Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Công tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền ngọc sơn hoàn kiếm hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 103 trang )

Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lch n Ngc Sn
Trờng đại học văn hoá h nội
Khoa quản lý văn hoá-nghệ thuật
-----------

Tạ thu sa

Khoá luận tốt nghiệp cử nhân văn hoá
chuyên ngnh quản lý văn hoá

Đề ti:
Công tác quản lý di tích v phát triển
du lịch ở đền ngọc sơn - hon kiếm - h nội

gvhd
svth
Lớp
Khoá häc

: Ths. Ph¹m BÝch Hun
: Tạ Thu Sa
: QLVH 8B
: 2007 - 2011

Hμ néi: 2011
SV: Tạ Thu Sa

0

Lớp: QLVH8B



Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn

LỜI CẢM ƠN
Sau bốn năm học tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội cùng với sự nỗ
lực học tập của bản thân, sự day bảo của các thầy cô giáo em đã vinh dự
được viết khóa luận tốt nghiệp. Trong q trình viết khóa luận: “Cơng tác
quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn - Hoàn Kiếm - Hà
Nội”. Em đã nhận được sự giúp đỡ, quan tâm và hướng dẫn tận tình của
Thạc sĩ Phạm Bích Huyền. Bên cạnh những kiến thức liên quan đề tài, qua
Cơ em cịn học được những kinh nghiệm, ứng xử trong cuộc sống. Em xin
gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô, người đã ln giúp đỡ em có thể
hồn thành tốt khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cơ giáo trường Đại học Văn hóa
Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo trong khoa Quản lý Văn hóa - Nghệ
thuật, các thầy cơ đã giúp chúng em có thêm rất nhiều kiến thức và kinh
nghiệm sau bốn năm học.
Và cuối cùng em xin cảm ơn những người thân trong gia đình, những
người bạn đã ln động viên, ủng hộ và giúp đỡ em trong suốt quá trình
viết khóa luận.
Đề tài khóa luận “Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở
đền Ngọc Sơn - Hồn Kiếm - Hà Nội” được viết từ góc nhìn của một sinh
viên còn thiếu kinh nghiệm nghiên cứu nên chắc rằng cịn nhiều thiếu sót.
Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các thầy, cơ giáo,
các bạn sinh viên để đề tài được hồn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Tạ Thu Sa

SV: Tạ Thu Sa


57

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH ................................................................................................ 6
1.1 Các khái niệm. ....................................................................................................... 6
1.1.1 Khái niệm về quản lý ..................................................................................... 6
1.1.2 Khái niệm Di sản văn hoá ............................................................................. 7
1.1.3 Khái niệm quản lý di sản văn hoá ................................................................ 8
1.1.4 Khái niệm du lịch:......................................................................................... 8
1.2 Những vấn đề chung về quản lý di sản văn hoá và phát triển du lịch ở Việt
Nam. ........................................................................................................................... 12
1.2.1 Mối quan hệ giữa quản lý di sản văn hoá và phát triển du lịch. ............. 12
1.2.2 Quan điểm của nhà nước về quản lý di sản văn hố, bên cạnh đó phát
triển du lịch............................................................................................................ 19
1.2.3. Cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa và du lịch. ........................ 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở
ĐỀN NGỌC SƠN- HỒN KIẾM - HÀ NỘI. ............................................................ 33
2.1 Khái quát về di tích ............................................................................................. 33
2.1.1 Vị trí địa lý, cảnh quan đền Ngọc Sơn trong cụm di tích Hồ Gươm.............. 33
2.1.2 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển. ............................................. 34
2.1.3. Kiến trúc và cấu trúc khu di tích............................................................... 37
2.1.4 Vai trị tín ngưỡng tâm linh của đền Ngọc Sơn. .......................................... 1
2.1.5 Giá trị hiện vật trong đền Ngọc Sơn. ........................................................... 4

2.1.6 Truyền thống lịch sử ...................................................................................... 7
2.2. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý bảo vệ, tôn tạo và phát triển di tích. ...... 10
2.2.1. Thực trạng quản lý di tích ......................................................................... 10
2.2.1.1 Đội ngũ những người phục vụ đền Ngọc Sơn ……………………….50
2.2.1.2 Công tác tu bổ, bảo tồn di tích ……………………………………….51
2.2.1.3 Cơ sở vật chất của Đền ……………………………………………….51
2.2.1.4 Công tác bảo vệ môi trường ………………………………………….53
2.2.2 Thực trạng phát triển du lịch tại di tích. ................................................... 14
2.2.2.1. Các loại hình du lịch………………………………….........................54
2.2.2.2. Số lượng khách du lịch………………………………….....................55

SV: Tạ Thu Sa

54

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
2.2.2.3. Các hoạt động dịch vụ phục vụ du khách ………………………….56
2.2.2.4. Xe điện phục vụ khách du lịch …………………………………...…57
2.3 So sánh thực trạng quản lý di sản và phát triển du lịch tại một số di tích............... 20
2.3.1 Di tích lịch sử Đền thờ Hai Bà Trưng. ....................................................... 20
2.3.2 Di tích lịch sử Gị Đống Đa. ......................................................................... 23
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ PHÁT TRIỂN
DU LỊCH Ở ĐỀN NGỌC SƠN – HOÀN KIẾM – HÀ NỘI............................................... 25
3.1. Nâng cao trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực. ............................ 25
3.2 Nâng cao tính tự quản của nhân dân trong vấn đề quản lý, bảo vệ khu di tích
và phát triển du lịch. ................................................................................................. 26
3.3 Giải pháp về đầu tư nguồn kinh phí cơ sở vật chất. ........................................ 26

3.4 Giải pháp về tu bổ, tơn tạo di tích. .................................................................... 27
3.5 Tăng cường quảng bá du lịch ............................................................................ 28
3.6. Quản lý các hoạt động dịch vụ, môi trường. ................................................... 29
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………….77
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………...…79
PHỤ LỤC………………………………………………………………………………80

SV: Tạ Thu Sa

55

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Lịch sử đã để lại cho dân tộc ta nhiều di sản văn hoá quý báu, đặc
biệt là hệ thống di tích lịch sử văn hố với các Đình, Chùa, Miếu, Lăng,
Thành, các cơng trình kiến trúc. Mỗi một cơng trình không chỉ đơn thuần là
sản phẩm được kết tinh từ trí tuệ, bàn tay tài hoa, khéo léo của bao thế hệ
cha ơng, mà đó cịn là nguồn tư liệu sống, là minh chứng vật chất phản ánh
quá trình lao động sáng tạo, đoàn kết đấu tranh chống giặc ngoại xâm và sự
xâm lăng văn hoá trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của dân tộc
ta. Đó là tài sản vô giá, là bộ phận quan trọng hợp thành nền văn hoá Việt
Nam giàu bản sắc dân tộc. Đồng thời là một bộ phận của di sản văn hố
nhân loại.
Vì vậy, di sản văn hố nói chung, di tích lịch sử văn hố nói riêng
cần được lưu giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị để các thế hệ tiếp nối hiểu

sâu sắc hơn về tổ tiên, cội nguồn, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc.
Từ đó có ý thức trân trọng, phát huy những giá trị tốt đẹp, ý thức trách
nhiệm của mình với quê hương, đất nước. Ngày nay, khi đất nước bước vào
thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, đời sống vật chất và tinh thần người dân
ngày càng nâng cao. Nhu cầu tìm hiểu, khám phá những bí ẩn, truyền
thuyết, tìm về thế giới tâm linh cũng dần tăng lên. Theo đó vấn đề bảo vệ di
sản văn hố, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa quan trọng trong
phát triển kinh tế xã hội, góp phần là cầu nối trong việc giao lưu văn hoá
quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay phần lớn các di tích đang xuống cấp một cách
trầm trọng, các di tích bị đổ nát, các cổ vật bị đem ra nước ngoài, các lễ hội
dần mất đi truyền thống vốn có... gây thất thoát cho tài sản lịch sử và mất đi
những truyền thống q báu của văn hố Việt Nam. Do đó, vấn đề về bảo
vệ di sản văn hố nói chung và quản lý di tích với phát triển du lịch nói
riêng đang được đặt ra hết sức cấp thiết.
SV: Tạ Thu Sa

58

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
Xuất phát từ thực tiễn quản lý ở nước ta còn nhiều hạn chế, đội ngũ
nhân viên quản lý chưa nhiều, trình độ quản lý chưa cao, hơn nữa cùng với
sự bào mòn huỷ hoại theo thời gian, các di tích bị xuống cấp và lấn chiếm.
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm trong việc xây
dựng đội ngũ quản lý, tuy nhiên do điều kiện thực tế hết sức phức tạp nên
cịn nhiều hạn chế. Do đó, vấn đề quản lý di tích và phát triển du lịch là rất
quan trọng. Nó khơng chỉ góp phần giữ nét cổ kính, thiêng liêng của các di
tích như nó vốn có mà cịn tạo ra tâm lý thoải mái cho du khách khi đến

tham quan di tích.
Di tích đền Ngọc Sơn là một di tích lịch sử danh thắng, một di tích
kiến trúc nghệ thuật nằm trong quần thể di tích Hồ Gươm thuộc quận Hoàn
Kiếm - Hà Nội. Đền Ngọc Sơn được đánh giá là một ngôi đền kiến trúc
mới, song đền là một điển hình về khơng gian và tạo tác kiến trúc. Sự kết
hợp giữa đền và hồ đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên - Nhân hợp
nhất, tạo vẻ cổ kính, hài hồ, đăng đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm
giác chan hoà giữa con người và thiên nhiên. Vào những ngày thường và
nhất là những ngày lễ, ngày rằm... đông đảo người dân và du khách đến đền
để được chiêm ngưỡng, để được thoả mãn về nhu cầu tâm linh trong mỗi
người. Tuy nhiên, vấn đề cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch cịn
gặp nhiều khó khăn, nhiều vấn đề đang được đặt ra và cần giải quyết.
Là sinh viên khoa Quản lý Văn hoá - Nghệ thuật trường Đại học Văn
hoá - Hà Nội qua bốn năm học tại trường tơi đã được học nhiều kiến thức
về văn hố cũng như các kiến thức chuyên ngành Quản lý. Vì vậy, tơi
mong muốn sẽ được góp phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu những mặt tích cực
và hạn chế di tích đền Ngọc Sơn để có thêm kinh nghiệm thực tế trong
quản lý di sản văn hoá và thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm, tìm hiểu và
tham quan di tích của du khách trong và ngồi nước.

SV: Tạ Thu Sa

59

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
Từ những lý do trên tôi đã chọn cho mình đề tài: “Cơng tác Quản lý
di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn - Hồn Kiếm - Hà Nội” làm

đề tài Khố luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích
Khố luận nhằm nêu được tiềm năng văn hố của di tích đền Ngọc
Sơn - Hoàn Kiếm - Hà Nội. Đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm quản lý
di tích hiệu quả và tăng sức hút khách du lịch đến với đền Ngọc Sơn.
3. Nhiệm vụ
- Mơ tả hiện trạng di tích.
- Làm rõ những giá trị văn hoá và tầm quan trọng của di tích đền Ngọc Sơn
trong đời sống người dân.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá hoạt động quản lý di tích và phát triển du
lịch tại đền.
- Nêu được một số giải pháp khả thi nhằm khai thác các giá trị văn hố, bảo
tồn di tích và phát triển du lịch.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đề cập đến cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền
Ngọc Sơn. Tập trung làm sáng tỏ vấn đề quản lý ở di tích với nhiều lĩnh
vực: di vật, kết cấu kiến trúc, tín ngưỡng sinh hoạt dân gian và phát triển du
lịch ở di tích đền Ngọc Sơn trong những năm gần đây.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để hồn thành khố luận em đã sử dụng các phương pháp:
- Khảo sát thực tế
- Mô tả
- Nghiên cứu tài liệu
- Phỏng vấn
- So sánh đối chiếu

SV: Tạ Thu Sa

60


Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
6. Bố cục : Khoá luận chia thành các chương chính
Chương I: Cơ sở lí luận về cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch.
Chương II: Thực trạng công tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở
đền Ngọc Sơn - Hoàn Kiếm - Hà Nội.
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích và phát triển
du lịch ở đền Ngọc Sơn - Hoàn Kiếm - Hà Nội.

SV: Tạ Thu Sa

61

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHO CƠNG TÁC QUẢN
LÍ DI TÍCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.2 Các khái niệm.
1.1.1 Khái niệm về quản lý
Thuật ngữ “Quản lý” ở nước ta được hiểu là sự lãnh đạo, điều hành,
giám sát của người hoặc tổ chức cấp trên đối với người hoặc tổ chức cấp
dưới.
Theo từ điển tiếng Việt, quản lý có hai nghĩa. Thứ nhất, quản lý là tổ
chức, điều khiển, theo dõi thực hiện những chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng và nhà nước. Nghĩa thứ hai là giữ gìn và sắp xếp.

Theo giáo trình khoa học quản lý của Học viện chính trị Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh thì “Quản lý chính là một hoạt động, các hoạt
động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác
nhằm thu được kết quả mong muốn”.
Khái niệm quản lý là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực.
Mặt pháp lý của quản lý bao gồm hệ thống pháp luật điều chỉnh nền kinh tế
xã hội. Mặt tâm lý xã hội của quản lý điều chỉnh mọi hành vi của con
người. Vì vậy, khơng có quản lý chung chung mà bao giờ cũng gắn với một
lĩnh vực, một ngành nhất định.
Trong q trình phát triển của xã hội lồi người, con người muốn duy
trì sự sống cần phải có sự phối hợp hành động của các cá nhân, do đó cần
phải có sự quản lý. Quản lý là sự điều tiết cao mang tính xã hội. Nó ln là
hoạt động có đích của chủ thể quản lý khiến các hoạt động trong xã hội
phải tự giác tuân thủ theo. Nó là một quá trình tác động giữa chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý thông qua những biện pháp, phương pháp, phương
tiện quản lý nhằm đạt được những kết quả như mong muốn.
Như vậy, ta có thể định nghĩa quản lý như sau: “Quản lý là sự huy
động, tổ chức và điều hành các nguồn lực nhằm thực hiện một mục tiêu đã
SV: Tạ Thu Sa

62

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
định trước. Các nguồn lực ở đây bao hàm tất cả những công cụ, phương
tiện như chính sách, luật pháp, tài chính, thiết chế, thơng tin, cơ sở vật chất,
các mối quan hệ, khoa học công nghệ, lao động...”
1.1.2 Khái niệm Di sản văn hoá

Di sản là những giá trị văn hoá, lịch sử của các thế hệ trước để lại cho
thế hệ sau. Di sản gồm có các di sản vật thể và phi vật thể.
Luật Di sản đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khoa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001:
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hố, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng
truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền
khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học,
ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí
quyết về nghề thủ cơng truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về
văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân
gian khác.
Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hố,
khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hố, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia.
Di tích lịch sử - văn hố là cơng trình xây dựng, địa điểm và các di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc cơng trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử,
văn hoá, khoa học.
Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết
hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với cơng trình kiến trúc có giá trị lịch sử
thẩm mỹ, khoa học.
Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.
Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử,
văn hố, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.
SV: Tạ Thu Sa

63

Lớp: QLVH8B



Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý
hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học.
Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm giống
như bản gốc về hình dnág, kích thước, chất liệu, màu sắc, trang trí và
những đặc điểm khác.
Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản
văn hố phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những
dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm
hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội.
Theo Công ước về việc bảo vệ di sản văn hố và tự nhiên thế giới
được Hội nghị tồn thể Tổ chức Liên hợp quốc về Giáo dục, Khoa học và
Văn hố thơng qua kì họp thứ 17 họp tại Pari, với chữ kí của Chủ tịch Hội
nghị tồn thể ngày 23 tháng 11 năm 1972. Theo đó, Điều 1, Di sản văn hố
là:
“Di tích: Các cơng trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội hoạ hoành
tráng, các yếu tố hay cấu trúc có tính chất khảo cổ, các văn tự, các hang
động và các cơng trình có sự kết hợp nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn
cầu, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học”. (Luật Di sản,
Điều 4).
1.1.3 Khái niệm quản lý di sản văn hoá
Quản lý di sản văn hoá là quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết
quá trình tồn tại và phát triển của các di sản văn hoá trên một địa bàn cụ thể
nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn,
nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư chủ nhân của các di sản văn hố
đó.
1.1.4 Khái niệm du lịch:
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một
sở thích, một nhu cầu, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người.

SV: Tạ Thu Sa

64

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
Ngày nay, du lịch được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng,
mang nội dung văn hố sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá
cao. Phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ
dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí,
tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thuật ngữ du lịch hiện nay được sử dụng phổ biến trên thế giới nhưng
vẫn là vấn đề gây tranh cãi và việc nhận thức về nội dung của phạm trù du
lịch vẫn cịn nhiều quan điểm khác nhau. Do đó, khái niệm du lịch đến nay
vẫn chưa được thống nhất do các nhà lí luận, các nhà nghiên cứu tiếp cận
du lịch với nhiều góc độ khác nhau. Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần
đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý
thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”. Đến
năm 1930, Glusman người Thuỵ Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục
không gian của những người đến một địa điểm, mà ở đó họ khơng có chỗ
cư trú thường xuyên”.
Theo hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho
lý thuyết về cung - cầu du lịch đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là tập hợp các
mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu
trú của những người ngoài địa phương nếu việc lưu trú đó khơng phải lưu
trú thường xun và khơng dính dáng đến hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ
chức liên quan các cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ
ngoài nơi cư trú thường xuyên với mục đích khác, loại trừ mục đích hành

nghề hoặc đến thăm có tính chất thường xun”.
Qua các định nghĩa trên đây, ta thấy hầu hết các tác giả đều xuất phát
từ đặc điểm di chuyển của khách du lịch để đưa ra định nghĩa. Tuy nhiên
những định nghĩa đó chưa đi sâu vào bản chất của du lịch để làm sáng rõ
nội hàm của nó. Thực chất du lịch là quá trình du ngoạn của con người theo
một lịch trình nhất định để thưởng thức cái đẹp, cái mới lạ không nhằm
SV: Tạ Thu Sa

65

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
mục đích sinh lợi bằng đồng tiền. Với bản chất như vậy, khái niệm sau đây
được coi là tổng thể về du lịch: “Du lịch là quá trình hoạt dộng của con
người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác với mục đích chủ
yếu là thẩm nhận những sắc thái văn hoá và cảnh quan thiên nhiên vùng
miền khác nơi cư trú thường xuyên.” (Trần Nhoãn - Tổng quan du lịch,
2000, 207tr). Khái niệm trên đã làm rõ được mục đích cơ bản của các
chuyến du lịch là du ngoạn “Sắc thái văn hố và cảnh quan thiên nhiên” mà
khơng nhằm sinh lợi bằng đồng tiền. Đồng thời khái niệm cũng chỉ ra được
“cầu” trong thị trường “cung - cầu” du lịch là nguồn lực chủ yếu để phát
triển du lịch, thu hút du khách là văn hoá và cảnh quan thiên nhiên.
Vậy du khách là ai? Du khách hay nói cách khác chính là khách du
lịch. Với khái niệm “khách du lịch”, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều
quan điểm khác nhau. Nhà kinh tế học người áo Jozep Stander đưa định
nghĩa: “Khách du lịch là loại khách đi lại theo ý thích ngồi nơi cư trú
thường xun để thoả mãn nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà khơng theo đuổi
mục đích kinh tế”. Theo Odgilvi - nhà kinh tế học người Anh thì: “Khách

du lịch là người đến đất nước khác theo nhiều nguyên nhân khác nhau,
nhưng nguyên nhân chủ yếu khơng phải làm thương mại”. Trong khi đó Tổ
chức du lịch thế giới đưa ra khái niệm: Kkhách du lịch là những người lưu
trú tạm thời ở nước ngoài và sống tạm thời ở nơi cư trú thường xuyên của
họ trong thời gian 24 giờ trở lên”. Dựa trên khái niệm này Luật Du lịch
Việt Nam đã đưa ra khái niệm: “Khách du lịch là những người đi du lịch
hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để
nhận thu nhập ở nơi đến”. Như vậy qua một số khái niệm về khách du lịch
của các nhà nghiên cứu, các tổ chức thì về cơ bản đều thống nhất: khách du
lịch là những người dời khỏi nơi mình đang sống và mục đích chính khơng
phải là làm “Kinh tế”. Chính điều này đã làm sáng tỏ bản chất, mục đích
của các chuyến đi và cũng là bản chất của du lịch (đã được đề cập ở trên)
SV: Tạ Thu Sa

66

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
Như vậy dựa vào bản chất của du lịch là sự du ngoạn của con người
để được thẩm nhận, được hưởng những giá trị vật chất và tinh thần mang
tính văn hố cao, độc đáo, đặc sắc khác lạ với q hương, ta có thể định
hình một số loại hình du lịch:


Du lịch văn hố là loại hình du lịch khá phổ biến, trong đó du khách

được thoả mãn nhu cầu thẩm nhận bề dày lịch sử và văn hố của từng vùng
miền, quốc gia thơng qua các di tích lịch sử, văn hố, các nhà bảo tàng, lễ

hội, phong tục tập quán, ...
Theo “Luật du lịch” ban hành ngày 01/ 01/ 2006 trong điều 4 “giải
thích từ ngữ” định nghĩa: “du lịch văn hố là hình thức du lịch dựa vào bản
sắc văn hố dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hoá truyền thống.”


Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên gắn với bản

sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền
vững. (Luật Du lịch).


Du lịch cơng vụ là loại hình du lịch mà mục đích chủ yếu của khách là

giải quyết công việc kết hợp với tham quan du lịch.


Du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh là loại hình du lịch mà mục đích chủ

yếu của khách là được nghỉ ngơi, điều trị bệnh tật kết hợp với tham quan du
lịch.


Du lịch thăm hỏi là loại hình du lịch mà mục đích chính của khách là

thăm hỏi gia đình, người thân, bạn bè... kết hợp với tham quan cảnh trí nơi
đến.
Trong các loại hình trên thì du lịch văn hố được coi là loại hình du lịch
giàu tiềm năng và ổn định, nó ít chịu tác động của yếu tố thời tiết, khí hậu

cũng như tính chất mùa vụ... trong kinh doanh du lịch.
Khách du lịch văn hố thường là trí thức, các nhà nghiên cứu có uy tín
địa vị trong xã hội. Vì vậy, kinh doanh loại hình này thường đem lại hiệu
SV: Tạ Thu Sa

67

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
quả kinh tế cao nhưng cũng đòi hỏi các tổ chức kinh doanh dịch vụ phải
cung ứng ra thị trường các sản phẩm có chất lượng tương xứng cũng như
có một phương pháp tổ chức quản lý hợp lí đội ngũ cán bộ đặc biệt là
hướng dẫn viên có trình độ cao.
1.2 Những vấn đề chung về quản lý di sản văn hoá và phát triển du lịch
ở Việt Nam.
1.2.1 Mối quan hệ giữa quản lý di sản văn hoá và phát triển du lịch.
Di sản văn hố là tài sản của q khứ, nó có mặt ở tất cả mọi nơi với
quy mơ và tính chất khác nhau. Tuy nơi nhiều, nơi ít, nơi đặc sắc, nơi
phong phú và đa dạng khác nhau, nhưng ở đâu có con người là ở đó có văn
hố, có di sản văn hố. Có di sản văn hố tất yếu nảy sinh cơng tác quản lý
di sản văn hố để bảo tồn và phát triển kho tàng di sản văn hố của cha ơng
để lại. Trong tiến trình hội nhập hiện nay, các quốc gia đều chú ý khai thác
những thế mạnh vốn có của mình để phát triển đất nước trong đó kinh tế du
lịch được đặc biệt chú ý ở tất cả các quốc gia phát triển. Là một quốc gia
văn hiến với hàng ngàn năm lịch sử, kho tàng di sản văn hoá Việt Nam là
một trong không nhiều thế mạnh của đất nước chúng ta để có thể khai thác
phát triển du lịch. Từ thực tế của hoạt động du lịch cho thấy, bản chất của
du lịch là văn hoá, nội hàm hoạt động du lịch mang nội dung văn hoá sâu

sắc. Những nội dung này đã được thể hiện rõ trong Luật Du lịch của Nhà
nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong quá trình tồn tại và phát
triển của kinh tế du lịch, kho tàng di sản văn hố chính là tiềm năng, nguồn
lực cơ bản để phát triển du lịch ở Việt Nam. Trong các loại hình du lịch ở
Việt Nam hiện nay, du lịch Văn hoá là một trong những loại hình du lịch
đóng vai trị chủ đạo, tiên quyết. Loại hình này tập trung khai thác những
giá trị nhiều mặt của kho tàng di sản văn hoá Việt Nam phục vụ phát triển
du lịch. Điều đó khơng chỉ phù hợp với tiềm năng và điều kiện của du lịch
Việt Nam, điều quan trọng hơn là chính nội hàm của du lịch cần đến văn
SV: Tạ Thu Sa

68

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
hoá như một yếu tố tự thân, tất yếu, khơng thể thiếu. Văn hố Việt Nam
thực sự trở thành nền tảng, mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước
trong đó có kinh tế Du lịch như đường lối của Đảng đã đề ra.
Quá trình khai thác giá trị của kho tàng di sản văn hố để phát triển du
lịch tất yếu nảy sinh cơng tác quản lý di sản. quản lý di sản văn hố để phát
triển du lịch chính là những biện pháp tạo cơ sở, nền tảng từ các yếu tố văn
hoá, biến văn hoá trở thành động lực phát triển của du lịch đồng thời cũng
hướng tới mục tiêu cần đạt được của du lịch là văn hố. Nói một cách khác,
quản lý di sản văn hoá và phát triển du lịch là hai dịng chảy xi chiều
trong cùng một dịng sông.
Phát triển du lịch là một trong những biện pháp cơ bản, hữu hiệu giúp
cho quá trình quản lý di sản văn hoá đạt hiệu quả cao. Suy cho cùng thì
cơng tác quản lý di sản văn hố nhằm đạt đến hai mục đích cơ bản: Bảo tồn

sự phát triển của kho tàng di sản văn hoá và khai thác một cách tốt nhất,
ngày càng hiệu quả giá trị của kho tàng di sản, nâng di sản lên những tầm
cao mới. Cách tốt nhất khai thác giá trị của kho tàng di sản văn hố chính là
khai thác giá trị của hệ thống di sản văn hố thơng qua hoạt động du lịch.
Biến di sản văn hoá thành hàng hoá thông qua hoạt động du lịch là một
trong những luận điểm đúng đắn trong giai đoạn xây dựng một nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Do vậy, cần có những
bước đi và biện pháp thích hợp.
* Tác động tương hỗ giữa hoạt động du lịch và hệ thống di sản văn hố:
Di sản nói chung và di sản văn hố nói riêng là sản phẩm của lịch sử
đấu tranh sinh tồn và dựng xây đất nước của biết bao thế hệ người Việt
Nam; nó luôn tồn tại, vận hành và phát triển cùng lịch sử dựng nước và giữ
nước của quốc gia, dân tộc; mang dấu ấn lịch sử và dấu ấn thời đại. Cùng
với lịch sử, di sản sẽ trải qua những bước thịnh suy, thăng trầm khác nhau theo
dòng thế sự, nhưng dù sao nó vẫn ln ln tồn tại và phát triển không ngừng.
SV: Tạ Thu Sa

69

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
Trong khi đó, du lịch là kết quả đồng thời cũng là hệ quả trong tiến
trình lịch sử phát triển của xã hội loài người nhưng du lịch phát triển với
tốc độ nhanh chóng, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong xã hội văn
minh hiện đại. Du lịch thể hiện sự khám phá và trải nghiệm lịch sử của con
người. Trong quá trình phát triển, nó ln gắn bó với di sản như là yếu tố
tự thân, nội tại...
Di sản văn hoá và hoạt động du lịch trở thành những thành tố cơ bản,

quan trọng của một xã hội văn minh, phát triển trên nền tảng văn hoá
truyền thống đặc sắc của cộng đồng cư dân chủ nhân của xã hội đó.
Trong q trình tồn tại và phát triển, mối quan hệ tương hỗ giữa hệ
thống di sản văn hoá và hoạt động du lịch mang tính tất yếu khách quan.
Chúng trở thành những thành tố cơ bản, quan trọng của bất cứ một xã hội
nào. Bởi di sản văn hoá là tiềm năng, nguồn lực của du lịch và du lịch là
động lực cho di sản văn hoá tồn tại và phát triển mạnh mẽ, vững chắc. Di
sản văn hoá trở thành “nguyên liệu” cho công nghiệp du lịch. Du lịch trở
thành nguồn cung cấp năng lượng cho di sản văn hoá tồn tại và phát triển.
* Tác động tích cực của hoạt động du lịch đến hệ thống di sản văn hoá:
Hoạt động du lịch là mơi trường thích hợp nhất, tốt nhất để đánh giá,
xác định giá trị của kho tàng di sản văn hố Việt Nam. Thơng qua q trình
giao tiếp trong hoạt động du lịch, kho tàng di sản văn hố được tự kiểm
nghiệm chính mình trên nhiều phương diện, trước hết là có tính độc đáo,
đặc sắc, hấp dẫn hay không? Thông qua thực tế kiểm nghiệm này giúp cho
những người quản lý có những sự điều tiết, thay đổi, điều chỉnh thích hợp
trong cơng tác quản lý di sản văn hoá của các địa phương, điều phối các
hoạt động chun mơn, đáp ứng các u cầu, địi hỏi đặt ra từ thực tế hoạt
động chuyên môn, đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi đặt ra từ thực tế hoạt động
du lịch.

SV: Tạ Thu Sa

70

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
Hoạt động du lịch là những động thái quan trọng, là cơ sở, điều kiện

cụ thể đem đến sự giao thoa, làm giàu cho văn hoá bản địa, góp phần thay
đổi nhận thức và phong cách cư dân bản địa thơng qua q trình giao tiếp
giữa các tầng lớp cư dân với đội ngũ du khách. Sự thay đổi này hồn tồn
mang tính tự thân, tự nguyện.
Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. Đây là
ngành tạo ra rất nhiều việc làm. Số lao động trong ngành du lịch và các lĩnh
vực liên quan chiếm 10,7% tổng số lao động toàn thế giới. Trung bình 2,5
giây, du lịch tạo thêm một việc làm mới và hiện nay, cứ 8 lao động thì có
một người làm trong ngành du lịch.
Du lịch góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế của các vùng có hoạt
động du lịch. Thơng thường, tài ngun du lịch tự nhiên thường hay tập
trung ở các vùng xa xôi, vùng ven biển,... Việc khai thác nguồn tài nguyên
này đòi hỏi phải đầu tư về mọi mặt: giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hoá,
xã hội,... Do vậy mà việc phát triển du lịch đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội ở những vùng đó, giảm thiểu sự chênh lệch về trình độ phát triển
kinh tế - xã hội giữa các vùng trong cả nước, đồng thời góp phần làm giảm
sự tập trung dân cư quá mức ở những đô thị lớn.
Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho nước
đón khách mà không phải trả tiền. Du khách được làm quen tại chỗ với
những mặt hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,... Một số sản phẩm làm
cho du khách hài lòng, từ đó họ sẽ tuyên truyền cho bạn bè, người thân,...
Bên cạnh đó, du lịch cịn là phương tiện tun truyền quảng cáo hữu ích về
các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giới thiệu về con người,
phong tục tập quán của các quốc gia.
Thông qua du lịch, con người được thay đổi mơi trường sống, có ấn
tượng và cảm xúc mới, thoả mãn được trí tị mị, đồng thời mở mang kiến

SV: Tạ Thu Sa

71


Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết. Điều đó góp phần hình thành nên những
ước mơ đầy lãng mạn, nhân văn cho tương lai của khách du lịch.
Trong thời gian đi du lịch, khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng
hoá và thường tiếp xúc với dân địa phương. Thơng qua các cuộc giao tiếp
đó, văn hoá của cả khách du lịch và dân địa phương đều được giao lưu. Du
lịch còn làm phong phú thêm khả năng thẩm mĩ của con người khi họ được
tham quan các kho tàng mĩ thuật của một đất nước.
Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn, nâng cao
truyền thống của dân tộc. Thơng qua các chuyến đi tham quan, nghỉ mát,...
khách du lịch có điều kiện tiếp cận, tìm hiểu với cảnh đẹp, lịch sử và văn
hố dân tộc, qua đó thêm u đất nước mình.
Ngồi ra, sự phát triển du lịch cịn góp phần khai thác, bảo tồn các di
sản văn hoá của dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề thủ
cơng truyền thống, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên,
xã hội. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch đem đến
nguồn thu lớn về tài chính cho các di sản. Du lịch được coi là ngành công
nghiệp sạch nhưng đem lại lợi nhuận to lớn. Nó khơng chỉ tăng nguồn thu
lớn cho ngân sách các địa phương mà còn kéo theo sự đầu tư, tái đầu tư,
mở rộng và phát triển thị phần các ngành kinh tế ở các vùng miền khác
nhau.
* Tác động tiêu cực mà du lịch có thể gây ra cho các di sản văn hoá:
Do hoạt động kinh tế dịch vụ mang tính “động” mạnh mẽ, du lịch ln
biến dổi khơng ngừng, thay đổi nhanh chóng, tác động đến mọi mặt của đời
sống xã hội gây ra những biến đổi căn bản trong đời sống xã hội có thể làm
biến dạng cảnh quan, mơi trường ở nơi có di sản. Hoạt động du lịch đem
đến sự thay đổi, xáo trộn, đôi khi làm đảo lộn nhịp sống bình thường của

các tầng lớp dân cư địa phương nơi có di sản. Trong một số trường hợp đặc
biệt, du lịch có thể là nguyên nhân góp phần gây mất trật tự an toàn xã hội
SV: Tạ Thu Sa

72

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
của một địa phương nào đó nếu tình hình thay đổi mà khơng được quản lý
đúng đắn, phù hợp.
Trong quá trình giao lưu giữa du khách và các tầng lớp cư dân bản
địa, sự tiếp xúc mọi mặt nếu không được định hướng và điều tiết đúng cách
có thể sẽ tạo ra nét “mờ” cuả bản sắc văn hoá địa phương đem đến từ một
bộ phận du khách. Hoạt động du lịch tạo ra sự mất cân đối nhất thời trong
cung - cầu của đời sống xã hội ở một địa phương nào đó. Sự mất cân đối ấy
thể hiện trên các lĩnh vực giao thông, vận chuyển, các cơ sở hạ tầng, nguồn
nhân lực, hệ thống dịch vụ... ở các địa phương nơi có di sản.
Trong quá trình mở cửa, hội nhập quốc gia và quốc tế, hoạt động du
lịch là một trong những nguyên nhân căn bản gây ra sự biến đổi mọi mặt ở
những nơi có các di sản văn hóa. Trên thực tế, với vị thế và không gian hữu
hạn của các di sản văn hoá truyền thống vốn chỉ phù hợp với điều kiện
riêng của các địa phương: khi khách du lịch tới đông sẽ làm ảnh hưởng,
thay đổi, đôi khi làm đảo lộn các hoạt động bình thường của địa phương
nơi có các di sản văn hố. Du khách với nhiều thành phần, lại là những
người có điều kiện, nhu cầu khác nhau, hoạt động của họ có thể tác động
khơng nhỏ đến tình hình trật tự an tồn xã hội của địa phương nơi có các di
sản văn hóa. Nếu không được tổ chức, điều hành, quản lý kho tàng di sản
văn hoá - lễ hội ở các địa phương chu đáo, khoa học sẽ dẫn đến sự lộn xộn

trong quản lý, điều hành xã hội.
Hoạt động du lịch với những đặc thù riêng ln biến động của nó dễ
làm biến dạng các di sản văn hoá truyền thống. Vì văn hố truyền thống dù
có tính bền vững thì vẫn có những hạn chế nhất định về điều kiện kinh tế,
văn hoá xã hội cổ truyền, vốn chỉ phù hợp với một khuôn mẫu và không
gian bản địa. Ngày nay, hoạt động du lịch mang đặc tính mở, mang tính
liên ngành, liên vùng và xã hội hố cao... sẽ dễ làm mất sự cân bằng, dẫn
tới sự phá vỡ các khuôn mẫu truyền thống của địa phương trong quá trình
SV: Tạ Thu Sa

73

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch. Hiện tượng thương mại hoá các
hoạt động có liên quan đến các di sản trong q trình hoạt động du lịch dễ
dẫn đến tình trạng lừa đảo, bắt chẹt khách để thu lợi tạo hình ảnh xấu, gây
tâm lý ức chế cho du khách, làm giảm lượng khách đến với các địa phương
nơi có các di sản văn hố.
Với khn viên nhất định của các di sản văn hố truyền thống, lượng
du khách đến đơng kéo theo những nhu cầu khác nhau, tạo ra sự mất cân
đối trong quan hệ cung - cầu, dễ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường
sinh thái tự nhiên và môi trường sinh thái nhân văn. Bản sắc văn hoá vùng
miền có nguy cơ bị “mờ” do kết quả của sự giao thoa văn hố thiếu lành
mạnh khơng thể tránh khỏi đem đến từ phía một bộ phận du khách. Có hai
khuynh hướng cần tránh: đó là khuynh hướng bảo thủ và khuynh hướng
cấp tiến một cách thái quá trong quá trình tổ chức, điều hành, duy trì các
hoạt động tại các điểm di sản văn hố. Nếu khơng, sẽ dễ dẫn đến hiện

tượng nệ cổ, phục cổ hoặc sự lai căng, pha tạp trong cách nhìn, cách hiểu,
cách ứng xử lệch lạc đối với văn hoá dân tộc ở các địa phương.
Do đặc thù của các hoạt động du lịch khiến những nhà tổ chức, quản
ly kho tàng di sản văn hố khơng dễ điều phối, kiểm sốt các đối tượng
khách khác nhau. Một số đối tượng xấu lợi dụng lúc đông người, trà trộn,
chen lấn trong đám đông để móc túi, lừa đảo khách du lịch. Những hiện
tượng đó ít nhiều gây phiền toái cho người tổ chức, thực hiện chương trình
du lịch, làm ảnh hưởng đến văn hố bản địa, làm xấu đi hình ảnh của địa
phương trong con mắt cuả du khách. Nếu không được tổ chức, quản lý điều
hành chặt chẽ, các di sản văn hoá của chúng ta sẽ chỉ đón được tình trạng
các đối tượng khách “một lần đến, một lần đi, không một lần trở lại!”. Điều
này, đặt ra cho các nhà tổ chức, quản lý văn hoá - lễ hội, các nhà khai thác
kho tàng di sản văn hoá phải phối hợp hành động chặt chẽ trong mọi hoạt
động của mình.
SV: Tạ Thu Sa

74

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
1.2.2 Quan điểm của nhà nước về quản lý di sản văn hố, bên cạnh đó
phát triển du lịch.
Di sản văn hố là tài sản vơ cùng q giá của mỗi quốc gia. Nó khơng
chỉ góp phần tạo nên nền tảng tinh thần xã hội vững chắc mà cịn góp phần
phát triển kinh tế xã hội. “Văn hoá là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu,
vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.” (Hội nghị Ban chấp
hành Trung ương V khoá 8). Thiếu nền tảng vật chất thì con người khơng
thể tồn tại được nhưng nếu thiếu nền tảng tinh thần thì con người khơng thể

phát triển tồn diện, khơng thể trở thành nhân cách văn hoá được.
Di sản văn hoá khơng chỉ góp phần hình thành nên mơi trường sinh
thái văn hố của cộng đồng mà cịn bồi đắp ý thức của cá nhân và cộng
đồng trong suốt quá trình tồn tại tạo nên sự tiếp nối trong đời sống văn hố.
xét về mặt kinh tế thì văn hố chính là nguồn lực tạo ra tiềm năng kinh tế
cho xã hội. Ngành du lịch phát triển như ngày nay là nhờ có cảnh quan
thiên nhiên, di tích lịch sử văn hố. Di sản văn hố cịn là ngơn ngữ, là nhịp
cầu nối quan hệ giữa nước ta với các nước trên thế giới, góp phần rất lớn
vào giao lưu văn hố và hồ bình dân tộc.
Trong thời đại ngày nay, việc bảo tồn các di sản văn hoá đã trở thành
một nhiệm vụ quan trọng, một vấn đề cấp bách của toàn nhân loại. Nhiều
nước đã ban hành Hiến pháp và những bộ luật riêng về vấn đề đó.
Những cơng ước được kí kết về vấn đề bảo vệ di sản văn hoá như: từ
ngày 17/10 đến ngày 21/11/1972 UNESCO - tổ chức văn hoá và giáo dục
thế giới đã đưa ra những công ước về bảo vệ di sản văn hố và thiên nhiên
thế giới. Cơng ước đã đồn kết giữa các dân tộc, quốc gia lại với nhau
trong việc tham gia vào tổ chức UNESSCO, bảo vệ di sản văn hố thế giới,
đồng thời góp phần tạo ý thức kế thừa những cơng trình văn hố của nhân
loại. Bên cạnh đó giữa các nước cũng có những cơng ước được ký kết về
vấn đề bảo vệ văn hoá. Việt Nam là một trong số những nước đó.
SV: Tạ Thu Sa

75

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
Xây dựng pháp lý là yêu cầu đầu tiên của sự nghiệp bảo vệ di tích.
Qua các thời kì Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý làm

cơ sở cho công tác bảo vệ di tích. Tiếp thu tư tưởng của Lê-nin, kế thừa
kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta thấy rõ việc
bảo tồn các di tích là việc làm có ý nghĩa hết sức to lớn đối với công cuộc
kiến thiết đất nước Việt Nam. Do vậy, ngày 31/ 01/ 1945 Hồ Chủ Tịch đã
kí sắc lệnh số 65SL/CTP ấn định nhiệm vụ cho “Đông phương bác cố học
viện”. Sắc lệnh đã nhấn mạnh đến việc bảo vệ các di tích, di sản văn hố là
việc làm cần thiết của đất nước. Sắc lệnh cũng đã khẳng định: Tất thảy các
di sản văn hoá là tài sản của nhân dân, nghiêm cấm việc phá Đình, Đền,
Chùa, Miếu và những di tích khác. Cấm phá huỷ Bia kí, văn bằng có ích
cho lịch sử.
Căn cứ vào điều 46 và điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà
XHCNVN, ngày 13/ 03/ 1984 Chủ tịch hội đồng Nhà nước - Trường Chinh
đã ký “Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hố và danh lam
thắng cảnh”. Pháp lệnh này nhằm tạo điều kiện bảo vệ cho nhân dân thực
hiện quyền làm chủ tập thể trong việc bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử,
văn hoá và danh lam thắng cảnh. Đề cao trách nhiệm của các cơ quan Nhà
nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân trong việc
bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh.
Đặc biệt là hội nghị khoá V của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII, ngày 16/ 07/ 1998 đề ra nghị quyết về xây dựng và phát triển
nền văn hoá Việt Nam “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Nghị quyết đã
xác định phương hướng phát triển 5 quan điểm chỉ đạo cơ bản, 10 nhiệm
vụ và những giải pháp lớn nhằm xây dựng và phát triển văn hoá. Đây là
một trong các nghị quyết của Đảng được toàn thế hệ thống trị, các đồn thể
chính trị xã hội, các ban ngành và các lực lượng vũ trang... triển khai

SV: Tạ Thu Sa

76


Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
nghiêm túc, khơi dậy được phong trào toàn Đảng, toàn dân chăm lo trong
xây dựng và phát triển văn hoá.
Ngày 29/ 06/ 2001, quốc hội nước Cộng hồ XHCNVN khố X kì họp
thứ IX đã thơng qua Luật Di sản văn hoá số 28/2001- QH10, Chủ tịch nước
Trần Đức Lương đã kí sắc lệnh cơng bố số 09/ 201/1CTN ngày 12/ 07/
2001. Luật Di sản văn hoá ra đời là bộ luật về văn hoá cao nhất đầu tiên ở
nước ta và cũng là đầy đủ nhất điều chỉnh cả di sản văn hoá vật thể và phi
vật thể. Nhà nước có trách nhiệm đứng ra tổ chức quản lý di sản văn hố.
Mọi người cơng dân, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội đều có quyền sử
dụng di tích vào các mục tiêu văn hố nhưng đồng thời cũng có nghĩa vụ
cùng với nhà nước tham gia vào việc bảo vệ các di tích.
Du lịch cũng được coi là ngành “kinh tế mũi nhọn của đất” (Nghị
quyết đại hội Đảng toàn quốc lần IX). Với nguồn tài nguyên du lịch phong
phú do thiên nhiên và con người tạo r, Đảng và Nhà nước đã xác định “du
lịch là ngành kinh tế mang tính tổng hợp có tác dụng tích cực thực hiện
chính sách mở cửa thúc đẩy sự đổi mới và phát triển của nhiều ngành, tạo
ra công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hóa và xã hội giữa các vùng
trong nước và giữa nước ta với nước ngoài, điều kiện tăng cường tinh thần
hữu nghị hóa bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”. (Nghị quyết
của chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch 22/06/1993).
Đồng thời cũng xác định rõ xu hường đi của du lịch Vệt Nam: “Du
lịch Việt Nam chỉ có thể phát triển tốt nếu đI theo định hướng phát triển du
lịch văn hóa, du lịch sinh thái trên cơ sở đảm bảo tốt môi trường tự nhiên
và xã hội tạo điều kiện thuận lợi thu hút khách tạo ra các sản phẩm du lịch
hấp dẫn du khách (Đỗ Quang Trung). Có thể nói văn hóa Việt Nam mang
tính tổng thể vừa có nét riêng đặc sắc của 54 dân tộc. Cái riêng hòa trong

cái chung tạo ra một bản sắc văn hóa Việt vừa phong phú vừa độc đáo, hấp
dẫn các nhà nghiên cứu và khách du lịch.
SV: Tạ Thu Sa

77

Lớp: QLVH8B


Cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn
Tại Đại hội X, Đảng xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao
chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản săc dân tộc; Gắn
kết chặt chẽ hơn với phát triển kinh tế xã hội; Làm cho văn hoá thấm sâu
vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội; Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân
cách con người Việt Nam; Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
trong thời kỳ Cơng nghiệp hố - Hiện đại hố, hội nhập kinh tế quốc tế; Bồi
dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, sinh viên, học sinh, đặc biệt là
lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá Việt
Nam; Đầu tư cho việc bảo tồn, tơn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng
chiến, di sản văn hoá vật thể, phi vật thể; Kết hợp hài hoà giữa bảo tồn,
phát huy với kế thừa và phát triển, giữ gìn di tích với phát triển kinh tế du
lịch, tinh thần tự nguyện, tính tự quản của nhân dân trong xây dựng văn
hố; Đa dạng hố các hoạt đơng của phong trào “Tồn dân đồn kết xây
dựng đời sống văn hố”.
Như vậy, cơng tác quản lý di tích và phát triển du lịch là một trong
những nội dung cơ bản của vấn đề bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc,
nâng tầm cho văn hoá dân tộc lên một tầm cao mới phù hợp với sự phát
triển của đất nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. Làm
thế nào để vừa bảo tồn sự phát triển bền vững của kho tàng di sản văn hoá
dân tộc trong quá trình Cơng nghiệp hố - Hiện đại hố đất nước lại vừa

khai thác ngày càng hiệu quả những di sản văn hoá, nâng di sản văn hoá
dân tộc lên những tầm cao mới? Đó là vấn đề rất quan trọng.
1.2.3. Cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa và du lịch.
* Bộ Văn hóa, Thể thao và Di lịch: là cơ quan của chính phủ, thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thẻ dục thể thao và du
lịch trong phạm vi cả nước, quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh
lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch theo quy định của
pháp luật.
SV: Tạ Thu Sa

78

Lớp: QLVH8B


×