Tải bản đầy đủ (.pdf) (168 trang)

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý lễ hội truyền thống ở huyện mê linh, thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (16.56 MB, 168 trang )

117

Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO

TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI

********

Hoàng công huy

quản lý lễ hội truyền thống
ở huyện mê linh, thành phố hà nội

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
MÃ số: 60310642

LUậN VĂN THạC Sĩ QUảN Lý VĂN HóA

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Bùi Hoài Sơn

Hà Nội, 2015


118

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS. Bùi Hồi Sơn. Những nội dung trình bày trong
luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng


được ai cơng bố dưới bất kỳ hình thức nào. Những chỗ sử dụng kết quả
nghiên cứu của người khác, tơi đều trích dẫn rõ ràng. Tơi hồn tồn chịu trách
nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.
Hà Nội, ngày …. tháng…năm 2015
Tác giả

Hoàng Công Huy


119

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC.......................................................................................................... 117
DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT ............................................................. 121
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 122
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ
TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN MÊ LINH.......... 135
1.1. Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý về quản lý lễ hội truyền thống .......... 135
1.1.1. Cơ sở khoa học ................................................................................... 135
1.1.2. Cơ sở pháp lý...................................................................................... 143
1.2. Tổng quan về lễ hội truyền thống ở huyện Mê Linh ............................. 148
1.2.1. Tổng quan về huyện Mê Linh ............................................................. 148
1.2.2. Lễ hội truyền thống ở huyện Mê Linh ................................................. 156
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 161
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN
MÊ LINH ........................................................................................................... 162
2.1. Thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống ............................ 162
2.1.1. Tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của tổ chức ......................... 162
2.1.2. Tổ chức bộ máy và cơ cấu nhân sự Ban tổ chức lễ hội ........................ 166

2.1.3. Cơ chế quản lý .................................................................................... 169
2.1.4. Nguồn lực quản lý (nhân lực, tài chính) .............................................. 171
2.1.5. Thực trạng quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Mê Linh.................... 177
2.1.6. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và khen thưởng ............... 187
2.2. Thực trạng quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống của cộng đồng ....... 189
2.2.1. Mơ hình kết hợp vai trị tự quản của cộng đồng với sự hỗ trợ của chính
quyền các cấp ............................................................................................... 189
2.2.2. Mơ hình quản lý, tổ chức lễ hội do tư nhân điều hành ......................... 192
2.3. Đánh giá hoạt động quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Mê Linh
hiện nay ............................................................................................... 194


120

2.3.1. Những ưu điểm ................................................................................... 194
2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân ....................................................................... 198
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 202
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN
LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN MÊ LINH TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY ......................................................................................................... 203
3.1. Xu hướng biến đổi của lễ hội truyền thống ở huyện Mê Linh trong tình
hình hiện nay .................................................................................................. 203
3.2. Phương hướng và nhiệm vụ quản lý lễ hội truyền thống ...................... 205
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý lễ hội ở huyện Mê Linh 206
3.3.1. Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức ................................................... 206
3.3.2. Nhóm giải pháp về cơng tác lãnh đạo, chỉ đạo .................................... 209
3.3.3. Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý và cơ cấu nhân sự ........................ 212
3.3.4. Nhóm giải pháp về bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội truyền thống ......... 221
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................... 227
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 228

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 230
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 117


121

DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
ATTP: An toàn thực phẩm
BQL DT: Ban quản lý di tích
BTC: Ban tổ chức
BCĐ: Ban chỉ đạo
CNH, HĐH: Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
CTQG: Chính trị quốc gia
DLTC: Danh lam thắng cảnh
DSVH: Di sản văn hóa
DT LSVH: Di tích lịch sử văn hóa
ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội
KHXH: Khoa học xã hội
Nxb: Nhà xuất bản
THCS: Trung học cơ sở
TTVH: Thơng tin văn hóa
XHH: Xã hội hóa
UBND: Uỷ ban nhân dân
VH&TT: Văn hóa và Thơng tin
VHTT: Văn hóa Thơng tin
VH,TT&DL: Văn hóa, Thể thao và Du lịch
VH - XH: Văn hóa - Xã hội



122

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian của cộng
đồng hết sức phong phú, đa dạng. Lễ hội dân gian là một hiện tượng mang tính phổ
biến trong các dân tộc, dân tộc nào cũng có lễ hội và được thực hiện định kỳ ở một
khoảng thời gian và trong một không gian nhất định bằng những nghi lễ trang trọng
cùng với những loại hình văn hóa - nghệ thuật cộng đồng.
Lễ hội truyền thống dù diễn ra ở đền, đình, miếu thờ thần cũng như chùa thờ
phật... đều là nơi thể hiện ý thức của cộng đồng và thường có một lịch sử nhất định,
gắn với tên tuổi của một nhân vật cụ thể nào đó, được cộng đồng cư dân địa phương
tôn vinh, thờ tự. Đó có thể đó là một vị tiên thánh bất tử có trong tâm thức, tín
ngưỡng của nhân dân hoặc đó có thể là một nhân thần có cơng đánh giặc, khai canh
lập địa, tổ truyền nghề…
Lễ hội truyền thống là một sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và
vật chất. Được hình thành trong quá khứ, lễ hội truyền thống thể hiện quan niệm về
thế giới nhân sinh gắn liền với tơn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, diễn xướng
dân gian, văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường có sức cuốn hút một số
lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội. Biểu thị giá trị của cộng đồng trải
qua nhiều thế hệ trở thành sợi dây nối quá khứ với hiện tại và tương lai, giữa cõi
tâm linh và đời sống tinh thần của con người thực tại.
Lễ hội góp phần giúp cho con người trở nên dễ hòa hợp hơn và tự coi lại
chính mình nhằm chấn chỉnh những lệch lạc tâm hồn, củng cố lòng tự tin. Cũng là
dịp để họ được cộng cảm và cùng nhau hướng tới những giá trị cao đẹp mà thường
ngày họ ít nghĩ tới do áp lực từ công việc. Đồng thời lễ hội truyền thống mang
nhiều giá trị văn hóa to lớn có ý nghĩa giáo dục quần chúng về ý thức cộng đồng,
cội nguồn dân tộc, về truyền thống yêu nước cũng như những quá khứ hào hùng của
dân tộc và các nhân vật lịch sử cùng nhiều giá trị nhân văn khác. Chính vì thế lễ hội
có vai trị quan trọng trong việc bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hóa truyền



123

thống, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Thông qua việc tổ chức lễ hội truyền thống, du lịch tín ngưỡng, các
dịch vụ du lịch được phát triển mạnh mẽ, làm tăng nguồn thu cho ngân sách của địa
phương, đồng thời đáp ứng yêu cầu giao lưu, hội nhập văn hóa giữa các vùng miền
trong nước và quốc tế.
1.2. Lễ hội truyền thống là một phần không thể thiếu trong di sản văn hóa
dân tộc, bởi lễ hội chính là hiện thân của bản sắc văn hóa và tinh thần đồn kết dân
tộc. Do đó lễ hội là một đối tượng nghiên cứu, nghiên cứu lễ hội truyền thống sẽ
giải đáp được những câu hỏi liên quan đến những vấn đề của bản thân lễ hội truyền
thống, từ đó có thể đưa ra các giải pháp phù hợp để thực hiện tốt công tác quản lý,
tổ chức lễ hội và công tác bảo tồn, phát huy giá trị của lễ hội với tư cách là một hình
thức di sản văn hóa sống có ý nghĩa trong việc duy trì, xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
1.3. Huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội là vùng đất cổ nằm ở phía Bắc sơng
Hồng, phía Tây Bắc của Thủ đơ, cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km. Trải qua
chiều dài của lịch sử, Mê Linh có nhiều thay đổi của một đơn vị hành chính cấp
huyện, là nơi tập trung đường giao thông huyết mạch quan trọng nối liền với vùng
tam giác kinh tế Bắc Bộ - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và trong việc giao lưu
kinh tế, văn hóa của Thủ đơ với đồng bằng Bắc Bộ, vùng Đông Bắc và Tây Bắc của
tổ quốc. Nằm ở bên cạnh sông Hồng và sông Cà Lồ, Mê Linh là vùng đất có bề dày
lịch sử và văn hóa lâu đời, là quê hương của Hai Bà Trưng, hai nữ anh hùng đã có
cơng đóng góp quan trọng vào sự nghiệp giữ nước của dân tộc. Nhân dân Mê Linh
luôn tự hào về truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa, nền tảng tinh thần
được lưu giữ, bảo tồn cho đến nay.
Theo báo cáo tổng hợp của phòng Văn hóa và Thơng tin huyện Mê Linh thì
tồn huyện có 167 di tích, trong đó có 01 di tích xếp hạng cấp di tích quốc gia đặc

biệt, 26 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 42 di tích xếp hạng cấp thành phố. Gắn
với các di tích trên là hệ thống các lễ hội, tồn huyện có 71 lễ hội với các quy mơ,
hình thức khác nhau, trong đó có 64 lễ hội truyền thống có quy mô lớn nhỏ khác nhau


124

và được tổ chức thường xuyên. Lễ hội thường diễn ra vào hai mùa Xuân, mùa Thu,
trong các lễ hội, có nhiều nghi thức, trị diễn tiêu biểu, mang đậm bản sắc văn hóa.
Trong những năm qua, đặc biệt từ khi Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới
năm 1986 việc khôi phục hội làng và công tác quản lý, tổ chức lễ hội ở huyện Mê
Linh đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các lễ
hội được tổ chức đảm bảo an toàn, hoạt động lễ hội đi vào nề nếp, thu hút được
đông đảo nhân dân và khách thập phương tham gia đã tạo nên một diện mạo mới
cho đời sống văn hóa tinh thần ở nơng thơn. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích
cực, cũng đặt ra nhiều khó khăn, thử thách đối với cơng tác quản lý văn hóa nói
chung và quản lý lễ hội truyền thống nói riêng. Ở một số địa phương, do buông lỏng
quản lý, nhiều giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống đang bị mai một dần như:
Hình thức tổ chức các lễ hội mất dần tính đặc thù, diễn xướng trong hội chủ yếu là
tế thánh; một số nghi thức, trò diễn tiêu biểu trong lễ hội chưa thể hiện hết ý nghĩa
của nó; người dân đến với lễ hội chủ yếu cầu cúng xin tài lộc, thăng quan tiến chức
và may mắn cho bản thân, cầu để người khác không đạt được cái mà họ mong
muốn. Trong lễ hội, còn tồn tại hiện tượng như: Đốt nhiều vàng mã ở các di tích,
xem bói, hay lợi dụng những trị chơi trong lễ hội để tổ chức cờ bạc, cá độ. Việc
bày bán hàng rong, xả rác bừa bãi gây mất vệ sinh mơi trường... Đặc biệt nhiều di
tích lịch sử - văn hóa đang bị mất dần khơng gian “thiêng” của lễ hội truyền thống.
Trước thực trạng trên cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, khắc phục cho
các cấp chính quyền, ngành văn hóa. Là cán bộ làm cơng tác về quản lý di tích, với
mong muốn tìm hiểu về lễ hội, về giá trị của lễ hội truyền thống và thực trạng công
tác quản lý, tổ chức lễ hội truyền thống ở huyện Mê Linh. Từ đó đề xuất các giải

pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội truyền thống của huyện Mê Linh.
Xuất phát từ mục tiêu cơ bản như đã nêu ra ở trên và được sự đồng ý của trường
Đại học Văn hóa Hà Nội, phịng Quản lý sau đại học tơi chọn đề tài: “Quản lý lễ hội
truyền thống ở huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
cao học, chuyên ngành quản lý văn hóa.


125

2. Tình hình nghiên cứu
Lễ hội truyền thống và cơng tác quản lý lễ hội truyền thống nói chung và ở
huyện Mê Linh nói riêng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Nhiều cơng
trình nghiên cứu đã được xuất bản thành sách. Sau đây là những tập hợp và phân tích
bước đầu về những vấn đề đã nêu ra ở trên theo hai nội dung cơ bản:
2.1. Những cơng trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về lễ hội nói chung
và quản lý lễ hội
- “Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua hội hè đình đám” (2000), của tác giả
Toan Ánh, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
- Nhóm nghiên cứu lễ hội theo hướng đi vào miêu tả lễ hội: Nhóm những tác
phẩm đi sâu vào việc thống kê, tuyển chọn những lễ hội tiêu biểu và đi vào miêu tả,
giới thiệu và giải thích ý nghĩa của các lễ hội như: cuốn sách “60 lễ hội truyền thống
của người Việt Nam” của tác giả Trương Thìn (chủ biên), cuốn sách “Kho tàng lễ
hội cổ truyền Việt Nam” do tác giả Nguyễn Chí Bền (chủ biên), cuốn sách là một
tập hợp đầy đủ về lễ hội cổ truyền Việt Nam, với cái nhìn tổng quan và cách sắp
xếp, nhìn nhận lễ hội cổ truyền gắn với vùng văn hóa đã tạo được ý nghĩa lý luận và
thực tiễn nhất định, đóng góp có hiệu quả vào việc sưu tầm nghiên cứu lễ hội cổ
truyền. Những tác phẩm nêu trên khơng đi sâu vào phân tích, nhấn mạnh đến vai trò
của lễ hội cũng như mối liên hệ giữa lễ hội truyền thống với xã hội đương đại,
không đề cập tới thực trạng công tác quản lý lễ hội để đưa ra giải pháp trong công
tác quản lý lễ hội truyền thống.

- Nhóm nghiên cứu lễ hội theo hướng tổng thể: Với cuốn sách “Lễ hội cổ
truyền của người Việt ở Bắc Bộ” do Lê Trung Vũ chủ biên, cuốn sách đã trình bày
khá cặn kẽ các vấn đề của lễ hội từ vị trí của lễ hội trong đời sống tinh thần của
người Việt, môi trường tự nhiên, xã hội, lịch sử hình thành lễ hội, lịch sử lễ hội của
người Việt ở Bắc Bộ đến nội dung phản ánh của hội làng, cùng việc miêu thuật 9 lễ
hội ở châu thổ Bắc Bộ và giới thiệu lịch tổ chức một số lễ hội cổ truyền của người
Việt. Công trình đã nghiên cứu, trình bày đầy đủ, trọn vẹn, khoa học về lễ hội cổ


126

truyền; Cuốn sách “Bảo tàng di tích lễ hội” của tác giả Phan Khanh, cuốn sách được
trình bày hệ thống theo một logic chặt chẽ, đi từ lý luận chung đến thực tiễn của
hoạt động bảo tàng - di tích và lễ hội ở Việt Nam, với 5 chương, trong đó nội dung
lễ hội được tác giả đề cập đến trong chương 4 và tập trung đi sâu vào mối quan hệ
giữa lễ hội với di tích cũng như vấn đề xây dựng nghi lễ, nghi thức hay kịch bản lễ
hội ở các di tích lịch sử, các kịch bản này được thực thi trong cuộc sống nhưng
không phải là kịch bản có tính chất mẫu mực của tất cả các lễ hội cổ truyền; Cuốn
sách “Lễ hội truyền thống và hiện đại” của tác giả Nguyễn Thu Linh và Đặng Văn
Lung (1984), Nxb Văn hóa, Hà Nội, là một cơng trình nghiên cứu chun luận về
lễ hội được cơng bố sớm nhất trong tiến trình sưu tầm, nghiên cứu về lễ hội Việt
Nam, cuốn sách gồm 6 chương tập trung đi sâu vào khái quát quá trình phát triển
của hội, nêu đặc trưng, chức năng của hội, phân tích cấu trúc của hội và đánh giá
vai trò của hội trong đời sống với thời đại hiện tại đồng thời cũng nêu lên một số
phương pháp tổ chức hội. Tuy nhiên việc đi tìm kiếm một kịch bản sẵn có cho lễ
hội truyền thống là không sát với thực tế và cuốn sách cũng không đề cập đến vấn
đề quản lý lễ hội truyền thống. Với tác giả Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng trong
cuốn sách “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại” (1994), Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội cuốn sách đề cập và đi sâu vào khai thác, đánh giá, phân tích giá
trị, vai trò của lễ hội trong cuộc sống hiện đại, đưa ra nhận xét các mặt tích cực, tiêu

cực về sự phát triển trở lại của lễ hội, nêu lên những ảnh hưởng của lễ hội đối với
cuộc sống hiện đại. Với cuốn sách “Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam các
tỉnh phía Bắc” của tác giả Hồng Lương, cuốn sách giúp người đọc nắm bắt một
cách có hệ thống, toàn diện những nghi thức, nghi lễ và nội dung của các lễ hội, các
hình thái tín ngưỡng dân gian của các dân tộc Việt Nam, qua đó giúp chúng ta thấy
được vai trò quan trọng của lễ hội đối với đời sống tinh thần của cộng đồng để góp
phần xây dựng nền văn hóa các dân tộc Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Cuốn sách gồm 4 chương đề cập đến lý thuyết chung về lễ hội truyền thống, giới
thiệu một số lễ hội tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, phân
tích, đánh giá những giá trị của lễ hội tiêu biểu và một số hình ảnh minh họa của lễ


127

hội truyền thống. Tuy nhiên, các tác phẩm trên không đề cập đến quản lý lễ hội
cũng như đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội.
- “Lễ hội một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng” (1998), của Hồ
Hồng Hoa, Nxb KHXH, Hà Nội. Cơng trình này nghiên cứu lễ hội dưới góc độ văn
hóa dân gian, dân tộc học, đã nêu khá đầy đủ về nội dung và hình thức thể hiện của lễ
hội truyền thống, đồng thời cũng mô tả diễn biến của các lễ hội trong mối quan hệ
trực tiếp với phong tục, tín ngưỡng dân gian và các phương pháp bảo tồn và phát huy
lễ hội cổ truyền trong xã hội hiện nay.
- “Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian” (2005), của tác giả Hoàng Nam,
Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội. Tác giả Hồng Nam đã tập trung chủ yếu nghiên cứu
lễ hội cổ truyền các dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn. Từ điển nghiên cứu này tác giả
đưa ra một cái nhìn khái quát về quản lý lễ hội ở nước ta nói chung. Chương 3 là
các giá trị văn hóa của lễ hội dân gian. Chương 4 tác giả đề cập vấn đề khái niệm,
mục tiêu quản lý, nội dung công tác quản lý và quản lý lễ hội. Đối với bảo tồn và
phát huy giá trị văn hóa lễ hội được xem là một trong những nhiệm vụ chính của
các cơ quan quản lý lễ hội trong giai đoạn hiện nay;

- “Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt” (2009), của Bùi Hồi Sơn, Nxb
Văn hóa dân tộc, Hà Nội. Nội dung cuốn sách bao gồm 4 chương, 335 trang. Là một
cơng trình khoa học với cách nhìn nhận và tiếp cận vấn đề từ góc độ quản lý di sản và
phạm vi nghiên cứu bao gồm toàn bộ khu vực đồng bằng Bắc bộ, từ 1945 đến nay.
Chương 1, tác giả nghiên cứu các vấn đề lý thuyết về quản lý lễ hội với tư cách là
một di sản văn hóa phi vật thể. Chương 2, những vấn đề đặt ra đối với quản lý lễ hội
truyền thống của người Việt - nhìn từ các văn bản quản lý. Tác giả phân tích sâu sắc
những văn bản của Đảng và Nhà nước như Thông tư, Quy chế, Chỉ thị ... về quản lý
lễ hội, tính hợp lý của văn bản và bất cập trong quản lý lễ hội cổ truyền. Chương 3,
phân tích những mặt đã làm được, chưa làm được và những khó khăn trong việc tổ
chức và quản lý lễ hội truyền thống trong thời gian vừa qua. Chương 4, với cách nhìn
quản lý lễ hội truyền thống tiếp cận từ quan điểm quản lý di sản, tác giả đưa ra 6 biện


128

pháp tăng cường quản lý lễ hội truyền thống. Đây là cơng trình khoa học, là nguồn tư
liệu rất hữu ích cho tác giả để áp dụng nghiên cứu về quản lý lễ hội ở huyện Mê Linh.
- Cuốn “Từ điển hội lễ Việt Nam” của tác giả Bùi Thiết, nội dung cuốn sách
đề cập và giải thích 602 thuật ngữ địa danh, tên lễ hội, di tích… có liên quan đến
hội lễ được xếp theo vần a, b, c... z. Trong đó có một số thuật ngữ có liên quan đến
vùng đất và hội lễ ở huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội như: Thuật ngữ địa danh
“Bạch Trữ” hay còn gọi là kẻ Bạch, thuộc xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh, tỉnh
Vĩnh Phúc (cũ) có phần hội lễ khách hạ đức bà Mỵ Nương; Hội tung bông; Lễ tế
ngày hóa của Mỵ Nương. Thuật ngữ địa danh “Hạ Lơi” để nói về đền thờ Hai Bà
Trưng và lễ rước trong lễ hội tưởng niệm Hai Bà.
- Cuốn “Văn bản của Đảng và Nhà nước về nếp sống văn hóa” do Cục Văn
hóa cơ sở xuất bản. Nội dung cuốn sách gồm 03 phần: Giới thiệu tác phẩm Đời sống
mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Các văn bản của Đảng và Nhà nước về nếp sống văn
hóa; Văn bản thuộc các lĩnh vực liên quan. Đây là nội dung tập hợp các văn bản của

Đảng và Nhà nước ta về nếp sống văn hóa, đặc biệt là chỉ thị 27-CT/TW ngày 12-011998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) và Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25-112005 của Thủ tướng Chính phủ; Thơng tư số 04/1998/TT-BVHTT ngày 11-7-1998
của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành hướng dẫn thực hiện nếp
sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.
- Cuốn “Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương
đại (trường hợp hội Gióng)” do Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam chủ biên, nội
dung cuốn sách là tập hợp 75 bài viết của các tác giả trong và ngoài nước được trình
bày tại hội thảo khoa học quốc tế cùng các hình ảnh minh họa kèm theo. Trong số
75 bài viết, có một số bài viết có liên quan đến công tác quản lý, bảo tồn lễ hội như:
Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống của tác giả Đặng
Văn Bài; Bảo vệ nền văn hóa: học hỏi thơng qua các hoạt động thực tiễn của tác giả
Bussakorn Binson; Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội truyền thống
của tác giả Nguyễn Duy Hy; Bảo tồn văn hóa phi vật thể - Một số kinh nghiệm từ
Trung Quốc của tác giả Nguyễn Thị Lê; Vai trò của cộng đồng trong việc bảo tồn


129

và phát huy lễ hội cổ truyền của tác giả Từ Thị Loan; Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ
truyền trong xã hội đương đại của tác giả Lê Thế Vịnh…
- Kỷ yếu hội thảo khoa học “Lễ hội - Nhận thức, giá trị và giải pháp quản lý”
do Bộ VH, TT&DL và Hội đồng DSVH quốc gia chủ trì và xuất bản. Nội dung kỷ
yếu là việc tập hợp 31 bài viết của các tác giả nghiên cứu trong nước, trong đó có một
số bài viết dưới góc độ quản lý lễ hội như: Tiếp cận lễ hội truyền thống từ góc nhìn
của cộng đồng của tác giả Đặng Văn Bài; Tổng quan về lễ hội và dự kiến định hướng
quy hoạch lễ hội của tác giả Trần Minh Chính; Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội
truyền thống - Thảo luận về một số khái niệm cơ bản của tác giả Nguyễn Văn Huy;
Lễ hội và cộng đồng - Vai trị của cộng đồng, tính chủ thể trong lễ hội cổ truyền và lễ
hội hiện đại của tác giả Dương Văn Sáu; Một số vấn đề đặt ra trong quản lý và tổ
chức lễ hội hiện đại của tác giả Nguyễn Hữu Thức…
- Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Bộ Văn hóa Thơng tin nay là Bộ

Văn hóa, Thể thao và Du lịch) của hai tác giả: Nguyễn Thu Linh và Phan Văn Tú về
“Quản lý lễ hội dân gian cổ truyền: thực trạng - giải pháp” (2004), đã phân tích thực
trạng, yếu tố tích cực, hạn chế của hoạt động lễ hội và quản lý lễ hội, đồng thời đưa
ra giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý lễ hội;
- Trong cuốn giáo trình “Quản lý lễ hội và sự kiện” của tác giả Cao Đức Hải
được in năm 2000, giáo trình gồm 3 chương với nội dung: những vấn đề chung về
quản lý lễ hội và sự kiện, việc quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội và sự kiện,
quy trình tổ chức lễ hội và sự kiện. Cuốn sách đã cung cấp những vấn đề lý thuyết
cơ bản liên quan đến quản lý nhà nước đối với hoạt động. Đặc biệt giáo trình đã tập
trung phân tích các khía cạnh của việc quản lý lễ hội truyền thống phù hợp với
chính sách văn hóa Việt Nam. Giáo trình cũng đã trình bày một cách cơ bản quy
trình quản lý một dự án tổ chức lễ hội, tập trung vào các lễ hội đặc biệt. Nhưng,
giáo trình khơng đi sâu phân tích thực trạng cơng tác quản lý lễ hội ở từng địa
phương và không đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý lễ
hội truyền thống hiện nay.


130

- Cuốn sách “Quản lý lễ hội cổ truyền hiện nay” do tác giả Phạm Thị Thanh
Quy viết năm 2009, tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu tổng quan về vùng đất và lễ
hội vùng Thủ đơ, phân tích thực trạng công tác quản lý lễ hội cổ truyền ở vùng Thủ
đô, đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội cổ truyền.
Điểm nổi bật ở đây, tác giả Phạm Thị Thanh Quy dựa trên cơ sở đánh giá những điểm
mạnh, điểm yếu trong công tác quản lý lễ hội cổ truyền ở Thủ đơ qua đó đưa ra
những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội cổ truyền. Tuy vậy,
cuốn sách không đi sâu vào phân tích, đánh giá thực trạng cơng tác quản lý lễ hội
truyền thống của huyện Mê Linh và giải pháp đưa ra để nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước về lễ hội, không thể áp dụng nguyên mẫu cho công tác quản lý của huyện
Mê Linh về lễ hội bởi mỗi địa phương có những sắc thái văn hóa, lễ hội khác nhau

nên cách quản lý cũng khác nhau.
- “Lễ hội dân gian và du lịch Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (2002), của
tác giả Nguyễn Chí Bền, Nxb Văn hóa Thơng tin, Hà Nội; “Lễ hội Việt Nam trong
phát triển du lịch” (2004), của tác giả Dương Văn Sáu, Trường Đại học Văn hóa
Hà Nội; “Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch” (2010), của tác giả Lê
Hồng Lý (Chủ biên), Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; “Sự tác động của kinh tế thị
trường vào lễ hội tín ngưỡng” (2008), của tác giả Lê Hồng Lý, Nxb VHTT.v.v..
Những cơng trình này tập trung nghiên cứu vai trò của lễ hội, của di sản văn hóa
trong giai đoạn hiện nay, trở thành tiềm năng phát triển du lịch.
2.2. Các cơng trình nghiên cứu về lễ hội, tổ chức và quản lý lễ hội ở huyện
Mê Linh
- Các ấn phẩm đã xuất bản
+ Sách “Thống kê lễ hội Việt Nam”, tập 2 (2008) BVH,TT&DL Cục Văn hóa
cơ sở. Trong cuốn sách này thì lễ hội của huyện Mê Linh được thống kê trong tổng
thể lễ hội của tỉnh Vĩnh Phúc. Theo thống kê này, lễ hội của huyện Mê Linh được
viết từ trang 382 đến trang 383, tổng số có 23 lễ hội với những nội dung cơ bản giới
thiệu cho từng lễ hội như: Tên lễ hội, loại lễ hội, thời gian tổ chức lễ hội, địa điểm tổ


131

chức, cấp tổ chức, cấp quản lý, nội dung tổ chức lễ hội (bao gồm: Đối tượng được
tưởng niệm, phần lễ, phần hội, các cổ tục hoặc chương trình đặc sắc), chúc văn, diễn
văn. Trong 23 lễ hội được thống kê của huyện Mê Linh rất đa dạng phong phú trong
đó có lễ hội diễn ra ở đền, đình, chùa, nhà thờ. Điểm cần quan tâm, là có thống kê lễ
hội của 05 nhà thờ tôn giáo và điều cơ bản các nhà thờ đều hát thánh ca và 01 nhà thờ
đạo tin lành ở thị trấn Phúc Yên. Tuy nhiên trên thực tế từ năm 2008 khi huyện Mê
Linh sáp nhập về Hà Nội có thể phần thống kê lại có thay đổi.
+ Cuốn “Vĩnh Phúc đất thắng tích và lễ hội” của tác giả Xuân Mai viết trong tủ
sách Việt Nam các vùng văn hóa. Nội dung cuốn sách gồm 07 nội dung như: Vài nét

khái quát về Vĩnh Phúc; Vĩnh Phúc, một vùng thắng tích; Những danh nhân tiêu biểu;
Hội làng và các trò chơi, trò diễn tiêu biểu trong hội làng ở Vĩnh Phúc; Vĩnh Phúc, một
vùng văn học dân gian; Một số làng nghề truyền thống; Một số đặc sản ẩm thực ở Vĩnh
Phúc. Trong đó có giới thiệu 02 trị diễn, trong 02 lễ hội trên địa bàn huyện Mê Linh
như: Bắt trạch trong chum ở lễ hội làng Bạch Trữ (xã Tiến Thắng); Trị trình nghề ở lễ
hội làng Văn Lơi (xã Tam Đồng).
+ “Lịch sử Đảng bộ huyện Mê Linh” (2000) của Đảng bộ huyện Mê Linh, cuốn
sách tập hợp nhiều tư liệu về quá trình lịch sử đấu tranh kiên cường trên bước đường
giải phóng và xây dựng quê hương theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng bộ,
nhân dân Mê Linh qua các thời kỳ cách mạng do Đảng lãnh đạo.
+ “Di tích đền thờ Hai Bà Trưng” (2012) của Ban quản lý di tích đền thờ Hai
Bà Trưng. Nội dung cuốn sách giới thiệu khái quát về khu di tích lịch sử và lễ hội
tưởng niệm Hai Bà Trưng tại làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Thành phố
Hà Nội.
- Luận văn tốt nghiệp
+ Luận văn Thạc sỹ Quản lý văn hóa: Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa
bàn huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội (2013) của Hoàng Thị Thu Thủy, đã đưa ra
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên
địa bàn huyện Mê Linh, từ đó đề xuất giải pháp phát huy giá trị và nâng cao hiệu
quả công tác quản lý văn hóa ở huyện Mê Linh trong giai đoạn hiện nay.


132

+ Luận văn Thạc sỹ Quản lý văn hóa: Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên
địa bàn huyện Mê Linh (2009) của tác giả Vũ Hà Phương. Luận văn đã giới thiệu
khái quát về huyện Mê Linh, di tích lịch sử văn hóa của huyện, trên cơ sở nghiên
cứu thực trạng cơng tác quản lý di tích, tác giả đã chỉ ra những tồn tại và hạn chế
trong cơng tác quản lý di tích và đưa ra một số giải pháp khắc phục những hạn chế
trong hoạt động quản lý di tích ở huyện Mê Linh trong giai đoạn hiện nay.

Qua tổng hợp, phân tích tình hình nghiên cứu của các tác giả đi trước cho
thấy hiện nay chưa có cơng trình nghiên cứu nào đề cập tồn diện về quản lý lễ hội
truyền thống ở huyện Mê Linh. Do đó, tác giả sẽ tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên
cứu, tư liệu cần thiết của các tác giả đi trước để triển khai đề tài “Quản lý lễ hội
truyền thống ở huyện Mê Linh” trong khuôn khổ một luận văn cao học chuyên
ngành quản lý văn hóa.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đi sâu khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng những ưu điểm, hạn
chế và nguyên nhân trong công tác quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Mê Linh.
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ
hội truyền thống ở huyện Mê Linh trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp và thống kê các cơng trình nghiên cứu của các tác giả đi trước viết
về lễ hội và quản lý lễ hội.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống. Tìm hiểu khái quát
về huyện Mê Linh và lễ hội truyền thống của huyện Mê Linh.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng cơng tác quản lý lễ hội truyền
thống ở huyện Mê Linh hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu qủa công tác quản lý lễ hội truyền
thống ở huyện Mê Linh trong thời gian tới.


133

4. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về lễ hội và công tác quản lý lễ hội truyền
thống ở huyện Mê Linh, trong đó, tác giả xem xét quản lý lễ hội truyền thống trên
hai phương diện: Quản lý nhà nước và quản lý của các cộng đồng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi không gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng quản lý lễ hội
truyền thống ở huyện Mê Linh trong giai đoạn hiện nay.
* Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ năm 2008 đến nay (Từ ngày 01/8/2008
đến nay, khi huyện Mê Linh sáp nhập về Hà Nội theo Nghị quyết số:
15/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII về điều chỉnh địa giới hành chính để mở
rộng Thủ đô Hà Nội).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: Văn hóa học, Quản
lý văn hóa, Lịch sử, Bảo tàng học, xã hội học…
- Các phương pháp thu thập thông tin gồm:
+ Phỏng vấn sâu: đối với nhà quản lý và đại diện cộng đồng để lấy ý kiến
đánh giá về hoạt động quản lý lễ hội truyền thống từ các cách nhìn khác nhau.
+ Phương pháp quan sát: trực tiếp đến các di tích, lễ hội để thu thập thơng tin
trực quan về đối tượng nghiên cứu.
+ Phương pháp tổng quan tài liệu: các bài viết, văn bản pháp qui, báo cáo
liên quan về quản lý lễ hội truyền thống huyện Mê Linh.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là một cơng trình nghiên cứu, đầy đủ, hệ thống về lễ hội truyền
thống và quản lý lễ hội ở huyện Mê Linh từ năm 2008 đến nay. Đồng thời chỉ ra
những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong công tác quản


134

lý lễ hội. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quản
lý lễ hội truyền thống gắn với phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo giúp cho các nhà quản lý văn hóa
thực hành trong cơng tác quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Mê Linh.
7. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội
dung chính của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống và tổng quan về lễ
hội truyền thống ở huyện Mê Linh
Chương 2: Thực trạng quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Mê Linh
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội ở huyện Mê Linh
trong giai đoạn hiện nay


135

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ TỔNG
QUAN VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN MÊ LINH
1.1. Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý về quản lý lễ hội truyền thống
1.1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1.1. Lễ hội và lễ hội truyền thống
Cụm từ “Lễ hội” theo Từ điển tiếng Việt năm 2002 thì đó là “cuộc vui tổ
chức chung, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc.
Lễ hội gồm 2 phần: phần lễ và phần hội. Phần Lễ mang tính thiêng liêng, bất biến,
là những nghi thức thờ thần thánh, thông thường thực hiện phần Lễ chỉ có một số
người có vai vế, vị trí nhất định trong làng, xã. Phần Hội mang tính cộng đồng, bao
gồm các trò diễn, các cuộc đua tài, các trị chơi, văn nghệ giải trí”. Phần hội do mọi
người cùng thực hiện, cùng vui, cùng hưởng và có thể thêm bớt, thay đổi, tùy theo
cấu trúc lễ hội. Tuy nhiên, sự phân chia giữa lễ và hội chỉ là tương đối. Bởi trong
thực tế nhiều khi trong lễ lại bao hàm cả tính chất hội. Ví dụ trị diễn trong lễ hội
chẳng hạn ta không thể khẳng định một cách chắc chắn rằng trò diễn là lễ hay hội
mà chỉ có thể nói trị diễn là điểm giao thoa giữa lễ và hội mà thôi.
Lễ hội truyền thống là những lễ hội có trước năm 1945, do làng xã đứng ra tổ
chức, lặp đi lặp lại theo một chu kỳ nhất định, năm này sang năm khác, đời này qua

đời khác. Chính vì vậy, lễ hội truyền thống cịn được gọi tên là lễ hội cổ truyền hay
lễ hội dân gian.
Theo Điều 4 của Luật Di sản văn hóa, lễ hội truyền thống là bộ phận cấu
thành di sản văn hóa quốc gia, là di sản văn hóa phi vật thể.
Trong các loại hình DSVH phi vật thể, lễ hội truyền thống được xem là một
loại hình di sản tiêu biểu, là một hiện tượng văn hóa gắn liền với điều kiện, trình độ
phát triển kinh tế và sinh hoạt của con người. Sự tồn tại và phát triển của lễ hội là
một quá trình lịch sử mà trong đó nó biến đổi, tích lũy và lựa chọn các giá trị văn
hóa qua thời gian. Chính vì vậy, chúng ta có thể thấy những truyền thống văn hóa


136

của người Việt được lưu giữ trong các lễ hội truyền thống còn tồn tại đến ngày nay.
Và trong mỗi lễ hội truyền thống, đều có những đặc trưng cơ bản như sau:
- Lễ hội là một dạng sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh;
- Lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng địa phương;
- Lễ hội là dịp đoàn kết, giáo dục truyền thống cộng đồng;
- Lễ hội là hội chợ trưng bày các sản phẩm địa phương và các vùng khác;
- Là dịp tổ chức các sinh hoạt nghệ thuật, các trị chơi giải trí, thể thao;
- Lễ hội là địa điểm hành hương, du lịch.
Nhìn chung, những đặc trưng trên của lễ hội truyền thống cho thấy, lễ hội
truyền thống là một sản phẩm của quá khứ, của cộng đồng người Việt được gìn giữ
và trao truyền cho hiện tại và mai sau.
1.1.1.2. Giá trị của lễ hội truyền thống
* Giá trị cố kết cộng đồng
Lễ hội có vai trị ý nghĩa làm tăng đời sống tinh thần cho nhân dân địa
phương nói chung và du khách thập phương nói riêng. Như chúng ta đã biết trong
thời đại tồn cầu hóa văn hóa như hiện nay, việc tổ chức các lễ hội nhằm phát huy
tính đoàn kết, sức mạnh tập thể là việc làm hết sức cần thiết. Vì thơng qua lễ hội

những người đến dự lễ hội lại vừa được tham gia hội, trong các trị chơi dân gian
ln biểu dương sức mạnh tập thể và tinh thần đoàn kết đồng đội, thể hiện tinh thần
cộng đồng rất cao, bình thường ai cũng lo toan với bao bộn bề của cuộc sống thì
những ngày lễ hội, người dân đến đây đông đủ, vui chơi giải trí thưởng thức những
tiết mục ca nhạc, những trị chơi dân gian và bỏ hết những mệt nhọc của đời thường,
nhìn khn mặt ai cũng rạng rỡ nụ cười mọi người cùng cởi mở lịng mình và thảnh
thơi chơi hội giữa người dân địa phương và du khách thập phương không phân biệt
già trẻ, gái trai đều cảm thấy gần gũi thân thương. Mọi người tham gia lễ hội dù ít
dù nhiều đều góp cơng, góp sức, góp của để giúp tổ chức lễ hội được thành công.
Mọi người đến đây với lịng thành kính, tham dự hội để vui nhưng trên hết là mọi
người đều đến với niềm tin chân thành vào những gì tốt đẹp nhất.


137

Cố kết cộng đồng trong lễ hội còn được thể hiện qua việc nhân dân các địa
phương khác nhau cùng kính trọng tơn thờ vị thần của mình. Sự thành cơng của lễ
hội là kết qủa của sự đồn kết thống nhất, chung sức, chung lịng từ các cấp chính
quyền, đến mỗi người dân trong các vùng, miền ở nước ta.
* Giá trị hướng về cội nguồn dân tộc
Nhìn chung, các lễ hội cổ truyền đều hướng về cội nguồn dân tộc, đất nước,
nguồn cội văn hóa, ơng cha ta vẫn thường nhắc nhở thế hệ mai sau “uống nước nhớ
nguồn”. Lễ hội đã khơi dậy lòng tự hào dân tộc, những người tham gia lễ hội được
hiểu rõ hơn về truyền thống văn hóa của cha ơng, truyền thống yêu nước và lòng tự
hào dân tộc trên mảnh đất quê hương mình. Trong thời đại CNH, HĐH, thời đại cơng
nghệ thơng tin, thế hệ trẻ ít khi tìm hiểu về những giá trị văn hóa truyền thống của
dân tộc, thông qua lễ hội cổ truyền mọi người tự nhận thức được giá trị căn bản của
cội nguồn dân tộc với lịng biết ơn thế hệ cha ơng đã có công với quê hương dân tộc.
Khi tham gia lễ hội, người dân hiểu rõ hơn về lịch sử của các thời đại khác nhau
cũng như công lao to lớn của những nhân vật có cơng với dân với nước như: Hai Bà

Trưng cùng các vị nữ tướng, các vị tướng thời Hùng Vương, thời An Dương Vương…
Những người tham gia lễ hội luôn cảm nhận sự tự hào về truyền thống lịch sử
văn hóa của q hương, từ đó ln rèn luyện đạo đức cá nhân để trở thành những
người con ưu tú của dân tộc của gia đình, dịng họ. Càng thêm yêu quê hương, làng
quê mình hơn, cùng chung tay góp sức để xây đắp quê hương giàu đẹp trường tồn
cùng lịch sử nước nhà và sánh vai các cường quốc năm châu.
* Giá trị cân bằng đời sống tâm linh
Trong cuộc đời của mỗi con người bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh
thần, tư tưởng, cịn hiện hữu đời sống tâm linh. Đó là đời sống con người hướng về
cái cao cả thiêng liêng: chân thiện mỹ, cái mà con người ngưỡng mộ ước vọng và
tơn thờ. Trong đó có niềm tin, tơn giáo, tín ngưỡng, chính lễ hội góp phần làm thỏa
mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của mỗi cư dân địa phương. Trong xã hội hiện
đại cuốn theo nhịp sống chúng ta phải gấp gáp hơn, căng thẳng đơn điệu, ồn ào


138

hơn… nhưng trong sâu thẳm lịng mình vẫn cảm thấy cô đơn. Đời sống vật chất
dường như được tăng lên thì nhu cầu về đời sống văn hóa tinh thần tâm linh cũng
được nâng cao.
Hồ mình vào lễ hội để được tận hưởng những giây phút thiêng liêng, được
sống những giây phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng mỗi người đến dự hội
đều ăn mặt đẹp, tinh thần thoải mái, sảng khoái khác ngày thường là trạng thái thăng
hoa từ đời sống hiện thực. Qua lễ hội con người gửi gắm những ước vọng đời thường
và mong ước cuộc sống tươi đẹp hơn và tin tưởng rằng khi tham gia lễ hội, mọi ước
mơ đều được thần linh, chư Phật chứng giám và ban phát cho mọi điều lành.
* Lễ hội giúp con người sáng tạo và hưởng thụ văn hóa
Lễ hội là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng của cư dân các
địa phương khác nhau. Trong lễ hội, người dân địa phương đứng ra tổ chức sáng tạo
và tái hiện lại các sinh hoạt văn hóa cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hóa tâm

linh, vì vậy lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc.
Mọi người tham gia lễ hội có thể sáng tạo văn hóa trong các trị chơi dân gian và
chính những người tham gia được hưởng thụ những giá trị văn hóa đó và điều quan
trọng những giá trị văn hóa cốt lõi bao giờ cũng được tái hiện lại. Chính nền văn
hóa truyền thống thơng qua lễ hội là những nhân tố dân chủ trong sáng tạo văn hóa
và hưởng thụ các giá trị văn hóa ấy. Để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa đó mà
họ khơng ngừng sáng tạo ra những nét văn hóa mới, nhưng đồng thời vẫn bảo lưu
những giá trị văn hóa tốt đẹp truyền thống để thế hệ mai sau lại trao truyền và
không ngừng sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa ấy.
* Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa
Lễ hội khơng chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hóa Thủ đơ ngàn năm văn
hiến mà cịn là mơi trường bảo tồn, làm giàu phát huy nền văn hóa truyền thống của
dân tộc. Với cuộc sống thường nhật, trong mỗi chúng ta ai cũng phải lo toan cho
cuộc sống, ít có thời gian để nghĩ đến vui chơi giải trí phần vì cuộc sống hiện đại để
tham gia vào những nơi vui chơi giải trí thì chi phí bỏ ra cũng khá nhiều tiền, cịn


139

trong lễ hội cổ truyền khi người dân tham gia và hưởng thụ văn hóa thì dường như
khơng mất tiền, có chăng chỉ là chung tay góp sức một phần công đức để lễ hội
được tổ chức thành công hơn mà thơi. Đó là lý do khi nghe tiếng trống chng vang
dậy, là dịng người từ địa phương lân cận lại đổ về dự hội rất đơng, mọi người đến
đó với niềm hân hoan phấn khởi, được hiểu biết thêm về truyền thống lịch sử của
địa phương mình, được thưởng thức chương trình văn hóa nghệ thuật, được hồ
mình vào khơng khí vui nhộn của lễ hội, và có thể tham gia các trị chơi dân gian,
được sống trong khơng khí linh thiêng, trời đất giao hịa, thần linh hội tụ, mọi người
cởi mở lịng mình hơn để chia sẻ với nhau về tâm tư tình cảm, để bày tỏ lịng mình
với thần linh về những ước vọng cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Chính lễ hội đã bảo lưu được giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, đồng thời thơng

qua lễ hội những giá trị văn hóa ấy được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong thời đại CNH, HĐH đất nước thời kỳ giao lưu mở cửa hợp tác tồn diện,
chính những lễ hội cổ truyền lại góp phần trách nhiệm là nơi bảo tồn, làm giàu phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc và trao truyền cho thế hệ mai sau.
1.1.1.3. Quản lý văn hóa và quản lý lễ hội truyền thống
* Quản lý văn hóa
Khái niệm “Quản lý” được rất nhiều các nhà quản lý, nhà khoa học nghiên
cứu tìm hiểu. Xuất phát từ những cách nhìn khác nhau, lĩnh vực khác nhau, thời
điểm khác nhau, nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra những khái niệm,
cách hiểu không giống nhau về “Quản lý”.
Song, theo cách hiểu phổ biến thì quản lý “là hoạt động nhằm tác động một
cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để
đạt được mục tiêu đề ra” [29, tr.3].
Quản lý bao gồm 4 yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể luôn là
con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các
cơng cụ, phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định.


140

- Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý.
- Khách thể quản lý: Chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản
lý, đó là hành vi của con người, xã hội.
- Mục tiêu của quản lý: Là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do
chủ thể quản lý định trước. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác
quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp.
Vậy, theo cách hiểu trên thì: Quản lý nhà nước là một hoạt động quản lý
đặc thù, là sự tác động của chủ thể mang quyền lực Nhà nước, chủ yếu bằng pháp
luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của

Nhà nước nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý nhà nước về văn hóa (quản lý văn hóa) là một bộ phận quản lý nhà
nước. Quản lý văn hóa là cơng việc của nhà nước thực hiện thông quan việc ban
hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm
pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội
của mỗi địa phương nói riêng, cũng như cả nước nói chung.
Ngồi ra, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng
nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, Nhà nước,
đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý)
đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm
đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,
nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân...).
Quản lý văn hóa bao gồm những nội dung chính sau đây:
- Xác lập quan điểm chủ đạo (hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, đạo
đức..., những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hóa, là cơ sở của việc
xác lập nội dung và phương thức quản lý văn hóa... (trong các văn kiện chính thức
của Đảng, Hiến pháp, Chiến lược phát triển văn hóa của Chính phủ).
- Bộ máy tổ chức, cán bộ thực hiện chức năng quản lý văn hóa từ Trung
ương đến địa phương theo các lĩnh vực.


141

- Cơ chế phối hợp liên ngành (Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể, cơ cấu dân sự...).
- Hệ thống pháp luật (Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, văn
bản hướng dẫn, quy chế, quy tắc, quy định...).
- Hệ thống chính sách trên từng lĩnh vực (lối sống, nếp sống; văn học - nghệ
thuật, di sản văn hóa, văn hóa dân tộc...) và theo địa bàn lãnh thổ (Trung ương - địa
phương, đô thị - nông thôn, đồng bằng - miền núi, trong nước - ngoài nước...). Cần
lưu ý đến tầm quan trọng của các chính sách đầu tư phát triển các nguồn nhân lực

(đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực) và phương tiện cho văn hóa.
- Công tác giám sát, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm [26, tr.25-26].
* Quản lý lễ hội truyền thống
Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống (quản lý lễ hội) là một bộ phận, một
lĩnh vực cụ thể của quản lý nhà nước về văn hóa. Quản lý lễ hội là sự định hướng,
tạo điều kiện để tổ chức, điều hành tốt hoạt động lễ hội nhằm phát huy những giá trị
của lễ hội theo chiều hướng tích cực, nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Quản lý lễ hội trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu mang tính tất yếu
khách quan. Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước tạo ra một
hành lang pháp lý an toàn, mở rộng cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc. Tại Điều 25 Luật Di sản Văn hóa ghi rõ: “Nhà nước tạo điều kiện duy trì và
phát huy giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống” (37, tr.40); bài trừ các hủ tục và
chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong tổ chức và hoạt động lễ hội.
Việc tổ chức lễ hội truyền thống phải theo quy định của pháp luật. Lễ hội là một bộ
phận quan trọng, cấu thành di sản văn hóa, chính vì vậy việc quản lý lễ hội cũng cần
tiến hành theo nội dung quản lý nhà nước về di sản được ghi tại Điều 54 Luật Di
sản văn hóa. Quản lý về di sản văn hoá bao gồm:
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho
sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;


×