TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT
XÂY DỰNG LỐI SỐNG ĐẸP CHO THANH NIÊN XÃ VĨNH
HỊA, HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Trần Thu Nhung
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Thị Phượng
Lớp
: QLVH 10B
Hà Nội – 2013
1
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, để hồn thiện khóa luận, em xin gửi lời tri ân đến ban giám
hiệu trường Đại học Văn hóa Hà Nội cùng tất cả giảng viên khoa Quản lý
văn hóa – nghệ thuật của trường đã cho em hành trang tri thức để bước
những bước đi đầu tiên cho công việc sau này.
Em xin cảm ơn Thạc sĩ Trần Thu Nhung – giảng viên trực tiếp hướng
dẫn khóa luận. Cơ đã giúp em từng bước để hồn thiện khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ủy ban Nhân dân xã Vĩnh Hòa,
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, các phòng ban trong xã đã tạo điều kiện
cung cấp tài liệu giúp em hoàn chỉnh nội dung khóa luận.
Trong q trình viết khóa luận, mặc dù đã cố gắng nghiên cứu, khảo
sát, thu thập tài liệu xong nội dung khóa luận vẫn cịn nhiều hạn chế về mọi
mặt, em rất mong được các thầy cô giáo cùng với người đọc góp ý thêm để
bài khóa luận của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên
Nguyễn Thị Phượng
2
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân văn hóa “Xây dựng lối sống đẹp cho thanh
niên xã Vĩnh Hòa, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương trong giai đoạn hiện
nay” là cơng trình của riêng tơi, những vấn đề nghiên cứu trong khóa luận
này là trung thực và chưa cơng bố trong bất kì cơng trình nào khác.
Hà Nội, ngày tháng
năm 2013
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Phượng
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................. 6
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ........................................ 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 8
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 8
5. Đóng góp của đề tài. ............................................................................. 8
6. Bố cục của đề tài................................................................................... 9
CHƢƠNG 1 : CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN .....................................10
1.1. Lối sống và một số khái niệm liên quan tới lối sống .........................10
1.1.1. Lối sống......................................................................................10
1.1.2. Nếp sống.....................................................................................15
1.1.3. Thói quen ...................................................................................15
1.1.4. Tập quán ....................................................................................16
1.1.5. Tục lệ..........................................................................................16
1.1.6. Phong tục ...................................................................................16
1.1.7. Lẽ sống .......................................................................................16
1.1.8. . Phong cách sống ......................................................................16
1.2. Lối sống đẹp .....................................................................................17
1.3. Lối sống của thanh niên ....................................................................17
1.4. Thanh niên ........................................................................................17
1.5. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng lối sống đẹp cho
thanh niên. ...............................................................................................18
CHƢƠNG 2: LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN XÃ VĨNH HÒA HIỆN
NAY ...........................................................................................................20
2.1. Khái quát về xã Vĩnh Hịa .................................................................20
2.1.1. Vị trí địa lí ..................................................................................20
2.1.2. Tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội..............................20
2.2. Thực trạng lối sống của thanh niên xã Vĩnh Hòa hiện nay ................23
2.2.1. Những biểu hiện tích cực trong lối sống của thanh niên xã Vĩnh
Hòa hiện nay. .......................................................................................23
2.2.2. Những biểu hiện tiêu cực trong lối sống của thanh niên xã Vĩnh
Hòa hiện nay ........................................................................................26
2.3. Nguyên nhân của những biểu hiện lệch lạc trong lối sống của giới trẻ
xã Vĩnh Hòa ............................................................................................33
2.3.1. Nguyên nhân chủ quan ...............................................................33
4
2.3.2. Nguyên nhân khách quan............................................................35
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XÂY DỰNG LỐI
SỐNG ĐẸP CHO GIỚI TRẺ XÃ VĨNH HÒA TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY ................................................................................................42
3.1. Nâng cao vai trị của tổ chức Đảng và chính quyền địa phương trong
việc xây dựng lối sống đẹp cho thanh niên ..............................................42
3.2. Tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho thanh niên trong xã Vĩnh Hòa ................ 43
3.3. Tăng cường vai trị của gia đình trong việc xây dựng lối sống đẹp cho thanh niên
.................................................................................................................................. 44
3.4. Đổi mới giáo dục lối sống, đạo đức trong nhà trường theo hướng thiết thực, hiệu
quả hơn ..................................................................................................................... 46
3.5. Phát huy vai trò của xã hội trong việc xây dựng lối sống đẹp cho thanh niên ....... 48
3.6. Xây dựng cơ sở vật chất tạo sân chơi lành mạnh cho thanh niên.......................... 51
3.7. Tăng cường cơng tác tun truyền vận động trong tồn dân để xây dựng lối sống
đẹp cho thanh niên ..................................................................................................... 52
3.8. Nâng cao vai trò tự giáo dục, rèn luyện của thanh niên trong việc xây dựng lối
sống đẹp .................................................................................................................... 52
3.9. Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự giáo dục của thanh niên bằng những hoạt
động thực tiễn, thiết thực và hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh ............................. 53
KẾT LUẬN ...............................................................................................55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................56
PHỤ LỤC 1 ...............................................................................................58
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay đất nước ta đang tiến hành đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm. Thực chất
của đổi mới kinh tế là chuyển từ cơ chế bao cấp của nhà nước sang nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của nhà
nước, đã mở ra một giai đoạn phát triển mới cho đất nước. Cơ chế thị trường
kích thích sự phát triển kinh tế, nâng cao tổng lợi xã hội, tạo điều kiện cho
sự phát triển con người về mọi mặt. Trong giai đoạn phát triển này thì khơng
thể kể đến vai trị của giới trẻ - thế hệ sẽ kế tiếp những truyền thống tốt đẹp
của cha ông trong sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng và
văn minh. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi sang cơ chế thị trường như hiện
nay thì lối sống, cách nghĩ của thanh niên cũng biến chuyển theo. Nền kinh
tế thị trường đã làm sống động nền kinh tế và các hoạt động xã hội đã có tác
động trực tiếp đến đời sống văn hóa xã hội. Bên cạnh ảnh hưởng tích cực thì
mặt trái của kinh tế thị trường và “mở cửa” tác động không nhỏ đến đạo đức
lối sống xã hội, đặc biệt là lối sống của thanh niên.
Thanh niên là lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng và phát triển đất
nước. Họ năng động, sáng tạo, tràn đầy nhiệt huyết và sức trẻ; họ có được
rất nhiều yếu tố cần thiết để phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Tuy nhiên, hạn chế của thanh niên thường nhận thấy: vốn sống cịn ít, thiếu
sự từng trải nên cách nhìn nhận vấn đề, giải quyết sự việc, lựa chọn giá trị ở
họ thường mang tính chủ quan, phiến diện lại chịu ảnh hưởng tiêu cực của
cơ chế thị trường và sự hội nhập quốc tế. Trong khi đó việc hướng dẫn đối
tượng này lựa chọn những giá trị văn hóa, lối sống văn hóa lại chưa được
6
chú trọng đầy đủ nên họ dễ bị lôi kéo, bị ảnh hưởng lối sống khơng văn hóa,
phản văn hóa, khơng có sức đề kháng chống lại những phản văn hóa. Đó là
hiện tượng suy thối đạo đức, như lối sống gấp, kích động bạo lực, sống thử
trước hơn nhân, thèm khát vật chất, coi nhẹ giá trị tinh thần, quay lưng lại
với văn hóa truyền thống của dân tộc đang là vấn đề nổi cộm trong lối sống
của thanh niên hiện nay.
Cùng với sự phát triển của đất nước trong thời kì cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa, xã Vĩnh Hòa (huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương) đã từng
bước thay da đổi thịt, làm nên một diện mạo mới cho quê hương. Tuy nhiên,
sự phát triển ấy cũng đi đôi với việc suy thoái trong đạo đức, lối sống của
một bộ phận người dân. Hiện nay, Vĩnh Hòa đang là một điểm nóng về tệ
nạn xã hội, về sự lệch chuẩn các giá trị đạo đức va sự tha hóa trong lối sống
của một bộ phận người dân, đặc biệt là thanh niên.
Là một người con của xã Vĩnh Hòa, đứng trước thực trạng này, em đã
chọn “xây dựng lối sống đẹp cho thanh niên xã Vĩnh Hòa, huyện Ninh
Giang, tỉnh Hải Dương” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của
mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích: Nhằm đóng góp ý kiến cho việc xây dựng lối sống đẹp cho
giới trẻ xã Vĩnh Hịa
- Nhiệm vụ: để thực hiện được mục đích trên, đề tài cần giải quyết các
vấn đề sau:
Lựa chọn những vấn đề có liên quan tới lối sống và xây dựng lối sống
đẹp cho thanh niên.
7
Đánh giá thực trạng lối sống của thanh niên xã Vĩnh Hòa trong giai
đoạn từ năm 2006 tới nay. Phân tích và tìm ra ngun nhân của những biểu
hiện tiêu cực trong lối sống của thanh niên nơi đây.
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để xây dựng lối sống đẹp cho
thanh niên Vĩnh Hòa.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lối sống của giới trẻ trong xã Vĩnh Hòa
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu đối tượng thanh niên xã Vĩnh Hòa từ
năm 2006 tới nay
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, điền dã thực địa
Phương pháp này giúp cho việc sưu tầm, thu thập tài liệu, số liệu thêm
phong phú, xác thực; đồng thời, phương pháp thực địa giúp kiểm chứng lại
những số liệu, tài liệu có liên quan, từ đó có những đánh giá xác thực hơn và
làm cơ sở cho các phương pháp khác.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh
Phương pháp này sử dụng để thống kê tài liệu, số liệu, các thông tin
thu thập được từ thực tế, từ thư viện hay từ các nguồn khác… rồi phân tích,
xử lý và lựa chọn tổng hợp theo yêu cầu của khóa luận.
5. Đóng góp của đề tài.
Đề tài nêu lên vấn đề khá nóng trong xã Vĩnh Hịa nói riêng cũng như
trong cả nước nói chung; góp phần thức tỉnh giới trẻ, hướng họ vào lối sống
tích cực hơn.
Đóng góp một số ý kiến cho việc xây dựng lối sống mới cho giới trẻ xã
Vĩnh Hòa
8
Là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm, nghiên cứu về vấn đề này.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục ảnh,
đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Các khái niệm liên quan đến lối sống đẹp
Chương 2: Lối sống của giới trẻ xã Vĩnh Hòa hiện nay
Chương 3: Một số đề xuất giải pháp xây dựng lối sống đẹp cho thanh
niên xã Vĩnh Hòa
9
CHƢƠNG 1
CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1. Lối sống và một số khái niệm liên quan tới lối sống
1.1.1. Lối sống
Theo Lê Đức Phúc: “Lối sống là khái niệm dùng để chỉ tồn bộ những
hình thức hoạt động mang tính ổn định, đặc trƣng cho cá nhân hay
nhóm. Những hình thức này đƣợc quy định bởi trình độ nhận thức về lẽ
sống cũng nhƣ điều kiện thỏa mãn những nhu cầu liên quan đến giá trị
văn hóa.”
Có thể nói, lối sống là một hình thức biểu hiện của văn hóa. Nói đến
lối sống là nói đến cả khía cạnh văn minh nhân loại và truyền thống của một
dân tộc, cả các giá trị phổ quát và cả các giá trị phù hợp với điều kiện lịch sử
của từng thời kỳ nhất định. Lối sống hiểu một cách chung nhất là một tập
hợp những nét cơ bản, tiêu biểu, ổn định của các hình thức hoạt động sống
đặc trưng cho mỗi dân tộc, quốc gia, vùng địa lý, nhóm xã hội và cá nhân
trong những điều kiện chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội cụ thể. Đó là cách
thức hoạt động, ứng xử của chủ thể (cá nhân, tập thể) để đáp ứng nhu cầu
sống, từ ăn, mặc, ở, đi lại, tái tạo giống nòi đến học hành, vui chơi, giao tiếp
và thoả mãn nhu cầu trí tuệ, thẩm mỹ, v.v.; từ hoạt động kinh doanh, chính
trị, văn hoá đến việc tổ chức đời sống cá nhân, gia đình và xã hội.
Lối sống người Việt Nam được hình thành do điều kiện địa lý, kinh tế,
chính trí, trước hết là tâm lý và văn hoá dân tộc Việt Nam. Vì vậy, lối sống
người Việt Nam chính là sự hoá thân của các đặc điểm truyền thống dân tộc,
mang những nét riêng bản sắc con người và văn hoá Việt Nam.
Có nhiều yếu tố cấu thành nên lối sống, có thể kể ra một vài thành tố
quan trọng nhất của nó như: Cách thức lao động, làm ăn, kinh doanh; Các
10
phong tục tập quán; cách thức giao tiếp ứng xử của con người với con người,
của con người với thế giới xung quanh; quan niệm về nhân cách và đạo đức.
Như vậy, lối sống chịu sự quy định của phương thức sản xuất xã hội
và toàn bộ những điều kiện sống của con người. Nhưng nó khơng phải là sản
phẩm thụ động bởi lối sống của con người là do con người tạo ra mà con
người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể sáng tạo ra hồn cảnh
sống của chính mình. Do đó, lối sống có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực
đến phương thức sản xuất và toàn bộ đời sống xã hội của con người.
Giống như một số nước phương Đông khác, đời sống tinh thần xã hội
Việt Nam truyền thống dựa trên nền tảng vật chất là nền sản xuất nhỏ. Trải
qua hàng nghìn năm phát triển lối sống truyền thống ít nhiều có sự biến đổi ,
dù tích cực hay khơng, chứ khơng phải lối sống đó là bất di bất dịch.
Dân tộc ta đã phải trải qua những cuộc đấu tranh trường kì từ thuở
dựng nước cho tới năm 1975. Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 cho
đến nay, dân tộc ta đã bước vào thời kỳ bảo vệ độc lập và phát triển đất nước
trong thế giới hiện đại. Sau khi giành được độc lập, dân tộc ta đã tiến hành
hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mỹ
(1955 - 1975) để bảo vệ nền độc lập, thống nhất của tổ quốc.
Bước vào thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lối sống của con người Việt Nam tất
yếu phải có sự thay đổi. Bước chuyển về mặt sản xuất vật chất xã hội đã
phức tạp, bước chuyển về mặt lối sống càng phức tạp hơn. Đặc biệt, lối sống
truyền thống, vốn dựa trên nền sản xuất tiểu nơng, có nhiều nhân tố khơng
tương hợp với tính chất của kinh tế thị trường. Có thể nói, ngồi mặt tích cực
thì mặt trái của kinh tế thị trường có tác động tiêu cực làm phai nhạt lối sống
tình nghĩa, làm rạn vỡ tinh thần tập thể, sự ổn định gia đình, đồng thời làm
nảy sinh lối sống cá nhân chủ nghĩa, lối sống gấp, trụy lạc, v.v..
11
Trong lĩnh vực đạo đức, lối sống: Trong thời kỳ cách mạng dân tộc,
dân chủ trước đây, đạo đức, lối sống xã hội hướng tới việc đề cao ý thức
cộng đồng, nhấn mạnh tinh thần hy sinh cá nhân phục vụ lợi ích tập thể là
“trung với Đảng, hiếu với dân”, “cần kiệm liêm chính chí cơng vơ tư”, là nét
đẹp lý tưởng của con người có đạo đức mẫu mực. Hiện nay, những chuẩn
mực đạo đức đó vẫn được phát huy cho phù hợp với thời kỳ mới. Đó là, các
khái niệm ln lý như “kính lão”, “tơn sư”, “trọng trưởng”, “tín nghĩa”,
“chung thủy”, “hiếu thảo”, các nhu cầu về quan hệ gia đình, dịng họ, làng
xóm, quan hệ trong làm ăn, cư trú... đang dần dần mang thêm diện mạo
mới.
Lối sống được đánh giá không chỉ trên phương diện quan hệ giữa
người với người trong sinh hoạt đời thường, mà chuyển dần về cái gốc của
nó là quan hệ giữa con người với lao động sản xuất. Tài năng trong lao động
được coi trọng và được xem là phẩm chất đạo đức. Người tốt phải là người
biết làm giàu chính đáng cho mình, đồng thời giúp đỡ người khác thốt khỏi
cảnh nghèo khó. Sự quan tâm đến người khác khơng chỉ dừng ở lời nói, mà
phải được thể hiện thành hành động cụ thể. Đó chính là xu thế vận động tích
cực của giá trị đạo đức. Trong nền kinh tế thị trường, ý thức đạo đức đối với
lao động đã thay đổi. Bất cứ lao động nào, làm việc gì, nghề gì, bằng sức lao
động của mình đem lại hiệu quả cao, đảm bảo được đời sống của bản thân và
gia đình, đóng góp tích cực cho xã hôi không trái với pháp luật đều được
xem như là lao động có ích, được thừa nhận và có giá trị xã hội như nhau.
Một quan niệm mới về đạo đức và một lối sống mới hình thành, đó
là đạo đức hướng tới hành động, hướng vào hiệu quả cơng việc, hướng vào
sự hình thành và phát triển cá nhân, như một chủ thể mang nhân cách khẳng
định cá nhân, cá tính, ý thức về vai trị chủ thể, con người làm quen với lối
12
sống thiết thực, khẩn trương, sáng tạo, có trách nhiệm với bản thân và xã
hội.
Hiện nay, trong xã hội mới, người được coi là có đạo đức, có tinh thần
yêu nước, phải là người có năng lực để lao động tự giác, làm việc hết mình
vì trách nhiệm với mình và với xã hội. Đạo đức trong xã hội mới cịn có biểu
hiện tích cực thơng qua những hành động cụ thể như: nghĩa cử đền ơn đáp
nghĩa đối với những người có cơng với Cách mạng, gia đình thương binh liệt
sĩ; những hành động tương thân tương ái với những gia đình có hồn cảnh
khó khăn, những người cơ đơn, những người mắc bệnh hiểm nghèo, trẻ mồ
côi,... đã nói lên tình cảm đạo đức cao đẹp, sự cố kết cộng đồng của dân tộc
ta.
Trên thực tế, đạo đức xã hội nước ta hiện nay vừa có mặt tích cực vẫn
có mặt tiêu cực, đang cản trở sự phát triển. Từ góc nhìn văn hóa, yếu tố tiêu
cực đang có xu hương biểu hiện ngày càng tăng. Mặc dù, nó khơng hiện hữu
nhưng đang có tính phổ biến, có thể phá hủy, bào mòn những nền tảng tinh
thần đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Đó là, chủ nghĩa cá nhân và sự suy thoái
trong quan niệm sống trong một phận khơng nhỏ, cán bộ, đảng viên đang có
chiều hướng gia tăng. Từ đó, nó làm nảy sinh tâm lý sống thực dụng, đề cao
một chiều các giá trị vật chất, thói vụ lợi, vị kỷ, ích kỷ, xem đồng tiền là
thước đo của giá trị. Bên cạnh đó, những mặt trái của nền kinh tế thị trường
cũng đang có những tác động đến đạo đức, lối sống trong toàn xã hội. Đặc
biệt, trong giai đoạn hiện nay là tệ quan liêu, tham nhũng, nhũng nhiễu, hách
dịch nhân dân... của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vì lợi ích cá
nhân đã làm xói mịn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa vì
mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, cơng bằng, văn minh" tiến bước
vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, Theo quan điểm của Đảng ta những đức tính
13
của con người Việt Nam cần phải xây dựng, phát triển trong giai đoạn cách
mạng mới là, có tinh thần yêu nước, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất
đạo đức trong sáng, phấn đấu vì độc lập dân tộc, vì Chủ nghĩa Xã hội.
Những đức tính đó của con người mới không chỉ nhằm xây dựng nền
tảng tinh thần vững chắc của xã hội mà còn nhằm tạo ra một nguồn lực
mạnh mẽ, bền vững cho công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ hội nhập quốc
tế. Vì vậy, để xây dựng đạo đức, lối sống của con người Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay chúng ta cần tập trung vào những nội dung sau:
Một là, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, trên cơ sở đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, tiếp tục đổi mới hệ
thống chính trị, xây dựng và hồn thiện chính sách xã hội; đẩy mạnh phát
triển văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học cơng nghệ; xây dựng đội ngũ trí
thức; đảm bảo và phát huy quyền con người, quyền công dân.
Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống các giá trị mới của con
người Việt Nam thời kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời kỳ hội nhập
quốc tế nhằm thực hiện thành công cuộc vận động xây dựng con người mới con người Việt Nam trong thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa Xã hội.
Ba là, cần tập trung cho việc cụ thể hóa những đức tính của con người
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay phù hợp với từng giới, từng ngành, địa
phương, đơn vị, kết hợp sâu sắc giữa giá trị truyền thống tốt đẹp và giá trị
mới.
Bốn là, kiên quyết đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức,
lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân theo tinh thần
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Đây là địi hỏi cấp thiết của tồn xã hội
đối với cơng tác văn hóa trong những năm tới. Đặc biệt, bồi dưỡng các giá
trị văn hóa trong thanh niên, nhất là lý tưởng sống, năng lực trí tuệ, đạo
đức.... làm cho thanh niên trở thành đội hậu bị, cánh tay đắc lực của Đảng.
14
Xây dựng con người Việt Nam hoàn thiện về nhân cách, lối sống là
một công việc vừa rất cơ bản, chiến lược, vừa rất cấp bách, trong đó, bốn giá
trị lớn là: Lý tưởng sống; Năng lực trí tuệ; Vẻ đẹp đạo đức; Bản lĩnh văn
hóa, trở thành nền tảng nhân cách vững chắc của con người Việt Nam thời
kỳ cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh có
nhiều tác động phức tạp hiện nay, truyền thống và bản lĩnh văn hoá dân tộc
Việt Nam là nền tảng vững chắc để xây dựng và vun đắp những giá trị
truyền thống tốt đẹp trong đời sống xã hội. Thiết nghĩ, để làm được điều đó
cần phải có sự đồng thuận trong nhận thức và hành động của mỗi cá nhân và
cộng đồng xã hội.
1.1.2. Nếp sống
Là mặt ổn định của lối sống, là chiều sâu của lối sống. Tất cả những
cách thức làm ăn, sinh sống, suy nghĩ, đối xử… đã được mọi người trong xã
hội thừa nhận là đúng, đều làm như thế và hướng cho lớp trẻ cũng làm như
thế, được lặp đi lặp lại lâu ngày thành thói quen xã hội, thành phong tục tập
quán, thành lễ chế, luân lý, pháp luật, của tồn xã hội, của cả một thời, và có
truyền từ đời này qua đời khác.
Trong nếp sống có vấn đề “thói quen”, vấn đề “tập quán”, vấn đề
“phong tục”.
1.1.3. Thói quen
Là sự lặp lại của một cơng việc, của một ý nghĩa, tạo nên một dạng
sống nhất định.
Một vài thói quen q kiên cố mà khó hoặc khơng thay đổi được,
người ta gọi là :
- Nghiện (nghiện rượu).
- Mê (cờ bạc).
15
- Tật (nói to).
1.1.4. Tập quán
Được hiểu là thói quen chung của nhiều người, tạo ra một lề lối sinh
sống trong xã hội, trong một tập thể hay một cộng đồng.
1.1.5. Tục lệ
Là tập quán được quy định rõ ràng mọi người phải làm theo, dựa vào
các nghi thức, định thành quy ước, có khi thành luật trong nội bộ nhân dân,
tạo ra một kiểu văn hóa trong xã hội.
1.1.6. Phong tục
Là tổng hịa nhiều tục lệ, nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa vào trong
một thời điểm, tạo nên cả một loại truyền thống văn hóa trong xã hội, truyền
năm này qua năm khác.
1.1.7. Lẽ sống
Được hiểu như là khát vọng, hoài bão sống, lý tưởng sống. Đây là
phạm trù nhân sinh quan của lối sống, là cơ sở tinh thần động lực của nếp
sống, lối sống.
Muốn biết nếp sống, lối sống như thế nào ? Trước hết phải hỏi “Sống
để làm gì ?” (sống vì ai). Vấn đề lối sống là một điều trăn trở lớn của biết
bao thế hệ muốn sống cho ra sống, sống có ích cho đời.
1.1.8. . Phong cách sống
Phong cách sống trước hết thể hiện ở thói quen, lao động sản xuất và
chính trị xã hội, trong sinh hoạt, trong các phong tục tập quán chi phối các
hoạt động cụ thể.
Phong cách sống là một phương thức hoạt động của con người được
xác định bởi điều kiện kinh tế xã hội và địa lý khách quan, các mong muốn
16
chủ quan, các quan điểm cá nhân, của cả tập thể xã hội hay cả một xã hội nói
chung.
1.2. Lối sống đẹp
Lối sống đẹp là lối sống có mục đích, có ước mơ, lí tưởng; lối sống có
văn hóa, phù hợp với các chuẩn giá trị đạo đức của xã hội.
1.3. Lối sống của thanh niên
Theo Viện tâm lí học: “lối sống của thanh niên là khái niệm để chỉ
cách thức sống của nhóm xã hội này. Nó được thể hiện qua cách suy nghĩ và
cách thực hiện các hoạt động sống có tính chất tương đối ổn định. Lối sống
được quy định bởi các yếu tố chủ quan như: đặc điểm đạo đức, trình độ học
vấn, giới tính, đặc điểm tâm-sinh lý lứa tuổi… và các yếu tố khách quan
như: đặc điểm môi trường sống, môi trường làm việc, và các điều kiện kinh
tế - xã hội khác.”
1.4. Thanh niên
Từ góc độ pháp luật, theo điều 1, Luật Thanh niên năm 2005: thanh
niên là công dân Việt Nam từ mười sáu tuổi tới ba mươi tuổi.
Từ góc độ xã hội học, thanh niên được xem là một nhóm xã hội của
những người “mới lớn”. PGS.TS Phạm Hồng Tung, khi nghiên cứu về lối
sống của thanh niên cho rằng: “tuổi thanh niên là độ tuổi quá độ từ trẻ con
sang người lớn trong cuộc đời mỗi người”. (Phạm Hồng Tung, 2010). Ơng
cũng khẳng định: đây là một nhóm động, khơng ổn định, nó như một dịng
chảy, thường xun đón nhận những thành viên mới và chia tay với những
người đã trưởng thành, vượt quá phạm vi lứa tuổi của nhóm.
Từ góc độ tâm lý học, thanh niên là một độ tuổi, ở giữa lứa tuổi trẻ em
và tuổi trưởng thành. Ở giai đoạn này, sự phát triển về thể chất đạt đến đỉnh
17
cao, tuy nhiên, các yếu tố tâm lý mới được định hình và ổn định một cách
tương đối. Thanh niên có sự khác biệt lớn về nhiều mặt (tuổi, nơi sinh sống,
nghề nghiệp…), do đó, các đặc điểm tâm lý của thanh niên rất phong phú, đa
dạng, tuy nhiên, chúng có một tính chất chung, đó là tính trẻ. Tính trẻ được
thể hiện ở sự năng động, nhiệt huyết, chấp nhận mạo hiểm, giàu mơ ước và
hồi bão lớn, thích cái mới, thích giao lưu, học hỏi và mong muốn có những
đóng góp cho xã hội để khẳng định bản thân.
1.5. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về xây dựng lối sống đẹp cho
thanh niên.
Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước và tồn xã hội ln chăm lo, tạo
điều kiện, môi trường thuận lợi để thanh niên rèn luyện, cống hiến và trưởng
thành. Các cấp ủy Đảng, đoàn thể, chính quyền và tồn xã hội quan tâm, chỉ
đạo, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tuổi trẻ rèn luyện, lập thân, lập nghiệp, xây
dựng đất nước. Công tác thanh niên của Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực.
Các phong trào do Đoàn, Hội phát động đã đi vào cuộc sống, động viên,
khích lệ thanh niên tích cực tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội,
nhất là các hoạt động xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới, tình
nguyện vì cộng đồng, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Trước thực trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận
không nhỏ thanh niên, Luật thanh niên ra đời nhằm tạo cơ sở pháp lý cho
công tác thanh niên; nhiều chủ trương của Đảng như Nghị quyết 25NQ/TW,
Hội nghị Trung ương 7, khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa” thể
hiện sự quan tâm của Đảng trong việc định hướng cho việc giáo dục đạo đức
của thanh niên trong thời kỳ mới; một số tỉnh, thành, cơ quan có liên quan
trực tiếp đến thanh niên đã tổ chức nhiều hội thảo nhằm nắm bắt tình hình và
18
có những biện pháp cụ thể phát huy tính tích cực của thanh niên và xây dựng
đạo đức thanh niên.
Nghị Quyết 25NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh cơng
nghiệp hố, hiện đại hố nêu mục tiêu chung là “tiếp tục xây dựng thế hệ
thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức
chấp hành pháp luật, sống có văn hố, vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh
trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng và tác phong công
nghiệp trong lao động tập thể, trở thành những công dân tốt của đất nước.”
Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Đảng ta đã chỉ rõ cần xây dựng
con người Việt Nam trong giai đoạn mới với những đức tính sau: “Lịng u
nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng
gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã Tổ quốc; lịng nhân ái, khoan dung,
trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế
trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…”
19
CHƢƠNG 2
LỐI SỐNG CỦA THANH NIÊN XÃ VĨNH HÒA HIỆN NAY
2.1. Khái qt về xã Vĩnh Hịa
2.1.1. Vị trí địa lí
Vĩnh Hịa là một xã thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Vĩnh
Hòa nằm ở khu trung tâm của huyện Ninh Giang, vị trí khoảng 20°45′32″ vĩ
Bắc 106°23′17″ độ kinh Đơng; phía Nam và Tây Nam giáp xã Đồng Tâm,
phía Bắc giáp xã Ninh Thành, Tây Bắc giáp xã Tân Hương phía Đơng Giáp
xã Hà Kỳ. Theo đường bộ Vĩnh Hòa cách thị trấn Ninh Giang 2,8 km, thành
phố Hải Dương 29 km, Hà Nội 87 km. Về đường bộ tiếp giáp và có các con
đường 37 mở rộng, đường 17.
Diện tích của xã vào khoảng 7,46 km2.
Dân số tính đến năm 2012 là 9463 người, mật độ dân số trung bình
khoảng 1293 người/1 km2.
2.1.2. Tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội
2.1.2.1. Tình hình kinh tế
Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn xã ước tính đạt 117 tỉ đồng ( năm
2012), thu nhập bình quân đầu người ước đạt 16,5 triệu đồng/ người/ năm.
- Nông nghiệp:
Về trồng trọt: Vĩnh Hồ là một xã thuần nơng nền kinh tế nơng
nghiệp vẫn là chủ đạo. Tính riêng năm 2012, năng suất bình quân chung đạt
68,4 tạ/ ha, tổng sản lượng quy ra thóc ước đạt 3 958 tấn, lương thực bình
quân đầu người là 530 kg/người. Tổng giá trị thu từ ngành trồng trọt đạt
38,143 tỷ đồng, tổng giá trị thu từ chăn nuôi đạt 19,6 tỷ đồng.
20
Về nuôi trồng thủy sản: phát triển khá với tổng diện tích là 37,87 héc
ta, sản lượng ước đạt 420 tấn, tăng 22% so với cùng kì năm trước, ước đạt
10,32 tỉ đồng (năm 2012).
Về chăn ni: tính đến cuối năm 2012, tổng đàn gia súc là 49.754
con, trong đó, gia cầm là 43.693 con, gia súc là 6.063 con. Cơng tác tiêm
phịng cho gia súc, gia cầm được thực hiện tốt, đảm bảo khơng có dịch bệnh
bùng phát trên địa bàn xã. Tổng giá trị thu từ chăn nuôi đạt trên 10 tỉ đồng,
tăng 3% so với năm 2011.
- Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng – dịch vụ: đã xuất
hiện một số cơ sở sản xuất, công ty nhỏ về các ngành thu mua, tiêu thụ, chế
biến nơng sản, nghề mộc, may mặc, cơ khí, sữa chữa, sản xuất vật liệu xây
dựng… Các ngành thương nghiệp dịch vụ như xay sát, tuốt lúa, làm đất,
cung ứng vật tư phân bón phuc vụ sản xuất nơng nghiệp tạo ra các ngành
nghề mới.
- Các ngành thương mại – dịch vụ - thu khác: tiếp tục phát triển và
từng bước được nâng cao, giá trị sản xuất ước đạt 31,53 tỉ đồng, tăng 25% so
với năm 2011.
2.1.2.2. Tình hình chính trị, văn hóa – xã hội
Trong giáo dục chỉ đạo thực hiện tốt nghiêm túc cuộc vận động “ nói
khơng với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; “ tiếp tục
quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”. Công tác xã hội hóa giáo dục đạt
kết quả tích cực. Tăng cương đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường
học.
Y tế: quan tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân với tổng số
5.238 lượt người được khám bệnh tại trạm y tế xã, làm tốt công tác y tế dự
phịng khơng để dịch bệnh lớn xảy ra. Việc khám định kì cho học sinh trong
21
xã được quan tâm, đảm bảo 100% các em được khám sức khỏe. Tỉ lệ trẻ em
dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống cịn 16,9%
Các chế độ chính sách đối với người có cơng và các đối tượng xã hội
được thực hiện đầy đủ, kịp thời như chi trả trợ cấp xã hội; cấp 1.716 thẻ bảo
hiểm y tế với người có cơng với Cách mạng, hưu trí, người nghèo, người cao
tuổi và bảo trợ xã hội cho trẻ em dưới 6 tuổi…
Xã đã và đang triển khai xây dựng chương trình về mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới, bao gồm các nội dung sau:
Quy hoạch chung xã nông thôn mới.
Quy hoạch khu trung tâm hành chính.
Quy hoạch các vùng sản xuất.
Tình hình chính trị, trật tự an tồn xã hội tương đối ổn định. Xã đã
phối hợp với các tổ chức đoàn thể nhân dân đẩy mạnh phong trào toàn dân
xây dựng làng an toàn, khu dân cư an toàn, cơ quan, đơn vị an toàn về an
ninh trật tự.
Trên 85% gia đình trong xã đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, giữ vững
2 làng văn hóa Vĩnh Xun và Ngọc Hịa.
Tuy nhiên, nạn trộm cắp và gây rối trật tự an tồn xã hội vẫn diễn ra.
Chỉ tính riêng sáu tháng đầu năm 2012 đã xảy ra 06 vụ trộm cắp, trong đó 04
vụ nghiêm trọng, và rất nhiều những vụ ẩu đả, xô xát của học sinh, thanh
niên trong xã. Tệ nạn mại dâm, ma túy vẫn là vấn đề nhức nhối chưa được
giải quyết. Phân loại rà soát 73 đối tượng hình sự, chính trị; trẻ em hư 03 đối
tượng; các đối tượng nghiện, nghi nghiện là 30 trường hợp.Đặc biệt nghiêm
trọng là vụ buôn bán 36 bánh hê rô in của Bùi Thị Thịnh và đồng bọn đã bị
công an Bắc Giang bắt vào ngày 25 tháng 03 năm 2013.
22
2.2. Thực trạng lối sống của thanh niên xã Vĩnh Hịa hiện nay
2.2.1. Những biểu hiện tích cực trong lối sống của thanh niên xã Vĩnh Hòa
hiện nay.
Trước tiên, sự tích cực trong lối sống của thanh niên Vĩnh Hịa thể
hiện ngay trong suy nghĩ của họ. Suy nghĩ quyết định hướng đi của cả cuộc
đời con người. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc xác định được mục đích
sống, lý tưởng sống của mình. Davidd Starr Jordan nói rằng: “Tơi nghĩ rằng
mục đích của cuộc đời là sống hữu ích, sống có trách nhiệm, được tơn trọng,
và biết u thương. Trên hết điều đó thực sự có ý nghĩa là: sống cho ai đó,
sống vì cái gì đó, và tạo nên dấu ấn riêng của bạn trên thế gian này.” Hay
như câu nói nổi tiếng của Paven Copsagine trong tác phẩm “Thép đã tôi thế
đấy” của tác giả Nikolai Ostrovsky: “Cái quý nhất của con người là cuộc
sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận
vì những năm tháng sống hồi sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện
và đớn hèn của mình”. Vì vậy, xác định được mục đích sống, lí tưởng sống
là vấn đề rất quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Theo khảo sát, 56,4%
thanh niên trong xã đã xác định được mục đích sống của mình và họ đang cố
gắng đạt được mục đích đó.
Suy nghĩ tự vươn lên, tự khẳng định bản thân mình cũng là một nét
đẹp của thanh niên Vĩnh Hịa. Ý thức được rằng, q hương mình là một
vùng đất thuần nơng nghèo, họ đã suy nghĩ, tìm cách để thoát khỏi cảnh
“chân lấm tay bùn” như các thế hệ đi trước. Điều này thể hiện rất rõ trong ý
thức học tập của thanh niên nơi đây. Họ đã nỗ lực phấn đấu, học hỏi để có
thể vươn lên trong cuộc sống, để đạt được mơ ước và được cơng nhận. Với
truyền thống hiếu học, Vĩnh Hịa ln được coi là điểm sáng trong học tập
của huyện Ninh Giang. Theo thống kê của quỹ khuyến học xã, mỗi năm xã
23
có khoảng 25 tân sinh viên đỗ vào đại học nguyện vọng 1, chưa kể tới
nguyện vọng 2 và cao đẳng. Trình độ học vấn của thanh niên cũng khơng
ngừng được nâng cao, từ phổ cập bậc tiểu học vào những năm 90 của thế kỉ
XX tới phổ cập trung học phổ thông vào thời điểm hiện tại. Theo báo cáo
của Hội đồng nhân dân xã Vình Hịa năm 2012, 95% thanh niên Vĩnh Hòa
đã tốt nghiệp trung học phổ thơng. Học tập khơng chỉ thể hiện trình độ học
vấn, mong muốn được đi học mà còn thể hiện được ý chí tự lực tự cường,
khơng cam chịu đói nghèo, lạc hậu, nỗ lục vươn lên trong cuộc sống để
khẳng định bản thân mình của giới trẻ nơi đây.
Khơng những thế, thanh niên Vĩnh Hịa cịn có nhận thức rõ ràng về
những vấn đề chính trị - xã hội. Hầu hết, thanh niên đã có những quan điểm
đúng đắn, thái độ rõ ràng, dứt khoát với những hành vi sai lệch của các thế
lực thù địch. Điều này cho thấy, thanh niên đã có bước chuyển rõ ràng về
thái độ, tư tưởng và nhận thức của thanh niên trước những âm mưu kích
động của thế lực thù địch. Ví dụ điển hình, theo khảo sát của cá nhân, tất cả
những thanh niên được hỏi về vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa đều có chung
câu trả lời: Hồng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, là người Việt, tôi sẵn
sàng đấu tranh vì tồn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Hay khi được hỏi “nếu
được chọn quốc tịch bạn sẽ chọn là người Việt Nam hay nước ngoài” , trên
90% chọn Việt Nam. Đa số thanh niên đồng ý phấn đấu cho mục tiêu “ Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và mong muốn đất
nước không thua kém các nước trên thế giới. Nhiều thanh niên đã kiên trì
phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành; sống có đạo đức, nhân cách, tri thức, sức
khoẻ, tư duy năng động và hành động sáng tạo được kết nạp vào Đảng cộng
sản Việt Nam. Như vậy, thanh niên Vĩnh Hòa đa số đã có cái nhìn đúng đắn
về các vấn đề chính trị - xã hội hiện nay.
24
Suy nghĩ sẽ quyết định hành động, từ những suy nghĩ tích cực sẽ có
những hành động tích cực. Vậy nên những biểu hiện của lối sống đẹp không
chỉ thể hiện trong suy nghĩ mà nó cịn bộc lộ rất rõ qua hành động.
Trong nền kinh tế thị trường, thanh niên Vĩnh Hịa đã có điều kiện
được hội nhập, giao lưu với nền văn hóa của các nước trên thế giới. Cũng
giống như thanh niên Việt Nam, họ được tiếp xúc với những tiến bộ khoa
học – kĩ thuật tiên tiến của thế giới. Những ứng dụng khoa học – kĩ thuật đó
đã giúp thanh niên nơi đây rất nhiều trong học tập cũng như sản xuất. Trong
học tập, khoa học, cơng nghệ hiện đại giúp họ có phương háp học tập hiện
đại hơn, thực tiễn hơn, giúp họ nâng cao kết quả học tập. Trong sản xuất,
nhiều thanh niên đã tích cực tiếp thu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất,
góp phần tăng năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây
trồng, vật ni và sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp,
nơng thơn. Điển hình như mơ hình trang trại của anh Nguyễn Bá Thịnh, xóm
8, thơn Ngọc Hịa, anh đã áp dụng thành cơng mơ hình ni gà cơng nghiệp
kết hợp khu ấp trứng nhân tạo, vừa cung cấp giống để chăn ni trong trang
trại của mình, vừa cung cấp giống cho người dân có nhu cầu. Mỗi năm đem
lại thu nhập cho gia đình khoảng 300 triệu đồng (trừ chi phí), góp phần nâng
cao cuộc sống gia đình và xây dựng xã hội phồn vinh.
Tuy tiếp xúc với các nền văn hóa hiện đại nhưng thanh niên nơi đây,
về căn bản, vẫn giữ được những giá trị truyền thống tốt đẹp, các phong tục
tập quán của ông cha xưa đã và đang được giới trẻ khôi phục lại như tục
chơi pháo đất, đấu vật, … Như vậy, có thể khẳng định rằng, thanh niên Vĩnh
Hòa ngày nay đã có ý thức về việc gìn giữ, phát huy nét đẹp truyền thống
văn hóa của dân tộc.
Một bộ phận thanh niên Vĩnh Hịa ln tích cực tham gia các phong
trào xã hội mà đi đầu là đoàn thanh niên xã. Tính riêng năm 2012,thanh niên
25