Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (415.54 KB, 6 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>KHAI THÁC KIẾN THỨC ĐỊA LÝ LỚP 11 THPT (BAN NÂNG CAO) </b>
<b>BẰNG SƠ ĐỒ TƯ DUY (MINDMAPS) THÔNG QUA BRAINSTORMING </b>
<i><b>Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Hương Giang, K55TN </b></i>
<i><b>Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Đức Tuấn </b></i>
<b>ĐẶT VẤN ĐỀ </b>
Trong họat động dạy học, phát triển tư duy cho học sinh có thể được coi là mục
tiêu hang đầu và cuối cùng của quá trình dạy học. Phục vụ cho mục tiêu này đã có
khơng ít các phương pháp đã được xây dựng và vận dụng. Các phương pháp dạy học
truyền thống như phưong pháp thuyết giảng, phương pháp sử dụng bản đồ… mặc dù
vẫn có tầm quan trọng của nó đối với q trình dạy học nhưng cho đến ngày nay thì nó
đã bộc lộ nhiều yếu điểm. Chẳng hạn như phương pháp sử dụng bản đồ tuy có tác dụng
hỗ trợ đắc lực cho bài giảng, là phương tiện trực quan cho học sinh khai thác tri thức
nhưng tác dụng thực tế của bản đồ thì bị hạn chế khá nhiều do số lượng bản đồ được sử
dụng trong các trường cịn q ít, nhu cầu được sử dụng không cao mà hơn nữa kiến
thức và khả năng hướng dẫn khai thác và sử dụng bản đồ một cách hữu ích nhất của
giáo viên ở các trường THPT còn hạn chế. Một trong những phương pháp mới có nhiều ưu
điểm và được đánh giá là có khả năng phát triển tư duy rất tốt đó là phương pháp sơ đồ.
Một hệ thống sơ đồ đơn giản đã thể hiện được đặc trưng phương pháp và hiệu quả cao mà
nó mang lại. Nhằm đạt được hiệu quả cao hơn người ta đã xây dựng nên một phương pháp
cũng dựa trên nền cơ bản là phương pháp sơ đồ. Đó là phương pháp sơ đồ tư duy.
Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 (thế kỉ XX) bởi Tony
Buzan như là một cách để giúp học sinh “ghi lại bài giảng” mà chỉ dùng các từ then chốt
và các hình ảnh, các đường nối mang lại hiệu quả nhanh chóng giúp học sinh dễ nhớ, dễ
ơn tập. Để có cơ sở vận dụng phương pháp một cách có hiệu quả tôi đã lựa chọn đề tài
này để nghiên cứu.
Đề tài được xây dựng với mục đích cuối cùng đó là cung cấp cho học sinh một
<b>NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU </b>
<i><b>1. Cơ sở lý luận và thực tiến của việc kết hợp phương pháp mindmaps và phương </b></i>
<i><b>pháp brainstorming trong dạy học địa lý ở trường </b></i>
<i>1.1. Định hướngđổi mới phương pháp dạy họcđịa lý</i>
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học nói chung được khẳng định trong
Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII; nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII và được pháp
chế hoá trong Luật Giáo dục (sửa đổi).
người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào
trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học
sinh và nhất là sinh viên đại học”.
Những năm gần đây, việc dạy học Địa lý ở các trường trung học phổ thơng đã có
những bước chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách
giáo dục. Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học Địa lý một cách có
hiệu quả là một vấn đề quan trọng nhất được quan tâm mà chương trình đổi mới giáo
dục Địa lý ở trường THPT phải quan tâm giải quyết. Quá trình đổi mới cần thời gian lâu
dài cũng như đầy đủ các yếu tố cần thiết cho quá trình đổi mới. Như vậy, muốn thành
công được thì quá trình đổi mới phải được xác lập đủ điều kiện cần thiết.
<i>1.2. Khái niệm về phương pháp sơđồtư duy và phương pháp brainstorming</i>
Sơ đồ tư duy – mindmap hay giản đồ ý là phương pháp được đưa ra để tận dụng
khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não - một kỹ thuật để nâng cao cách ghi chép.
Trong sơ đồ tư duy, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình vẽ, trong đó
các đối tượng liên hệ với nhau bằng các đường nối. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để
tổng hợp hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Khác
với máy tính, ngồi khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo một trình tự nhất
định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của một câu chuyện) thì não bộ cịn có
khả năng tạo sự liên kết giữa các dữ kiện với nhau. Phương pháp này khai thác cả hai
khả năng này của não bộ: ghi nhớ và tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng, nhanh chóng.
Brainstorming (động não - tập kích não) là một phương pháp đặc sắc dùng để
phát triển nhiều giải đáp sáng tạo cho một vấn đề. Phương pháp này hoạt động bằng
cách nêu các ý tưởng tập trung trên vấn đề từ đó rút ra rất nhiều đáp án căn bản cho nó.
Chữ Brainstorming được đề cập đến đầu tiên bởi Alex Osborn – một nhà quản
trị quảng cáo năm 1941 trong cuốn sách Applied amagination. Ông đã mô tả động não
như là “một kỹ thuật hội ý bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề
đặc trưng bằng cách góp nhặt tất cả các ý kiến của nhóm người đó nảy sinh trong cùng
một thời gian theo một nguyên tắc nhất định. Hiện nay thì phương pháp này có thể
khơng cần đến nhiều người mà một người cũng có thể tiến hành.
<i>1.3. Thực trạng dạy học Địa lý lớp 11 THPT</i>
Chương trình Địa lý lớp 11, ngoài bài mở đầu, gồm có hai phần lớn: phần tình
hình chung của nền kinh tế xã hội thế giới (9 tiết) và phần Địa lý kinh tế - xã hội một số
nước cụ thể (35 tiết).
Học sinh THPT nói chung và học sinh lớp 11 nói riêng là những người đang ở
độ tuổi mà người ta gọi đó là tuổi thanh niên và tương ứng với độ tuổi này cũng có
<i><b>2. Sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy và brainstorming phục vụ họat động dạy học Địa lý lớp 11 </b></i>
Tiếp cận phương pháp sơ đồ tư duy và để vận dụng vào quá trình dạy học mơn
địa lý nói chung và Địa lý lớp 11 nói riêng có rất nhiều cách. Chúng ta có thể tìm hiểu
và vận dụng theo các cách phân chia của chính sơ đồ tư duy (mindmaps). Một trong
những cách thức được sử dụng nhiều nhất đó là căn cứ vào mục đích sử dụng và đặc
điểm của từng loại sơ đồ. Phân chia theo đặc điểm nội dung, mindmaps được chia ra: sơ
đồ cấu trúc, sơ đồ logic, sơ đồ quá trình và sơ đồ địa đồ học. Sử dụng sơ đồ quan tâm
đến chức năng và mục đích sử dụng thì có thể tìm hiểu các loại: sơ đồ để ghi nhớ, sơ đồ
để gợi nhớ, sơ đồ để phát huy tính sáng tạo…
<i>2.1. Sơđồ cấu trúc</i>
Loại sơ đồ này thể hiện các thành tố của một đối tượng và mối quan hệ cấu tạo
của chúng. Khi muốn thể hiện cấu trúc của đối tượng, trừ khi là cấu trúc dạng địa đồ
học còn nếu là cấu trúc dựa trên cơ sở lý thuyết thì cách thức thể hiện tốt nhất là sơ đồ
cấu trúc. Thay vì liệt kê đối tượng gồm những gì, một sơ đồ với các nhánh sẽ thể hiện
được rõ ràng cấu trúc của đối tượng một cách trực quan, dễ ghi nhớ, dễ hiểu.
Chương trình Địa lý lớp 11, có rất nhiều nội dung kiến thức mà học sinh có thể
học tập, có thể tổng kết kiến thức, có thể tìm hiểu, có thể ghi nhớ bằng phương pháp sơ
đồ thông qua họat động động não, tư duy hay chính là thơng qua các sơ đồ tư duy.
Trong một số bài học sinh có thể xây dựng được những sơ đồ cấu trúc như: Sơ
đồ thể hiện các chính sách về tự do lưu thông của thị trường chung châu Âu (Bài 9); sơ
đồ thể hiện 4 vùng kinh tế gắn với 4 đảo lớn của Nhật Bản (Bài 11); sơ đồ thể hiện điều
kiện tự nhiên các miền của Trung Quốc (Bài 12); sơ đồ thể hiện một số vấn đề mang
tính toàn cầu (Bài 4); sơ đồ thể hiện một số vấn đề của các châu lục và khu vực các
<i>2.2. Sơđồ Logic </i>
Loại sơ đồ này biểu hiện mối quan hệ về nội dung bên trong của các sự vật, hiện
tượng địa lý. Chúng ta có thể thấy ngay trong sơ đồ thể hiện các vấn đề của tự nhiên
châu Phi ở trên. Đó vừa là sơ đồ thể hiện cấu trúc nhưng cũng có thể được coi là sơ đồ
logic thông qua việc thể hiện mối quan hệ bên trong đó chính là mối quan hệ nhân quả.
Đó chính là thể hiện mối quan hệ logic.
Một sơ đồ logic hay một mô hình logic là một cách thức thể hiện một cách trực
quan các mối quan hệ giữa các thành phần của một đối tượng được nghiên cứu. Theo
truyền thống thì các thành phần đó gồm có các nguồn dữ liệu, các hoạt động, mục tiêu
và các kết quả đạt được. Cấu trúc của một sơ đồ logic đó là hình ảnh minh họa cho các
mối quan hệ giữa các thành phần của đối tượng – làm nổi bật tính logic – nổi bật mối
quan hệ và tính chất của mối quan hệ đó. Trong đó, các mối quan hệ được thể hiện phổ
biến nhất bằng cách này đó là mối quan hệ nhân quả, mối quan hệ tương tác.
Chẳng hạn khi thể hiện một số vấn đề mang tính tồn cầu, u cầu học sinh tổng
kết lại các vấn đề và đánh giá mối quan hệ giữa các vấn đề. Với yêu cầu tổng kết bài
này thì tốt nhất là hướng học sinh vào xây dựng một sơ đồ logic. Học sinh sẽ xác định
các đối tượng căn bản mà sơ đồ phải có được đó là: vấn đề dân số, vấn đề môi trường,
vấn đề an ninh… Từ đây học sinh có thể phát triển thêm nhưng bắt buộc phải thể hiện
được các yếu tố cơ bản.
<i>2.3. Sơđồ quá trình</i>
Đây là phương pháp thể hiện đối tượng biến đổi theo q trình có thể là theo thời
gian, theo tiến trình phát triển, theo các bước thực hiện các hoạt động… Sơ đồ q trình
Điểm xuất phát cho một sơ đồ quá trình là một mốc bất kỳ có thể là khi bắt đầu
sự ra đời của đối tượng nhưng cũng có thể là từ thời điểm cần nghiên cứu về đối tượng
theo yêu cầu xây dựng quá trình.
trình Địa lý lớp 11 (Ban nâng cao) rất phong phú và đa dạng cho phép khai thác tốt bằng
sơ đồ q trình? Vậy thì khơng có lý do gì để khơng vận dụng chúng.
<i>2.4. Sơđồđịađồ học</i>
Sơ đồ địa đồ học đó là các sơ đồ được xây dựng trên các bản đồ, các lược đồ,
các đồ thị, các mơ hình… với mục đích thể hiện trên đó những đối tượng, những nội
dung gắn với không gian, gắn với vị trí cụ thể. Trên các sơ đồ thể hiện các đối tượng có
thể có mối quan hệ với nhau về không gian, quan hệ theo tuyến hoặc quan hệ lãnh thổ…
Các đối tượng đó là những đối tượng thực tế hoặc đối tượng trừu tượng mà thực tế khó
có thể quan sát được.
SGK Địa lý lớp 11 (Ban nâng cao) chứa đựng nhiều sơ đồ địa đồ học như: Sơ đồ
thể hiện hợp tác sản xuất máy bay E-bớt (Bài 9); Sơ đồ hầm đường giao thông dưới biển
Măngsơ (Bài 9); Sơ đồ một trang trại ni bị ở Ơxtrâylia (Bài 15). Những sơ đồ này
nếu so với các sơ đồ dạng trên thì mang tính phức tạp hơn trong khâu xây dựng cũng
như khâu phân tích khai thác kiến thức. Bởi vậy, khi đề cập đến những sơ đồ dạng này
thì cơ bản là hướng dẫn cho học sinh cách khai thác các sơ đồ này trong sách giáo khoa
<b>KẾT LUẬN </b>
Như vậy, đề tài đã cho chúng ta khai thác được kiến thức Địa lý lớp 11 THPT
(Ban nâng cao) và quan trọng hơn đó là cho chúng ta cách thức khai thác các kiến thức
đó bằng việc sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy thông qua hoạt động động não –
brainstorming. Với việc áp dụng phương pháp này học sinh có thể thực hiện trong mọi
trường hợp đều có thể đem lại kết quả cao với các bài học có khả năng áp dụng. Với
mỗi bài tùy thuộc vào nội dung của bài cũng như yêu cầu của giáo viên đặt ra mà học
sinh có thể căn cứ vào những sơ đồ mẫu để thấy được việc xây dựng và sử dụng từng
loại sơ đồ như thế nào là phù hợp và đem lại hiệu quả cao nhất. Tất nhiên, dù với bất kỳ
phương pháp nào thì quan trọng nhất vẫn phụ thuộc vào chính ý thức tự giác, chủ động
và tính sáng tạo của học sinh. Vậy thì thơng qua việc khai thác kiến thức bằng những
phương pháp này thì khả năng tư duy sáng tạo, tính tích cực chủ động của học sinh cũng
sẽ được nâng cao cùng với một khối lượng lớn tri thức mà các em đã khai thác được.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
[1] Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc, 2006 . <i>Lí luận dạy họcĐịa lý</i>. NXB ĐHSP
[2] Nguyễn Trọng Phúc, 2004. <i>Một số vấnđề trong dạy họcĐịa lý ở trường phổ thông</i>.
NXB QG Hà Nội.