Tải bản đầy đủ (.pdf) (60 trang)

Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa huyện nam đàn nghệ an trong giai đoạn hiện nay ( 2006 đến nay )

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.52 MB, 60 trang )

Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

TRNG I HC VN HO H NI
KHOA QUN Lí VĂN HOÁ - NGHỆ THUẬT
-------------------------

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
HUYỆN NAM ĐÀN – NGHỆ AN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (2006 ĐẾN NAY)
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN QUẢN LÝ VĂN HOÁ

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS PHAN VĂN TÚ
Sinh viên thực hiện
: HỒ THỊ THÁI
Lớp
: QLVH 6A
Khoá học
: 2005 - 2009

HÀ NỘI – 2009

Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 1


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

LI CM N
hon thnh khúa lun tt nghip này, Trước hết tơi xin chân
thành cảm ơn phịng thư viện trường đại học Văn Hóa Hà Nội, thư viện
huyện Nam Đàn và các cô chú anh chị cán bộ TTVH huyện Nam Đàn,


Ban quản lý di tích lịch sử Đền Vua Mai đã cung cấp một số tài liệu
quan trọng cần thiết cho q trình làm khóa luận.
Qua đây tơi cũng xin được bày tỏ lịng biết ơn đến tập thể các thầy
cô giáo trong khoa QLVH – trường ĐH Văn Hóa hà Nội , đã truyền đạt
cho tơi những kiến thức vơ cùng q giá trong q trình học tập tại
trường. Và đặc biệt tôi xin được bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc của mình
đến thầy giáo hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp của tơi là PGS_TS Phan
Văn Tú đã hết sức nhiệt tình, dành quỹ thời gian q báu của mình giúp
đỡ tơi hồn thành khóa luận tốt nghiệp này .

Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 2


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

MC LC
M U.03
CHNG 1: MT S VN Lí LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆC XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HĨA………………..………....….06

Vai trị của văn hóa đối với việc phát triển xã hội…………………06
Nghị quyết 05 hội nghị BCH TW Đảng khóa VIII về xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam………………………………………...12
Xây dựng và phát triển văn hoá ở huyện Nam Đàn (Nghệ An) là
nhiệm vụ vừa mang tính cơ bản lâu dài, vừa mang tính cấp bách……..18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ
HUYỆN NAM ĐÀN TRONG NHỮNG NĂM QUA……..…………..20

2.1. Vài nét về huyện Nam Đàn - Một vùng quê “địa linh nhân kiệt”…..….20
2.2. Những thành tựu về phát triển kinh tế xã hội trong những năm

gần đây………………………………………………………….………….26
2.3. Thực trạng xây dựng và phát triển văn hoá huyện Nam Đàn
trong những năm gần đây…………………………………..………….....29
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ CỦA
HUYỆN NAM ĐÀN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY…………….36

3.1. Khuyến khích tinh thần sáng tạo giá trị văn hóa, tự học hỏi của
các cán bộ văn hóa……………………………………………………..…36
3.2. Nâng cao chất lượng hiệu quả các hoạt động văn hố thơng tin cơ sở…39

3.3. Bảo tồn, khai thác và phát huy những giá trị văn hố của các
di tích lịch sử……………………………………………………………….48

Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 3


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

KT LUN:51
TI LIU THAM KHO:52
PH LC

H Th Thỏi_Qlvh 6A 4


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

M U
1. Lý do chn ti.


Trong thi i hiện nay, văn hoá đã trở thành một trong những mối quan
tâm lớn nhất của các Quốc gia trên thế giới. Nó được coi là một nhân tố quan trọng
quyết định tính bền vững của một Quốc gia, dân tộc. Chính vì vậy, khi vận động
thập kỷ thế giới phát triển văn hoá, cơ quan giáo dục, khoa học, văn hoá của liên
hiệp quốc (UNESCO) đã nhấn mạnh :“Hễ nơi nào tự đặt ra cho mình mục tiêu tăng
trưởng kinh tế mà tách rời khỏi mơi trường văn hố thì nhất định sẽ làm mất cân
đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hoá và tiềm năng sáng tạo của nước ấy
sẽ bị suy yếu đi rất nhiều.Vì vậy, phân tích đến tận cùng trọng tâm, các động cơ và
mục đích của phát triển phải được tìm trong văn hoá”.
Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, nhận thức về vai trị của văn hố phát
triển khơng chỉ coi văn hoá là yếu tố nội sinh của sự phát triển mà văn hoá được
coi là mục tiêu, là động lực, là hệ điều tiết của sự phát triển bền vững. Và quan
trọng hơn là chúng ta coi sự đầu tư cho phát triển văn hoá, cho sự giáo dục - đào
tạo là đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động văn hố cịn được coi là
hoạt động dịch vụ đặc biệt, góp phần làm tăng sản phẩm xã hội.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của nhà nước thì hoạt động văn hố- thơng tin khơng những
đóng góp vào tổng sản phẩm xã hội mà văn hố cịn làm hạn chế mặt trái của thị
trường, làm cho đời sống vật chất tinh thần của nhân dân cân bằng và ngày càng
phong phú, hài hồ, tiến bộ, và chính văn hố sẽ góp phần quan trọng vào cơng
nghiệp hố - hiện đại hố đất nước.
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới tồn diện đất nước, đời
sống vật chất, văn hố của nhân dân nói chung, tỉnh Nghệ An nói riêng được nâng
lên một bước đáng kể. Trong đó nhân dân huyện Nam Đàn cũng có nhiều tiến bộ
trong việc xây dựng, sáng tạo và hưởng thụ văn hố, góp phần quan trọng vào sự
tiến bộ chung của quê hương Bác Hồ kính yêu.
Tuy vậy, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá huyện Nam Đàn trong
những năm qua chưa tương xứng với vị trí của huyện và đang đặt ra nhiều vấn đề
bức xúc cần tập trung giải quyết.


Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 5


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

Chớnh vỡ vy, tụi ó chn ti khúa luận tốt nghiệp là : “Xây dựng và phát
triển đời sống văn hóa huyện Nam Đàn – Nghệ An trong giai đoạn hiện nay (2006
đến nay ) ”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Từ nhận thức về vai trị của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế-xã hội
của đất nước nói chung và ở huyện nam Đàn nói riêng, việc nghiên cứu đề tài
nhằm các mục tiêu sau đây :
Nâng cao nhận thức cho cán bộ đảng viên cũng như nhân dân trong huyện về

-

việc xây dựng và phát triển văn hóa ở huyện Nam Đàn – Nghệ An trong thời
kỳ đổi mới.
Phục vụ trực tiếp cho công cuộc xây dựng và phát triển ở huyện, nhằm cung
cấp tài liệu cho sinh viên và những người quan tâm đến lĩnh vực này.
Đưa ra một số giải pháp trong việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa
phù hợp với cơng cuộc đổi mới trong lĩnh vực văn hóa ở Việt Nam hiện nay.

3. Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu : Về đời sống văn hóa huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An.
Giới hạn về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về việc xây dựng và phát
triển đời sống văn hóa ở huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An trong thời kỳ đổi mới .
Về thời gian: trong phạm vi từ năm 2006 cho đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để kiểm tra lại nhận thức, tư liệu, tôi đã đi khảo sát thực tế một số hoạt động

văn hóa thuộc địa bàn huyện : tham gia vào lễ hội Mai Hắc Đế , các CLB hát ví
Phường Vải, hội thơ Lam Hồng .Quan sát thực tế những hoạt động phát thanh
truyền hình, y tế, cũng như giáo dục, văn hóa trên địa bàn huyện Nam Đàn. Đặc
biệt nghiên cứu sâu về đời sống văn hóa của nhân dân tịan huyện, đọc số tư liệu
nói về hoạt động nghiên cứu về việc phát triển văn hóa trong tỉnh Nghệ An. Đồng
thời thu tập một số tư liệu của TTVH huyện Nam Đàn, cùng với sự tiếp xúc với
nhân dân trên địa bàn.
Trên cơ sở nhận thức và khảo sát thực tiễn, kết hợp với quá trình học tập tại
nhà trường và sự hướng dẫn của giảng viên, tơi đã có tư liệu để so sánh,đối chiếu
tổng hợp. Từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá kết luận có tính chất định hướng về
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 6


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

nhng gii phỏp nhm nõng cao i sng vn hóa ở huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ
An trong giai đoạn hiện nay.

5. Bố cục của khóa luận.
Để thực hện mục tiêu nhiệm vụ đề ra, đề tài sẽ được trình bày theo hệ thống
bố cục sau:
Mở đầu;
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò của việc xây dựng và phát
triển văn hóa;
Chương 2: Thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa huyện Nam Đàn
trong những năm qua;
Chương 3: Giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa huyện nam Đàn
trong giai đoạn hiện nay;
Kết luận ;
Tài liệu tham khảo ;

Phụ lục .

Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 7


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

CHNG 1
MT S VN Lí LUN V VAI TRỊ CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ
PHÁT TRIỂN VĂN HĨA
1.1. Vai trị của văn hóa đối với việc phát triển xã hội
Lồi người khi hình thành, đã mang nhiều tư chất khác lồi động vật mà trong
đó là nổi bật với 3 tư chất chính, đó là: Trí tuệ, ngơn ngữ và lao động. Để tồn tại và
phát triển con người đã sử dụng 3 tư chất ấy để cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra các
công cụ, thức ăn quần áo, nhà ở, và hình thành hàng loạt các nguyên tắc quan hệ
với nhau, trong ứng xử giữa con người với con người, và từ đó tạo nên quan hệ lồi
người.
Và trong cái thiên nhiên thứ hai đó, con người dần dần tạo nên những chuẩn
mực đạo đức, những tục lệ, những truyền thống, những phương thức giữ gìn, nâng
cao kiến thức thu nhận được trong quá trình sản xuất, phát minh, sáng chế ra máy
móc phục vụ con người làm cho đời sống vật chất tinh thần của con người ngày
một nâng cao. Chính những giá trị vật chất, tinh thần mà con người tạo ra hướng
tới phục vụ ngày càng tốt hơn cho chính bản thân mình và cho cộng đồng được gọi
là văn hoá. Như Bác Hồ nói “Vì lẽ sinh tồn, cũng như mục đích của cuộc sống lồi
người mới sáng tạo ra ngơn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,
văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về, mặc, ăn, ở và phương
thức sử dụng nó. Tồn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hố”. Từ đó
có thể khái qt văn hố là tồn bộ những gì mà con người sáng tạo ra mang tính
người.
Yếu tố hàng đầu của văn hố là sự hiểu biết, bao gồm tri thức khoa học, kinh

nghiệm và sự khơn ngoan tích luỹ được trong qúa trình học tập, lao động, sản xuất
đấu tranh để duy trì và phát triển cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc và các
thành viên trong cộng đồng ấy. Nên ta có thể nói văn hố là biểu hiện trình độ phát
triển chung của xã hội.
Nhưng tuỳ thuộc vào những quan niệm, cách nhìn nhận ở những góc độ khác
nhau, trong thời gian, không gian nhất định, với từng cộng động người khác nhau
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 8


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

m cỏc khỏi nim vn hoỏ c hiu theo các nghĩa rộng hẹp khác nhau và cùng
với sự phát triển, văn hoá ngày càng chứa đựng nhiều nội dung phong phú, đa
dạng. Điều đó lý giải tại sao cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hoá
chứa đựng các nội dung rộng hẹp khác nhau, chẳng hạn như “ Văn hố hồ bình”,
“ Văn hố thái”, “ Văn hoá Khơme”, “ Văn hoá ấn”, “ văn hoá Hán”, “ Văn hoá
Pháp” …. hoặc theo nghĩa hẹp hơn văn hoá dùng để chỉ các sinh hoạt tinh thần
ngồi chính trị, kinh tế, xã hội như tơn giáo tín ngưỡng, văn nghệ, nghệ thuật.
Khi nói đến văn hố chúng ta phải đặc biệt chú ý đến hệ tư tưởng của nó, tức
là “hạt nhân” của văn hố. Chính hệ tư tưởng sẽ quy định kiểu, loại văn hoá của
chế độ xã hội này với chế độ xã hội khác, của giai cấp này với giai cấp khác.
Văn hoá XHCN là hướng con người ta đến cái chân, thiện, mỹ, đến sự ấm
no của cộng đồng, hạnh phúc cho mọi người dân lao động.
Văn hoá TBCN là thứ văn hoá mà giai cấp tư sản dùng để thống trị nơ dịch,
bóc lột người dân lao động, là bất bình đẳng trong xã hội.
Đối với nước ta, ngày từ khi mới ra đời Đảng ta đã coi trọng văn hoá, coi
văn hoá là một mặt trận. Đặc biệt trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ, Đảng
ta đã có một văn kiện nổi tiếng, đó là “Đề cương văn hoá Việt Nam” ra đời ngày
25/2/1943. Trong đề cương văn hoá Đảng ta đã đề ra mục tiêu tổng quát của cơng
cuộc xây dựng và phát triển văn hố Việt Nam là xây dựng một nên văn hoá mới,

một nên văn hoá dựa trên cơ sở độc lập, tự do, là nền văn hố phục vụ đơng đảo
quần chúng nhân dân lao động và có vị trí xứng đáng trong nên văn hoá chung của
nhân loại.
Như vậy văn hoá nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ tư tưởng của Chủ
nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất quyết
định sự khác biệt của hình thái văn hố XHCN với hình thái văn hố của các chế
độ khác.
Từ khi nhân thức lý luận cũng như kinh nghiệm trong hoạt đọng thực tiễn
của từng giai đoạn cách mạng, nhiệm vụ của văn hoá ngày càng đựơc xác định rõ.
NQ 04 của BCH TW Đảng khoá VII đã chỉ ra “ Nhiệm vụ trung tâm nhất của văn
hoá, văn nghệ nước ta là góp phần con người nước ta trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình
cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng ngang tầm sự nghiệp
đổi mới vì dân giàu nước mạnh, xã hội cơng bằng văn minh”.
Như vậy, cùng với các lĩnh vực khác liên quan đến sự phát triển toàn diện
của con người với tư cách vừa là động lực vừa mục tiêu của sự nghiệp cách mạng,
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 9


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

s nghip CNH- HH t nc. Vn hoỏ nc ta có nhiệm vụ vơ cùng nặng nề đó
là xây dựng con người Việt Nam phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, phát triển ngang tầm sự nghiệp đổi
mới đất nước vì dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng văn minh. Đó cũng chính
là truyền thống văn hoá dân tộc ta, truyền thống đạo lý của Tổ quốc chúng ta.
Bản thân của sự phát triển kinh tế cũng không phải chỉ do nhân tố kinh tế
đơn thuần tạo ra, mà kinh tế phát triển được còn nhờ đổi mới tư duy, sự hiểu biết
về khoa học kỹ thuật, áp dụng KHCN vào sản xuất và đới sống làm cho năng suất
lao động tăng lên.
Xu hướng chung của nhân loại tiến bộ ngày nay không chấp nhận chạy theo

tăng trưởng khinh tế đơn thuần mà phải hy sinh văn hoá, hy sinh con người mà họ
coi mục tiêu văn hố là sự phát triển tồn diện của bản thân con người, nâng cao
chất lượng sống cảu con người với tư cách là trọng tâm, là động lực của sự phát
triển. Vì vậy, mà nhiều nước trong đó có Việt Nam ta chủ trương chú trọng bảo tồn
và chấn hưng văn hoá dân tộc làm cơ sở cho việc xây dựng các mục tiêu nhân đạo
cao cả trong sự phát triển.
Như vậy chúng ta biết trong các cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, một đất
nước như Việt Nam ta, đất không rộng, người không đông, lại nghèo về kinh tế,
nhưng truyền thống yêu nước của dân tộc đã kết thành sức mạnh nhân chìm bè lũ
cứơp nứơc và bán nước. Chiến thắng của dân tộc ta trước hai đế quốc to lớn, giàu
có chính là động lực truyền thống văn hoá hàng ngàn năm của dân tộc, thể hiện ý
chí sự thơng minh về phương pháp cách mạng của người Việt Nam. Vậy thì, trong
xây dựng đất nước khơng có lý gì chúng ta lại khơng đi tìm động lực của sự phát
triển kinh tế và xã hội ngay trong truyền thống văn hoá của dân tộc ta.
Từ yếu tố cấu thành kể trên, chứng tỏ văn hố khơng đứng ngồi phát triển,
nó nằm bên trong, là nhân tố nội sinh, vừa là mục tiêu, vừa là động lực và hệ điều
tiết của phát triển.
Vì thế, khi xét đến vai trị, vị trí của văn hố đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội, chúng ta phải xem xét ở 3 khái cạnh sau đây:
 Thứ nhất: Văn hoá là mục tiêu của sự phát triển:
Phát triển kinh tế là làm ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, để giải quyết ăn, ở,
mặc và nhiều nhu cầu khác của con người, mà nhu cầu đó ngày càng phong phú và
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 10


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

cao hn, ú l mc tiờu trc mt. Mc tiêu sâu xa hơn là xây dựng xã hội tốt đẹp,
cơng bằng trong đó con người phát triển tự do, toàn diện.
Các nhà khoa học xác định mục tiêu của phát triển kinh tế là nâng cao chất

lượng sống của con người trong sự kết hợp giữa điều kiện vật chất và điều kiện
tinh thần, giữa mức sống cao và sống đẹp, vừa an tồn, bền vững khơng phải cho
một người mà cho nhiều người, không phải cho một thế hệ mà cho nhiều thế hệ. Vì
vậy, phải làm cho kinh tế bắt rễ sâu vào văn hoá. Đúng như ông Tổng giám đốc
UNESCO đã nói: “Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà
tách rời mơi trường văn hố thì nhất định sẽ xẩy ra sự mất cân đối nghiêm trọng cả
về mặt kinh tế lẫn văn hoá và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ suy yếu rất
nhiều”.
Quan niệm về mục tiêu phát triển như vậy phù hợp với phát triển lâu đời của
nhân dân lao động. Đó cũng là lý tưởng, là điều phấn đấu của của Chủ nghĩa xã hội
khoa học mà Đảng và Nhà nước ta đã áp dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của
đất nước ta trên con đường cơng nghiệp hố - hiện đại hố. Để đạt được mục tiêu
phát triển đó, tăng trưởng kinh tế dựa trên tiến bộ kỹ thuật và công nghệ hiện đại là
những phương tiện và điều kiện không thể thiếu. mà những tiến bộ kỹ thuật, công
nghệ hiện đại đó chính là văn hố. Vì vậy, sự kết hợp kinh tế và văn hoá, văn hoá
với phát triển là yêu cầu bức xúc của tất cả các nước trên thế giới, trong đó có Việt
Nam ta. Điều đó được khẳng định trong Đaị hội Đảng toàn quốc lần thứ VII là:
“Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều
nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người”.

Thứ hai: Văn hoá là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội
Chúng ta đã biết ngày nay nhiều quốc gia trên thề giới đã thấy được mối nguy
cơ, hiểm hoạ của sự phát triển không cân đối giữa kinh tế, tức là sản xuất những
giá trị vật chất vơí văn hố, lĩnh vực sản xuất ra những giá trị tinh thần. Thực tế
trên thế giới và trong khu vực cho thấy những quốc gia nào biết kết hợp hài hồ
giữa kinh tế với văn hố thì sẽ giải phóng được tiềm năng trí tuệ của con người làm
cho đất nước phồn thịnh, môi sinh, môi trường lành mạnh. Con người ở đó được
phát triển tự do và nảy sinh ra nhiều sáng tạo khoa học, cơng nghệ giúp cho đất
nước đó ngày càng phát triển mạnh mẽ, lên đỉnh cao. Ngược lại những quốc gia chỉ
lo phát triển kinh tế đơn thuần mà hi sinh nhân tố con người, sẽ làm cho con người

thui chột về trí tuệ. Họ chỉ biết sử dụng kỹ thuật nền văn minh nông nghiệp đơn
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 11


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

thun dn n cn kit ti nguyờn htiờn nhiờn, huỷ hoại mơi trường sinh thái, tạo ra
bình đẳng xã hội, phân cực giàu nghèo càng lớn, làm nảy nở các tệ nạn xã hội, làm
cho đất nước bị suy thoái.
Để tránh được hiểm hoạ do chỉ biết tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá thì phải
nhận thức lại con đường phát triển, phải tìm trong đó các đọng lực và nhờ có nó sẽ
làm cho sự phát triển đúng hướng, bền vững, đó chính là văn hố. Nói văn hoá là
động lực của sự phát triển kinh tế là vì văn hố giải phóng và nhân lên mọi tiềm
năng sáng tạo của con người trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội
mà trứơc hết là lĩnh vực kinh tế. Các nhà khoa học cho rằng để phát triển kinh tế
một cách bền vững, mạnh mẽ, lành mạnh, thì phải coi văn hố là một động lực
quan trọng khơng thể thiếu, văn hố là nguồn dinh dưỡng phong phú, đa năng của
phát triển kinh tế. Có thể ví văn hố là bầu sữa mẹ, kinh tế là đứa con, nguồn sữa
mẹ rất cần cho sự phát triển và miễn dịch của đứa bé.
Ta nói văn hoá là động lực của phát triển kinh tế xã hội, vì văn hố dựa trên
những tri thức khoa học, kinh nghiệm và sự khơn ngoan, nó sẽ làm nền và định
hướng ghúp con người chúng ta lựa chọn và xác định được một quy mơ hình phát
triển kinh tế đúng đắn, có hiệu quả.
Văn hố như chúng ta đã biết nó thiên chức hướng con người ta đến cái tốt,
cái đẹp, cái đúng, nó có khả năng phát huy được hết mọi tiềm năng sáng tạo của
con người, để giúp con ngưới có thể khai thác các tài nguyên thiên nhiên một cách
tốt nhất để phát triển kinh tế có hiệu quả. Văn hố có khả năng kế thừa phát huy
những giá trị truyền thống uư tú của dân tộc, bởi vậy nó mới có khả năng biến yếu
tố ngoại sinh như vốn, kỹ thuật công nghệ, phương pháp quả lýthành yếu tố nội
sinh để phát triển kinh tế. Những yếu tố ngoại sinh này chỉ có thể trở thành động

lực bên trong của sự phát triển kinh tế một khi chúng ta tiếp thu và vận dụng nó
phù hợp với điều kiện hồn cảnh đất nước mình, xã hội mình, trong đó trung tâm là
con người với các truyền thống văn hố. Vì vậy, một đường lối, chủ trương chính
sách đúng đắn phải là một đường lối, chủ trương, chính sách làm sao cho yếu tố
văn hố phải thấm vào trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, con
người. Cụ thể văn hoá phải nằm trong tư duy của những nhà chiến lựơc, văn hố
phải nằm trong sự tính tốn của các nhà hoạch địch chính sách, văn hố phải nằm
trong quản lý, trong sản xuất, trong giao tiếp, văn hoá ở mọi gia đình và ngồi xã
hội và văn hố phải nằm trong giao lưu, hợp tác quốc tế.
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 12


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

Cho nờn, ta núi rng hm lng trớ tu, hàm lượng văn hoá trong các lĩnh vực
hoạt động của con người càng cao bao nhiêu thì các đường lối, chủ trương, chính
sách vạch ra càng sáng rõ bấy nhiêu và sự phát triển mọi mặt của Đất nước càng
trở nên tốt đẹp bấy nhiêu.
Tóm lại: Trong thời đại ngày nay, nguồn gốc của sự giàu có, của sự phát triển
không chỉ là tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, kỹ thuật cơng nghệ, mà cịn là
tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người trong mỗi Quốc gia. Mà tiền năng
sáng tạo này lại nằm trong văn hoá, nghĩa là trong sự hiểu biết, trong tâm hồn,
đạo lý, lối sống, thị hiếu, thẩm mỹ và hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng động
dân tộc.
Nhân thức đước điều đó nên Đảng ta ln khẳng định “ Văn hố là nền tảng
của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”.

Thứ ba: Văn hoá là sự điều tiết của sự phát triển kinh tế - xã hội
Văn hoá phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của những nhân tố khách
quan và chủ quan, các điều kiện bên trong và bên ngoài đảm bảo sự phát triển kinh

tế xã hội được hài hoà, cân đối, bền vững.
Trong nền kinh tế thị trường cung, cầu là vấn đề trọng tâm, cạnh tranh là linh
hồn, giá cả là hạt nhân, do tác động của các quy luật này mà tính năng động, chủ
động của con người đựơc phát huy trí thơng minh, óc sáng tạo, kỹ năng nghề
nghiệp, những yếu tố quan trọng của con người văn hoá được khuyến khích, trân
trọng, đó là mặt tích cực, Nhưng mặt khác nếu để kinh tế thị trường phát triển một
cách tự phát thì mặt trái của nó sẽ làm cho bộ mặt dân cư sùng bái hàng hoá, coi
đồng tiền là trên hết, làm tha hoá nhân phẩm, đạo đức con người, xem nhẹ các giá
trị nhân văn.
Vì vậy, đối với nền kinh tế thị trường Nhà nước phải giữ vai trị quản lý và điều
tiết vĩ mơ bằng luật pháp và các chính sách theo định hướng XHCN. Cịn vai trị
của văn hố là điều tiết tinh thần của nền kinh tế thị trường, hạn chế mặt trái của
thị trường, làm cho nền kinh tế thị trường hướng đến mục tiêu nhân văn, nhân đạo,
biết kết hợp hài hồ lợi ích tập thể, cá nhân và Nhà nước con người.
Trong giao lưu quốc tế, văn hố đóng vai trò điều tiết đối với kinh tế đối ngoại,
và vậy văn hoá phải tiên phong trong việc làm nhân dân các nước trên thế giới gần
gũi, hiểu biết và xích lại gần nhau hơn. Bằng kiến thức, kinh nghiệm và khơn
ngoan, văn hố phải đóng vai trị định hướng và điều tiết các hoạt động liên doanh
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 13


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

nhm y nhanh y mnh phỏt trin kinh t của đất nước. Nhưng khơng vì lợi ích
trước mắt mà làm đi bản sắc văn hoá dân tộc, mất định hướng XHCN, để trở thành
con nợ của nước ngoài và không biến thành nơi cung cấp nguyên liệu, nhân công
rẻ mạt cho họ, không để trở thành bãi rác thải “Bao gồm cả kỹ thuật, cơng nghệ
văn hố của các nước khác.
Do vậy, chỉ có thể chấn hưng văn hố dân tộc theo yêu cầu của thời đại thì bản
thân văn hố mới có khả năng tự điều chỉnh để vượt qua các thử thách và nắm lấy

các cơ may vì phát triển nhanh, mạnh của đất nước.
Trong quan hệ với mơi trường tự nhiên, một mặt văn hố phê phán lối sống ích
kỷ cá nhân, lối sống tiêu thụ, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, làm ô nhiễm môi
trường sinh thái. Đồng thời động viên cổ vũ cho sự phát triển nền kinh tế trí tuệ,
tức là nên kinh tế dựa trên nền nguồn tài nguyên tái sinh. Mặt khác văn hoá phải
xây dựng được lối sống làm cho cân bằng được ước muốn cảu con người với sức
tải sinh thái của hành tinh chúng ta, hay nói cách khác xây dựng một chuẩn mực
sống, trong đó con người đối sử thiên nhiên nhân hoà hơn.
Từ những phân tích trên, ta thấy văn hố có vai trị vừa là mục tiêu, vừa là động
lực và hệ điều tiết trong phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng không nên vì thế mà cho
văn hố là vạn năng mà chuyển từ cực nọ sang cực kia. Trước đây vì quan niệm vì
kinh tế, cịn bây giờ lại tung hơ “Tất cả vì văn hố”. Cho nên khẩu hiệu đúng đắn
nhất mà đảng ta đã đề ra là: “Tất cả vì sự phát triển, nhằm mục tiêu dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng văn minh”.
1.2. Nghị quyết 05 hội nghị BCH TW Đảng khóa VIII về xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của BCH TW Đàng khố VIII có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam
trong thời kỳ mới. Đây là một nghị quyết lớn sâu sắc, toàn diện về lĩnh vực văn
hoá, là đề cương văn hoá thứ hai sau đề cương văn hoá năm 1943 của Đảng ta.
Nghị quyết là kết quả của sự nghiên cứu, tổng kết thực tiễn văn hoá nước ta
trong nhiều năm qua, nhất là sau 10 năm đổi mới, là sản phẩm trí tuệ của tồn
Đảng và phản ánh ý nguyện của toàn dân.
Để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống của nhân dân, thực hiện có kết quả ở
từng địa phương, từng ngành và trong phạm vi cả nước chúng ta phải nắm vững 5
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 14


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn


quan im c bn ó nờu trong Ngh quyt. Bởi vì các quan điểm đó là sự biểu
hiện tập trung đường lối văn hoá của Đảng, là tư tưởng chỉ đạo tồn bộ các hoạt
động văn hố ở nước ta. Nó vừa giúp cho hoạt động văn hố đI đúng phương
hướng chiến lược, vừa giải quyết tốt những vấn đề cụ thể đặ ra trong đời sống, mà
chúng ta cần lấy đó để làm căn cứ xem xét giải quyết các công việc, các hiện tượng
phức tạp trong thực tiễn đời sống văn hoá, hoạt động sáng tạo văn hố, lãnh đạo,
quản lý văn hố. Đó là 5 quan điểm sau đây:
1.2.1. Văn hoá là nền tảng tinh thần vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế

- xã hội.
Chăm lo văn hoá là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu
nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giảI quyết tốt mối quan
hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và cơng bằng xã hội thì khơng có sự phát triển
kinh tế xã hội bền vững. Xây dựng và phát triển phải nhằm mục tiêu văn hoá vì xã
hội cơng bằng văn minh, con người phát triển tồn diện, văn hố là kết quả của
kinh tế. Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã
hội trên mọi phương tiện chính trị, kinh tế, xã hội, luật phát, kỷ cương,… biến
thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển.
1.2.2. Nền văn hoá chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc

dân tộc.
Tư tưởng này đã được nêu trong Nghị quyết 4 của BCH TW Đảng (khoá VII).
Tiên tiến là yêu nứơc và tiến bộ là nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và
CNXH theo chủ nghiã Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhằm mục tiêu tất
cả vì con người, vì hạnh phúc và phát triển phong phú, tự do toàn diện của con
người trong mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự
nhiên. Tiên tiến không chỉ nội dung, tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện,
trong các phương tiện chuyển tải nội dung.
Bản sắc dân tộc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu

tranh dựng nước và giữ nước.
Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết và mở rộng giao lưu Quốc tế, tiếp thu chọ
lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hố các dân tộc khác. Giữ gìn bản sắc dân
tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán lề thói cũ.
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 15


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

1.2.3. Nn vn hoỏ Vit Nam l nn vn hoá thống nhất, đa dạng trong cộng đồng

các dân tộc Việt Nam.
Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái riêng,
Các giá trị và sắc thái bổ sung cho nhau, làm phong phú cho nền văn hoá Việt Nam
và củng cố sự thống nhất dân tộc, là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy
tính đa dạng văn hố của các dân tộc anh em.
1.2.4. Xây dựng và phát triển văn hố là sự nghiệp của tồn dân do Đảng lãnh

đạo.
Mọi người dân Việt Nam phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng
văn minh đều tham gia sự nghệp xây dựng và phát triển nền văn hố nước nhà.
Cơng nhân, nơng dân, trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền
tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá dưới sự lãnh đạo của Đảng,
quản lý Nhà nước. Đội ngũ tri thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá.
1.2.5. Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp cách mạng lâu dài, phải có ý

chí cách mạng và kiên trì thận trọng.
Bảo tồn và phát triển huy những di sản văn hoá tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo
nên những giá trị văn hoá mới, XHCN, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc

sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ,văn minh
là một quá trình cách mạng, đầy khó khăn, phức tạp địi hỏi nhiều thời gian. trong
cơng cuộc đó, “ Xây” đi đơi với “ Chống”, lấy “ Xây” làm chính.
Cùng với việc giữ gìn và phát triển những di sản văn hố q báu của dân tộc,
tiếp thu những tinh hoa văn hoá thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới,
phải tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng
cao tính chiến đâú, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hoá để thực hiện âm mưu
“Diễn biến hồ bình”.
Để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc, nghị quyết đề ra 10 nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
1/ Xây dựng con ngưòi Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những
đặc tính sau:
Có tính u nước, tự cường dân tộc.
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 16


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

-

Cú ý thc tp th, on kt, phn u vì lợi ích chung.

-

Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, tôn trọng kỷ cương phép
nước, quy ứơc của cộng đồng, có thức bảo vệ cải thiện mơi truờng sinh
thái.

-


Lao động lương thiện và lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo,
năng suất lao động cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

-

Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ cao chun mơn,
trình độ thẩm mỹ và thể lực
2/ Xây dựng mơ hình văn hố để tạo ra ở các đơn vị cơ sở, cơ quan, đơn vị,

trường học, … một đời sống văn hoá lành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hố đa dạng
và khơng ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân. Đẩy mạnh phong trào xây
dựng làng, ấp, xã, xã văn hố, gia đình văn hố, Thu hẹp dần khoảng cách đời sống
văn hoá giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng kinh tế phát triển với vùng sâu,
xung xa, … miền núi và hải đảo. Quan tâm xây dựng cuộc sống vật chất, chất
lượng hoạt động của các thiết chế văn hoá. Xây dựng một số cơng trình trọng điểm
tầm Quốc gia. Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hoá, nghệ thuật chuyên
nghiệp.
3/ Phát triển văn học nghệ thuật: Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm nghệ
thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Hướng văn nghệ nước ta phản ánh sinh
động chân thật và sâu sắc sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhân dân. Đấu
tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối văn nghệ của Đảng
4/ Bảo tồn và phát triển huy các di sản văn hố: Di sản là tài sản vơ giá gắn
kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản dân tộc. Hết sức coi trọng và bảo tồn, kế
thừa phát huy những giá trị văn hoá truyền thống. bao gồm cả văn hoá vật thể và
phi thể.
5/ Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và KHCN: phải thực sự coi đầu tư
cho giáo dục - đào tạo là quốc sách hang đầu. Coi trọng giáo dục đạo lý làm nguời,
ý thức trách nhiệm công dân, lối sống lành mạnh, ý thức vươn lên vì tương lai của
mỗi người và mọi người, bồi dưỡng ý thức gìn giữ giá trị văn hoá đan tộc, tiếp thu
tinh hoá văn hoá nhân loại.

Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, xây dựng hoàn chỉnh bộ giáo trình, sách giáo
khoa, nâng cao chất lượng giảng dạy các cán bộ mơn văn hố, lịch sử, ở các trường
phổ thông.
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 17


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

Hot ng khoỏ hc xó hi, nhõn vn, khoa học tự nhiên và cơng nghệ phải
góp phần đắc lực giải quyết các vấn đề bức xúc trong lĩnh vực văn hố.
6/ Phát triển đi đơi với quản lý tốt hệ thống tin đại chúng, sắp xếp và quy
hoạch hệ thống thơng tin, phát thanh, truyền hình, xuất bản. Thực hiện chiến lược
truyền thông Quốc gia phù hợp điều kiện nước ta và xu thế phát triển thông tin đại
chúng của thế giới. Đẩy mạnh thông tin đối ngoại.
7/ Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiếu sổ: Coi trọng và
bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống văn hoá, văn học, nghệ thuật của các
dân tộc thiểu số. Bảo tồn ngôn ngữ chữ viết của các dân tộc, đi đôi với việc sử
dụng ngôn ngữ chữ viết phổ thông, ưu tiên thiểu số, Thực hiện tốt chính sách phát
triển kinh tế xã hội ở vùng dân tộc thiểu số.
8/ Chính sách văn hố đối với tơn giáo: Tơn trọng tự do tín ngưỡng và
khơng tín ngưỡng của dân. Đảm bảo cho các tơn giáo hoạt động bình thường trên
cơ sở tơn trọng pháp luật, thực hiện nhất qn chính sách đại đồn kết dân tộc.
9/ Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hố: Làm tốt cơng tác giới thiệu văn hố
con người Việt Nam với thế giới, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân
văn, khoa học tiến bộ của nước ngoài. Ngăn ngừa sự xâm nhập các sản phẩm văn
hoá độc hại đồi truỵ, giúp cộng đồng Việt Nam sinh sống ở nước ngồi hiểu biết
tình hình đất nước, thu nhận sự đóng góp trí tuệ, tài năng vào công cuộc xây dựng
đất nước ta.
10/ Củng cố, xây dựng và hồn thiện thể chế văn hố, đảm bảo sự lãnh đạo
cảu Đảng, quản lý có hiệu quả của nhà nước, vai trò làm chủ của nhân dân và

những người hoạt động văn hoá, tạo sản phẩm văn hoá phong phú, đa dạng, theo
dịnh hướng XHCN. Nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hố hiện
có, đồng thời quan tâm đầu tư xây dựng các thiết chế văn hố ở cơ sở, hồn chỉnh
các văn bản pháp luật văn hoá về văn hoá.
- Nghị quyết cũng đề ra nhiệm vụ cấp bách đến năm 2008 là xây dựng tư
tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh trong xã hội, trước hết
trong các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng
gia đình. Kiên quyết loại bỏ những phần tử thoái hoá biến chất về đạo đức ra khỏi
tổ chức Đảng và cơ quan Nhà nước. Nghiêm trị bon tội phạm, ngăn chặn, đẩy các
hoạt động phản văn hoá, các sản phẩm văn hoá độc hại. Xây dựng nếp sống văn
minh trong việc cưới, việc tang, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Cải thiện đời sống văn
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 18


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

hoỏ nhng vựng i sng vn hoỏ quỏ thấp kém, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên
giới, hải đảo
- Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, Nghị quyết 5 của BCH TW Đảng
(Khoá VIII) đề ra 4 giải pháp chủ yếu sau đây:
1/ Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước
và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hố”.
- Bằng những hình thức tun truyền, làm chuyển biến nhận thức trong
Đảng và quần chúng nhân dân về sự cấp thiết, cấp bách của việc xây dựng, phát
triển văn hoá và trách nhiệm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ văn hố trong tình hình
mới.
Giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với phong trào thi đua yêu nước, thực hiện
CHN - HĐH đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, phát triển phong trào “
Toàn dân địan kết xây dựng đời sống văn hố”, huy động mọi lực lượng nhân dân
và hệ thống chính trị từ trên xuống, từ trong Đảng, cơ quan Nhà nước, cách đồn

thể quần chúng ra ngồi xã hội tích cực tham gia phong trào.
2/ Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính trị văn hố:
- Xây dựng, ban hành luật pháp, các pháp lệnh, các văn bản pháp quy để
điều chỉnh các hoạt động trên các lĩnh vực văn hoá.
- Bổ sung hòan thiện, xây dựng mới các quy chế, quy định về lễ hội, về việc
tang, cưới… khuyến khích nhân dân xây dựng quy ứơc về nếp sống văn hố, …
- Xây dựng hồn thiện các chính sách, nhằm gắn văn hoá các hoạt động kinh
tế. Thực hiện cơ chế mở rộng hoạt động kinh doanh, dịch vụ văn hoá, thể thao, tạo
nguồn thu hỗ trợ cho các hoạt động của các đơn vị văn hoá, nghệ thuật. Trợ giá cho
một số báo chí, văn hố phẩm đưa ra nước ngồi nhằm mục đích tun truyền đối
ngoại.
- Ban chấp hành chính sách văn hố trong kinh tế, chính sách xã hội hố
hoạt động kinh tế. Chính sách bảo tồn, phát huy di sản văn hố dân tộc, chính sách
khuyến khích sáng tạo trong các hoạt động văn hố. Xây dựng và ban hành các
chính sách đặc thù hợp lý, hợp tình cho nhưng loại đối tượng xã hội cần được ưu
đãI tham gia và hưởng thụ văn hoá, ban hành các chính sách cụ thể về hợp tác quốc
tác quốc tế trong các lĩnh vực văn hố, thơng tin.
3/ Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho các hoạt động văn hoá: Tăng
mức đầu tư cho văn hoá từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 19


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

ngõn sỏch Nh nc. Thc hin chng trỡnh cú mục tiêu về văn hố, nhằm đầu tư
có trọng điểm, giảI quyết các vấn đề có tính cấp bách.
Củng cố hồn thiện có tổ chức bộ máy cán bộ của các cơ quan lãnh đạo,
quản lý tham mưu nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ văn hố nghệ
thuật, thơng tin, báo chí, xây dựng, thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ văn hoá.
4/ Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hoá. Yêu cầu xây

dựng và hiệu qủa đất nước trong giai đoạn mới đòi hỏi Đảng ta pahỉ tăng cường và
nâng cao tầm lạnh đạo trên lĩnh vực văn hoá. Trước hết phải nâng cao nhận thức
về vai trò đặc biệt quan trọng của văn hoá trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố
con người, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa.Thường xuyên chăm lo giáo
dục, nâng cao nhân thức, hiệu biết về lý tưởng cách mạng, chủ nghĩa Mác - LêNin
và tư tưởng Hồ Chí Minh và chú trọng kết nạp vào hàng ngũ của Đảng trong đội
ngũ tri thức, văn nghệ sỹ ưu tú.
Đổi mới phương thức lãnh đão của Đảng để cho văn hoá, văn học nghệ thuật
phát triển đúng hướng.
Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hoá, xây dựng văn hoá từ trong Đảng,
trong bộ máy Nhà nước như Bác Hồ đã dạy “ Đảng là đạo đức, là văn minh”
Tiến hành sinh hoạt chính trị tự phê bình và phê bình về tư tưởng đạo đức,
lối sống trong Đảng toàn Đảng và bộ Máy Nhà nước, trước hết là trong đội ngũ cán
bộ lãnh đạo và quản lý.
1.3. Xây dựng và phát triển văn hoá ở huyện Nam Đàn (Nghệ An) là nhiệm
vụ vừa mang tính cơ bản lâu dài, vừa mang tính cấp bách.
Hiếm có 1 vùng q nào trên đất nước ta lại có vị địa lý lý đẹp một cách đặc
biệt như ở Nam Đàn. Nơi đây người dân bản địa quần tụ trong vùng, xung quanh
bao bọc bởi dãy núi Thiên Nhẫn và Đại Huệ khép lại, tạo nên một lịng chảo khổng
lồ, có lẽ do khí thiêng sông núi nơi đây mà vùng đất “ Địa linh” này đã hun đúc
nên nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân, khoa bảng, với những con người nổi tiếng
như Mai Hắc Đế, Phan Bội Châu, Tống Tất Thắng, Vương Thúc Qúy, Nguyễn Văn
Giao, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Sinh Sắc, …và đặc biệt vượt ra tầm Quốc gia đó
là Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hố
thế giới được cả lồi người tiến bộ ngưỡng mộ.
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 20


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn


Trong Ngh quyt k nim 100 nm ngy sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh của
UNESCO có đoạn viết “Chủ tịch Hồ Chí Minh là tượng trưng ưu tú cho sự khẳng
định dân tộc, đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc cuả nhân
dân Việt Nam, góp phần vào cơng cuộc đấu tranh chung của các dân tộc, vì hồ
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Sự cống hiến quan trọng và đa
dạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục và văn nghệ thuật
đã kết tinh cuả truyền thống văn hoá lâu đời của nhân dân Việt Nam. Lý tưởng của
Người thể hiện nguyện vọng của các dân tộc trong sự khẳng định bản sắc văn hố
cuả mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.
Hẳn rằng quê hương và sông núi Nam Đàn đã góp phần khơng nhỏ vào sự
khẳng định bản sắc văn hố dân tộc ở Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Chính vì ngưỡng mộ Người, biết ơn Người muốn tìm hiểu về mảnh đất đã
sinh ra con người vĩ đại - Chủ tịch Hồ Chí Minh mà hàng năm huyện Nam Đàn
được đón tiếp các vị lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta và nhiều nước trên thế giới
viếng thăm, hàng chục vạn lượt khách trong và ngoài nước tham quan tìm hiểu q
hương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tên làng, tên núi, tên sông gắn với thời thiếu niên
của Bác đã trở nên thân thuộc với nhân dân trong nước và nhiều nước trên thế
giới.Vì vậy, việc xây dựng và phát triển văn hố của huyện khơng chỉ như những
địa phương khác mà phải xây dựng và phát triển văn hoá tinh thần, văn hoá vật
chất ngang tầm với vị thế của huyện, tiêu biểu cho văn hoá của cả nước.
Nhằm nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân trong huyện, việc xây dựng,
phát triển văn hoá phải gắn chặt với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã
hội của huyện, làm cho văn hoá trở thành động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát
triển, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quýêt Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VIII, Nghị quyết tỉnh Đảng bộ Nghệ An lần thứ XIV và Nghị quýêt Đaị hội huyện
Đảng bộ Nam Đàn lần thứ XXII.
Việc xác định nội dung và tổ chức xây dựng phát triển văn hoá một cách
đúng đắn, phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội của huyện, tâm lý, phong tục tập
quán của nhân dân, đảm bảo sự định hưóng của Đảng và Nhà nước sẽ có ý nghĩa
hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực hoạt động của huyện. Mặt khác, xây dựng và

phát triển văn hoá trong giai đoạn hiện nay nó vừa đáp ứng thỗ mãn nhu cầu đời
sống tinh thần, nâng cao dân trí góp phần vào cuộc sống cơng nghiệp hố - hiện đại
hố Đất nước, mà cịn có tác dụng hình thành nhân cách con người Nam Đàn trong
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 21


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

c ch th trng, ú l xõy dng con người Nam Đàn quê hương Chủ Tịch Hồ Chí
Minh sống có lý tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ HUYỆN NAM
ĐÀN TRONG NHỮNG NĂM QUA
2.1.

Vài nét về huyện Nam Đàn - Một vùng quê “địa linh nhân kiệt”

Huyện Nam Đàn nằm ở hạ lưu Sông Lam. Xưa là trung tâm của Bộ Việt
Thường thuộc nước Văn Lang, thời An Dương Vương Nam Đàn thuộc Bộ Việt
Thường. Trước và sau thế kỷ thư nhất là đất của huyện Cửu Đức, huyện Cửu Đức
thời ấy bao gồm các huyện Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương và một phần
huyện Đô Lương ngày nay.
Năm 938, Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán mở ra thời kỳ tự chủ cho đất
nước ta.Nhà Ngô, rồi nhà Đinh và Tiền Lê đều bơ chế độ quận huyện. Định Tiên
Hoàngchia nước làm 10 đạo. Lê Hoàn đổi 10 đạo làm lộ, phủ, châu. Đời Trần –
Hồ, Hoan Đường đổi thành Thạch Đường. Thời thuộc Minh, Thạch Đường chia
làm 3 huyện nhỏ là Thạch Đường, Kệ Giang và Sa Nam, Sa Nam thời nay là lỵ sở
của huyện Sa Nam thời đó.
Năm 1427 nhà Lê chia nước thành 5 đạo, Nam Đàn nằm trong đạo Hải Tây
thời đó. Năm 1469 Lê Thánh Tơng định lại bản đồ từ Bắc chí Nam để thơng thuộc

các châu, phủ, lộ vào các Thừa tuyên, mới nhập cả Hoan Châu cũ và Diễn Châu cũ
làm một gọi là Nghệ An Thừa tuyên. Thời gian này huyện Nam Đàn được gọi là
Nam Đường. Đến năm Đồng Khánh thứ I (1866), Vì Kỵ Huý ( Tên huý Đồng
Khánh là Nguyễn Phúc Đường ) đổi Nam Đường thành Nam Đàn .
Sau cách mạng tháng 8, năm 1948 Nam Đàn chia thành 10 xã lớn. Năm 1945
Nam Đàn được chia thành 33 xã và 1 thị trấn, Năm 1969 các đơn vị hành chính
được điều lại, ngồi việc nhập một số xã, có 2 mới được thành lập. Hiện nay Nam
Đàn có 23 xã vá 1 thị trấn, phía Đơng giáp huyện Hưng Nguyên, phía Tây giáp
huyện Thanh Chương, phía Nam giáp huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh ), phía Bắc giáp
huyện Nghi Lộc, Đô Lương.
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 22


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

Nam n cú din tớch t nhiờn l 29.600 ha, xung quanh bao bọc bởi hai dãy
núi Thiên Nhẫn và Đại Huệ tạo thành một lòng chảo khổng lồ. Núi Thiên nhẫn
nằm ở phía Tây của huyện Nam Đàn, Thiên nhẫn là nơi “Quỷ tà long thế cực nam
minh. Thiên nhẫn sơn thanh, thuỷ cộng thanh” (Nguyễn Thiếp), nghĩa là mảnh đất
Phủ Quỳ, Phủ Trà đi mãi đến biển Nam, núi Thiên nhẫn xanh, nứơc cũng xanh.
Dãy núi hùng vĩ gồm 999 ngọn án ngữ cả một phương trời ấy có nhiêu cảnh nên
thơ.
Núi Đại Huệ nằm ở phía Đơng Bắc huyện Nam Đàn. Trên đỉnh Đại huệ có
động Thăng Thiên, trong động có chùa Đại Tụê, tục truyền chùa này do Hồ Quý
Ly lập nên để thờ Phập bà Đại Hụê, người đã giúp Hồ Quý Ly xây thành Đại hụê
làm nên căn cứ chống giặc giữ nước.
Lam Giang (sông cả) chạy từ Tây sang Đông chia huyện Nam Đàn thành 2
phần: Hữu ngạn sông Lam gồm 8 xã, tả ngạn gồm 15 xã và thị trấn. Chính dịng
sơng Lam đã làm giàu cho nơng nghiệp Nam Đàn và tạo nên cảnh sơn thuỷ hữu
tình mà ai đã một lần đến Nam Đàn thì khó qn được.

Do những kiến tạo lịch sử tự nhiên mà Nam Đàn có vị trí chiến lược quan
trọng, là huyết mạnh giao thơng từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây. Trong những
năm đánh Pháp và Mỹ, Nam Đàn là hậu phương từ đây chuyển tảI quân lương sang
nước ban Lào, vào Nam theo đường mịn Hồ Chí Minh. Ngày nay, trong phát triển
kinh tế Nam Đàn có nhiều thuận lợi, về giao thơng có đường quốc lộ từ Vinh qua
Nam Đàn đi các huyện phía Tây, sang nước ban Lào, có tỉnh lộ 30 nối Nam Đàn,
Đô Lương nhập vào Quốc lộ 7 đi các huyện phái tây Bắc Nghệ An và sang Lào.
Quốc lơ 15A một phần của đường mịn Hồ Chí Minh đI qua Hà Tịnh vào các tỉnh
miền Nam.
Về đường thuỷ có sơng Lam , sơng Đào. Sơng Lam có thể dùng cho tàu
thuyền vài ngàn tấn từ cảng Bến Thuỷ lên bến Sa Nam thuận lợi. Những năm gần
đây phong trào làm đường nhựa, đường bê tông, kiên cố hố kênh mương nên giao
thơng ở các xã và liên xã khá thuận tiện. Các phương tiện giao thông như ô tô tải,
xe khách từ trung tâm huyện, từ đường QL 46 về được đến tận các xã.
Về dân số, theo số liệu Tổng điều tra dân số 1/4/2006 thì số hiện nay của
huyện là 153.973 người được phân bổ khá đều ở xã và thị trấn. Là một huyện đồng
bằng bán sơn đại nên kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Những năm gần đây
nhờ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng nên kinh tế xã hội của huyện có nhiều
khởi sắc, cơ cấu kinh tế đang được chuyển dịch theo hướng CNH - HĐH, nhiều
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 23


Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

nghnh ngh, TTCN c phỏt trin, nn kinh t trước đây chủ yếu là do tự cung,
tự cấp, nay phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Các hoạt động thương mại
dịch vụ phát triển mạnh.
Cư dân Nam Đàn thuần nhất, hầu hết là người Kinh, khoảng 10% theo đạo
Thiên chúa, 2% đạo phật, các phong tục, tập quán cũ trong ma chay, cưới hỏi đã cơ
bản được xoá bỏ.

Trình độ dân trí thường xun được nâng lên, tồn huyện đã phổ cập tiểu học
vào năm 1993, hiện coa 22/24 xã đạt tiểu chuẩn phổ cập THCS, vào năm 2009
huyện Nam Đàn sẽ hoàn thiện phổ cập giáo dục bậc THCS, Tất cả các yếu kinh tế,
xã hội mà huyện Nam Đàn giành được trong hơn 10 năm đổi mới đã làm cho bộ
mặt nơng thơng có khởi sắc. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được
nâng cao lên đáng kể.
Nam Đàn là một miềm đất giàu truyền thống lịch sử văn hố. Địa hình Nam
Đàn trông như một con Đại bàng khổng lồ đang bay, có người khi nhìn vào đã ví:
“ Nam Đàn vị thể phượng hoàng phi.
Ứng thế Lam Giang tung hoành chi.
Sơn luỹ lưu danh bao thời thế
Địa linh nhân kiệt huyệt văn thi”
Và người xưa cũng đã tổng kết Nam Đàn là mảnh đất “ Cổ lai đa hào kiệt,
trùng lai danh thắng địa”.
Người Nam Đàn thế hệ này đến thế hệ khác đã ni dưỡng, hình thành ý thức
về quốc gia dân tộc một cách bên vũng, dũng cảm bất khuất chống giặc ngoại xâm,
bảo vệ Tổ quốc, Sử sách đã nghi lại:
- Năm 722 trong đoàn phu tải vải đi cống nạp cho nhà Đường bên Trung
quốc có Mai Thúc Loan. Thấy cảnh dân phu vô cùng khổ cực, Mai Thúc Loan đã
vận động dân phu nổi dậy giết bon quan, lính áp tải làm lễ tuyên thệ “ Dốc chí phục
thù, giết bon giặc để cứu nước; và tơn Mai Thúc Loan làm chủ sối. Mai Thúc
Loan Kéo quân về Sa Nam xây thành luỹ để chống giặc nhà Đường, ông đã tập
hơn được trên 30 vạn quân, đánh nhiều trận giết nhiều quân tướng nàh Đường. Ông
xưng Đế và lấy Van An (Vân Diên ngày nay) làm cố đô ( 722- 726).
Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng đó là cuộc khởi nghĩa lớn nhất nước ta
hồi đó, nó đã tạo dược sựu liên minh nhiều Quốc gia để đánh nhà Đường, làm cho
triều đình nhà Đường phải nhiều phen khốn đốn. Ngay sau đó nhà Đường phải bỏ
hẳn lệ tiến công Vải và thay đổi một số chính sách cải trị dân ta.
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 24



Xây dựng và phát triển đời sống văn hoá huyện Nam Đàn

- T nm 1125 - 1225: Gn 1 th kỷ dưới triều Lý, nhân Nam Đàn đã góp
phần đánh tan quân Cham pa sang quấy nhiễu. Đến Độc lôi ở núi Mượu còn thờ
một viên tướng họ Phạm người huyện Nam Đàn có cơng đành giặc giữ nước.
- Đến cuối thể kỷ thứ XIV nhà Trần khủng hoảng, sau thất bạo của đạo
qn Trần duệ Tơng ở phía Nam, một cựu thần nhà Trần Húc đầu hàng quân
Chăm pa. Tên vua nguỵ nàylập triều Đường tai long Môn ( Xã Hồng Long ngày
nay), lấy đây làm kinh đô để chống nhà Trần. Nhân Dân Nam Đàn dưới sự chỉ huy
của tướng Nguyễn Đắc Đài đã tấn công dẹp bỏ thành Long Môn, Buộc Trần Húc
tự Vẫn.
- Năm 1403 Hồ Quý Ly chống quân xâm lược nhà Minh, nhân dân Nam Đàn
đã tích cực ủng hộ, xây thành núi trên Đại Huệ để chống giặc.
- Nam Đàn cũng đã được nghi vào lịch sử vef một chiến tích chống quân
Minh xâm lược, tại đây Lê Lợi đã chọn dãy núi Thiên Nhẫn làm bực thành trấn ảI
xây dựng thành Lục Niên chống giặc Minh. Bởi vì đây “Đất giáp ba sơng biển, núi
hình ngàn ngựa phi. Chương hương chia hai ngả, làm phố hợp ba chi; Hoan, Đức
khoe trấn hiểm, Trà, cao giữ biên thuỳ” (Thơ Bùi Dương Lịch, dẫn theo La Sơn
Phu Tử của Hoàng Xuân Hãn).
- Từ năm 1460 -1497, các tộc người pháI Nam, phía Tây thường tràn sang
lãnh thổ Đất Việt quấy nhiễu, ở Nam hoa thượng ( Nam Đàn) có tiến sỹ Tống Tất
Thắng giữ chức Lại bộ Thượng thu, kiêm chức Cẩm trung, điều khiển 1 đạo qn
đI bình định phía tâu giữ n cõi Đại Việt.
- Năm 1788 trong lần ra Bắc thứ 2, Nguyễn Huệ đã vượt Truông Băng Nam
Đàn, chiêu tập thêm quân sỹ, ở Nam Đàn có hàng ngàn người xin theo phị Quang
Trung lập được nhiều chiến cơng hiển hách như Lê Đình Cai và chính trong lần ấy
Nguyễn Huệ đã đổi núi Đại Tuệ thành Đại Huệ.
Chỉ tại một mảnh đất nhỏ của Nam Đàn mà bao sự kiện của lịch sử nước nhà
đã in dấu, đI qua: Hành cung Nam Đàn hoa của Trần Trùng Quang, thành Lục niên

của Lê Lợi, Viện Sùng chính của vua Quang Trung do Nguyễn Thiếp Đứng đầu.
Những chứng tích lịch sử sâu vào lòng người, vào quê hương những dấu son truyền
thống, tạo cho con người Nam Đàn niềm tự hào sâu sắc.
Trong kháng chiến chống Pháp, hưởng ứng chiếu Cần Vương, khởi nghĩa
của Phan Đình Phùng, nhiều sỹ phu Nam Đàn đã giác ngộ nhân dân giúp vua đánh
giặc, hàng ngàn người tham gia đánh giặc của Hồ Duy Cương, Nguyễn Sỹ, Nguyễn
Văn Đỉnh, Trần văn Tài, nghĩa quần đã huyết chiến với Pháp ở cầu Phù Đổng,
Hồ Thị Thái_Qlvh 6A 25


×