1
đoàn thị thu trang *
Trường Đại học Văn hoá Hà Nội
Khoa quản lý văn hoá nghệ thuật
đoàn thị thu trang
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân văn hóa
Xây dựng đời sống văn hóa
xà biên giới nậm cắn, huyện kỳ sơn, nghệ an
Khoá luận tốt nghiệp
ngành QUảN Lý VĂN HóA
Hng dn khoa học : PGS.TS. Cao Đức Hải
* Khãa: 2010 - 2014
Hµ Néi - 2014
3
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này là kết quả của những ngày tháng học tập và rèn luyện tại
trường Đại học Văn hóa Hà Nội với sự dạy dỗ, chỉ bảo tận tình của các thầy,
cơ giáo trong khoa Quản lý Văn hóa-Nghệ thuật.
Em xin được gửi lời cám ơn chân thành nhất tới các thầy, cô giáo Khoa
Quản lý Văn hóa-Nghệ thuật và các cơ, chú phịng Văn hóa thơng tin huyện Kỳ
Sơn, Uỷ ban nhân dân xã Nậm Cắn, Cơng an huyện Kỳ Sơn đã tận tình giúp đỡ
em trong quá trình thực địa và tìm tài liệu để hồn thành khóa luận này.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS. Cao Đức
Hải, người đã tận tình dìu dắt, chỉ bảo và định hướng cho em trong việc cọn
đề tài cũng như hướng dẫn cho em từng trang bản thảo đầu tiên để khóa luận
này được hồn thiện.
Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, Tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Đoàn Thị Thu Trang
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 6
Chương 1: KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ – KINH TẾ - VĂN HOÁ . 9
XÃ NẬM CẮN, HUYỆN KÌ SƠN, NGHỆ AN ........................................... 9
1.1. Đặc điểm địa lý .................................................................................. 9
1.2. Đặc điểm về dân cư và kinh tế ........................................................ 12
1.3. Văn hóa các dân tộc xã Nậm Cắn ................................................... 22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHONG TRÀO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG
VĂN HOÁ Ở XÃ BIÊN GIỚI NẬM CẮN – KÌ SƠN- NGHỆ AN ......... 28
2.1. Thực trạng duy trì hoạt động văn hóa truyền thống của các dân
tộc xã biên giới Nậm Cắn ....................................................................... 28
2.2. Thực trạng việc tổ chức hoạt động của bộ máy văn hóa nghành
văn hóa huyện và xã ............................................................................... 32
2.2.1. Hoạt động thơng tin lưu động - phát thanh .................................. 32
2.2.2. Hoạt động chiếu phim ................................................................. 34
2.2.3. Hoạt động đọc sách ở xã Nậm Cắn ............................................. 35
2.2.4. Nhà văn hóa – Câu lạc bộ ........................................................... 36
2.2.5. Công tác giáo dục truyền thống................................................... 38
Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHONG
TRÀO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở XÃ BIÊN GIỚI NẬM
CẮN, KỲ SƠN, NGHỆ AN ........................................................................ 41
3.1. Định hướng xây dựng đời sống văn hóa ở xã biên giới Nậm Cắn . 41
3.1.1. Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ
cho sự nghệp phát triển vùng biên giới ................................................. 41
3.1.2. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của địa phương với việc mở
rộng giao lưu tiếp thu tinh hoa văn hóa các vùng miền trong nước ....... 42
5
3.1.3. Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho hoạt động văn hóa xã
biên giới Nậm Cắn................................................................................ 46
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phong trào xây dựng đời sống
văn hóa vùng biên giới ........................................................................... 48
3.2.1. Nâng cao nhận thức và hoàn thiện bộ máy tổ chức cán bộ hoạt
động văn hóa vùng biên giới ................................................................. 48
3.2.2. Xây dựng nếp sống văn hóa cộng đồng ....................................... 50
3.2.3. Nâng cao hiệu quả phong trào xây dựng gia đình văn hóa .......... 51
3.2.4. Khuyến khích các hoạt động văn hóa - văn nghệ quần chúng đồng
thời đưa các đồn nghệ thuật chuyên nghiệp lên miền núi .................... 53
3.2.5. Đẩy mạnh xã hội hố hoạt động văn hóa ở xã miền núi biên giới 54
3.2.6. Tăng cường sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về văn
hóa ở xã biên giới ................................................................................. 55
3.3. Một số kiến nghị .............................................................................. 57
3.3.1. Lập quỹ hoạt động văn hóa ......................................................... 57
3.3.2. Xây dựng điểm du lịch văn hóa .................................................. 58
3.3.3. Đào tạo tiếng dân tộc cho cán bộ ................................................ 60
3.3.4. Đào tạo con em dân tộc làm cán bộ nguồn .................................. 61
KẾT LUẬN ................................................................................................. 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 64
PHỤ LỤC.................................................................................................... 65
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề xây dựng văn hóa cơ sở đến nay đã trở nên rất quen thuộc đối
với mọi người dân ở mọi miền tổ quốc, đó cũng là mối quan tâm hàng đầu
của những người làm cơng tác văn hóa. Kỳ Sơn Nghệ An là một trong những
huyện miền núi nghèo nhất nước ta. Có vị trí địa lý tiếp giáp với nước bạn
Lào, địa hình nơi đây hiểm trở, độ dốc lớn, đời sống nhân dân gặp nhiều khó
khăn, trình độ dân trí thấp, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 95% dân số. Xã
Nậm Cắn có tổng diện tích tự nhiên là 9.06636 ha, nằm phía Tây bắc huyện
Kỳ Sơn, là xã biên giới có chiều dài tuyến biên giới là 17km, có vị trí quan
trọng về chính trị, cũng như an ninh- quốc phịng của huyện Kỳ Sơn nói riêng
và cả nước nói chung. Đồng bào dân tộc ở đây sống tập trung thành những
làng, bản, trong đó các gia đình thường sống liền kề nhau. Từ lâu người dân ở
đây sống bằng nghề nông, trồng ngô, đốt rừng làm nương rẫy, chăn ni gia
súc... vì vậy có nhiều nghi lễ liên quan đến việc chăn nuôi gia súc, đến vụ
mùa, nhiều tập tục thể hiện nếp sống văn hóa riêng biệt đã được hình thành và
ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào dân tộc nơi đây. Văn hóa của các dân tộc
nơi đây được hình thành từ rất lâu đời , là kết quả của sự kế thừa nhiều nền
văn hóa khác nhau như H’ Mơng, Thái, Khơ Mú, vừa đa dạng, vừa phong
phú. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của đồng bào dân
tộc vùng biên giới Nậm Cắn cũng góp phần lớn cho sự phát triển văn hóa tồn
huyện cũng như khu vực Tây Nghệ An. Trong q trình đẩy mạnh cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Kỳ Sơn rất quan tâm đến việc xây dựng
đời sống văn hóa cho đồng bào dân tộc vùng biên. Hiện nay đời sống văn hóa
của đồng bào dân tộc nơi đây có nhiều tiến bộ và thay đổi nhưng vẫn gặp
nhiều khó khăn, bất cập. Do đó, việc xây dựng đời sống văn hóa cho đồng bào
7
dân tộc vùng biên giới Nậm Cắn Kỳ Sơn- Nghệ An hiện nay càng thật sự cần
thiết và cấp bách, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Chính vì lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Xây dựng đời sống
văn hóa xã biên giới Nậm Cắn- Kỳ Sơn- Nghệ An” làm đề tài nghiên cứu
với hy vọng góp một phần nhỏ vào việc phát huy, nghiên cứu các giá trị văn
hóa ở đây, góp thêm chút tư liệu nghiên cứu lịch sử, văn hóa xã biên giới
Nậm Cắn để phục vụ cho sự nghiệp phát triển nghành văn hóa nơi đây.
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, đánh giá phong trào xây dựng đời sống văn hóa khu vực xã
biên giới Nậm Cắn-Kỳ Sơn-Nghệ An
Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xây dựng
đời sống văn hóa xã biên giới Nậm Cắn-Kỳ Sơn-Nghệ An
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Các hoạt động văn hóa truyền thống của các dân tộc thuộc xã biên giới
Nậm Cắn
Cơng tác tổ chức, quản lý đời sống văn hóa của nghành văn hóa xã
Nậm Cắn- Huyện Kỳ Sơn.
3.2. Phạm vi
Trong giới hạn không gian xã biên giới Nậm Cắn huyện Kỳ Sơn- Nghệ An
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu đề tài này tôi đứng trên lập trường của chủ nghĩa MácLênin, quan điểm của Đảng về nghiên cứu, xem xét sự vật hiện tượng
8
4.2. Phương pháp cụ thể
Thu thập tài liệu, phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp hệ thống hóa
theo yêu cầu của đề tài...đặc biệt qua công tác điền giã sử dụng phương pháp
quan sát, phỏng vấn...
5. Đóng góp của đề tài
5.1. Ý nghĩa khoa học
Việc nghiên cứu xây dựng đời sống văn hóa các tộc người xã biên giới
Nậm Cắn-Kỳ Sơn-Nghệ An có thể tìm hiểu về thành phần tộc người, sự di
dân, các luồng dân cư... đặc biệt là tìm hiểu được một cách sâu sắc nếp sống
của vùng dân tộc nơi đây, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về lịch sử văn
hóa của huyện Kỳ Sơn.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu dân tộc, văn hóa huyện Kỳ Sơn,
vận dụng chính sách phát triển vùng sâu, vùng xa, nhất là vùng dân tộc thiểu
số một cách hợp lý, giúp mọi người có cái nhìn tồn diện và đầy đủ hơn về
văn hóa của các dân tộc xã biên giới Nậm Cắn
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài
gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát đặc điểm địa lý, kinh tế, văn hóa xã biên giới
Nậm Cắn huyện Kỳ Sơn- Nghệ An
Chương 2: Thực trạng phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở xã
biên giới Nậm Cắn-Kỳ Sơn-Nghệ An
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phong trào xây dựng
đời sống văn hóa ở xã biên giới Nậm Cắn huyện Kỳ Sơn-Nghệ An
9
Chương 1
KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ – KINH TẾ - VĂN HỐ
XÃ NẬM CẮN, HUYỆN KÌ SƠN, NGHỆ AN
1.1. Đặc điểm địa lý
Kì Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Nghệ an, cách thành phố Vinh
- trung tâm tỉnh khoảng 250km về phía nam, Kỳ Sơn có đường biên giới với
nước bạn Lào 192km, ba hướng bắc, tây và nam giáp ba tỉnh(Huaphanh,
Xiengkhuang, Borikhamxay) tiếp giáp 5 huyện của nước bạn Lào(Xam Neua,
Nong Het, Morkmay, Khamkheuth, Viengthong), phía Đông giáp với huyện
Tương Dương và là 1 trong 9 huyện khó khăn nhất của cả nước. Địa hình nơi
đây hiểm trở, độ dốc lớn, đỉnh Pu xai leng cao 2.711m là mái nhà chung giữa
2 nước ta và bạn Lào. Theo phòng thống kê thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Kỳ
Sơn năm 2007 thì Huyện Kỳ Sơn có diện tích 2.094,84km vng với dân số
là 68.881 người, với đa phần là thuộc bộ tộc Lào-Thái. Người Khơ Mú và
người Mông đến Kỳ Sơn muộn hơn so với người Thái, cách đây khoảng 300
năm, chủ yếu di cư từ Lào sang và sống ở vùng núi rẻo giữa và rẻo cao, còn
người Kinh chỉ tập trung tại thị trấn Mường Xén sau năm 1954 và đến nay
vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ so với các dân tộc khác trong huyện.
Kỳ Sơn chủ yếu là núi, trong đó có nhiều dãy núi cao, hiểm trở. Dãy
núi Pu Lai Leng thuộc xã Na Ngoi có đỉnh cao 2.711m, là ngọn núi cao
nhất của Nghệ An và cả hệ Trường Sơn. Ngoài ra trên địa bàn huyện cũng
có nhiều đỉnh núi cao khác như Pu Soong(2.365m), Pu Tông(2.345m), Pu
Long(2.716m)…Hệ thống song suối chảy qua Kỳ Sơn khá dày đặc gồm
dịng sơng Cả với hai nhánh phụ là Nặm Nơn và Nặm Mộ dài khoảng 125
km, hàng trăm khe suối lớn nhỏ như: Khe Nằn, khe Chảo, Huổi Pà, Huồi
Giảng, Ca Nhăn…
10
Đời sống nhân dân ở đây gặp rất nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp,
đồng bào dân tộc thiểu số chiêm 95% dân số. Xã Nậm cắn có tổng diện tích tự
nhiên là 9.06636 ha, nằm phía tây bắc huy ện Kì Sơn.
- Phía Đơng Bắc giáp xã Na Loi, huyện Kì Sơn
- Phía Nam giáp xã Tà Cạ, huyện Kì Sơn
- Phía Đơng giáp xã Phà Đánh, huyện Kì Sơn
- Phía Tây giáp nước CHDCND Lào
Xã Nậm Cắn là xã biên giới có chiều dài tuyến Biên giới là 17km, có vị
trí quan trọng về chính trị, cũng như an ninh - quốc phịng của huyện Kì Sơn.
Là xã biên giới vùng cao, hạ tầng kém phát triển, khơng thuận tiện cho việc đi
lại, khó khăn trong phát triển kinh tế, trình độ dân trí thấp.
Các yếu tố khí hậu thời tiết có đặc trưng sau:
Nhiệt độ khơng khí với nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,5 độ C,
nhiệt độ cao nhất vào khoảng tháng 4 là 39,5 độ C, nhiệt độ trung bình thấp
nhất vào khoảng tháng 2 là 11,5 độ C.
Gió Lào thổi vào mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9, tốc độ gió
trung bình từ cấp 2 đến cấp 3, làm nhiệt độ tăng đột ngột, nóng nực vào mùa hè.
Thủy văn: trên địa bàn xã Nậm Cắn địa hình dạng vùng núi cao, nguồn
nước chủ yếu từ các suối Nậm Cắn, suối Huồi Pốc, Khe Cát, Khe Lội chảy
qua. Nước sinh hoạt và sản xuất chủ yếu từ các nguồn nước trên, và các khe ở
vùng chân núi vào mùa khô lượng nước ở sông giảm, đôi khi bị cạn kiệt gây
thiết nước.
Các nguồn tài nguyên:
Tài nguyên đất: Theo kết quả tổng hợp của bản đồ thổ nhưỡng thì xã
Nậm Cắn có đất phù sa phân bố chủ yếu ở các vùng đất ven sơng suối do q
trình xói mịn ở thượng nguồn hình thành. Đất Feralit được hình thành dưới
11
các lũng và khe suối, lượng mùn tầng mặt rất giàu đạm, kali, lân tổng số từ
khá đến giàu, đây là loài đất được nhân cải tạo để trồng lúa và hoa màu.
Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt trên địa bàn xã Nậm Cắn chủ yếu là
suối Nậm Cắn, suối Huồi Pốc, Khe Cát, Khe Lội và các khe nhỏ từ các chân
núi, đây là nguồn nước chính phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân trong
xã, do địa hình dốc, chia cắt nên khả năng giữ nước rất hạn chế, mặt khác
nguồn nước mặt phân bố không đồng đều trên địa bàn nên về mùa khô nguồn
nước rất nghèo nàn. Nguồn nước ngầm thì tuy chưa có tài liệu điều tra, khảo
sát của các cơ quan chuyên môn, nhưng qua thực tế cho thấy nguồn nước này
phân bố khá rộng rãi.
Tài nguyên khoáng sản: Xã Nậm Cắn đến nay chưa có cuộc điều tra,
khảo sát nào tiến hành nghiên cứu về tài nguyên khoáng sản, nhưng hiện tại
chỉ có những núi đá có thể khai thác làm vật liệu xây dựng và cầu đường...
Tài nguyên nhân văn: Nậm Cắn là xã của bà con dân tộc Mông chiếm
70%, Khơ Mú chiếm 16%, Thái chiếm 14% cùng sinh sống. Dân số có
3.589 nhân khẩu chia thành 605 hộ phân bố trên 6 bản, binh qn 6
người/hộ, văn hóa vì thế cũng mang những đặc trưng riêng trong đời sống
văn hóa của từng dân tộc. Bên cạnh đó kế thừa phát huy truyền thống cách
mạng của cha ông, nhân dân xã Nậm Cắn cùng chính quyền nơi đây đang ra
sức phát triển, hướng đến mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ văn minh”.
Thực trạng về mơi trường:
Xã Nậm Cắn có sự phân bố địa hình cao chạy từ Bắc xuống Nam, mơi
trường khơng khí trong lành, nguồn nước ít bị ảnh hưởng ơ nhiễm, song trong
q trình khai thác sử dụng đất, khai thác khống sản trong những thập niên
gần đây của người dân thì vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đến việc bảo
12
về cảnh quan môi trường như: Đất đai không được cải tạo, bồi bổ, thảm thực
vật bị suy thoái do nạn du canh du cư, đốt rừng làm rẫy và nạn khai thác lâm
sản bừa bãi... đã làm cho cảnh quan thên nhiên mất dần tính đa dạng sinh học,
ơ nhiễm môi trường. Tuy nhiên mức độ ô nhiễm chưa nhiều và về cơ bản vẫn
giữ được sắc thái tự nhiên, đây là vấn đề cần có sự quan tâm được các cấp,
nghành liên quan cùng nhân dân trong xã nhằm bảo vệ môi trường sinh thái
bền vững.
1.2. Đặc điểm về dân cư và kinh tế
Trong những năm qua cùng với sự phát triển chung của huyện Kỳ Sơn,
xã Nậm cắn có những bước tăng trưởng khá, đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân từng bước được cải thiện đáng kể, nhất là mạng lưới: điện, đường,
trường, trạm cùng các cơng trình văn hóa phúc lợi xã hội khác, sức khỏe của
nhân dân ln được quan tâm và trình độ dân trí khơng ngừng được cải thiện.
Tổng thu nhập toàn xã Nậm Cắn năm 2007 đạt 10,767 tỷ đồng chủ yếu là
trồng trọt, chăn nuôi và nguồn thu từ rừng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng
năm đều tăng, trong giai đoạn 2000 – 2005 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6 –
7%/năm. Bình quân thu nhập đầu người đạt 2,5 triệu đồng/người/năm, lương
thực bình quân 152,6 kg/người/năm.
Trong nền kinh tế hiện nay của xã Nậm Cắn thì nền nông nghiệp vẫn
chiếm tỉ trọng lớn, phần lớn đất nông nghiệp là nương rẫy như: ngô, rau màu,
các vườn cây ăn quả lâu năm, chăn nuôi gia cầm…Trong nền kinh tế nông
nghiệp hiện nay đã được chủ động áp dụng khoa học, kĩ thuật, hoàn chỉnh cơ
sở hạ tầng và thực hiện tốt công tác khuyến nông nên năng suất cây trồng tăng
nhanh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và cính quyền xã Nậm Cắn đã có bước
phát triển đáng kể, năm 2007 tổng sản lượng thực có hạt đạt 549 tấn, bình
quân lương thực đạt khoảng 152,6kg/người/năm. Trong nông nghiệp trồng
13
trọt đảm bảo lương thực, thực phẩm tại chỗ; chăn ni giữ vai trị chủ đạo,
chiếm khoảng 60%, cịn giá trị sản xuất nền nơng nghiệp cịn lại là nguồn thu
từ rừng. Trong trồng trọt thì cây hàng năm bao gồm: lúa, ngô, đậu, lạc, khoai
sọ…và các loại cây rau màu khác, trong đó lúa, ngơ, lạc, khoai sọ là chính.
Những năm gần đây nhân dân áp dụng khoa học, kĩ thuật vào sản xuất, thâm
canh tăng vụ trên diện tích đất canh tác nên tổng diện tích đất gieo trồng năm
2007 có diện tích gieo trồng lúa là 15,8 ha, đạt 55 tấn. Diện tích gieo trồng
ngơ, khoai, sắn, lạc, gừng khoảng 5,0 ha đạt 29 tấn, công tác chăn ni tại gia
đình ln được chú trọng, đàn gia súc, gia cầm áp dụng mơ hình chăn ni
lợn bán công nghiệp tiếp tục phát triển. Năm 2007 đàn trâu có 82 con, bị có
3.271 con, ngựa con, dê có 2.360 con, đàn lợn 3.540 con, đàn gia cầm gồm:
gà, vịt, ngỗng có 8.892 con.
Năm 2007 Nậm Cắn mới có 20 ha ngơ thì đến thời điểm 2013 xã đã có
150 ha ngơ trên đất dốc, năng suất bình qn đạt 4 tấn/1ha, nhân dân không
phải lo lắng đầu ra cho ngô, các tư thương đánh xe ô tô lên tận bản mua.
Những năm qua Nậm Cắn còn đưa vào trồng khoai sọ và cây hoa ly đạt hiệu
quả kinh tế cao, để ổn định lương thực Nậm Cắn gieo trỉa trên 200 ha lúa rẫy,
đặc biệt 2 năm lại nay xã đã vận động bà con khai hoang ruộng nước được
trên 12 ha ở ven khe suối. Bà con đã biết đầu tư phân bón, phân chuồng, sử
dụng giống lúa lai, năng suất bình quân đạt trên 50 tạ trên ha. Đây cũng là
bước khởi đầu để Nậm Cắn tiếp tục vận động bà con khai hoang ruộng nước ở
các bản có tiềm năng như bản Khánh Thành, Tiền Tiêu, Huồi Pốc…. Vì vậy,
những năm gần đây những hộ khơng có lúa ăn đã khơng cịn, phần lớn bà con
đều đảm bảo được lương thực.
Bên cạnh đó là nền kinh tế thương mại với 26 hộ kinh doanh trên địa
bàn phát triển nghành nghề chế biến lâm sản, mộc dân dụng, sửa chữa cơ khí,
14
sữa chữa điện dân dụng, ăn uống…phục vụ tại chỗ cho nhân dân địa phương,
hàng năm giải quyết được hàng trăm lao động. Tuy nhiên đây chỉ là những cơ
sở sản xuất, buôn bán nhỏ lẻ phục vụ đời sồng hàng ngày như nhu yếu phẩm,
hàng tiêu dùng, các mặt hàng phục vụ sản xuất (phân bón, thức ăn gia súc, gia
cầm). Dọc tuyến đường trung tâm xã đã xuất hiện các hang quán đại lý phục
vụ đầy đủ hang hóa, nhu yếu phẩm bà con khơng phải xuống tận thị trấn
Mường Xén mua sắm. Lâu nay người Mông, người Thái ở Nậm Cắn thường
quan niệm “an cư mới lạc nghiệp” nên trước đây mới có phong trào người dân
vào rừng chặt gỗ về làm nhà sàn kiên cố. Từ khi những cánh rừng phòng hộ
được đưa vào bảo vệ thì người dân đã ý thức được rằng khơng giữ được rừng
thì sẽ chuốc bao nhiêu tai họa, lũ quét, lũ ống, lở núi… nhiều hộ dân đã xây
nhà bằng xi măng sắt thép kiên cố để giữ rừng. Đặc biệt những năm gần đây
khi cửa khẩu Nậm Cắn được thơng thương thì việc trao đổi, bn bán với
nước bạn Lào được nhiều hơn, hoạt động kinh tế được đẩy nhanh, việc đi lại
giữa nhân dân 2 vùng dễ dàng hơn. Nhờ ổn định kinh tế nên nạn di cư ở Nậm
Cắn ngày càng giảm, từ năm 2009 đến nay có khoảng trên 10 hộ dân di cư
sang Lào quay về quê mẹ.
Về dân số toàn xã Nậm Cắn năm 2013 có 4115 nhân khẩu, tính đến
thời điểm 31 tháng 12 năm 2013, với 619 hộ gia đình, bình quân 6 người/hộ,
phân bố trên 6 bản, mật độ dân số bình quân là 40 người/km2. Về lao động thì
trong độ tuổi năm 2007 là 2.153 lao động chiếm 60% dân số xã Nậm Cắn.
Nguồn lao động khá dồi dào nhưng trình độ thấp, lực lượng lao động nơng
nhàn lúc kết thúc mùa vui vẫn là vấn đề thách thức cần phải giải quyết,chuyển
dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, cơ cấu lao động chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp và dịch vụ thương mại nhưng phát triển chưa mạnh, đầu tư nhỏ lẻ, đây
là vấn đề cần được quan tâm để phát triển nguồn nhân lực. Về mức sống và
thu nhập của nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. Năm 2007 thu nhập
15
bình quân đầu người là 2,5 triệu đồng/năm, số hộ được xem truyền hình là
168 hộ, chiếm 27%, tỉ lệ người dân được sử dụng nước sạch thấp, chương
trình xóa nhà tạm, giảm hộ nghèo được quan tâm và thực hiện có hiệu quả, hộ
nghèo giảm xuống dưới 70% tổng số hộ.
Về dân cư tập trung chủ yếu ở ven đương quốc lộ 7A và các đường liên
xã, các công trình cơng cộng như trụ sở cơ quan, trường học, y tế, thể thao
văn hóa cũng được bố trí thuận tiện cho nhu cầu học tập, làm việc và vui chơi
giải trí của nhân dân. Đất nơng nghiệp chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, hệ
thống đường điện thắp sang với đường điện cao thế dài 7km cung cấp điện
cho 4/6 bản, trong các khu dân cư tỉ lệ nhầ kiên cố còn thấp, chủ yếu là nhà
gỗ bán kiên cố. Bên cạnh đó việc thu gom xử lí rác thải, nước thải trong khu
dân cư chưa được chú trọng gây t ác động xấu đến môi trường sống và nguồn
nước ngầm, đây là vấn đề cần quan tâm để bảo vệ nguồn nước.
Về cơ sở hạ tầng thì Nậm Cắn có hệ thống giao thơng khá phát triển so
với các xã trong huyện, đặc biệt là tuyến quốc lộ 7A chạy qua rất thuận lợi
cho việc đi lại, giao lưu buôn bán của nhân dân trong xã, nhất là vào mùa
mưa. Bên cạnh đó là một số tuyến đường vẫn gặp rất nhiều khó khăn vì vậy
Đảng ủy và UBND xã đã đề ra trong chủ trương giai đoạn tới sẽ mở rộng
nâng cấp dần một số tuyến đường, đặc biệt là các tuyến đường liên bản trên
địa bàn xã. Về thủy lợi vẫn chưa đáp ứng được cho sản xuất nơng nghiệp vì
do địa hình dốc nên rất khó khăn. Tuy vậy vẫn có những khó khăn, hạn chế
nhất định có là địa hình dốc, mưa tập trung gây xói mịn, rửa trơi đất, giảm độ
phì nhiêu, hạn chế khả năng phát triển hệ thống thủy lợi; tệ nạn xã hội vẫn tồn
tại, giá cả biến động ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân, cơng tác phịng
chống dịch bệnh gia cầm, gia súc chưa đảm bảo kịp thời nên dịch bệnh vẫn
thường xuyên xảy ra. Nền kinh tế hàng hóa chưa được phát triển, nền kinh tế
vẫn mang kiểu “tự cung, tự cấp” khi có cửa khẩu Nậm Cắn đóng trên địa bàn
16
có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế. Địa bàn biên giới nhiều thành phần
đi lại nên công tác kiểm sốt an ninh gặp khơng ít khó khăn, trình độ dân trí
chưa cao nên việc tuân thủ các quy định pháp luật còn hạn chế, tranh chấp đất
đai vẫn xảy ra. Tài nguyên khoáng sản nghèo nàn, nguồn nước thường bị cạn
kiệt về mùa khô là những trở ngại lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội. Với những thuận lợi và khó khăn trên nên Đảng bộ, UBND xã và nhân
dân xã Nậm Cắn đưa ra hướng phát triển cụ thể: Một là tận dụng nguồn tài
nguyên đất phong phú, giàu có để phát triển cây rau màu, cây lương thực, cây
công nghiệp lâu năm. Hai là số dân có quy mơ lớn nên nhu cầu đất ở đặt ra rất
lớn nhất là nơi thuận tiện cho đi lại. Ba là trong thời kì cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa địi hỏi phải phát triển mạnh về các nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương. Bốn là cùng với sự phát
triển của nông nghiệp sẽ kéo theo sự tập trung lao động, do đó sẽ hình thành
những khu dân cư tập trung đông đúc, cần phải dành đất cho nhu cầu xây
dựng các cơng trình văn hóa – xã hội phục vụ đời sống của nhân dân. Năm là
để đảm bảo cho kinh tế phát triển nhanh và bền vững đòi hỏi hệ thống cơ sở
hạ tầng phải phát triển như giao thơng, điện, nước do đó cần phải dành đất
cho cơng trình này. Sáu là cửa khẩu Nậm Cắn nằm trên địa bãn xã là một lợi
thế trong phát triển nghành thương mại, dịch vụ.
Giáo dục trong những năm gần đây được sự quan tâm của UBND
huyện Kỳ Sơn, sự quan tâm của chính quyền điạ phương xã nên đến nay xã đã
có 2 trường học ổn định. Trường mầm non có 6 điểm trường với 10 phịng
học có 240 cháu và 14 giáo viên. Trường tiểu học có 6 điểm trường với 28
phịng học có 602 học sinh và 40 giáo viên. Trường trung học cơ sở có 2
trường với 21 phịng học có 524 học sinh và 51 giáo viên.
Y tế cũng có nhiều sự cố gắng trong cơng tác khám, chứa bệnh và chăm
sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, có 8 giường bệnh, 1 bác sĩ, 2 y sĩ và 2 y
17
tá. Ngồi ra 6/6 bản đều có y tá bản. Bên cạnh đó là cơng tác triển khai tiêm
chủng mở rộng đạt 88% kế hoạch, tuyên truyền phổ biến về cơng tác kế hoạch
hóa gia đình. Năm 2013 xã đã kịp thời tham mưu các công tác về vật chất,
tinh thần động viên cán bộ y tế xã nhân ngày 27/2. Do trạm xá làm tốt công
tác tuyên truyền chống bệnh tật nên giảm được nhiều trường hợp tử vong về
dịch bệnh, công tác khám chữa bệnh được quan tâm đúng mức trong năm
2013 tổ chức khám chữa bệnh cho bà con nhân dân hơn 300 lượt người, tiêm
chủng mở rộng cho 178 cháu, uống Vitamin a, tẩy giun.
Văn hóa - xã hội nhất là công tác thông tin tuyên truyền bằng nhiều
hình thức đã phát huy tác dụng trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách
đường lối của Đảng và Nhà nước, góp phần đáng kể trong cuộc vận động
nhân dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Hiện nay 6 bản đã có 6
đội văn nghệ, thực hiện Nghị định 29/CP của Chính phủ về thực hiện dân chủ,
thực hiện chỉ thị 27/CP của Chính phủ về tang lễ, cưới xin, lễ hội được nhân
dân thực hiện tốt. Nhà văn hóa đã được xây dựng 3/6 xã. Các bản có các đội
bóng chuyền, kéo co, ném cịng... phong trào thể dục, thể thao có hướng phát
triển đáng kể. Trong những năm qua xã đã tổ chức được Đại hội thể dục, thể
thao và thường xuyên cử các vận động viên tham gia các Đại hội thể dục, thể
thao do huyện tổ chức tạo khơng khí vui vẻ trong cán bộ và nhân dân. Hệ
thống đường điện được xây dựng 4/6 bản phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho nhân
dân, ở xã có 2 bưu điện văn hóa phục vụ thơng tin liên lạc của nhân dân trên
địa bàn và 103 điện thoại cố định trong dân. Xã đã không ngừng thăm hỏi,
động viên kịp thời con em trong độ tuổi đến trường đều được tham gia đi học
đầy đủ đặc biệt đầu năm 2013, nhà trường đã đi vào giảng dạy đúng chương
trình kế hoạch, khơng có tỷ lệ bỏ học 100% trẻ em trong độ tuổi đến trường
đều được đến trường.
18
Về mặt hạn chế:
Công tác tổ chức tuyên truyền chưa được thường xuyên, chưa tham
mưu kịp thời cho Đảng ủy Chính quyền địa phương. Chưa thường xuyên tổ
chức, cập nhật cơng tác xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và đăng ký
bản văn hóa, gia đình văn hóa.
Một số hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao của Xã hầu như 6/6 bản
khơng có mặt bằng tạo khn viên khu vui chơi giải trí như sân bóng chuyền,
bóng đá, nên chỉ hoạt động theo thời vụ khi cần thiết chính vì thế phong trào
văn hóa thể thao của xã nhà có mặt hạn chế.
Các chế độ chính sách được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, nhưng
đánh giá lại hiệu quả càng hỗ trợ nhiều thì người dân càng có tư tưởng trơng
chờ, muốn nghèo để được hưởng chế độ chính sách chưa ý thức được trong
cơng tác xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng.
Quốc phòng - An ninh: là xã miền núi của huyện biên giới nên cơng tác
quốc phịng, an ninh trên địa bàn được quan tâm đặc biệt. Là địa bàn trọng
điểm về Quốc phịng- An ninh, có chiều dài biên giới 17 km (chiếm ½ chiều
dài biên giới tồn huyện Kỳ Sơn). Tổng diện tích tự nhiên 9.036,12 ha, địa
hình phức tạp, giao thơng đi lại khó khăn nhất là vào mùa mưa, tổng dân số
tồn xã 4115 người, có 04 hệ dân tộc là Mông, Thái, Khơ mú và Kinh. Dân
tộc thiểu số chiếm 90% trong đó dân tộc Mông chiếm 60%, Thái chiếm 20%,
Khơ mú chiếm 15%, Kinh chiếm 5%, có ba bản biên giới, ba bản nội địa, có
một chi bộ quân sự.
Thuận lợi: Được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của UBND huyện,
ban chỉ huy quân sự Huyện, Công an Huyện, Thường trực Đảng ủy, HĐND xã
Nậm Cắn và các Ban nghành cấp xã quan tâm tạo điều kiện, các chính sách, tạo
nguồn kinh phí cho cơng tác quốc phịng- an ninh từ đó trình độ của đội ngũ
19
cán bộ từng bước được nâng lên, cơ sở vật chất đảm bảo hơn. Công tác quốc
phong- an ninh đã phát huy tốt truyền thống cách mạng, đoàn kết, tự lực, tự
cường vượt qua khó khan thử thách và đạt được những thành tựu quan trọng
góp phần giữ vững cơng tác quốc phòng- an ninh trên tuyến biên giới xã nhà.
Khó khăn: Trong 6 tháng đầu năm 2013 bên cạnh sự phát triển đi lên
của nền kinh tế xã nhà tình hình An ninh- trật tự an tồn xã hội trên địa bàn xã
có nhiều diễn biến phức tạp, hoạt động móc nối cài cắm, di dịch cư trái Pháp
luật, vượt biên trái phép, tranh chấp đất đai, mâu thuẫn nội bộ nhân dân, hoạt
động các loại tội phạm có chiều hướng gia tang, nhất là tội phạm ma túy, tội
phạm hình sự…Kinh tế chậm phát triển, giao thơng đi lại khó khăn, dân trí
chưa đồng đều, tỷ lệ hộ nghèo cao, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
cịn nhiều khó khăn nên đã tác động ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ
quốc phòng an ninh của xã.
Kết quả đạt được:
- Tổ chức xây dựng lực lượng dân qn, cơng an.
Tổng số dân qn tồn xã: 69 đồng chí, cơng an là 09 đồng chí trong đó:
. Ban cơng an
03 đồng chí
. Ban CHQS xã
05 đồng chí
. Lực lượng dân quân ban cơ động
12 đồng chí
. Lực lượng dân quân tự vệ
10 đồng chí
. Lực lượng tại chỗ
18 đồng chí
. Lực lượng binh chủng
12 đồng chí
. Lực lượng dự bị h1
32 đồng chí
. Lực lượng dự bị h2
138 đồng chí
20
. Độ tuổi 18 đến 25
154 đồng chí
. Độ tuổi 17
24 đồng chí
. Lực lượng cơng an viên
06 đồng chí
- Huấn luyện nghiệp vụ Công an xã:
Trong 06 tháng đầu năm 2013 ban Công an xã đã cử cán bộ tham gia
tập huấn luyện nghiệp vụ công an cho 07 đồng chí tại Huyện, qua kết quả tập
huấn các đồng chí đạt kết quả khá 100%.
- Cơng tác phối kết hợp tuần tra, kiểm tra cột mốc biên giới giữa ban
chỉ huy quân sự, ban công an xã và đồn biên phòng 539:
Tổng số 02 lần với 21 lượt người tham gia, qua các đợt tuần tra đều
đảm bảo an tồn tuyệt đối 100%. Tuần tra kiểm sốt dọc theo quốc lộ 7A,
Tổng số là 21 lần với 105 lượt người tham gia, kết quả tuần tra phát hiện 07
công dân của xã Hữu Kiểm vượt biên trái phép, nguyên nhân là do bị lừa sang
Lào lao động…
- Về công tác hỗ trợ lực lượng dân quân thường trực xã Nậm Cắn:
Trong 06 tháng đầu năm 2013, ban Chỉ huy quân sự đã tham mưu cho
cấp ủy, chính quyền xã hỗ trợ kinh phí tu sửa nhà ở, chi huấn luyện cho lực
lượng dân quân thường trực số tiền là: 13.500.000đ, 5 tấn xi măng, 02 xe cát
sỏi và huy động dân quân làm hoàn chỉnh con đường lên tiểu đội DQTT với
125 công. Về chăn nuôi: Trang trại của thường trực dân quân 6 tháng đầu năm
2013 được 03 con bò, 75 gốc cây ăn quả các loại.
- Những tồn tại và hạn chế trong cơng tác quốc phịng, an ninh và dự
báo tình hình trong thời gian tới:
. Thời tiết khí hậu khắc nghiệt, thiếu đất đai sản xuất, nảy sinh vấn đề
mua bán, tranh giành nương rẫy xẩy ra kiện tụng, gây ra phức tạp trên địa bàn.
21
. Vấn đề di cư tự do sang Lào, người ngoài địa bàn di cư về Nậm Cắn
tiếp tục diễn ra gây khó khăn cho cơng tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, hoạch
định các chính sách kinh tế xã hội của địa phương.
. Các tệ nạn xã hội như bn bán, hút hít ma túy, trộm cắp, lừa gạt, xuất
khẩu lao động tiếp tục diễn ra, số thanh niên đến tuổi lao động khơng có việc
làm thích hợp đó là những nhân tố góp phần làm mất ổn định trên địa bàn xã.
. Số người Nậm Cắn đi vào khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc còn nhiều,
ngược lại số người Tây Nguyên, Tây Bắc đến Nậm Cắn thường xuyên cho
nên nguy cơ tuyên truyền đạo trái phép tại Nậm Cắn rất cao.
Trong những năm qua lực lượng công an, quân đội đóng trên địa bàn
cùng sự phối hợp với nhân dân đã đảm bảo được tình hình an ninh trật tự trên
địa bàn, đăng kí tạm trú, tạm vắng, phối hợp với lực lượng dân quân đi tuần
tra, kiểm tra nắm bắt tình hình trong khu vực dân cư để đảm bảo an ninh trật
tự. Đảng bộ và nhân dân luôn nhận thức rằng lực lượng dân quân là lượng bán
vũ trang hoạt động tại xã, là lực lượng bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ nhân
dân, từ đó mà có nghị quyết xây dựng lực lượng dân quân xã hàng năm.
Trong cơng tác quốc phịng đã tổ chức huấn luyện quân sự cho các lực lượng
dân quân theo quy định và đạt kết quả trung bình khá, tổ chức quán triệt và
xây dựng theo hành động thực hiện nghị quyết Trung Ương 8 khóa 9 về chiến
lược bảo vệ an ninh tổ quốc trong tình hình mới. Xã Nậm Cắn cũng đã triển
khai “Đề án thực hiện chuẩn quốc gia về y tế” để đảm bảo về công tác khám
chữa bệnh, cấp thuốc và chăm sóc sức khỏe cho người dân. Đồng thời, xã
luôn quan tâm tới công tác giáo dục, đặc biệt không để các con em đồng bào ở
các bản xa như Huồi Pốc, Pà Ca thất học, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường
đã đạt 100%. Ơng Hờ Chống Nhìa cho biết: Tồn xã phấn đấu đến năm 2015
sẽ có hơn 40% số hộ dân tộc thiểu số trong độ tuổi lao động được đào tạo
22
nghề ngắn hạn và dài hạn, trên 90% hộ biết ứng dụng khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, chăn nuôi theo phương thức mới; 85% số hộ đồng bào có nhà vệ
sinh, duy trì và đảm bảo 100% trẻ em đến độ tuổi đến lớp theo từng cấp học,
trên 95% được xem truyền hình và 100% được nghe phát thanh, 90% có điện
thoại liên lạc.
Qua những đặc điểm trên chúng ta có thể thấy được những thuận lợi,
lợi thế riêng đó là đội ngũ cán bộ hồn thiện và tiến bộ dần về mọi mặt, hệ
thống chính trị ln ổn định luôn nhận định được sự quan tâm của các cấp,
chính quyền, các nghành đồn thể trong huyện. Nhân dân địa phương có tinh
thần đồn kết, ham học hỏi, năng động, có tránh nhiệm, vận dụng đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp phát triển văn hóa - xã hội
của xã Nậm Cắn.
1.3. Văn hóa các dân tộc xã Nậm Cắn
Ở Nậm Cắn có ba dân tộc chính là H’Mơng, Thái và Khơ Mú chiếm
90%, cịn lại là 5% dân tộc Kinh các dân tộc ít người ở đây vừa mang những
đặc điểm chung của các dân tộc trong nước, vừa mang những nét đặc thù của
một số dân tộc ít người cư trú trong một vùng lãnh thổ nhất định.
Người H’Mông cư trú ở vùng núi cao hiểm trở ở biên giới Việt Lào
sống xen kẽ với các dân tộc Thái, Khơ Mú, sinh tụ ở vùng núi cao phía bắc thị
trấn Mường Xén. Qúa trình di cư của người H’Mơng cũng là q trình đấu
tranh chống áp bức, bóc lột, ý thức tộc người của đồng bào rất cao. Người
H’Mông ở đây sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy, trình độ canh tác rẫy dốc
của họ cao hơn rất nhiều so với các dân tộc khá cư trú trong vùng, nhất là
những nương định canh. Trên loại nương này đồng bào trồng các loại hoa,
ngô và thuốc phiện. Từ năm 1960 trở đi thực hiện cuộc vận động định canh,
định cư đồng bào bắt tay vào khai phá đất đai và làm ruộng lúa nước, đồng
bào H’Mông ở đây chủ yếu ăn bằng gạo tẻ do điều kiện canh tác thuận lợi.
23
Trước đây đồng bào sản xuất rất nhiều thuốc phiện, kỹ thuật sản xuất
cao, có nhiều kinh nghiệm, đây là địa bàn thuận lợi cho cây thuốc phiện sinh
trưởng mạnh. Chăn nuôi ở đồng bào H’Mông khá phát triển, nhiều gia đình có
đàn lợn hàng chục con, nghề ni ngựa và bò cũng phổ biến.
Trang phục và nhà ở của đồng bào H’Mông ở Nghệ An về cơ bản
giống những người dân tộc của họ ở Tây Bắc, chỉ có nhà ở khác chỗ quy mơ
nhỏ và ít có vườn nhà, tính chất tạm bợ rõ nét hơn ở Tây Bắc. Chế độ xã hội
của người H’Mông đề cao chức dịch, nhiều chức dịch kiêm luôn cả nghề thầy
cúng như trùm bản Cư La Măng(bản Thăm Khổm, xã Cà Tạ), những người
khá giả và có chức vụ vẫn trực tiếp lao động, quan hệ than thiện với quần
chúng và có uy tín trong làng bản, phần lớn hị là những tộc trưởng nên càng
có uy quyền hơn. Quan hệ dịng họ của người H’Mông rất được coi trọng, từ
quan niệm của một ơng tổ sinh ra, mỗi dịng họ có tên gọi riêng, dù cư trú
cách xa nhau đến mấy, dù ở các địa phương và quốc gia khác nhau, dù khơng
quen biết nhau nhưng có chung những quy ước như tên gọi hoặc cùng tập tục
trong giao tiếp, ma chay, thờ cúng… đều được đối xử như người trong họ.
Mỗi thành viên trong dịng họ có ý thức phục thù cho dòng họ mỗi khi họ bị
thua thiệt hoặc bị xúc phạm, người H’Mơng có “cái lý” của người H’Mông,
cái lý của người H’Mông vừa biểu hiện yếu tố thẳng thắn, trung thực nhưng
có lúc cũng thể hiện năng lực ngụy biện cực đoan khá rõ. Gia đình người
H’Mơng là gia đình phụ quyền khá bền vững, người con trai trong gia đình
được dạy làm quen với lao động từ thuở nhỏ, từ 10 tuổi trở đi các em đã thạo
việc bắn nỏ, sản xuất, 15 tuổi các chàng trai bắt đầu biết các bài cúng tổ tiên
và khá thành thạo các nghề cổ truyền. Từ đó các chàng trai được đổi tên theo
một nghi thức như lễ thành đinh của người Dao, từ sau nghi thức này các
chàng trai có thể “cướp vợ” theo tập quán của dân tộc mình. Trước đây tục
cướp vợ phổ biến trong thanh niên dân tộc H’Mông, trong trường hợp cô gái
24
đồng ý thì việc cướp xảy ra như một nghi thức, trường hợp cơ con gái phản
đối thì “cướp” để buộc cô con gái phải lấy và nhà trai phải trả tiền đền danh
dự cho nhà gái. Hình thái hơn nhân một vợ một chồng còn nặng tàn dư mẫu
hệ, hơn nhân con cơ con cậu, con gì con già vẫn cịn phổ biến, người H’Mơng
quan niệm có rất nhiều loại ma: Ma trâu(nhiu dáng), Ma nhà(xủa cá), ma
cửa(xìa mình), ma lơn(bùa dáng), ma bếp(hú sinh), ma lò(Khơ trú)…đồng
bào quan niệm mọi vật đều có hồn(pli), người chết hồn lìa khỏi xác và biến
thành ma. Người ta có 3 hồn, 1 hồn ở đỉnh đầu, 2 hồn ở tay, vì thế người ta
kiêng xoa đầu trẻ em và kiêng trẻ em vỗ tay vì sợ hồn đi mất.
Đồng bào H’mơng có kho tàng truyện cổ dân gian rất phong phú thể
hiện thái độ và tình cảm của mình đối với thiên nhiên, đất nước, con người, về
cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, ca ngợi nền giáo dục truyền
thống…Đồng bào quan niệm về vũ trụ còn rất đơn giản nhưng không kém
phần độc đáo, kho tàng dân ca rất phong phú bao gồm nhiều loại: Loại kể
chuyện cổ tích, loại kể chuyện tình yêu trai gái, loại giáo dục chàng rể cô dâu
mới, loại dung để cúng ma…đồng bào có thể kể chuyện bằng văn vần hoặc
hát(khúa kê), hoặc thể hiện nhạc cụ dân tộc như khèn, kèn, đàn môi hoặc sáo.
Nhiều sinh hoạt cộng đồng mang sắc thái tộc người rõ nét, múa khèn của nam
và múa ô của nữ trong lễ hội “Gầu Tào”, trong đám ma tiễn đưa người chết về
với tổ tiên…những điệu hát “ Cự xìa”, “Lù tơ”, “Vàng hủa” đến thi hát giữa
các cặp trai gái thổ lộ tâm tình của những đêm trăng…Trong hai hóm
H’Mơng của huyện Kỳ Sơn mỗi nhóm có một điệu “Cự Xia” riêng, H’Mông
Đu và “Cự Xia” H’Mông Lênh, trang phục cổ truyền của người H’Mông rất
rực rỡ, mang đậm màu sắc riêng.
Dân tộc Thái ở Nậm Cắn chiếm 20%, về cơ bản những yếu tố văn hóa
truyền thống trong đời sống văn hóa vật chất và các phương thức sinh hoạt
kinh tế của đồng bào Thái ở Nghệ An khơng có gì khác biệt lắm so với những
25
người đồng tộc của họ ở Tây Bắc, trên cơ sở kế thừa vốn truyền thống văn
hóa đó, khi vào Nghệ An đồng bào đã áp dụng nó trong những điều kiện vừa
có tính chất chung của núi rừng nhiệt đới, vừa có nét khu vực địa lý riêng do
ảnh hưởng của địa hình và khí hậu, người Thái là cư dân nơng nghiệp biết
dung cày, người Thái có những kinh nghiệm nuôi cá ruộng, người Thái trông
bông, dệt vải dệt thổ cẩm rất tinh vi, thành thạo. Về văn hóa vật chất tiêu biểu
ở người Thái là trang phục và nhà cửa, Mỗi bản trung bình thường có 25 đến
35 nóc nhà, nhà ở của người Thái thường thống đãng và rộng do ít khăn
phên, vách và hàng cột giữa. Áo quần và trang sức của người Thái ở Kỳ Sơn
có một số nét khác biệt so với ở Tây Bắc, trang phục Thái cổ truyền hiện nay
chỉ thấy ở những phụ nữ cao tuổi, hầu hết đàn ông và phụ nữa đều ăn mặc
theo lối người Kinh; giai cấp thống trị Thái bao gồm các chúa đất thuộc dòng
họ quý tộc và chức dịch cao được xác lập do xã hội cổ truyền quy định. Hôn
nhân của người Thái trước đây cịn mang tính chất mua bán, tục lệ này không
ủng hộ các trai gái khác đẳng cấp lấy nhau. Về tơn giáo, tín ngưỡng người
Thái cho rằng đấng siêu nhiên quyết định số phận cuộc đời mỗi con người là
Pô Then (theo lớn), Nõ tượng trưng cho uy quyền và thế lực của tầng lớp quý
tộc trong thực tế, trật tự gia đình phụ quyền được khẳng định và củng cố bằng
hình thức thờ cúng tổ tiên, câc dòng họ quý tộc đều ghi chép gia phả hệ thống
than tộc “ải nọng” bằng chữ Thái. Việc thờ cúng chúa đất, bản mường tổ
tiên…tổ chức nghi thức hội hè hàng năm, theo mùa vụ sản xuất thường ghép
với các nghi lễ nơng nghiệp. Người Thái có vốn văn nghệ dân gian rất phong
phú và đặc sắc, văn tự Thái với những cuốn sử chép tay trên lá cọ, giấy gió,
truyện thần thoại của đồng bào Thái thể hiện thế giới quan của một cư dân đã
ở vào trình độ và xã hội phát triển cao, đồng bào quan niệm thế giới có 5 tầng:
Tầng 1 là thế giới mường trời, tầng 2 là thế giới các vị thần và tổ tiên do Then
Luôn cai quản, tầng 3 là thế giới trên từng mây vòm trời, tầng 4 là thế giới
26
thực của lồi người và mn vật, tầng 5 là thế giới mặt đất của những người
tý hon ăn đất. Nhiều điệu “xuôi, lăm, khắp” đã trở thành sắc thái riêng biệt
của vùng quê miền núi Kỳ Sơn, Nghệ An thể hiện qua tiết tấu và sự hài hòa
giữa nhạc và lời, đậm nét trữ tình, nhạc cụ khèn bè, khèn đám ma, sáo nhn
và sáo lăng(Hàng Tổng), sáo “khíu”, điệu hát khắp và sáo “tờ li ọi” thổi đi
rẫy, bộ cồng chiêng 4 âm đánh theo lối “liệp nậm” như nước chảy, bộ khắc gỗ
chày trên cối và bộ gõ sống nứa…là những sản phẩm độc đáo mang dấu ấn
văn hóa đậm nét vùng núi Nghệ An.
Dân tộc Khơ Mú chiếm 15% ở Nậm Cắn, hiện đang sinh sống ở đầu
nguồn các khe suối, đồng bào Khơ Mú ở phía Tây Nam thị trấn Mường Xén
có quan hệ thân tộc, hôn nhân gần gũi với cư dân Khơ Mú đang cư trú ở Lào,
người Khơ Mú sống chủ yếu bằng nương rẫy, trình độ canh tác của họ rất
thấp với công cụ là gậy chọc lỗ, gần đây chiếc gậy được bọc đầu bằng sắt, sản
phẩm chăn nuôi không đáng kể nó chỉ đáp ứng nhu cầu nghi lễ tơn giáo.
Người Khơ Mú có nghề đan lát mây tre đan đạt trình độ khá cao, đồng bào chỉ
biết dệt vải thơ làm khố cho nam giới vì thế trang phục của họ khơng có gì
đặc biệt chỉ khác ở áo phụ nữ là hàng tiền đồng xu nhỏ dính trước ngực áo, do
lối sống lang thang nay đây mai đó như vậy nên nhà của họ cũng rất đơn giản,
chỉ cần một con dao là có khả năng hồn thiện một ngôi nhà : cột tre, phên
nứa, sàn bương… Tính độc lập tương đối vẫn tồn tại với xã hội cổ truyền của
người Khơ Mú, phân công lao động chủ yếu là giới tính, quan hệ anh em
trong dịng họ và bạn bè cố kết họ lại rất bền vững, tổ chức cộng đồng khá
bền chặt. Điều đáng chú ý là ở địa bàn miền núi Nghệ An hiện nay vẫn cịn
tồn tại các gia đình lớn phụ quyền (bản Thằm Lăn- Mường Típ-Kỳ Sơn). Các
dịng họ của người Khơ Mú có nhiều tên gọi mang ý nghĩa Tơ-tem giáo, tên
gọi đó có thể là một lồi chim như họa mi(Lang tu), chim sẻ(Dịt), Chim
quốc(Khút lộc), trong mỗi dòng họ người trên kẻ dưới được phân biệt qua tục