếp cận với các nền văn hóa mới, quảng bá hình ảnh đất nước và văn hóa dân


7

tộc, mặt khác lại mang đến những nguy cơ mai một, biến tấu về văn hóa, nhất

là các giá trị văn hóa phi vật thể, trong đó có lễ hội truyền thống. Bởi vậy việc
tuyên truyền sâu rộng, trước mắt cũng như lâu dài về di tích lịch sử - văn hóa
góp phần giữ gìn, kế thừa truyền thống của dân tộc là hết sức cần thiết.
Nam Định là một tỉnh có địa hình, địa lý phong phú: gồm đồng bằng,
sông, biển, núi đồi, gồm 9 huyện và một thành phố. Ở khu vực nào cũng dầy
đặc dấu ấn văn hóa truyền thống, các cơng trình kiến trúc lịch sử lâu đời:
đình, đền, chùa, miếu, lăng, phủ... Những cơng trình, di tích ấy là nơi bảo tồn
lưu giữ những lễ hội, phong tục tập quán của dân tộc cũng như những tài sản
văn hóa quý báu của địa phương, của quốc gia, của thế giới.
Vụ Bản là một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Nam Định, giàu truyền
thống văn hóa, hiếu học và lịch sử cách mạng lâu đời. Nơi đây cũng bảo tồn
nhiều di tích lịch sử văn hóa và lễ hội truyền thống quý báu. Vụ Bản có 230 di
tích, trong đó có 8 di tích được xếp hạng cấp quốc gia gồm phủ Tiên Hương,
phủ Vân Cát, lăng Mau (thuộc quần thể di tích Phủ Dầy, xã Kim Thái); đền
thờ Trạng nguyên Lương Thế Vĩnh (làng Cao Phương, xã Liên Bảo); đền thờ
Đào Quý Nương xã Quang Trung; đền thờ Mai Hồng xã Họp Hưng; đền
Đông xã Thành Lợi... Riêng quần thể di tích Phủ Dầy đang đề nghị nhà nước
xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt và đề nghị UNESCO công nhận
“nghi lễ chầu văn của người Việt là di sản văn hóa phỉ vật thể đại diện của
nhân loại”. Gắn với những cơng trình kiến trúc lịch sử này là những lễ hội
truyền thống sơi động. Trong đó đặc sắc và nổi tiếng cả nước là lễ hội Phủ
Dầy gồm cả một quần thể di tích với chùa, lăng, phủ... nguy nga và lễ hội kéo
dài đến 10 ngày (từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 3 Âm lịch) gắn với hình thức
hầu đồng đặc biệt... thu hút nhiều khách du lịch thập phương. Cùng với hệ
thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các lễ hội truyền thống này đã
gắn bó lâu đời với cuộc sống của người dân nơi đây.


8


Cùng với đời sống vật chất ngày được nâng cao, đời sống tinh thần với
các nhu cầu sinh hoạt văn hóa của người Việt cũng ngày càng được quan tâm
chú trọng. Vì thế mà các lễ hội truyền thống trên khắp cả nước được nhiều
nhà khoa học nghiên cứu và thu được những kết quả tốt. Tuy nhiên phạm vi
nghiên cứu về lễ hội truyền thống trên một huyện cũng chưa nhiều. Riêng tại
huyện Vụ Bản có quần thể di tích Phủ Dầy nổi tiếng với lễ hội Phủ Dầy được
nghiên cứu rất nhiều nhưng ngoài Phủ Dầy, tại huyện Vụ Bản cịn có một số
lễ hội khác góp phần phong phú cho đời sống văn hóa tinh thần của người dân
địa phương nơi đây như lễ hội chợ Viềng mùa xuân, một hội chợ tâm linh
truyền thống, một nét đẹp văn hóa lâu đời; hội làng thơn Quả Linh xã Thành
Lợi... Hơn nữa, trước thực trạng nhiều lễ hội truyền thống đang dần bị biến
dạng, bị thương mại hóa làm ảnh hưởng không nhỏ tới nét đẹp nguyên thủy
vốn có của lễ hội truyền thống, do đó địi hỏi các nhà quản lý lễ hội phải có
nhận thức đúng đắn và khoa học để khai thác, giữ gìn và phát huy có hiệu quả
giá trị của các di sản này nhằm đáp ứng tốt các nhu cầu thực tiễn.
Xuất phát từ những lý do trên tác giả luận văn chọn đề tài: “Quản lý lễ
hội truyền thống ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định” làm luận văn tốt nghiệp
cao học ngành Quản lý Văn hóa của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Những cuốn sách đã xuất bản
- Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tòng (1993), “Lễ hội truyền thống trong
đời sống xã hội hiện đại “, Nxb Khoa học Xã hội.
- “Lễ hội Việt Nam trong phát triển du lịch” (2004), của tác giả Dương
Văn Sáu trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
- “Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam” (2000), Nguyễn Chí Bền
(chủ biên)


9


- “60 lễ hội truyền thống Việt Nam” của tác giả Thạch Phương và Lê
Trung Vũ.
- “Lễ hội cổ truyền của người Việt ở Bắc Bộ” do Lê Trung Vũ (chủ biên).
Những cuốn sách này cho chúng ta cái nhìn tổng quát về lễ hội
cổtruyền Việt Nam gắn với văn hóa vùng miền.
- Cao Đức Hải (chủ biên) (2010), “Giáo trình quản lý lễ hội và sự kiện”,
Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
- “Quản lý lễ hội truyền thống của Người Vỉệt” (2009) của tác giả Bùi
Hoài Sơn, Nxb Văn hóa Dân tộc.
- “Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian” (2005) của tác giả Hoàng
Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc.
- “Quản lý lễ hội dân gian cổ truyền - Thực trạng, giải pháp” của tác
giả Thu Linh và Phan Văn Tú,..
Những cuốn sách này đều có phạm vi nghiên cứu rộng về các lễ hội
truyền thống diễn ra trên cả nước nên cho chúng ta cái nhìn tồn cảnh về quản
lý lễ hội truyền thống hiện nay và những giải pháp phù hợp cho quản lý thực
trạng chung của các lễ hội.
2.2. Những cơng trình nghiên cứu về lễ hội và quản lý lễ hội tại
huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
- Hồ Đức Thọ (2004), Huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh và dì sản văn
hóa lễ hội Phủ Dầy, Nxb Văn hóa Thơng tin.
- Bùi Văn Tam (2003), Phủ Dầy và tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh, Nxb
Văn hóa Dân tộc.
- Báo cáo tổng kết đề tài khoa học: “Lễ hội và các giải pháp quản lỷ lễ
hội trên địa bản tỉnh Nam Định” do UBND tỉnh Nam Định và Sở Văn hóa
Thơng tin phối hợp thực hiện năm 2007.


10


Các cơng trình này chủ yếu đi vào chun sâu nghiên cứu về tín
ngưỡng đạo Mẫu tại lễ hội Phủ Dầy, cho ta cái nhìn sâu sắc rõ nét về hình
thức nghi lễ, những diễn biến xuyên suốt lễ hội này. Và đề tài “Lễ hội và các
giải pháp quản lý lễ hội trên đỉa bản tỉnh Nam Định” đã tập hợp bao quát
chung về các lễ hội trên địa bàn cả tỉnh Nam Định.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu của tác giả iuận văn thì chưa có cơng trình nào
nghiên cứu về quản lý lễ hội trên địa bàn của huyện Vụ Bản. Vì vậy, trong
quá trình viết luận văn của mình, tác giả luận văn sẽ kế thừa các kết quả
nghiên cứu của các tác giả đi trước để nghiên cứu đề tài “Quản lý lễ hội
truyền thống tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng của việc quản lý lễ
hội trên địa bàn huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong vòng 5 năm trở lại đây,
luận văn sẽ tìm hiểu những mặt hạn chế và ưu điểm từ thực trạng hiện tại, qua
đó đề xuất một số giải pháp, đóng góp xây dựng nhằm góp phần nâng cao
chất lượng, hiệu quả công tác quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Vụ Bản,
tỉnh Nam Định trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về lễ hội và quản lý lễ hội truyền thống.
- Tìm hiểu khái quát về lịch sử huyện Vụ Bản và lễ hội truyền thống
của huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý lễ hội
truyền thống của huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định 5 năm trở lại đây.
- Đề xuất một sổ giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ
hội trên địa bàn huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong thời gian tới.


11


4. Đối tượng và phạm vi nghỉên cửu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng lễ hội và việc quản lý lễ
hội truyền thống tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý, tổ chức bộ máy, các giải pháp, định
hướng bảo tồn và phát huy có hiệu quả những giá trị của lễ hội truyền thống ở
huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
4.3. Thời gian nghiên cứu
Giai doạn từ năm 2009 đến năm 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: quản lý văn hóa, lịch sử, bảo
tồn di tích, xã hội học...
- Phương pháp điền dã dân tộc học: quan sát tham dự, phỏng vấn sâu.
- Phương pháp tổng hợp tài liệu phân tích, so sánh...
6. Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu về thực trạng và các giải pháp đề xuất mà luận văn
đưa ra là một trong những cơ sở khoa học giúp các cấp lãnh đạo của UBND
huyện, phòng Văn hóa và Thơng tin huyện Vụ Bản có giải pháp phù họp
trong việc đổỉ mới công tác quản lý lễ hội tại địa phương.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo về công tác quản lý lễ hội
cho các cán bộ quản lý văn hóa cơ sở ở các huyện lân cận và các độc giả có
nhu cầu tìm hiểu về cơng tác quản lý lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản,
tỉnh Nam Định.


12

7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung

luân văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống và tổng quan
về lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống ở huyện
Vụ Bản
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội
truyền thống ở huyện Vụ Bản.


13

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ
TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN VỤ BẢN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về lễ hội, quản lý lễ hội truyền thống
1.1.1.1. Khái niệm lễ hội
Theo từ nguyên, lễ hội là sự kết hợp của hai từ Hán - Việt là lễ và hội.
Theo cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì, lễ là “cách bày tỏ kính ý
hoặc đồ vật để bày tỏ kính ý” [2, tr.385].
Thiều Chửu trong cuốn Tự điển Hán Việt của mình cũng định nghĩa
tương tự, ơng cịn giải thích rõ thêm rằng lễ là “theo cái khuôn mẫu của người
đã qua mà định ra các phép tắc, từ quan hôn, tang tế cho đến đi đứng, nói
năng đều có cái phép nhất định” [40, tr.322].
Đồn Văn Chúc trong cuốn Văn hóa học (1997) cũng cho rằng lễ là sự
bày tỏ kính ý trong từng hoàn cảnh cụ thể, chẳng hạn:
Lễ thành hoàng là cuộc bày tỏ kính ý cầu mong phúc lành và dự
phòng bất trắc cho cộng đồng làng xã; Lễ gia tiên là các ngày giỗ,
bày tỏ kính ý tưởng nhớ người quá cố trong gia đình hay gia tộc nói
chung; Lễ chuyển đoạn (vào làng, khao vọng) là cuộc bày tỏ kính ý

vui mừng đối với sự chuyển đoạn tuổi cũng là chuyển vai trò xã hội
của cá nhân; Lễ cưới là cuộc bày tỏ kính ý vui mừng đối với sự kiện
hôn phối của đôi trai gái đến tuổi trưởng thành; Lễ tang là cuộc bày
tỏ kính ý buồn bã đối với sự qua đời của một cá nhân thành viên
nhóm; Lễ hạ dịng thể hiện cuộc bày tỏ kính ý dự phịng bất trắc đối
với việc vào mùa sản xuất, đồng thời kích thích ý chí người sản


14

xuất; Lễ kỳ an là cuộc bày tỏ kính ý cầu an khang và khử trừ sự xấu
(ma quỷ) khi bước vào mùa dịch bệnh (mùa hè)… [39, tr.124-130].
Hội có nghĩa là “cuộc vui được tổ chức chung cho đông đảo người tham
dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt” [73.].
Như vậy, lễ hội là một từ ghép, về mặt này, hai từ lễ hội gần tương
đương với hai từ trong tiếng Anh, tiếng Pháp là Ceremony (lễ) và Festival (hội).
Trên thực tế, không phải tất cả các tác giả lúc nào cũng có sự rạch rịi vì
sao lại dùng từ lễ hội mà không dùng từ hội hè, hay hội lễ. Tác giả Lê Văn Kỳ
thì cho rằng dùng từ hội lễ như thế mới nhấn mạnh được ý nghĩa tích cực của
các cuộc vui chơi, sinh hoạt tập thể và mới hạn chế các tiêu cực lạc hậu mà sự
thực hành lễ gây ra, ông viết:
Đành vẫn biết là lễ mở đầu, là tiếng nói tâm linh đầy thành kính,
nhưng chỉ tự thân nó thì làm sao thay được cả cuộc sống đời thường
mà cả cộng đồng đang vật lộn, đang hướng tới? Nếu như khơng có
những trị chơi, những động tác tập dượt nghề nghiệp, những cuộc
đọ sức, đua tài của người tứ xứ trên một diễn trường nhất định thì
chưa thể nói đó là một hội lễ theo đúng nghĩa của nó [52.].
Tuy nhiên các nhà nghiên cứu văn hoá vẫn chưa nhất quán trong cách sắp
xếp cụm từ “ Lễ hội” hay “Hội lễ”. Tác giả Bùi Thiết (1993) cho rằng “khi
phần hội phong phú hơn thì gọi là “Hội lễ”, khi phần lễ lấn át thì gọi là “Lễ

hội” [53, tr.7]. Cịn GS. Ngơ Đức Thịnh thì chỉ ra một cách cụ thể hơn rằng:
Lễ hội là một hiện tượng tổng thể, không phải là thực thể chia đôi
(phần lễ và phần hội) một cách tách biệt như một số học giả đã quan
niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín
ngưỡng nào đó (thường là tơn thờ một vị thần linh lịch sử hay một


15

vị thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các
hiện tượng sinh hoạt văn hoá, phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ
hội. Cho nên trong lễ hội, phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội
là phần phát sinh tích hợp” [70, tr.37].
Như vậy từ “Hội” bản thân nó đã gắn bó hữu cơ với từ “Lễ” (khơng có
lễ thì khơng có hội). Trong ngơn ngữ thường ngày người ta thường dùng từ
“Hội” để gọi chung cho lễ hội đó và đó chỉ là một hình thức tu từ mà thơi,
lấy cái bộ phận để chỉ cái toàn thể, lấy hội để chỉ lễ hội. Về cơ bản, khái
niệm “Lễ hội” đã đi vào đời sống văn hoá ở nước ta và thường được sử dụng
trong các văn bản quy phạm pháp luật hay các văn bản quản lý hành chính
nhà nước, v.v...
Lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng và
tơn giáo. Khi con người chưa đủ khả năng chế ngự và làm chủ thiên nhiên,
làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình, vẫn bị chi phối và bất lực trước
những bất công và bất trắc, trước những ngẫu nhiên và may rủi. Vì vậy họ đặt
niềm tin vào thần linh của trời đất, của sơng núi. Vì thế ở các làng xã xưa
thường xây miếu thờ thiên thần, thổ thần, thuỷ thần, sơn thần. Lễ hội cổ
truyền đã phản ánh hiện tượng đó. Tơn giáo tín ngưỡng có ảnh hưởng đáng kể
đối với lễ hội. Tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanh
thế, ngược lại lễ hội thơng qua tơn giáo tín ngưỡng để thần linh hố những gì
của trần tục.

Trong cuốn Lễ hội cổ truyền Việt Nam của Viện Văn hoá Dân gian (nay
là Viện Nghiên cứu Văn hoá) xuất bản năm 1992, tác giả Lê Trung Vũ cũng
có chung quan điểm và thống nhất với định nghĩa lễ hội như trong Từ điển
bách khoa Việt Nam. Tác giả Đồn Văn Chúc trong cuốn Văn hóa học xuất
bản năm 1997 thì cho rằng:


16

Lễ (cuộc lễ) là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội, hay tự
nhiên, tư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện tại, được thực hiện theo
nghi điển rộng lớn, mức độ rộng lớn, tuỳ thuộc cấp nhóm xã hội có
nhiệm vụ cử hành, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ.
Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí cơng cộng, diễn ra
tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện tự
nhiên xã hội, nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng
dự lễ [39, tr.38].
Như thế, lễ hội được coi như một cấu trúc bao gồm hai phần chức năng
là lễ và hội. Trong cuốn Folklore một số thuật ngữ đương đại, các tác giả Ngô
Đức Thịnh và Frank Proscha đưa ra định nghĩa:
Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới quan của
một nền văn hố hay nhóm xã hội thơng qua hành lễ, diễn xướng,
nghi lễ và trò chơi truyền thống [69 tr.136].
Đây có lẽ là một định nghĩa khá đầy đủ về những lễ hội kỷ niệm đã trở
thành truyền thống. Liên quan đến thuật ngữ “lễ hội truyền thống” còn có “lễ
hội cổ truyền” đơi khi được sử dụng để nói về cùng một đối tượng. Trong
sách báo hay các cơng trình văn hố ở Việt Nam, từ “Truyền thống” và từ
“Cổ truyền” cũng được coi là tương đương với từ Tradition của tiếng La tinh,
Anh, Pháp, Đức. Cổ truyền hay truyền thống đều là từ Hán - Việt.
Trong cuốn Hán Việt Từ điển bách khoa của Đào Duy Anh cắt nghĩa

truyền thống
Thống gồm có nghĩa là mối tỏ, dường mối, đầu gốc; còn truyền là
trao lại, trao cho và chúng luôn đi liền với nhau mang ý nghĩa “Đời
nọ truyền xuống đời kia” [2, tr.390].


17

Khái niệm “Lễ hội truyền thống” cũng thường được hiểu là bộ phận
những giá trị tốt đẹp, tích cực trong lễ hội cổ truyền đã được các thế hệ nối
tiếp tái tạo và khẳng định xứng đáng được bảo tồn và phát huy trong đời sống
văn hoá hiện đại. Ta thường thấy xuất hiện những cụm từ “nghề truyền
thống”, “bài hát truyền thống”, “ngọn lửa truyền thống”, “ngày hội truyền
thống”… ở đây hàm nghĩa “lễ hội truyền thống” thực ra phù hợp hơn với khái
niệm “truyền thống lễ hội” một khái niệm dùng để chỉ những giá trị tương đối
ổn định được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng qua không gian và thời gian
được đúc kết thành những khn mẫu xã hội và cố định hố dưới dạng ngôn
ngữ, phong tục tập quán, nghi lễ, luật tục và dư luận.
Lễ hội truyền thống còn được hiểu như là một thành tố quan trọng
cấu thành hình thái văn hố lịch sử tương ứng với những mơ hình xã hội
được tổ chức khác nhau. “lễ hội truyền thống” có nghĩa là lễ hội của các xã
hội truyền thống.
Trong khoa học xã hội phương Tây, xã hội truyền thống được hiểu là
những tập hợp người được tổ chức bởi các đơn vị cộng đồng, dựa trên ưu thế
của tính chất cộng đồng, tính chất truyền thống cũng được gọi là “Cộng đồng
ký ức”, để phân biệt với “Cộng đồng khế ước”, là những tập hợp người được
tổ chức thành các tập đồn dựa trên ưu thế của tính chất duy lý. Như vậy, có
thể hiểu rằng xã hội truyền thống là các cộng đồng thị tộc, bộ lạc, liên minh
bộ lạc, các xã hội truyền thống là các cộng đồng thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ
lạc, các xã hội tiền cơng nghiệp tồn tại trước khi hình thành những cộng đồng

dân tộc quốc gia. Theo cách hiểu này thì “lễ hội truyền thống” đồng nhất với
“lễ hội cổ truyền”, “lễ hội dân gian” là lễ hội trong đời sống văn hố tinh thần
của các xã hội truyền thống, những hình thái văn hố xã hội xuất hiện trước
hình thái văn hoá xã hội hiện đại.


18

Tựu chung lại có thể hiểu: Lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo
và lưu truyền theo phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái
văn hố lịch sử, được truyền lại trong các nơng nghiệp với tư cách như một
phong tục tập quán.
Có thể có nhiều cách hiểu và định nghĩa về lễ hội truyền thống khác
nhau, tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận, nhưng nhìn chung các học giả, các nhà
nghiên cứu đều đã chỉ ra cấu trúc hai mặt trong một chỉnh thể của lễ hội
truyền thống, đó là một hệ thống hành vi nghi thức biểu đạt thế ứng xử của
cộng đồng hướng tới một đối tượng thần linh nhất định và tổ hợp của những
hoạt động văn hoá nghệ thuật nhằm phụ trợ và minh họa cho các hành vi nghi
lễ. Tuy nhiên khi tiếp cận lễ hội truyền thống theo hướng của quản lý văn hoá
sẽ bao trùm lên tất cả các yếu tố, các sự kiện của lễ hội đang diễn ra trong đời
sống đương đại gồm cả truyền thống dân gian và tái sáng tạo mang tính bác
học. Mặt khác, lĩnh vực quản lý văn hoá sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc bảo
tồn, phát huy, khai thác và phát triển những vốn liếng truyền thống cũng như
sự tái sáng tạo các giá trị tạo nên các sự kiện của lễ hội phục vụ và đáp ứng
nhu cầu tinh thần của nhân dân trong đời sống văn hoá đương đại.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý
Về nội dung, thuật ngữ “Quản lý” có thể hiểu theo nhiều cách diễn
đạt khác nhau. Theo nghĩa thông thường trong tiếng Việt thuật ngữ “Quản
lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, trơng nom, theo
dõi. Các nước phương Tây dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là

bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay. Từ đó chuyển sang nghĩa
là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt.
Theo Các Mác thì: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản
chất xã hội của quá trình lao động” [29, tr.29]. Nhấn mạnh cho nội dung này
tác giả viết:


19

Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến
hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo
để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất
khác với những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ
cầm tự mình điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có
nhạc trưởng [29, tr.480].
F. Ăngghen thì cho rằng quản lý là một động thái tất yếu phải có khi
nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hiệp tác của một số
đơng người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người.
Điểm qua một số quan điểm, chúng ta thấy rằng bản chất của quản lý
và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Quản lý
là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện
mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ
đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn
và vai trò của quản lý càng tăng.
Với ý nghĩa thơng thường, phổ biến thì quản lý được hiểu “là hoạt
động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý
vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi
của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo
những mục tiêu đã định” [47, tr.3].

Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể luôn
là con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý
bằng các cơng cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc
nhất định.


20

Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý.
Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng
quản lý khác nhau.
Khách thể quản lý chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể
quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội.
Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất
định do chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực
hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích
hợp. Quản lý ra đời chính là nhằm đến mục tiêu hiệu quả nhiều hơn, năng
suất cao hơn trong công việc.
1.1.1.4. Khái niệm quản lý lễ hội truyền thống
Quản lý nhà nước đối với các hoạt động lễ hội và sự kiện là việc sử
dụng các cơng cụ quản lý như chính sách, luật pháp, bộ máy và các nguồn lực
khác, để kiểm soát hay can thiệp vào các hoạt động lễ hội và sự kiện, nhằm
duy trì hệ thống chính sách và luật pháp hiện hành có liên quan do nhà nước
ban hành.
Quản lý lễ hội là một lĩnh vực quản lý cụ thể trong ngành Văn hóa.
Theo tác giả Bùi Hồi Sơn thì:
Quản lý lễ hội là cơng việc của Nhà nước được thực hiện thông
qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc
thực hiện các văn bản, quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống

nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ
hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển
kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, của cả nước nói
chung [65, tr.15].


21

Quản lý lễ hội còn được coi như một loại công việc, một công nghệ
hay một phương pháp. Bao gồm một quá trình gồm 4 giai doạn: xác lập và
tổ chức dự án lễ hội, lập kế hoạch tổ chức lễ hội, tổ chức dàn dưng lễ hội,
kết thúc lễ hội.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động của lễ hội truyền thống là làm cho
lễ hội được vận hành theo đúng qui luật của văn hóa, nội dung của tế lễ phải
phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nội dung của phần hội phải phù
hợp và mang lại lợi ích sinh hoạt cho cộng đồng hiện tại.
Dưới góc độ quản lý, việc bảo tồn lễ hội truyền thống là làm thế nào để lễ
hội và những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội tồn tại và phát huy tác dụng trong
đời sống đương đại. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc này ở Việt Nam đứng trước
nhiều thách thức, đòi hỏi các nhà quản lý phải xác định rõ nguyên nhân và giải
pháp phù hợp để lễ hội truyền thống được bảo tồn và phát triển.
Cơ sở pháp lý của việc thực thi công tác quản lý nhà nước về lễ hội
truyền thống là dựa trên hệ thống các chính sách và pháp luật hiện hành của
Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, cụ thể và trực tiếp gồm:
- Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
- Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về hoạt
động Tơn giáo - Tín ngưỡng.
- Quy chế tổ chức lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001/
QĐ-BVHTTDL ngày 23/8/2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch.

- Nghị định số 154/2004/NĐ-CP ngày 9/8/2004 của Thủ tướng Chính
phủ về nghi thức Nhà nước trong việc tổ chức lễ hội - mít tinh, lễ kỷ niệm,
trao tặng và đón nhận các danh hiệu.


22

- Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội
ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số
308/2008/QĐ-TTg.
- Các quy định cụ thể của chính quyền địa phương nơi diễn ra lễ hội.
Luật pháp và văn bản mang tính pháp quy nêu trên đã thể hiện rõ
mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội truyền thống là duy
trì và thực hiện nghiêm minh những điều khoản đã được ghi trong luật và
các văn bản pháp quy - nghị định - chế tài, các văn bản liên quan. Cụ thể
mục tiêu và nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội
truyền thống là gìn giữ và phát huy những giá trị của di sản lễ hội, khơi dậy
truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, đạo lý “Uống nước nhớ
nguồn”. Đảm bảo quyền tự do sinh hoạt văn hoá tơn giáo - tín ngưỡng, an
ninh trật tự cơng cộng và an toàn của người dân tham gia lễ hội. Nghiêm
cấm, chống sự lạm dụng tín ngưỡng vào các mục đích vụ lợi. Tổ chức tốt
các hoạt động dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của du khách, đảm bảo tính minh
bạch thu - chi trong lễ hội, bảo vệ môi trường sống, phát triển hoạt động lễ
hội với đa mục tiêu về hiệu quả văn hoá - kinh tế - xã hội.
Theo quy định hiện hành, ngành VH,TT&DL chịu trách nhiệm cấp
phép, kiểm tra, giám sát hoạt động lễ hội (đã được cụ thể hoá trong Quy chế
tổ chức lễ hội do Thủ tướng Chính phủ ban hành). Đồng thời phối hợp cùng
các cơ quan chức năng như Công an, Quản lý thị trường, Môi trường, Giao
thông, Y tế… xử lý sai phạm trong hoạt động lễ hội. Trên thực tế, hoạt động
lễ hội có tác động tới các mặt của đời sống xã hội ở khu vực, địa điểm tổ

chức. Do vậy, việc chịu trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung thuộc chính
quyền sở tại, nhưng được phân chia trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị chức
năng thuộc cơ quan nhà nước có liên quan. Do đó, công tác kiểm tra, giám sát


23

và xử lý vi phạm tuỳ từng vụ việc, hiện tượng mà có những cơ quan chức
năng chịu trách nhiệm giải quyết.
1.1.2. Nội dung quy chế trong quản lý lễ hội truyền thống huyện Vụ Bản
1.1.2.1. Nội dung quản lý lễ hội
* Quản lý nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội truyền thống
Trong thực tế, không có mơi trường nào lưu giữ và chuyển giao những
giá trị văn hoá của cộng đồng dân tộc sinh động hơn, đầy đủ hơn lễ hội. Trong
môi trường lễ hội, các cảm xúc thẩm mỹ và các giá trị sáng tạo được tiếp nối
liên tục, những tín hiệu văn hố được tái sinh theo chu kỳ, sự nhắc lại, sự lựa
chọn, bổ sung và sáng tạo luôn tiếp diễn và để lại dấu ấn trong các chu kỳ ấy
một cách bất tận. Các thế hệ cứ thế nối tiếp nhau và sống trong những không
gian lịch sử dường như không có điểm bắt đầu. Trong lễ hội, những rung cảm
của con người được hòa quyện với quá khứ, trở về với cội nguồn tổ tiên,
khơng gian, thời gian như hồ nhập làm một.
Lễ hội truyền thống không chỉ là một di sản quá khứ để lại mà còn là
một nguồn tài nguyên, một tài sản vô giá, là vốn liếng của nhiều lĩnh vực văn
hóa - xã hội và kinh tế của thời hiện đại. Trong bối cảnh xây dựng, phát triển
đất nước và giao lưu hội nhập với thế giới hiện nay, việc bảo tồn và phát huy
các giá trị di sản lễ hội - di sản văn hóa đã và đang đặt trách nhiệm rất nặng nề
lên vai những người làm cơng tác quản lý văn hóa, quản lý lễ hội.
* Quản lý kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống
Quản lý nhà nước về kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống là nói
đến việc hạch toán ngân sách thu chi các hoạt động của lễ hội.

Trên thực tế tổ chức lễ hội nhằm mục đích tuyên truyền giáo đục chủ
nghĩa yêu nước, quảng bá hình ảnh thương hiệu và các sự kiện hoạt động


24

mang tính kinh doanh, dịch vụ. Việc quản lý nhà nước được thực hiện bởi cơ
quan thuế vụ và bằng cách áp dụng định mức thuế theo luật pháp và quy
định khác của địa phương. Những lễ hội truyền thống do Nhà nước chủ
trương và đầu tư thì việc quản lý thu - chi sẽ do cơ quan tài chính đủ thẩm
quyền của các cấp tổ chức lễ hội chịu trách nhiệm. Đối với những lễ hội
truyền thống do cộng đồng đóng góp kinh phí và tham gia quản lý thu - chi
(phương thức xã hội hố) thì việc quản lý nhà nước chủ yếu là cùng với các
cơ quan hữu quan và đại diện cộng đồng mở hội bàn bạc phương thức tổ
chức và xây dựng quy chế quản lý thu - chi tài chính cho riêng lễ hội đó và
cùng vái các bên liên quan, cán bộ quản lý văn hố có trách nhiệm hướng
dẫn, kiểm tra, giám sát và xử lý sai phạm các vấn đề có liên quan đến kinh tế
tài chính của lễ hội.
Tổ chức quản lý hoạt động văn hố nói chung, hoạt động lễ hội trong
cơ chế thị trường, từ xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế
hạch toán kinh tế độc lập, cùng vái quy luật cung cầu và quy luật cạnh
tranh. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường là sản xuất kinh doanh dịch vụ
hàng hoá để tồn tại và phát triển, chúng ta phải đổi mới cơ ché quản lý
trong mọi lĩnh vực. Kinh phí tổ chức lễ hội truyền thống thời gian trước
được lấy từ sản phẩm của ruộng đình, ruộng chèm (của cơng) ngày nay
khơng cịn. Kinh phí để tổ chức mở hội phải dựa vào sự đóng góp của
người dân trong cộng đồng hoặc phải tạo ra các nguồn thu ngân sách, tích
luỹ kinh phí để mở hội cho những năm sau. Tất nhiên, phát triển nền kinh
tế theo cơ chế thị trường ln có mặt tích cực và tiêu cực. vấn đề đặt ra làm
thế nào để phát huy tính tích cực, hạn chế ngăn ngừa các hiện tượng tiêu

cực là sự đòi hỏi về tư chất và năng lực của công tác quản lý. Một thực tế
hiện nay nếu không tạo ra được các nguồn thu trong lễ hội thì sẽ hạn chế
nguồn lực cho việc tổ chức hội.


25

* Quản lý các hoạt động dịch vụ, môi trường và trật tự công cộng
Quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ, mơi trường, vệ sinh an
tồn thực phẩm, trật tự giao thông và trật tự nơi công cộng, phòng chống cháy
nổ, chống tệ nạn xã hội và các hành vi quá khích trong lễ hội là một trong
những nội dung trọng yếu của công tác quản lý lễ hội. Đây là nội dung rất
phức tạp và triển khai thực hiện nó khơng phải là việc đơn giản.
Có thể nói rằng đây là nội dung nhạy cảm nhất trong tổ chức bất kỳ lễ
hội nào, đơn vị hoặc cơ quan chủ trì tổ chức lễ hội thường phối hợp công việc
với các cơ quan chức năng khác như: Cơng an, Quản lý thị trường, Phịng
chống cháy nổ, Y tế cộng đồng... nhằm đạt được một kết quả tổt nhất. Hoạt
động phối hợp này của các cơ quan chức năng được thể hiện ở sự thống nhất
trong xây dựng kế hoạch triển khai chỉ tiết khi tổ chức lễ hội với các tình
huống được bàn bạc kỹ lưỡng giữa các bên liên quan. Đồng thời đưa ra các
phương án xử lý phù hợp trong điều kiện thực tế, đảm bảo hoàn thành nhiệm
vụ một cách tối ưu, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý kịp thời các trường
hợp vi phạm.
Để thực hiện tốt công tác quản lý trong lĩnh vực này, Ban Tổ chức lễ
hội cần chú ý quan tâm các vấn đề sau:
Quy hoạch khu vực tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ dưới hình
thức “chợ hội” theo các nguyên tắc:
- Dự tính vừa đủ về lượng trong thực tế của quy mô tổ chức và lượng
khách dự hội.
- Xây dựng các mẫu, tiêu chuẩn thẩm mỹ về hình thức lều quán.

- Quy định nghiêm ngặt những tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ.
- Thống nhất quy định và niêm yết giá cả của các loại dịch vụ.


×