Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (246.84 KB, 31 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span>Tác giả: Nguyễn Thục Nhu. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÂN VÙNG ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VIỆT NAM Phân vùng địa lí tự nhiên (ĐLTN) lãnh thổ Việt Nam không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Nó cho phép làm sáng tỏ những sự khác nhau của các thể tổng hợp địa lí tự nhiên trên lãnh thổ nước ta, xác định và chứng minh tính chất phức tạp và không đồng nhất về cấu trúc và các thành phần cấu tạo của chúng, giúp chúng ta có được những nhận thức khoa học sâu sắc về thiên nhiên và các thể tổng hợp địa lí tự nhiên (các khu vực) để sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, làm giảm nhẹ những thiệt hại do thiên tai gây ra ở từng khu vực cũng như trên toàn lãnh thổ Việt Nam.. Bài 1. CÁC QUY LUẬT PHÂN HOÁ ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VIỆT NAM Lãnh thổ Việt Nam không tuy diện tích không rộng nhưng thiên nhiên lại rất đa dạng và có sự phân hoá phức tạp. Thiên nhiên thay đổi theo không gian ba chiều: từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây và từ thấp lên cao, đã hình thành nên nhiều khu vực tự nhiên ở các cấp phân vị khác nhau. Những đơn vị địa lí tự nhiên khu vực này được hình thành và phát triển do ảnh hưởng trước hết của các quy luật chung của tự nhiên. Đa số các nhà nghiên cứu khi tiến hành phân vùng lãnh thổ tự nhiên Việt Nam đều xuất phát từ những quy luật này. Sự phân hoá phức tạp và sự đa dạng của cảnh quan tự nhiên Việt Nam là kết quả của lịch sử phát triển không đồng đều ở các bộ phận khác nhau trên lãnh thổ, phụ thuộc vào sự tác động tương quan của hai nguồn năng lượng chủ yếu quyết định động lực của quá trình địa lí. Đó là năng lượng bức xạ Mặt Trời và năng lượng bên trong của Trái Đất. Hai nguồn năng lượng này thay đổi theo thời gian và không gian nhưng quan trọng hơn, bản chất của những thay đổi này rất nhau. Trong khi nguồn năng lượng bức xạ Mặt Trời có sự phân bố và thay đổi theo quy luật địa đới, thì nguồn năng lượng bên trong của Trái Đất lại bị chi phối bởi quy luật phi địa đới. 1.1. Quy luật phân hoá địa đới 1.1.1. Quy luật địa đới Quy luật địa đới về bản chất là sự thay đổi có quy luật của tất cả các thành phần địa lí và các.
<span class='text_page_counter'>(2)</span> cảnh quan tự nhiên theo vĩ độ từ xích đạo về hai cực. Đây là quy luật phổ cập, tạo nên các vòng đai địa lí bao quanh Trái Đất. Những mầm móng của học thuyết về các đới đã được nảy sinh từ thời Hy Lạp cổ đại, nhưng chỉ sau các công trình của Đôcusaev vào những năm 1898 – 1900 thì tính địa đới mới được giải thích như một qua luật địa lí. Đôcusaev chính là người đầu tiên khám phá ra quy luật địa đới theo chiều ngang (theo vĩ độ) và theo chiều thẳng đứng (theo chiều cao). Ông đã xây dựng học thuyết về các đới tự nhiên và về sau học thuyết này được tiếp tục phát triển bởi nhiều nhà địa lí, đặc biệt là L.X.Becgơ và A.A.Grigôriev. Quy luật địa đới là một trong những quy luật cơ bản của khoa học địa lí. Vì vậy khi tiến hành nghiên cứu và phân vùng địa lí tự nhiên mỗi khu vực cần phải tính toán tới số lượng và chất lượng của năng lượng Mặt Trời mà nơi đó nhận được. Chúng ta đều thừa nhận sự phân bố không đồng đều của bức xạ Mặt Trời theo vĩ độ là nguyên nhân đầu tiên của tính địa đới. Sự thay đổi có quy luật của bức xạ Mặt Trời từ xích đạo về phía hai cực cũng chính là sự thay đổi có quy luật của góc nhập xạ theo hướng đó. Ngoài ra, nguyên nhân hình thành quy luật địa đới còn có sự tham gia của hoàn lưu khí quyển trên quy mô toàn cầu, khiến cho sự phân bố thực tế của bức xạ Mặt Trời trên bề mặt Trái Đất sẽ rất khác nhiều so với sự phân bố lí thuyết. Hoàn lưu khí quyển dựa trên bốn khối khí cơ bản là khối khí cực, khối khí ôn đới, khối khí nhiệt đới và khối khí xích đạo là cơ sở để xác định các vòng đai khí hậu. Thêm vào đó những dao động theo mùa của hoàn lưu khí quyển còn hình thành nên ba vòng khí hậu đai trung gian, ở đó các khối khí của hai kiểu khác nhau sẽ thay đổi kế tiếp nhau theo mùa để hình thành nên 7 vòng đai khí hậu chính của mỗi nửa cầu (Bắc và Nam) là: vòng đai cực, cận cực, ôn đới, á nhiệt đới, nhiệt đới, á xích đạo và xích đạo (theo B.P.Alixov). Như vậy, sự thay đổi theo đới của các đơn vị lãnh thổ (các thể tổng hợp địa lí tự nhiên) là do năng lượng bức xạ Mặt Trời và lượng ẩm được phân bố theo đới. Chính sự phân bố theo đới của nhiệt và ẩm đã dẫn tới tính địa đới của các thành phần và các yếu tố khác của cảnh quan tự nhiên như: thuỷ văn, thổ nhưỡng, thực bì, địa hình ngoại sinh… Trên thực tế các đới cảnh quan tạo thành một mạng rất phức tạp. Các đới này thường có sự phân bố đứt quãng và không phải bao giờ cũng hướng dọc theo các vĩ tuyến một cách đều đặn. Sự chuyển tiếp từ đới này sang đới khác cũng diễn ra phức tạp, có lúc đột ngột, có lúc diễn ra chậm chạp, từ từ. Nhiều nhà địa lí đã lấy một số chỉ tiêu để xác định các đơn vị địa đới là mối tương quan nhiệt ẩm (chỉ số khô hạn của A.A.Grigoriev và M.L.Buđưcô K=. B .r (trong đó K là chỉ số L.
<span class='text_page_counter'>(3)</span> khô hạn, B là cán cân bức xạ tính bằng kcal/cm 2/năm, L là tiềm nhiệt hoá hơi của nước tính bằng g/cm2/năm), chỉ số thuỷ nhiệt của I.T.Xêliannhinov K= chỉ số thuỷ nhiệt, r là lượng mưa trung bình năm,. ∑t. r 10. ∑t. (trong đó K là. : tổng nhiệt độ trung năm trong suốt. thời kì có nhiệt độ trung bình ngày >100C), chỉ số ẩm ướt của V.N.Ivanov và G.N.Vưxotxki K=. r (trong đó K là chỉ số ẩm ướt, r là lượng mưa trung bình năm và E là khả năng bốc E. hơi trung bình năm tính bằng mm). Mối tương quan nhiệt ẩm thông qua các chỉ số này (chỉ số khô hạn, chỉ số thuỷ nhiệt, chỉ số ẩm ướt) cho thấy rõ ràng khi nói tới các nhân tố khí hậu của tính địa đới thì không thể tách vai trò của năng lượng Mặt Trời ra khỏi chỉ số ẩm khí quyển, cả hai nhân tố đó luôn luôn xuất hiện cùng nhau và xem như là nguyên nhân trực tiếp về tính địa đới của các thành phần khác của cảnh quan. Cuối cùng tính địa đới được biểu hiện bên ngoài rõ rệt nhất trong giới hữu cơ. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà trong nhiều trường hợp các đới cảnh quan có tên gọi theo kiểu thực vật đặc trưng (đới rừng gió mùa chí tuyến, đới rừng gió mùa á xích đạo…) Sự phân hoá địa đới theo vĩ độ quan trọng nhất và rõ ràng nhất là sự phân hoá ra hai vòng đai địa lí tương ứng với hai khu vực: - Khu vực nội chí tuyến, giữa chí tuyến Bắc 23027’B và chí tuyến Nam 23027’N là vòng đai nội chí tuyến; - Khu vực ngoại chí tuyến, từ hai chí tuyến về phía hai cực Bắc và Nam là vòng đai ngoại chí tuyến. Việt Nam nằm trong khu vực nội chí tuyến, thuộc nửa cầu Bắc nhích về chí tuyến Bắc hơn về phía xích đạo nên trên lãnh thổ hàng năm có Mặt Trời qua thiên đỉnh hai lần đem lại lượng bức xạ Mặt Trời lớn. Thời gian mặt trời qua thiên đinh cách nhau tuỳ nơi. Nơi ít nhất chỉ cách nhau vài ngày cận ngày Hạ chí (22/6) như ở Đồng Văn, còn nơi nhiều nhất tới hơn 4 tháng như ở Cà Mau, lần thứ nhất vào ngày 17/4 và lần thứ hai vào ngày 28/8. Trong khu vực nội chí tuyến, hàng loạt các dấu hiệu, các chỉ tiêu và yếu tố khí hậu như chế độ nhiệt, chế độ ngày ngắn và ít dao động trong năm (<3 giờ) giữa ngày dài nhất và ngày ngắn nhất. Trong khu vực này, Mặt Trời luôn đứng cao trên đường chân trời khiến cho toàn bộ lãnh thổ có lượng bức xạ tổng cộng rất lớn, cán cân bức xạ dương quanh năm và có trị số lớn, nền nhiệt độ cao, nhiều ánh nắng. Vòng đai nội chí tuyến có thể chia thành các đới chí tuyến, á xích đạo và xích đạo..
<span class='text_page_counter'>(4)</span> 1.1.2. Biểu hiện của quy luật phân hoá đới ở Việt Nam Xét quy luật địa đới ở Việt Nam, bình thường và đúng ra như một số lãnh thổ có các vĩ độ tương tự khác thì sự phân hoá của quy luật này (sự phân hoá theo vĩ độ) là không đáng kể và không rõ ràng lắm, song trên thực tế lại có những biểu hiện gần như hoàn toàn trái ngược. Nếu tính riêng về mùa hạ trên lãnh thổ Việt Nam có sự đồng nhất về nhiệt độ, nhiệt độ tháng nóng nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh (28,9 0C), chỉ cao hơn nhiệt độ tháng nóng nhất ở Hà Nội (28,80C) có 0,10C. Song tính chung cho cả năm thì sự phân hóa Bắc - Nam tính theo nhiệt độ trung bình năm tới 0,360C/1 vĩ tuyến (nghĩa là gấp hơn 10 lần so với các nước khác cùng vĩ độ, thí dụ như Ấn Độ chỉ có 0,04 0C/1 vĩ tuyến. Đặc biệt về mùa đông, do ảnh hưởng của chế độ gió mùa mùa đông cùng với sự xuất hiện của các front cực ở phần phía bắc đã làm cho sự chênh lệch về nhiệt độ giữa miền Bắc và miền Nam trở nên rất lớn, tới 9 0C, nhiệt độ trung bình tháng 1 (tháng lạnh nhất trong năm của Hà Nội là 16,5 0C và ở Thành phố Hồ Chí Minh là 25,80C). Sự luân phiên tác động của các khối không khí tạo nên sự phân hoá trong chế độ ẩm của khí hậu với hai mùa mưa và khô khác nhau rõ rệt. Song sự có mặt của khối không khí cực đới đã hạ thấp nền nhiệt độ ở phần phía bắc vĩ độ 16 0 Bắc (vĩ tuyến của dãy Bạch Mã). Do tác động ngăn chặn của dãy núi này, các front cực thường tĩnh lại, ít hoạt động xuống phía nam, tạo nên ranh giới giữa hai đới cảnh quan, theo Vũ Tự Lập, là đới rừng gió mùa nhiệt đới (chí tuyến) và đới rừng gió mùa á xích đạo. Như vậy, sự xuất hiện hai đới cảnh quan địa lí mà ranh giới là vĩ độ 16 0B liên quan không chỉ đến nhân tố phân hoá chính là gió mùa đông bắc và thời tiết lạnh do nó gây ra mà còn do tác động của bức chắn địa hình. Gió mùa đông bắc tràn về lãnh thổ Việt Nam ở khu vực phía bắc đèo Hải Vân dù đã biến tính song vẫn còn giữ được bản chất khô và lạnh, khiến cho khu vực thuộc đới rừng gió mùa chí tuyến đều có thời tiết lạnh (nhiệt độ trung bình tháng dưới 180C) mà biểu hiện rõ rệt nhất là nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối, dưới 100C vẫn còn gặp ở Bình Trị Thiên, (Đồng Hới là 8,30C, Huế là 8,80C). Khu vực phía bắc đèo Hải Vân thuộc đới rừng gió mùa chí tuyến có sự phân hoá theo vĩ độ tiếp theo mà ranh giới tồn tại là ở l8 0B (Hoành Sơn) để phân biệt ra hai á đới: Từ đèo Ngang trở ra phía Bắc là khu vực có mùa đông dài trên 3 tháng với nhiệt độ trung bình tháng dưới 180C, thậm chí có nơi dưới 150C. Tại khu vực này, tính chất khô (lượng mưa trung bình tháng nhỏ hơn lượng bốc hơi trung bình tháng) cũng có trên 3 tháng. Từ đèo Ngang trở vào đến đèo Hải Vân chỉ có thời kì lạnh và thời tiết lạnh khi gió mùa đông bắc tràn tới. Ở đây mùa đông.
<span class='text_page_counter'>(5)</span> ngắn, thường không đến 3 tháng. Tại các khu vực đồng bằng ven biển tính chất nhiệt đới đã rõ rệt, không còn tháng nào nhiệt độ xuống dưới 180C nữa. Từ khu vực phía nam đèo Hải Vân, không còn thời tiết lạnh và nhiệt độ trung bình tháng thường lớn hơn 200C nên sự phân hoá theo vĩ độ tiếp theo của quy luật địa đới tại đây là sự phân hoá theo chế độ ẩm. Ranh giới để phân biệt ra hai á đới của đới rừng gió mùa á xích đạo ỏ khoảng vĩ độ 140B, do ảnh hưởng của khối núi Kon Tum nên khí hậu của á đới này tương đối ẩm, mùa khô ngắn và không sâu sắc. Khu vực phía nam vĩ độ 14 0B, địa hình thấp hơn, mùa khô trở nên sâu sắc, có thể kéo dài tới 5 – 6 tháng. Thêm vào đó, từ Quy Nhơn trở vào nam, tổng nhiệt độ cả năm đã đạt tiêu chuẩn của chế độ nhiệt xích đạo. Như vậy, ở Việt Nam việc phân chia trong nội bộ vòng đai nội chí tuyến thành các đới và á đới chính là kết quả và biểu hiện rõ ràng của quy luật địa đới còn gọi là sự phân hoá theo vĩ độ hay sự phân hoá bắc – nam. 1.2. Các quy luật phân hoá phi địa đới Quy luật phi địa đới là quy luật quan trọng thứ hai của sự phân hoá và phát triển của các thể tổng hợp địa lí tự nhiên. Quy luật phi địa đới gắn liền với cấu tạo phức tạp của bề mặt Trái Đất. Tính không đồng nhất của cấu trúc địa chất, sự khác nhau về vị trí, độ cao và các yếu tố địa mạo đều do các lực bên trong của Trái Đất quyết định. Ngoài ra cũng còn phải tính đến vị trí của các bộ phận lục địa so với biển và đại dương. Vị trí này cũng ảnh hưởng đến sự thay đổi không chỉ của khí hậu mà còn tới cả toàn bộ thiên nhiên theo hướng kinh tuyến. Thực tế cho thấy, trong các thể tổng hợp địa lí tự nhiên sẽ có mặt của các đơn vị phân vùng mang sắc thái rõ nét của quy luật địa đới (vòng đai, đới, á đới) và cả các đơn vị phân vùng mang sắc thái của quy luật phi địa đới (á lục địa, xứ, khu). Các quy luật phi địa đới ở Việt Nam bao gồm: - Quy luật phân hoá theo kinh độ (hay quy luật địa ô) - Quy luật phân hoá đai cao 1.2.1. Quy luật phân hoá theo kinh độ (hay quy luật địa ô) 1.2.1.1. Sự thay đổi của tự nhiên theo hướng kinh tuyến Trên Trái Đất có sự phân bố kế tiếp của các múi lục địa và đại dương theo hướng kinh tuyến chạy dài từ Bắc cực tới Nam cực..
<span class='text_page_counter'>(6)</span> Bản chất của quy luật theo kinh độ là sự thay đổi tuần tự các hiện tượng địa lí, trên các lục địa tuỳ thuộc vào mức độ xa đại dương đến trung tâm lục địa. Quy luật phân hoá theo kinh tuyến của các thể tổng hợp địa lí tự nhiên cũng như các thành phần của cảnh quan tự nhiên còn được nhiều nhà địa lí trên thế giới gọi là tính địa đới theo kinh tuyến. Bản chất của quy luật phân hoá theo kinh tuyến là sự khác nhau giữa bề mặt lục địa và bề mặt đại dương trong quá trình tiếp nhận năng lượng Mặt Trời. thông thường bức xạ năng lượng Mặt Trời tiếp nhận được trên một đơn vị diện tích ở đại dương lớn hơn ở trên lục địa từ 10 – 20%. Nói chung không khí trên các đại dương ấm hơn so với lục địa, chỉ trừ ở vòng đai gió mậu dịch là nơi lục địa được sưởi nóng mạnh hơn đại dương (do sự mất nhiệt cho bốc hơi giảm và do tính chất vật lí khác nhau giữa bề mặt lục địa và mặt nước trên các đại dương). Theo một số nhà địa lí gọi sự phân hóa theo kinh tuyến tương tự như tính địa đới theo vĩ độ của các cảnh quan tự nhiên là tính địa ô. Người ta đề nghị phân chia trên mỗi lục địa ra thành 3 địa ô theo chiều kinh tuyến: 2 địa ô đại dương và 1 ô lục địa (Cômarôv, 1921). Tuy nhiên sự phân hóa địa lí theo kinh tuyến biểu hiện không phải đồng đều ở mọi nơi trên bề mặt Trái Đất. Phụ thuộc vào đặc điểm hoàn lưu khí quyển, kích thước, hình dáng và vị trí địa lí của lục địa khiến số lượng địa ô ở các vĩ độ có sự khác nhau: Đầy đủ nhất là 3 địa ô, quan sát thấy ở các vĩ độ ôn đới của lục địa Âu – Á do sự tồn tại của khối lục địa rộng lớn trải trên 200 độ kinh tuyến và do sự chuyển động của các khối khí theo hướng đông – tây (V.L.Cômarôv); 2 địa ô đối với vòng đai gió mậu dịch: địa ô hoang mạc ở bờ tây do không có điều kiện cho các khối khí đại dương xâm nhập tới, vì sự thống trị của gió có thành phần đông, và địa ô ẩm ướt ở phía đông của các lục địa nhờ có gió mùa tạo nên sự dư thừa ẩm, đặc biệt là vào mùa hè. Ở các vĩ độ thuộc xích đạo và miền cận cực, sự phân hóa địa lí theo kinh tuyến biểu hiện không rõ rệt (sự vận chuyển theo chiều ngang của các khối khí ở xích đạo yếu và gần như đồng nhất ở cận cực). 1.2.1.2. Biểu hiện của quy luật phân hóa theo kinh độ Xét về mặt vị trí theo kinh độ thì Việt Nam nằm gọn trong á địa ô gió mùa châu Á. Đó là á địa ô gió mùa Đông Nam Á hoặc Trung - Ấn. Khu vực này vừa có chế độ gió mùa phức tạp , vừa mang tính chất trung gian chuyển tiếp. Sự gặp gỡ và giao thoa giữa gió mậu dịch ở nửa cầu Bắc (khối khí chí tuyến TBDg và Tm) với gió mùa đông bắc (khối khí cực lục địa NPc, khối khí nhiệt đới biển Đông Trung Hoa (Tp)) và gió mùa tây nam (khối khí xích đạo Em, khối khí nhiệt đới biển bắc Ấn Độ Dương hay còn gọi là khối khí chí tuyến vịnh Bengan TBg) cộng với vai trò của bức chắn địa hình đã tạo nên sự phân hóa đông – tây trên lãnh thổ.
<span class='text_page_counter'>(7)</span> Việt Nam. lại và gió mùa tây nam từ Nam bán cầu vượt xích đạo đi lên. Hai hướng gió chính là hướng đông bắc về mùa đông và hướng tây nam về mùa hạ đều gần như thẳng góc với các dãy núi lớn chạy theo hướng tây bắc - đông nam, hướng gió đông nam trong mùa hạ của gió mậu dịch nửa cầu Bắc và các dãy núi hướng vòng cung (á kinh tuyến) là những nhân tố chính làm xuất hiện quy luật địa ô ở Việt Nam. Có thể nói sự phân hóa theo kinh độ này chủ yếu do hiệu ứng phơn và tác dụng của bức chắn địa hình, còn vai trò của vị trí so với biển thì lại ít tác dụng hơn trong việc hình thành quy luật này, vì hình dáng nước ta hẹp ngang và chạy dọc theo hướng kinh tuyến. Nơi gió mùa đông bắc trực tiếp tràn vào sẽ lạnh hơn nơi khuất gió đến vài ba độ (0C), do có mưa front và mưa địa hình nên cũng ẩm hơn. Cũng như vậy, nơi đón gió mùa tây nam cũng ẩm hơn và ít nóng hơn nơi chịu hiệu ứng phơn (gió tây khô nóng). Các dãy núi giữ vai trò quan trọng như các bức chắn địa hình là dãy Hoàng Liên Sơn, dãy núi biên giới Việt Lào, dãy Truờng Sơn, tiếp đến là dãy Ngân Sơn và khối Kon Tum. Đây chính là nhân tố tạo nên sự khác nhau rõ rệt về tự nhiên giữa các khu vực: Việt Bắc và Đông Bắc, Việt Bắc và Tây Bắc, giữa Bắc Trường Sơn và Lào, sườn Đông của Nam Truờng Sơn và Tây Nguyên. Sự phân hoá đông - tây làm cho khu vực phía tây dường như là lùi xuống vài vĩ độ. Nếu khử ảnh hưởng của độ cao sẽ thấy đường đẳng nhiệt chạy chênh chếch theo hướng tây bắc - đông nam và Lai Châu sẽ nóng tương tự như Huế, tạo nên sự đồng nhất giữa Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Căn cứ vào độ lục địa thì ở Việt Nam có biên độ nhiệt năm (hiệu số giữa nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất và nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất) lớn hay nhỏ sẽ kéo theo sự tăng hay giảm độ lục địa. Nơi có độ lục địa lớn nhất là miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ với biên độ nhiệt trung bình năm là 12- 140C, tiếp đến là miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ với biên độ nhiệt trung bình từ 10- 120C. Từ phía nam đèo Hải Vân biên độ nhiệt xuống dưới 10 0C và cuối cùng là từ phía nam Nha Trang biên độ xuống dưới 5 0C (đạt tiêu chuẩn khí hậu xích đạo) (Bảng 1.1). Như vậy, sự phân hóa rõ rệt nhất theo kinh độ một lần nữa cho thấy là do tác động của gió mùa đông bắc biểu hiện bằng tương quan nhiệt - ẩm cũng tương tự như sự phân hóa theo vĩ độ. Sự phân hoá theo kinh độ còn thể hiện qua giới sinh vật và rõ rệt nhất là sự phân bố của thảm thực vật tự nhiên. Các yếu tố bản địa và đặc hữu cùng với các luồng di cư thực vật được thể hiện rõ ở ba miền địa lí thực vật có độ lục địa khác nhau và có liên quan khá chặt chẽ với nhau. Miền Đông Bắc và Bắc TrungBộ đến vĩ tuyến 16 0B là ranh giới cuối cùng của khu vực phân bố Lim (Eythrophlolum Fordii). Trong miền này tồn tại chủ yếu những yếu tố bản địa.
<span class='text_page_counter'>(8)</span> và đặc hữu của khu hệ Đệ Tam Nam Trung Hoa – Bắc Việt Nam như Re (Lanraceac), Dẻ (Fagceac), Dâu tằm (Moraceac), đậu (Leguminosae). Miền Tây Bắc và Trường Sơn đến vĩ tuyến 10B là giới hạn cuối cùng của thông hai lá (Pinus merkusii). Ở các đai cao ẩm ướt chủ yếu tồn tại các loài của luồng thực vật Himalaya. Trong đó chủ yếu là loài cây lá kim ngành phụ hạt trần (Gumnos permae), thông 3 lá (Pinus kha Sya), Pơ mu (Fokiena – hodginssi). Ở các vùng khô hạn, thấp hơn thuộc Tây Bắc, Tây Nguyên có các loài thực vật rụng lá mùa khô có nguồn gốc từ Ấn Độ - Mianma. Miền Nam Bộ và Trung Trung Bộ đến vĩ tuyến 18 0B chủ yếu là các yếu tố của luồng Mã Lai – Inđônêxia, tiêu biểu là họ Dầu (Dipterocarpaceca) quả 2 cánh, đặc biệt của vùng nhiệt đới đóng vai trò chủ yếu ở Đông Nam Á (như cây lá kim ở ôn đới). Ngoài ra, một số loài như Sau Sau (Liquydambar Formosana), Lim (Eythrophlolum Fordii), Sim (Rhodomytus tomentosa), Thanh hao (Baeckea Futescens), chỉ phân bố ở khu vực phía đông, ngược lại Săng lẻ (Lagerstrocmia tomentosa), Tếch (Tectonia Grandis), Thung (Tetrametes nudiflora), Chiêu liêu (Terminaliasp) chỉ gặp ở khu vực phía tây nơi có mùa khô dài và sâu sắc. BẢNG 1.1.Biên độ nhiệt trung bình năm tại một số địa điểm ở Việt Nam Địa điểm. Nhiệt độ tháng nóng. Nhiệt độ tháng lạnh. Biên độ. nhất (0C). nhất (0C). (0C). Phó Bảng (Hà Giang). 20,9 (tháng 7). 8,3 (tháng 1). 12,6. Trùng Khánh (Cao Bằng). 26,0 (tháng 7). 11,5 (tháng 1). 14,5. Thất Khê (Lạng Sơn). 27,6 (tháng 7). 13,3 (tháng 1). 14,3. Hữu Lũng (Lạng Sơn). 28,5 (tháng 7). 15,0 (tháng 1). 13,5. Móng Cái (Quảng Ninh). 28,4 (tháng 6). 15,1 (tháng 1). 13,3. Sơn Động (Bắc Giang). 28,2 (tháng 7). 15,0 (tháng 1). 13,2. Lai Châu (Lai Châu). 26,6 (tháng 8). 17,2 (tháng 1). 9,4. Sơn La (Sơn La). 25,1 (tháng 6). 14,6 (tháng 1). 10,5. Sa Pa (Lào Cai). 19,8 (tháng 7). 8,5 (tháng 1). 11,3. Hà Nội. 28,9 (tháng 7). 16,4 (tháng 1). 12,5. Thái Bình. 29,2 (tháng 7). 16,1 (tháng 1). 13,1. Thanh Hóa. 29,0 (tháng 7). 17,0 (tháng 1). 12,0. Quảng Trị. 29,5 (tháng 7). 19,4 (tháng 1). 10,1. Huế. 29,4 (tháng 7). 20,0 (tháng 1). 9,4. Đà Nẵng. 29,2 (tháng 7). 21,3 (tháng 1). 7,9. Quy Nhơn (Bình Định). 29,8 (tháng 8). 23,0 (tháng 1). 6,8.
<span class='text_page_counter'>(9)</span> Nha Trang (Khánh Hòa). 28,4 (tháng 7). 23,8 (tháng 1). 4,6. Đà Lạt (Lâm Đồng). 19,7 (tháng 5). 16,4 (tháng 1). 3,3. Tây Ninh. 28,8 (tháng 4). 25,2 (tháng 12). 3,6. Tân sơn nhất (T.p.HCM). 28,9 (tháng 4). 25,7 (tháng 12). 3,2. Quy luật phân hóa phi địa đới của địa lí tự nhiên còn do sự không đồng nhất về cấu trúc hình thái của bề mặt lục địa. Tham gia vào việc tạo nên quy luật này là các nhân tố: thành phần nham thạch, đá, lịch sử phát triển tự nhiên và đặc điểm cấu trúc địa hình. Thực tế đã chứng minh rằng các đá quyết định thành phần các nguyên tố hoá học cũng như thành phần vật chất bị di chuyển, đặc điểm về chế độ nước của các cảnh quan (độ thấm nước, mạng lưới thuỷ văn), thành phần khoáng chất của lớp phủ thổ nhưỡng, sinh vật. Mức độ chia cắt bề mặt, tính thoát nước, mức độ muối hoá, sự phát triển của các quá trình thỗ nhưỡng, cấu trúc và thành phần loài của các quần xã, độ phát triển của mạng lưới thuỷ văn (trong đó có cả các hồ, đầm) v.v…thường phụ thuộc vào tuổi của lục địa, nghĩa là thời gian phát triển của nó. Đặc điểm cấu trúc hình thái của địa hình các dãy núi, khối núi, cao nguyên, đồng bằng thấp bồi tụ, các hồ kiến tạo…có nguồn gốc phát sinh là do các quá trình kiến tạo, đặc biệt là các vận động kiến tạo hiện đại. Cấu trúc hình thái địa hình được coi như mộtng nhân tố hình thành khí hậu (một khối núi nâng lên ngoài việc tạo ra sự phân hoá khí hậu theo chiều thẳng đứng còn có ảnh hưởng quan trọng đến các cảnh quan lân cận: hướng núi, độ cao của các khối núi ảnh hưởng đến đường di chuyển của các khối khí, làm sâu sắc thêm sự tương phản của khí hậu (có thể vừa là những giới hạn của các khối khí vừa là ranh giới khí hậu quan trọng). Thực tế cho thấy, có nhiều dãy núi kéo dài theo hương vĩ tuyến là những vật chướng ngại đối với sự xâm nhập của các khối khí từ phương Bắc tràn xuống hoặc từ phương Nam tràn lên, làm tăng thêm sự tương phản địa đới theo vĩ tuyến giữa hai phía của các sườn. Còn các khối núi chạy dọc theo chiều kinh tuyến (nhất là ở các miền ven biển tiếp giáp với biển) lại có tác dụng ngăn chặn sự xâm nhập của các khối khí từ biển vào sâu trong lục địa, góp phần làm tăng thêm sự khác biệt của khí hậu theo kinh tuyến (địa ô). Ngoài ra, ở các đồng bằng, dưới ảnh hưởng của các dãy núi xuất hiện các cảnh quan đặc biệt là các cảnh quan chân núi đón gió (hoặc các cảnh quan khuất gió). 1.2.2. Quy luật phân hoá đai cao 1.2.2.1. Sự thay đổi của tự nhiên theo độ cao. Tính vành đai theo độ cao (còn được gọi là tính địa đới theo chiều thẳng đứng) là một trong những biểu hiện rõ rệt nhất của quy luật phi địa đới. Sự thay đổi các thành phần và cảnh quan.
<span class='text_page_counter'>(10)</span> tự nhiên diễn ra theo độ cao dưới dạng các dải và các vành đai ở vùng núi, đặc biệt ở các vùng núi cao. Nguyên nhân chính của sự hình thành các vành đai theo độ cao là sự thay đổi các điều kiện khi lên cao. Tuy nhiên, sự thay đổi này không giống như sự thay đổi nhiệt theo vĩ độ. Như đã biết, ở miền núi, cán cân nhiệt được hình thành như sau: cường độ bức xạ Mặt Trời tăng theo độ cao khoảng 10% đối với 1000m, trong khi đó bức xạ sóng dài của bề mặt Trái Đất đồng thời cũng tăng và còn tăng nhanh hơn so với bức xạ sóng ngắn của Mặt Trời, dẫn tới có sự hạ thấp nhiệt độ nhanh chóng (gradien nhiệt độ theo chiều thẳng đứng vượt gradien nhiệt độ cao theo chiều ngang hàng trăm lần). Điều đó có nghĩa là nhiệt độ hạ xuống theo độ cao ở các miền núi nhanh hơn gấp hàng trăm lần so với sự thay đổi theo vĩ độ (theo chiều ngang) ở các đồng bằng. Điều kiện ẩm ướt cũng thay đổi theo độ cao. Thông thường, ở độ cao lớn, lượng ẩm của không khí và lượng mưa giảm, song do vai trò của bức chắn của các dãy núi không khí chứa nhiều hơi nước ở dưới thấp được bốc lên cao, nhiệt độ giảm có điều kiện thuận lợi cho sự ngưng kết thành mây và gây mưa với lượng mưa tăng lên tới một giới hạn độ cao nào đó (giới hạn này không đồng nhất ở các vùng núi khác nhu), sau đó lại giảm xuống. Vì vậy sự phân bố điều kiện ẩm ở các vùng núi khá đa dạng và phức tạp (trong đó yếu tố độ cao tuyệt đối chỉ có vai trò gián tiếp). Sự biến đổi theo độ cao còn được thể hiện ở các thành phần tự nhiên khác như các quá trình địa mạo đặc thù ở miền núi (núi lở, lở tuyết, trượt đất…), không hề thấy ở các cảnh quan đồng bằng. Miền núi có mạng lưới thuỷ văn rất đặc biệt, với các dòng sông suối nước chảy xiết, lắm thác ghềnh khác hẳn với các dòng sông ở đồng bằng. Hiện tượng băng tuyết ở trên núi cũng không giống như các lớp phủ băng tuyết ở vùng cực. Thổ nhưỡng miền núi khác với thổ nhưỡng đồng bằng ở chỗ phẫu diện mỏng và chứa nhiều vật liệu thô vụn, với thành phần các khoáng nguyên sinh và cuối cùng thể hiện rõ rệt nhất là sự phân bố các kiểu quần xã sinh vật theo độ cao. Sự sắp xếp các vành đai theo độ cao từ thấp lên cao có nhiều nét tương tự như sự sắp xếp các đới tự nhiên theo vĩ độ từ xích đạo về phía hai cực. Song sự sắp xếp này có phần phong phú và đa dạng hơn. Đặc tính và số lượng các kiểu vành đai theo độ cao phụ thuộc vào vị trí địa lí của khối núi và đặc điểm sơn văn của nó. Từ hai cực về phía xích đạo số lượng của các vành đai theo độ cao tăng lên. Cuối cùng, cần nhận rõ bản chất của sự phân hoá vành đai theo độ cao là sự phân hoá phi địa đới mà nguyên nhân sâu xa của nó là do các lực bên trong của Trái Đất gây ra..
<span class='text_page_counter'>(11)</span> 1.2.2.2. Biểu hiện của quy luật phân hoá đai cao Lãnh thổ Việt Nam với hơn ¾ diện tích là đồi núi nên có điều kiện dễ dàng nhận ra quy luật phân hoá đai cao. Mỗi khối núi có một hệ thống đai cao riêng. Hệ thống này tuỳ thuộc vào độ cao tuyệt đối, vào vị trí của nó trong một đới, á đới, một địa ô, á địa ô, vào lịch sử phát triển và đặc điểm hình thành của khối núi đó. Việc xác định số lượng, tính chất và giới hạn của các đai cao, đặc biệt là ranh giới các vành đai đã được các nhà địa lí Việt Nam thực hiện qua các tài liệu khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật và lấy điều kiện nhiệt - ẩm làm cơ sở. Việc xác định ranh giới các đai cao chủ yếu dựa vào tài liệu khí hậu, mà cơ sở là dựa vào đặc điểm khí hậu mùa hạ, là mùa dài nhất, có ý nghĩa quyết định nhất đến sự phát sinh và phát triển của các điều kiện tự nhiên, đồng thời cũng là mùa mà sự phân hoá đai cao diễn ra đồng nhất trên cả nước. Còn tác động của mùa đông thể hiện qua nhiệt độ trung bình năm cũng như những sự so le về ranh giới đai của các thành phần tự nhiên khác như thổ nhưỡng, sinh vật sẽ được xét ở cấp thấp hơn, cấp á đai. Như vậy, chúng ta sẽ có một hệ thống đai cao thống nhất cho toàn quốc, chỉ đến hệ thống các á đai mới có sự phân hoá cụ thể cho từng đới, từng miền, từng khu địa lí tự nhiên. Thực tế cho thấy, trong mỗi đai chỉ có điều kiện nhiệt là đồng nhất, còn tương quan nhiệt ẩm thì lại xen kẽ kiểu bức khảm. Lượng mưa thay đổi nhanh chóng trong một không gian không lớn, như ở khu vực sườn đón gió và khu vực khuất gió, như ở đồi thấp chân núi và sườn núi cao, nên trong phạm vi một đai cao đồng nhất về điều kiện nhiệt vẫn tồn tại sự xen kẽ của cả 5 tương quan nhiệt ẩm từ khô (K<1,0), hơi khô (K=1,0 2,0), ẩm (K= 2,0. 1,5), hơi ẩm (K= 1,5. 3,0) và ẩm ướt (K>3,0). Tuy nhiên, thiên nhiên nước ta nói chung có. tính chất ẩm với tưong quan nhiệt - ẩm là hơi ẩm (K từ 1,51 đến 2,0) và ẩm (K từ 2,01 đến 3,0) vẫn chiếm ưu thế, và vì vậy thảm thực vật tự nhiên ở nước ta chiếm ưu thế vẫn là rừng xanh quanh năm và rừng nửa rụng lá. Trên lãnh thổ nước ta, tồn tại một hệ thống gồm ba đai cao và á đai sau: a. Đai nhiệt đới khô đến ẩm ướt chân núi có độ cao dưới 600m Đặc trưng của đai này là có một mùa hạ nóng, nhiệt độ trung bình tháng. 250C, đáp ứng. yêu cầu cao về nhiệt của các loài cây nhiệt đới và xích đạo và có tổng nhiệt độ hoạt động >75000C (Bảng 1.2) Từ bảng 1.2 cho thấy nhiệt độ trung bình các tháng trong năm của các trạm có độ cao dưới 600m từ Bắc vào Nam, từ đông sang tây, từ đất liền ra hải đảo có sự thống nhất trong đai này là luôn luôn có các tháng mùa hạ (từ tháng 4,5 đến tháng 10) có nhiệt độ trên 25 0C. Từ biên giới phía Bắc cho đến đèo Ngang, mùa hạ có nhiệt độ trung bình hàng tháng trên 25 0C dài nhất chỉ có 5 tháng ở độ cao dưới 300m, ở các nơi có độ cao >300m có thể rút ngắn lại còn 3.
<span class='text_page_counter'>(12)</span> tháng. Tại Bình – Trị - Thiên mùa hạ nóng trên 25 0C kéo dài đến 7 tháng, nhưng ở các nơi có độ cao >300m cũng chỉ còn 3 tháng. Ở khu vực phía Nam, gần như quanh năm nóng với nhiệt độ trung bình hàng tháng trên 250C, ở các địa phương có độ cao >300m mùa nóng kéo dài tới 6 tháng, các địa phương ở độ cao >500m vẫn có độ dài mùa nóng là 5 tháng. Như vậy có thể lấy độ cao 300m làm ranh giới á đai. Riêng ở khu vực phía Bắc độ cao 100m cũng là một ranh giới á đai vì chỉ dưới độ cao này mới không có mùa đông rét (nhiệt độ trung bình tháng <150C), cây nhiệt đới khó tồn tại ở ngưỡng này. Vì vậy, trong đai nhiệt đới khô đến ẩm ướt được chia ra thành ba á đai. - Á đai từ độ cao 0m đến 100m: + Miền Bắc không có mùa đông rét. + Miền Nam nóng quanh năm. - Á đai từ độ cao 100m đến 300m: + Miền Bắc có nơi đã có mùa đông rét. + Miền Nam mùa nóng đã giảm xuống. - Á đai từ độ cao 300m đến 600m: + Miền Bắc nhiều nơi có mùa đông rét. + Miền Nam mùa nóng giảm đi một nửa. b. Đai á nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ướt trên núi có độ cao từ 600m đến 2600m Đặc trưng của đai này là mùa hạ mát, nhiệt độ trung bình tháng dưới 25 0C và có tổng nhiệt độ hoạt động >45000C. Đai này ít có biến động theo địa phương và trong đai không có tương quan nhiệt ẩm và hơi khô (K từ <1,0 đến 1,5). BẢNG 1.2. Nhiệt độ trung bình tháng và năm tại một số địa điểm ở nước ta Độ Địa điểm. 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12. Năm. cao (m). Trùng Khánh Lạng Sơn Phó Bảng Mường. 520. 11,5. 13,1. 16,9. 20,9. 24,2. 25,4. 26,0. 25,4. 24,0. 20,8. 16,6. 13,0. 19,8. 258 1400. 13,3 8,3. 14,3 10,1. 18,2 13,7. 22,1 17,2. 25,5 19,8. 26,9 20,5. 27,0 20,9. 26,6 20,4. 25,2 19,0. 22,2 16,3. 18,3 12,6. 14,8 9,7. 21,2 15,7. Khương Bắc Hà Hoàng Liên. 772. 11,6. 13,0. 16,7. 21,0. 23,4. 24,1. 24,5. 23,9. 22,8. 20,3. 16,5. 13,5. 19,3. 957. 10,8. 12,2. 16,0. 19,7. 22,5. 23,5. 23,7. 23,1. 21,8. 19,2. 15,6. 12,1. 18,5. 2170. 7,1. 8,9. 12,4. 14,4. 15,7. 16,4. 16,4. 16,4. 15,3. 13,1. 9,7. 7,5. 12,6. 1570 1529 1347. 8,5 9,8 12,3. 9,9 11,9 14,1. 13,9 15,4 17,6. 17,0 17,8 19,9. 18,3 19,2 20,5. 19,6 19,7 20,6. 19,8 19,8 20,5. 19,5 19,5 20,4. 18,1 18,5 19,8. 15,6 16,2 17,9. 12,4 12,8 14,6. 9,5 10,0 12,1. 15,2 15,9 17,5. 975. 12,4. 14,3. 17,9. 20,7. 22,2. 22,6. 22,5. 22,2. 21,4. 19,2. 15,9. 12,7. 18,7. Sơn Sa Pa Sìn Hồ Pha đin Mù Cang Chải.
<span class='text_page_counter'>(13)</span> Tam Đảo Điện Biên Mộc Châu Hà Nội Hương Khê Huế Khe Sanh Kon Tum Plâycu Buôn Ma Thuột M’ Đrăk Đà Lạt Liên Khương Phước Long Tân Sơn Nhất Phú Quốc Cà Mau. 897 497 958 5 10 17 367 536 800. 10,8 15,7 11,8 16,4 17,0 20,0 17,6 20,4 19,0. 12,2 17,6 13,3 17,0 18,1 20,9 18,4 22,4 20,7. 15,1 20,7 16,8 20,2 20,9 23,1 21,8 24,6 22,7. 18,6 23,6 20,2 23,7 24,6 26,0 24,4 25,6 24,0. 21,6 25,3 22,5 27,3 27,5 28,3 25,6 25,2 24,0. 23,0 25,9 23,0 28,8 28,5 29,3 25,6 24,6 23,0. 23,1 25,7 23,1 28,9 29,0 29,4 25,3 24,3 22,4. 22,6 25,4 22,4 28,2 27,7 28,9 24,6 24,1 22,2. 21,6 24,6 21,2 27,2 25,9 27,1 24,0 23,8 22,3. 19,0 22,4 18,9 24,6 23,7 25,1 22,8 23,4 21,7. 15,7 19,1 15,7 21,4 20,7 23,1 20,4 22,1 20,7. 12,7 15,8 12,8 18,2 18,2 20,8 18,2 20,6 19,3. 18,0 21,8 18,5 23,5 23,5 25,2 22,4 23,4 21,8. 490. 21,1. 22,7. 24,7. 26,1. 25,8. 24,8. 24,3. 24,2. 23,9. 23,5. 22,5. 21,2. 23,7. 478 1513. 20,0 16,4. 21,7 17,4. 24,1 18,3. 25,6 19,2. 26,0 19,7. 25,7 19,4. 25,6 18,9. 25,7 18,9. 24,6 18,8. 23,4 18,4. 21,9 17,6. 20,0 16,7. 23,7 18,3. 961. 19,2. 20,3. 21,5. 22,3. 22,4. 22,0. 21,6. 21,6. 21,3. 20,9. 20,3. 19,6. 21,1. 24. 23,6. 25,4. 26,8. 27,4. 26,9. 25,7. 25,4. 25,1. 25,0. 24,8. 24,3. 23,3. 25,3. 9. 25,8. 26,7. 27,9. 28,9. 28,3. 27,5. 27,1. 27,1. 26,8. 26,7. 26,4. 25,7. 27,1. 2 3. 25,6 25,1. 26,7 25,8. 27,8 26,8. 28,6 27,9. 27,6 27,7. 27,8 27,3. 27,4 27,1. 27,4 27,0. 27,1 26,9. 26,8 26,7. 26,6 26,3. 25,9 25,5. 27,2 26,7. Do bề dày của luồng gió mùa đông bắc trung bình chỉ đến độ cao 1500m nên bên trên độ cao này thường có các luồng gió nhiệt đới trên cao, đặc biệt là tại các tầng 850mb (ở độ cao 1500m) và tầng 700mb (ở độ cao 3000m) từ áp cao Thái Bình Dương hoạt động hầu như quanh năm. Đai á nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ướt trên núi có thể phân ra thành ba á đai: - Á đai từ độ cao 600m đến 1000m: Tại á đai này, chế độ nhiệt còn mang tính chất chuyển tiếp, như ở khu vực phía Bắc nhiệt độ những tháng mùa đông còn cao hơn so với các khu vực vòng đai á nhiệt đới theo chiều ngang (tại Athen – Hy Lạp, ở vĩ độ 37058’B, nhiệt độ trung bình các tháng mùa đông xuống dưới 100C) và ở khu vực phía Nam, số tháng có nhiệt độ trung bình tháng trên 20 0C vẫn chiếm đa số. Các loài cây nhiệt đới dễ tính và đất Feralit đỏ vàng còn xuất hiện trong á đai này. - Á đai từ độ cao 1000m đến 1600m: Trong á đai này thực bì và thổ nhưỡng mang sắc thái á nhiệt đới rõ rệt, các loài dẻ (Fagceac), Re (Lauraceac) chiếm ưu thế tuyệt đối trên đất mùn Feralit vàng đỏ (quá trình tích mùn đã trở thành chủ đạo, nhưng vẫn còn có sự tích luỹ sắt). - Á đai từ độ cao 1600m đến 2600m: Đai này cũng mang tính chất chuyển tiếp lên đai ôn đới. Ở đây không có tháng nào có nhiệt độ trung bình tháng trên 200C, tháng nóng nhất cũng chỉ xấp xỉ nhiệt độ mùa hạ ôn đới. Tuy vậy mùa đông vẫn còn ẩm hơn mùa đông ở miền ôn đới. Quá trình Feralit chấm dứt hoàn toàn và thay vào đó là đất mùn Alit, rừng rêu phát triển..
<span class='text_page_counter'>(14)</span> c. Đai ôn đới hơi ẩm đến ẩm ướt trên núi từ độ cao trên 2600m Đai này chiếm diện tích nhỏ, chỉ phát triển ở một số vùng núi cao ở miền Bắc Việt Nam (Hoàng Liên Sơn, PuSiLung). Ở miền Nam, đỉnh cao nhất (Ngọc Linh 2598m) cũng chưa đạt độ cao của đai này. Trong đai này, thực vật ôn đới chiếm đa số tuyệt đối, đặc biệt là hai loài cây lá kim chỉ xuất hiện từ độ cao 2600m trở lên như Thiết sam (Tsugay unnanensis), Lãnh sam (Abies Pindrow). Đặc biệt từ độ cao trên 2800m (PuTaLeng 3096m, Pu Luông 2985m, Sà Phìn 2874m đều thuộc dãy Hoàng Liên Sơn), họ tre trúc lùn chiếm ưu thế, có nơi phát triển thành thảm thấp 20 – 30 cm dày đặc. Ở đai này nếu có sự phân hoá thành á đai thì nguyên nhân chính là do địa hình và thổ nhưỡng quyết định chứ không phụ thuộc vào nhiệt độ. Cũng có thể nhận biết ở đai này có hai á đai: - Á đai có thực bì cằn cỗi: Á đai này gồm họ tre trúc lùn ở trên các đường đỉnh hẹp, dốc, gió mạnh, đất mỏng trơ đá gốc. - Á đai có thực bì hỗn giao: Á đai này có trên các sườn ẩm hơn, đất dày hơn với thực bì hỗn giao lá rộng – lá kim với họ Đỗ quyên (Ericaceac) chiếm ưu thế. 1.3. Quan hệ giữa các quy luật phân hoá Các quy luật phân hoá trên thực tế không tác động riêng rẽ, độc lập mà chúng tác động đồng thời, tương hỗ. Tuỳ theo từng lúc, từng nơi mà quy luật này hay quy luật khác giữ vai trò chủ yếu, trội, chi phối sự hình thành và chiều hướng phát triển của các quá trình tự nhiên trong các địa tổng thể. Trước hết là mối quan hệ giữa hai dạng cơ bản của quy luật phi địa đới là quy luật địa ô và quy luật kiến tao - địa mạo có lien hệ chặt chẽ với nhau. Các ranh giới khí hậu theo kinh tuyến thường phù hợp với các bức chắn sơn văn. Những sự phân chia bề mặt lãnh thổ theo hình thái kiến tạo lớn (như xứ Hoa Nam, xứ Đông Dương) lại là những khu vực được phân biệt theo vị trí của nó đối với ảnh hưởng của biển và đại dương của quy luật địa ô. Những khu vực chịu ảnh hưởng của những điều kiện hình thành, di chuyển, biến tính của các khối khí, theo mức độ lục địa của khí hậu và của cả vai trò của vị trí trên cao. Thêm vào đó các khối núi không chỉ tạo nên quy luật phân hoá theo vành đai độ cao riêng biệt của nó mà còn ảnh hưởng quan trọng đến các cảnh quan tự nhiên của các đồng bằng và các khu vực núi khác lân cận. Mặt khác, số lượng và cấu trúc của vành đai trong phạm vi một đới cảnh quan cũng không đồng nhất và thường bị phụ thuộc vào các nhân tố khí hậu phân hoá theo hướng kinh tuyến (mức độ ẩm ướt) và mức độ lục địa (độ lục địa).. Bài 2. NGUYÊN NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN VÙNG ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN.
<span class='text_page_counter'>(15)</span> 2.1. Các nguyên tác cơ bản Khi tiến hành phân vùng địa lí tự nhiên, việc phát hiện và vạch ra hệ thống các đơn vị phân vùng lớn nhỏ phải là sự phản ánh các quy luật phân hoá khách quan của tự nhiên không phụ thuộc vào bất kì mục đích phân vùng ứng dụng nào (phân vùng nông nghiệp, phân vùng công nghiệp, phân vùng du lịch…). Để việc phân vùng được chính xác, có cơ sở khoa học và phù hợp với thực tiễn thì yêu cầu trước tiên là phải đảm bảo được tính khách quan của việc nghiên cứu, tránh áp đặt những chủ quan của người nghiên cứu. Những nguyên tắc phân vùng địa lí tự nhiên là một trong những vấn đề quan trọng nhất của phân vùng địa lí tự nhiên tổng hợp, bao gồm: - Nguyên tắc phát sinh. - Nguyên tắc tổng hợp. - Nguyên tắc về tính đồng nhất tương đối của tổng thể các thành phần tự nhiên. - Nguyên tắc cùng chung lãnh thổ. Các nguyên tắc này thực chất có thể không cùng thứ bậc song chúng đều có ý nghĩa khoa học và thực tiễn đối với việc thể hiện và nghiên cứu các thể tổng hợp tự nhiên. 2.1.1. Nguyên tắc phát sinh Nguyên tắc này đòi hỏi khi xác định các đơn vị địa tổng thể phải xét đến nguồn gốc hình thành nên các đơn vị phân vùng ấy, nghĩa là phải phân tích các quy luật phân hoá cảnh quan, xem xét chúng được phát sinh từ khi nào, do nguyên nhân gì, hiện nay và trong tương lai sẽ ra sao? Như vậy chỉ khi nào nắm được quy luật phát sinh và phát triển của các địa tổng thể mới có thể điều khiển, sử dụng chúng một cách hợp lí nhất, tránh được những hậu quả không lường trước được. Nguyên tắc này đòi hỏi khi tiến hành phân vùng địa lí tự nhiên một lãnh thổ phải chia những đơn vị lãnh thổ, mà đặc điểm không những có sự giống nhau bề ngoài của các điều kiện tự nhiên, mà còn phải có chung một nguồn gốc phát sinh và phát triển (Grigôriev, 1951). Như vậy, trong việc phân vùng theo nguyên tắc phát sinh cần phát hiện ra những nguyên nhân đầu tiên hình thành và sự phân chia tiếp theo của mỗi đơn vị địa lí tự nhiên, đồng thời phải tìm hiểu bức tranh tổng quát của lịch sử địa lí và xác định rõ những giai đoạn quan trọng nhất trong lịch sử đó (N.A.Xonxev). 2.1.2. Nguyên tắc tổng hợp Nguyên tắc này đòi hỏi phải tính toán đến tất cả mọi thành phần cấu tạo nên một địa tổng thể không trừ một thành phần nào. Làm như vậy sẽ tránh cho phân vùng địa lí tự nhiên dù có theo một nhân tố chủ đạo nào cũng không biến thành phân vùng riêng cho nhân tố đó. Thí.
<span class='text_page_counter'>(16)</span> dụ, khi vạch ra các địa tổng thể mà nhân tố chủ đạo là kiến tạo - địa mạo để hình thành một số cấp phân vị như xứ, miền và khu thì cũng không trở thành phân vùng địa mạo. Tuy nhiên, sẽ hoàn toàn không đúng nếu áp dụng một cách máy móc nguyên tắc này, nghĩa là tìm hiểu và trình bày lần lượt từng thành phần, yếu tố một, sắp xếp chúng theo trình tự quy ước cứng nhắc mà phải là tìm ra được mối quan hệ qua lại mật thiết, gắn kết tất cả các thành phần, yếu tố đó lại với nhau, thống nhất chúng thành một thể tổng hợp lãnh thổ hoàn chỉnh. 2.1.3. Nguyên tắc về tính đồng nhất tương đối của tổng thể các thành phần tự nhiên (tính đồng nhất về mặt địa lí tự nhiên) Tính đồng nhất tương đối của tổng thể các thành phần tự nhiên là đặc điểm đặc thù của các đơn vị phân vùng địa lí tự nhiên, cho phép phân biệt các đơn vị phân vùng tổng hợp với các đơn vị phân vùng bộ phận. Nguyên tắc này cho thấy các vùng địa lí tự nhiên vừa thống nhất lại vừa có sự phân hoá phức tạp: thống nhất trên cơ sở một số chỉ tiêu nhất định đặc trưng cho các mối quan hệ hữu cơ giữa các thành phần cấu tao nên địa tổng thể, nhưng đồng thời vẫn có sự phân hoá nội bộ khiến cho mỗi đơn vị địa tổng thể lại có thể phân chia ra những địa tổng thể thấp thấp hơn (theo cách tiến hành “từ trên xuống”) cũng như có thể ghép một số đơn vị nhỏ thành đơn vị lớn (theo cách tiến hành “từ dưới lên”). Thực tế cho thấy mức độ đồng nhất của tổng thể các thành phần ở một đơn vị địa tổng thể thường không thể bao trùm toàn bộ lãnh thổ, phần còn lại có thể khác xa với sự đồng nhất này. Ví dụ trong cấu thành của một xứ địa lí tự nhiên miền núi, lại có cả những đồng bằng giữa núi có lien quan với các núi và cùng với chúng tạo thành một lãnh thổ thống nhất và toàn vẹn về mặt phát sinh, song về mặt hình thái và các quá trình tự nhiên của các đồng bằng giữa núi này lại không đồng nhất với tổng thể các thành phần tự nhiên của xứ địa lí tự nhiên miền núi này. Nhìn chung, ranh giới của các đơn vị địa lí tự nhiên được vạch ra ở nơi mà tính đồng nhất (ở mức độ cao hay thấp nào đó) được thay thế bởi một kiểu đồng nhất khác (Kalexnik, 1951). Nguyên tắc “tính đồng nhất về mặt địa lí tự nhiên” có một ý nghĩa thực tiễn quan trọng nhất, vì ứng dụng nguyên tắc này cho phép chia ra được các lãnh thổ ít nhiều đồng nhất về những khả năng sử dụng tự nhiên vào thực tiễn (Minkov, 1959). 2.1.4. Nguyên tắc cùng chung lãnh thổ Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của phân vùng địa lí tự nhiên mà sự chia ra những vùng tự nhiên có thể không lặp lại trong không gian, thời gian và không thể bao gồm những bộ phận phân cách nhau về mặt lãnh thổ. Những bộ phận như thế, nếu rất giống nhau về các đeiêù kiện tự nhiên tất nhiên có thể được gặp lại theo kiểu, loại, giống, lớp,…song đó là những đơn vị phân kiểu chứ không phải là đơn vị phân vùng. Như vậy nguyên tắc cùng chung lãnh thổ là dấu hiệu quan trọng nhất nói lên sự khác nhau cơ bản giữa các đơn vị phân.
<span class='text_page_counter'>(17)</span> vùng và các đơn vị phân kiểu của bất kì một lãnh thổ nào. Ví dụ như không thể có hai “vùng đồi Phú Thọ” trong khi kiểu đồi lại có thể thấy rải rác từ Bắc vào Nam trên lãnh thổ Việt Nam. 2.2. Các phương pháp phân vùng địa lí tự nhiên Phương pháp phân vùng địa lí tự nhiên có ý nghĩa quyết định đến chất lượng phân vùng. Trong phân vùng địa lí tự nhiên đã và đang áp dụng các phương pháp khác nhau. Hiện nay đa số các nhà địa lí thừa nhận có hai cách: phân vùng từ trên xuống và phân vùng từ dưới lên. Trong các hệ thống phân vùng lãnh thổ Việt Nam, hầu hết các nhà điạ lí đều tiến hành theo cách từ trên xuống bằng một số phương pháp cụ thể khác nhau như: - Phương pháp địa lí tự nhiên. - Phương pháp địa vật lí – hoá học cảnh quan. - Phương pháp toán học. - Phương pháp thực địa. 2.2.1. Phương pháp địa lí tự nhiên Hiện nay, việc phát hiện các thể tổng hợp địa lí tự nhiên theo lãnh thổ được thể hiện bằng một số phương pháp cụ thể: 2.2.1.1. Chồng xếp các bản đồ Phương pháp này sử dụng các bản đồ địa lí bộ phận như địa chất, địa mạo, đất, khí hậu, thực vật…chồng xếp chúng lên nhau để tìm ra ranh giới của địa tổng thể trên cơ sở có sự trùng hợp giữa các ranh giới bộ phận. Song, thực tế rất ít khi có sự trùng hợp mà phải có sự điều chỉnh bằng các ranh giới trung gian. 2.2.1.2. Phân tích liên kết các thành phần tự nhiên Phương pháp này được gọi là “phương pháp phân vùng theo tổng hợp các dấu hiệu”. Các đơn vị địa tổng thể (đới, miền, khu, vùng…) được hình thành dưới tác động tương hỗ của các thành phần cấu tạo. Vì vậy khi phân vùng cần phải tính đến sự tổng hợp lien kết của các nhân tố và các thành phần này, và khi thể hiện các đơn vị địa tổng thể nên sử dụng các dấu hiệu chung đó. Nội dung của phương pháp này là dựa trên các bản đồ thành phần, tiến hành phân tích, so sánh để tìm ra nguyên nhân cơ bản hình thành các đơn vị địa tổng thể các cấp. 2.2.1.3. Phương pháp phân tích bản đồ kiểu cảnh quan Đây là phương pháp mới được áp dụng mà theo đó các thể tổng hợp địa lí tự nhiên được vạch ra dựa vào một tập hợp các kiểu cảnh quan. Việc sử dụng bản đồ kiểu cảnh quan để phân vùng địa lí tự nhiên tổng hợp phải phân tích những mối tương quan về phát sinh và những tác động tương hỗ giữa các thành phần tự nhiên để phát hiện những nguyên nhân cơ bản làm phân hoá ra các thể tổng hợp địa lí tự nhiên..
<span class='text_page_counter'>(18)</span> 2.2.1.4. Phương pháp địa viễn thám (Geo – Remote Sensing) Việc sử dụng ảnh máy bay và ảnh vệ tinh cho phép nhận thức và thể hiện các địa tổng thể. Các bức ảnh viễn thám không những cho phép thể hiện được những ranh giới mà còn có thể nhận biết được đặc điểm chất lượng, cấu trúc của các địa tổng thể. Ngoài ra, việc phân tích các ảnh viễn thám chụp ở các khoảng thời gian khác nhau còn cho biết thêm nguồn thông tin quan trọng về sự thay đổi của các thể tổng hợp địa lí tự nhiên thong qua các quá trình, hiện tượng nhịp điệu hay hoạt động kinh tế của con người. 2.2.1.5. Phương pháp nhân tố chủ đạo Phương pháp này góp phần làm giảm bớt tính phức tạp trong phân vùng địa lí tự nhiên tổng hợp. Phương pháp này dựa trên cơ sở của tính không đồng nhất về giá trị của các nhân tố phân hoá tự nhiên. Nhân tố chủ đạo là nhân tố có tính quyết định tới sự hình thành và có khả năng tác động mạnh đến các nhân tố khác (thứ yếu hơn) của mỗi cấp địa tổng thể. Mỗi cấp địa tổng thể có nhân tố trội riêng (đơn vị miền là sơn văn kiến tạo và sự khác biệt về khí hậu theo kinh độ, đơn vị khu là đặc điểm địa mạo cùng với những quan hệ tương hỗ về thổ nhưỡng, sinh vật…). 2.2.2. Phương pháp địa vật lí – hoá học cảnh quan Phương pháp địa vật lí cảnh quan là phương pháp nhằm nghiên cứu tính toán các cân bằng nhiệt, cân bằng bức xạ, cân bằng ẩm và cân bằng nước ở các thể tổng hợp địa lí tự nhiên (đặc biệt tập trung vào các đới địa lí tự nhiên). Phương pháp địa hoá học cảnh quan cho phép khi tiến hành phân vùng địa lí tự nhiên được sử dụng rộng rãi các kết quả nghiên cứu phân tích lien kết hoá học các đá góc, nước, thổ nhưỡng và sinh vật. Phương pháp địa vật lí - hoá học cảnh quan giúp xác định định lượng thành phần vật chất của các địa tổng thể, các quá trình trao đổi vật chất và năng lượng, trao đổi các nguyên tố hoá học bên trong một cảnh quan hay giữa các cảnh quan với nhau. 2.2.3. Phương pháp toán học Phương pháp toán học cho phép xác định các chỉ số của các yuế tố, các thành phần cấu tạo nên các địa tổng thể, bao gồm các phương trình (cân bằng nhiệt và nước, cân bằng nhiệt ẩm), xây dựng các biểu đồ tương quan (giữa lượng mưa và tổng nhiệt độ), xác định hệ số tương quan giữa các thành phần cấu tạo (giữa độ dốc của sườn với độ lẫn đá của đất…). Phương pháp thống kê toán học (xác định mức độ đồng nhất và không đồng nhất của các thể tổng hợp), xây dựng các mô hình toán học cho các quá trình địa lí tự nhiên… 2.2.4. Phương pháp thực địa Những phương pháp trình bày ở trên chủ yếu thực hiện ở trong phòng, còn phương pháp thực địa được tiến hành ở ngoài trời. Đây là một phương pháp quan trọng nhất và không thể.
<span class='text_page_counter'>(19)</span> bỏ qua được trong phân vùng địa lí tự nhiên. Nội dung của phương pháp này là phát hiện ra các nhân tố chủ đạo trong sự phân hoá các địa tổng thể và các dấu hiệu chỉ thị về khu vực phân bố tác động của từng nhân tố chủ đạo đó để xác định ranh giới các thể tổng hợp địa lí tự nhiên (thong thường những dấu hiệu biểu hiện ra ngoài rõ rệt nhất là nham thạch, địa hình, thực vật). Đồng thời phương pháp thực địa còn giúp kiểm tra lại các ranh giới đã được vạch ra trong phòng để có những điều chỉnh thích hợp. Phương pháp thực địa gồm khảo sát theo tuyến, theo diện và tại các trạm cố định hoặc lưu động, còn gọi là các điểm chìa khoá.. BÀI 3. HỆ THỐNG CÁC ĐƠN VỊ PHÂN VÙNG ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VIỆT NAM 3.1. Khái niệm Hệ thống các đơn vị phân vùng địa lí tự nhiên (gọi tắt là hệ thống phân vị) được sử dụng để phân vùng địa lí tự nhiên Việt Nam là toàn bộ các vùng lớn nhỏ cấu thành nên lãnh thổ Việt Nam. Hệ thống phân vị gồm nhiều cấp bậc. Nếu xét từ trên xuống thì mỗi đơn vị phân vùng cấp lớn đều phức tạp hơn đơn vị và bao gồm một số đơn vị phân vùng cấp thấp hơn (không ít hơn 2) và ngược lại từ 2 vùng cấp thấp trổ lên có thể hợp thành đơn vị cấp lớn hơn. Các đơn vị cấp cao, kích thước lớn thường kém đồng nhất hơn các đơn vị cấp thấp. Vì vậy, muốn xét xem một khu vực địa lí tự nhiên thuộc cấp phân vị nào người ta phải căn cứ vào một số chỉ tiêu định tính và định lượng đặc trưng cho sự thống nhất nội bộ của cấp, bậc đó. Điều đó có nghĩa là mỗi cấp phân vị phải có những sắc thái riêng và dựa vào đó người ta chẩn đoán được các cấp, bậc này. 3.2. Khái quát những hệ thống phân vị đã được sử dụng để phân vùng địa lí tự nhiên Việt Nam 3.2.1. Hệ thống phân vị của các tác giả nước ngoài Trước ngày hoà bình lập lại hay nói đúng hơn là trước Cách mạng tháng Tám, trong một vài tác phẩm của các nhà địa chất và địa lí người Pháp đã đề cập đến các khu vực địa lí Việt Nam như: Đông Dương thuộc Pháp của J.Sion (1927); Đông Dương thuộc Pháp của Ch. Robequain (1935, 1952); Người nông dân ở tam giác châu Bắc Kì của P. Gourou (1931). Những khu vực địa lí được chia ra trong các tác phẩm này dựa chủ yếu vào các yếu tố chính trị, xã hội, dân tộc và dân cư nên thực chất chưa phải là các khu vực địa lí tự nhiên và không có hệ thống phân vị. Sau khi hoà bình lập lại (1954), một số nhà địa lí Liên Xô (cũ) đã có những công trình.
<span class='text_page_counter'>(20)</span> nghiên cứu địa lí Việt Nam, trong đó có đề cập tới việc phân chia các khu vực địa lí tự nhiên với sự có mặt của các hệ thống phân vị nhất định. Tác phẩm “Việt Nam” của T.N.Seglova (Liên Xô, 1957) đã sử dụng một hệ thống phân vị đơn giản với hai cấp là vùng và á vùng để phân chia các khu vực địa lí tự nhiên Việt Nam. Chỉ tiêu phân cấp là yếu tố địa chất – kiến tạo, địa mạo, khí hậu và thực vật (yếu tố khí hậu là yếu tố trội) và chỉ tiêu phân cấp á vùng là nhân tố địa mạo. T.N.Seglova đã chia lãnh thổ Việt Nam thành 3 vùng và 8 á vùng (1) Trong cuốn “Thiên nhiên miền Bắc Việt Nam”, 1961, V.M.Fridland, đã dành chương cuối cho phân vùng địa lí tự nhiên. Hệ thống phân vị đã sử dụng gồm 5 cấp: Lãnh thổ - quận – á quận – đới (đối với các khu vực đá Silicat) hoặc vùng (đối với các khu vực đá vôi). Có thể thấy rõ hệ thống phân vị của Fridland hoàn toàn theo các dấu hiệu của quy luật phi địa đới và hạn chế của hệ thống phân vị này là không chỉ rõ được mối quan hệ của các đơn vị cấp lãnh thổ với cấp trên nó và những chỉ tiêu cho từng cấp phân vị.. ____________________________ (1) T.N.Seglova, 1957 chia lãnh thổ Việt Nam thành 3 vùng và 8 á vùng. Đó là: I. Vùng Bắc với bốn á vùng: 1. á vùng đồng bằng Bắc Việt Nam; 2. á vùng núi thấp Đông Bắc; 3. á vùng núi trung bình Tây Bắc; 4. á vùng Trường Sơn Bắc. II. Vùng Trung với hai á vùng: 5. vùng đồng bằng ven biển; 6. vùng cao nguyên Trung Bộ Việt Nam. III. Vùng Nam với hai á vùng: 7. á vùng đất cao Nam Bộ; 8. á vùng đất thấp Nam Bộ.. 3.2.2. Hệ thống phân vị của các tác giả Việt Nam Cuốn “Địa lí tự nhiên Việt Nam” (phần đại cương) của Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập, 1963 đã dành một chương cuối cho phân vùng. Hệ thống phân vị trong công trình này gồm 6 cấp: đới – xứ - miền – khu –vùng – cảnh. Hệ thống phân vị này đã dựa vào cả hai quy luật phân hoá địa lí tự nhiên: quy luật địa đới và quy luật phi địa đới. Trong hệ thống này đã có những đơn vị bao trùm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam (đới, xứ) và có cả những đơn vị cấp nhỏ nhất (cảnh). Hạn chế của hệ thống này là thiếu chỉ tiêu cho mỗi cấp phân vị, cho nên người khác không thể áp dụng được. Năm 1970 cuốn “Phân vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ Việt Nam” (tập 1 – Bắc Việt Nam) của Tổ phân vùng địa lí tự nhiên thuộc Uỷ ban khoa học Nhà nước, các tác giả sử dụng hệ thống phân vị bao gồm 7 cấp: á lục địa – xứ - đới – á đới – miền – á miền – vùng (Bảng 1.3)..
<span class='text_page_counter'>(21)</span> Hệ thống phân vị này tương đối hoàn chỉnh, có đầy đủ cơ sở khoa học, tương đối ngắn gọn và khá rõ ràng, nhất là các chỉ tiêu cụ thể đối với từng cấp phân vị. Như vậy, theo hệ thống phân vị 7 cấp này, lãnh thổ việt nam nằm trong một á lục địa “Đông Nam Á”, một xứ “Đông Dương”, một đới “đới nhiệt đới gió mùa đất Feralit đỏ vàng”. Lãnh thổ miền Bắc Việt Nam năm trong một á đới “Bắc Việt Nam”, 6 miền, 8 á miền và 51 vùng.. BẢNG 1.3. Các đơn vị phân vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ Bắc Việt Nam (Theo phân vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ Việt Nam, Tập 1. Bắc Việt Nam, 1970). lục. Xứ ĐÔNG DƯƠNG. ĐÔNG NAM Á. địa. Đới. Á đới BẮC VIỆT NAM. Á. Miền. Á miền. Vùng 1. Vùng quần đảo. Miền Đông. A. Bắc. Á Miền phía Đông. B Á Miền phía Bắc. 2. Vùng đồng bằng ven biển Tiên Yên – Móng Cái. 3. Vùng đồi thấp Nam Mẫu – Bình Liêu. 4. Vùng đồi núi Lục Ngạn. 5. Vùng máng trũng Thất Khê – Lộc Bình. 6. Vùng núi đá vôi Bắc Sơn. 7. Vùng núi Ngân Sơn – Liên Lạc. 8. Vùng núi đá vôi Đồng Văn – Trùng Khánh. 9. Vùng đồi Chợ Mới – Chợ Chu. 10. Vùng trũng lên minh – Phủ thông. 11. Vùng núi riôlit Tam Đảo. 12. Vùng núi trung bình Phia la – Phia Bioóc..
<span class='text_page_counter'>(22)</span> NHIỆT ĐỚI GIÓ MÙA ĐẤT FERALIT ĐỎ VÀNG. 13. Vùng núi đá vôi Quảng Bạ - Phia Phương. 14. Vùng đồi núi lung lũng sông Lô. 15. Vùng khối núi Granit thượng nguồn sông Chảy. 16. Vùng cao nguyên đá vôi Bắc Hà. A Á miền Fanxipan. B. Miền. Á miền phía. Tây Bắc. Tây. C. 17. Vùng thung lũng sông Hồng 18. Vùng núi cao Fanxipan 19. Vùng núi cao Xà Phình – Pu Luông. 20. Vùng đồi núi thung lũng sông Mua. 21. Vùng đồi núi thung lũng sông Nậm Mu. 22. Vùng cao nguyên đá vôi Sơn La. 23. Vùng cao nguyên đá vôi Mộc Châu. 24. Vùng núi cao Pu – Si - Lung. 25. Vùng núi trung bình Pu – Đen – Đinh. 28. Vùng núi thung lũng sông Mã. 29. Vùng đồi núi Cao Phong.. Á miền Tây. 30. Vùng đồi núi Bồi Vĩnh.. Thanh –. 31. Vùng đồi núi Bù Khang.. Nghệ Miền Trường Sơn Bắc. 32. Vùng đồi Thường Xuân – Tây Hiếu. 33. Vùng núi Pu Lai Leng – Rào Cỏ. 34. Vùng núi Hoành Sơn. 35. Vùng đá vôi Kẻ Bàng.. A. 36. Vùng đồi núi thấp tây Quảng Bình. 37. Vùng đồng bằng xen đồi Thái Nguyên – Bố. Á miền đồng. Hạ.. Miền. bằng S. Thái. 38. Vùng đồng bằng thung lũng hạ lưu các sông:. đồng. Bình. bằng. B. Bắc Bộ. Á miền đồng bằng sông Hồng A. Cầu, Thương, Lục Nam. 39. Vùng cửa sông hiện đại sông Thái Bình. 40. Vùng đồng bằng xen đồi Hà Tây – Vĩnh Phú. 41. Vùng đồng bằng bồi tụ phù sa sông Hồng. 42. Vùng đất trũng Hà Nam – Ninh Bình. 43. Vùng tam giác châu hiện đại sông Hồng. 44. Vùng đồng bằng châu thổ cũ sông Mã – sông. Miền. Á miền đồng. Chu.. đồng. bằng Thanh. 45. Vùng châu thổ hiện đại sông Mã – sông Chu.. bằng. Hoá. Thanh. B. -Nghệ Tĩnh. Á miền đồng bằng Nghệ Tĩnh. Miền đồng bằng Bình Trị Thiên. 46. Vùng đồng bằng ven biển Diễn Châu. 47. Vùng đồng bằng xen đồi Vũ Liệt – Hương Khê. 48. Vùng châu thổ sông Cả. 49. Vùng đồng bằng ven biển Kì Anh. 50. Vùng đồng bằng ven biển Ba Đồn. 51a. Vùng đồi bazan Vĩnh Linh..
<span class='text_page_counter'>(23)</span> 51b. Vùng đồng bằng ven biển Đồng Hới.. Trong hai tác phẩm “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam”, 1976 và “Địa lí tự nhiên Việt Nam” (phần khu vực), 1974, Vũ Tự Lập đã đưa ra một hệ thống các đơn vị phân vùng địa lí tự nhiên (gọi tắt là hệ thống phân vị). Hệ thống này được xây dựng theo những nguyên tắc rõ ràng, phản ánh đúng đắn mối quan hệ giữa các quy luật phân hoá không gian của địa lí quyển; đồng thời có đầy đủ các cấp (phần đất liền) để có thể phân vùng ở mọi tỉ lệ cho các kích thước lãnh thổ lớn nhỏ, cho cả miền núi và đồng bằng. Ngoài ra trong hệ thống này còn có những đơn vị chủ yếu (những đơn vị bắt buộc) có chỉ tiêu chính xác để làm chỗ dựa cho việc phân vùng một lãnh thổ theo cách tiến hành “từ trên xuống” hoặc “từ dưới lên”; từ cấp lớn nhất (địa lí quyển) đến cấp nhỏ nhất (điểm địa li). Hệ thống này được thể hiện bằng sơ đồ sau: (Hình 1.1).. Địa lí quyển. Đại dương. Đất liền. Ô địa lí. Vòng địa lí. Xứ địa lí. Đới địa lí. Miền địa lí Khu địa lí. Khối địa lí Á khu địa lí Đai cao địa lí Cảnh địa lí. Á cảnh địa lí. Á đai cao địa lí Nhóm dạng địa lí Dạng địa lí Á dạng địa lí.
<span class='text_page_counter'>(24)</span> Nhóm diện địa lí Diện địa lí Điểm địa lí. Hình 1.1. Hệ thống phân vị của Vũ Tự Lập (1974) Qua sơ đồ này, cho thấy một mặt phải xét đồng thời các quy luật phân hoá, vì trên thực tế các quy luật địa đới và phi địa đới xâm nhập vào nhau và tác động tương hỗ với nhau. Nhưng mặt khác, lại phải thấy sự thống nhất giữa các quy luật này là sự thống nhất biện chứng, có mau thuẫn, nghĩa là có lúc, có nơi một quy luật nào đó sẽ trội và quy luật kia chỉ giữ vai trò thứ yếu. Hơn nữa các quy luật phân hoá này có tính độc lập tương đối vì có nguồn gốc phát sinh riêng nên không thể xếp các đơn vị do chúng hình thành trong mối quan hệ trực tiếp trên dưới mà phải sắp xếp các cấp phân vị theo hai dãy (địa đới và phi địa đới). Một xứ không thể nằm gọn trong phạm vi một đới và ngược lại một đới cũng có thể chạy qua nhiều xứ. Vì thế hệ thống phân vị này có hai đoạn, các cấp phân vị được sắp xếp theo hai dãy (địa đới và phi địa đới). Tuy nhiên, song song tồn tại với sự sắp xếp hai dãy này, xen kẽ lại có những đoạn các cấp phân vị trong hệ thống được sắp xếp theo một dãy, hình thành nên một số cấp do sự đan cắtgiữa hai dãy địa đới và phi địa đới (ví dụ cấp miền địa lí, khu địa lí). Ngoài ra trong hệ thống nàycòn thấy có một số cấp phân vị chỉ có một khu vực núi (khối, đai cao, á đai cao) và một số cấp khác chỉ có mặt ở khu vực đồng bằng (á khu, á cảnh). Trong giáo trình này, về cơ bản chúng tôi dựa vào sơ đồ phân vùng theo hệ thống phân vị của Vũ Tự Lập. Tuy vậy chúng tôi chỉ phân vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ việt nam, phần đất liền, tới cấp khu và có sự điều chỉnh một số khu trong ba miền tự nhiên ở nước ta. 3.3. Những chỉ tiêu cơ bản để chẩn đoán các cấp phân vị Hiện nay đối với mỗi cấp phân vị đều có một phức hệ chỉ tiêu định tính và định lượng. Các chỉ tiêu chẩn đoán là những dấu hiệu dựa vào đó, bất kì người làm công tác phân vùng nào cũng có thể xác định xem một khu vực nào đó là địa tổng thể thuộc cáp nào. Các cấp phân vị có nhiều nhưng ở đây ta chỉ xét các cấp có thể gặp trên lãnh thổ Việt Nam và đã được các nhà địa lí đề cập tới. 3.3.1. Vòng địa lí.
<span class='text_page_counter'>(25)</span> Vòng địa lí là đơn vị được dùng để phân chia các lãnh thổ rộng lớn như một châu lục, một nửa cầu. Cấp này được xác định dựa vào nền tảng nhiệt hoặc là cán cân bức xạ tính theo kcal/cm2/năm, hoặc là tổng nhiệt độ trên 10 0C (vì theo Buđucô tổng nhiệt độ trên 10 0C chia cho 100 xấp xỉ với trị số cán cân bức xạ). Tuy nhiên tại một số nơi hai giá trị này không trùng khớp, nhất là ở các khu vực núi và khu vực có gió mùa như ở nước ta, tổng nhiệt độ giảm nhanh hơn cán cân bức xạ, nên tại những nơi này có sự thay thế tổng nhiệt độ trên 10 0C, bằng tổng nhiệt độ trên 00C. Số lượng các vòng địa lí thay đổi, ít nhất là 2 (nội chí tuyến và ngoại chí tuyến), nhiều nhất là 7 (cực, cận cực, ôn đới, á nhiệt đới, nhiệt đới, á xích đạo và xích đạo). Đa số các nhà địa lí phân ra 5 vòng địa lí, bao gồm: - Xích đạo: tổng nhiệt độ trên 95000C - Nhiệt đới: tổng nhiệt độ trên 75000C - Á nhiệt đới: tổng nhiệt độ trên 45000C - Ôn đới: tổng nhiệt độ trên 17000C - Hàn đới: tổng nhiệt độ dưới 17000C Theo Vũ Tự Lập, nếu chỉ tiêu của vòng địa lí chủ yếu dựa vào chu kì quang thì nên chia ba vòng địa lí, trong mỗi vòng sẽ căn cứ vào tổng nhiệt độ mà chia nhỏ thành các vòng phụ. Ba vòng đó là: 1. Vòng cực; 2. Vòng ngoại chí tuyến; 3. Vòng nội chí tuyến. Như vậy, Việt Nam nằm trọn trong vòng nội chí tuyến (có thể chia nhỏ thành hai vòng phụ là chí tuyến (nhiệt đới) với tổng nhiệt độ trên 75000C và xích đạo với tổng nhiệt độ trên 95000C). 3.3.2. Đới địa lí Đới địa lí là đơn vị thông dụng nhất trong phân vùng địa lí tự nhiên theo quy luật địa đới. Những chỉ tiêu cơ bản để xác định các đới địa lí là: - Đới có một chỉ số tương quan nhiệt - ẩm nhất định (chỉ số ẩm ướt của N.N.Ivanov và G.N.Vưxotxki; chỉ số khô hạn của A.A.Grigoriev và M.L.Buđucô hay chỉ số thuỷ nhiệt của G.T.Xêlianhinov). - Đới phải tương ứng với một kiểu lớp phủ thổ nhưỡng – sinh vật địa đới nhất định, trong đó chú trọng đến kiểu thực vật địa đới nhiều hơn thổ nhưỡng (quan hệ giữa thực vật với khí hậu – nhân tố chủ yếu tạo đới – mật thiết so với quan hệ giữa thổ nhưỡng với khí hậu). Thổ nhưỡng là thành phần bảo thủ hơn, phản ứng chậm hơn đối với điều kiện khí hậu. Ranh giới của đới ở ngoài thực địa được xác định theo các kiểu thổ nhưỡng – thực vật địa đới (Thí dụ: đới rừng rậm nhiệt đới gió mùa trên đất Feralit đỏ vàng). Trên thực tế việc xác định các đới gặp những khó khăn nhất định: Một là các chỉ tiêu định lượng (chế độ nhiệt, hoàn lưu khí quyển, các đặc điểm của tự nhiên phụ thuộc vào tương quan nhiệt - ẩm) nhiều khi chỉ mới dựa vào trị số trung bình năm mà chưa phản ánh hết được.
<span class='text_page_counter'>(26)</span> các phức hệ khí hậu (bao gồm các trị số cực đại, cực tiểu, các thời tiết đặc biệt và nhịp điệu mùa). Hai là việc dựa vào kiểu thực vật địa đới (đặc trưng bằng sự ưu thế của một dạng sống nhất định kiểu như thân gỗ, cây bụi, thảm cỏ v.v…) cũng không dễ dàng vì nhiều khi thực vật có biên độ sinh thái rộng, phải chú ý đến cả tình hình sinh trưởng và lịch sử khu hệ thực vật… 3.3.3. Địa ô (ô địa lí) - Ô địa lí là kết quả của sự phân hoá theo kinh độ. Những biến đổi về khí hậu do sự phân bố lục địa và biển thông qua hoạt động ưu thế của các khối không khí hải dương – lục địa (gọi tắt là các bình lưu khí quyển hải dương – lục địa). - Ranh giới các ô địa lí thường được xác định theo một trong ba dấu hiệu hoặc sự kết hợp của cả ba dấu hiệu với nhau. Đó là: + Phù hợp với một đường đẳng độ lục địa nhất định; + Trùng với các dãy núi lớn là những bình phong chắn các bình lưu khí quyển; + Những biến dạng theo độ lục địa của các thực bì địa đới. Trong mỗi ô địa lí, do tính chất độc đáo của chế độ nhiệt – ẩm có thể bao gồm một tập hợp các đới địa lí. 3.3.4. Xứ địa lí - Xứ địa lí phải có sự thống nhất của một địa cấu trúc (nền bằng, khiên, vùng uốn nếp) hoặc có dạng ưu thế của vận động kiến tạo mới nhất, khiến cho các bộ phận địa – cấu trúc khác nhau có chung những nét đại địa hình (núi, đồng bằng, cao nguyên…). Trong từng trường hợp, có sự xen kẽ giữa một số đơn vị đại địa hình (núi xen đồng bằng, hay đồng bằng xen núi) thì những đơn vị này phải không thể tách biệt về mặt lãnh thổ và phải có liên quan với nhau về lịch sử phát sinh và phát triển. - Trong phạm vi rộng, xứ có đặc trưng là có sự thống nhất khí hậu (xứ thường là nơi hình thành các khối khí, hoặc nếu khối khí từ nơi khác đến thì bị biến tính rõ rệt), do đó xứ có một đai khí hậu riêng liên quan đến độ cao tuyệt đối của xứ, đến đặc điểm cấu trúc sơn văn, và đến mức độ lục địa của khí hậu (chế độ khí hậu là lục địa, đại dương hay gió mùa…) - Ranh giới của xứ địa lí chủ yếu được vạch theo đại địa hình, có xét tới cấu trúc địa chất – kiến tạo và đại khí hậu. Trong trường hợp một xứ núi, lại phải có những nét riêng trong cấu trúc các vành đai theo độ cao. 3.3.5. Miền địa lí - Miền là đơn vị phân hoá phi địa đới bởi nhân tố kiến tạo – địa mạo, song nó lại có sự đồng nhất về mặt địa đới. Miền là kết quả đan cắt giữa một xứ và một đới. - Tại xứ đồng bằng, miền là một khúc đới chạy qua xứ (tương đương với một đới theo nghĩa.
<span class='text_page_counter'>(27)</span> hẹp của các hệ thống phân vị xếp theo một dãy). Do đó miền có mối quan hệ giữa các thành phần mật thiết hơn so với các đới theo nghĩa rộng. - Tại một xứ núi, miền địa lí phân theo cấu trúc đai cao (ở sự sắp xếp các đai cao và số lượng các vành đai, ở ranh giới các đai cao, tính chất của từng đai và đặc điểm của các thành phần tự nhiên…). 3.3.6. Khu địa lí - Khu là sự phân hoá thức cấp trong miền, được dùng chung cho cả miền núi lẫn đồng bằng và được phân hoá ra từ miền do các nguyên nhân địa chất – địa mạo. - Ở đồng bằng, khu là một phần của đới, khác với các khu vực bên cạnh bởi những nét chủ yếu của cấu tạo địa hình và những đặc điểm địa mạo (như điều kiện nham thạch, các quá trình địa mạo, như bóc mòn, bồi tụ…). - Ở miền núi, khu thường tương ứng với một hệ thống sơn văn lớn, có một sự biến dạng trong cấu trúc đai cao của miền. Như vậy, khu là cấp phân vị được phân chia ra trong miền. Số lượng các khu trong mỗi miền phụ thuộc vào mức độ phức tạp của miền đó. 3.3.7. Đai cao địa lí - Đai cao được phân theo quy luật phi địa đới (quy luật phân hoá đai cao), chỉ tiêu để phân ra các đai theo độ cao tương ứng với chỉ tiêu của đới ngang, nghĩa là căn cứ vào cán cân bức xạ hay tổng nhiệt độ và tương quan nhiệt - ẩm. Ở Việt Nam các chỉ tiêu cụ thể lại dựa vào nhiệt độ mùa hạ, tổng nhiệt độ hoạt động. Số lượng các vành đai ở các khu vực khác nhau sẽ thay đổi phụ thuộc vào độ cao tuyệt đối của các khu vực núi. 3.4. Hệ thống các đơn vị phân vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ Việt Nam Vận dụng các hệ thống phân vị và chỉ tiêu cơ bản chẩn đoán các cấp phân vị trên, có thể phát hoạ trên lãnh thổ Việt Nam có các cấp phân vị sau: (Hình 1.2) - Vòng đai địa lí Việt Nam nằm trọn trong vòng đai nội chí tuyến. Khu vực phía Bắc có tính chất chí tuyến (biên độ năm tương đối lớn) có một cực tiểu và một cực đại trong chế độ nhiệt và chế độ mưa. Khu vực phía Nam có tính chất á xích đạo với chế độ nhiệt quanh năm nóng và khá điều hoà. - Đới địa lí Trên lãnh thổ Việt Nam có hai đới địa lí chạy qua. Đó là: 1. Đới rừng gió mùa chí tuyến (hay đới rừng gió mùa nhiệt đới): Đới rừng gió mùa chí tuyến bao gồm toàn bộ miền Bắc Việt Nam, có ranh giới phía nam xấp xỉ 160B (đèo Hải Vân), có tổng nhiệt độ năm trên 7500 0C và có hệ số tương quan nhiệt -.
<span class='text_page_counter'>(28)</span> ẩm >1,5. Đới này có hai á đới: 1a. Á đới có mùa đông lạnh và khô. Á đới này bao gồm toàn bộ miền Bắc Việt Nam cho tới đèo Ngang ở xấp xỉ vĩ độ 18 0B, có đặc trưng là phần lớn lãnh thổ có 3 tháng nhiệt độ <18 0C và có 3 tháng lượng mưa nhỏ hơn lượng bốc hơi. 1b. Á đới không có mùa đông và mùa khô rõ rệt, á đới này nằm trọn trong khu vực từ đèo Ngang tới đèo Hải Vân, có đặc trưng là nóng và ẩm hơn á đới trên, trong thời kì mùa đông cũng chỉ có một số ngày có thời tiết lạnh và khô khi gió mùa đông bắc hoạt động mạnh. 2. Đới rừng gió mùa á xích đạo: Đới rừng gió mùa á xích đạo bao gồm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam còn lại, từ đèo Hải Vân trở vào, có tổng nhiệt độ năm nhiều nơi trên 95000C và có hệ số tương quan nhiệt - ẩm >1,5. Đới này có hai á đới: 2a. Á đới không có mùa khô rõ rệt. Á đới này nằm trong khoảng vĩ độ từ 16 0B(đèo Hải Vân) đến vĩ độ 140B (Quy Nhơn). Đặc trưng của á đới này là quanh nam nóng, nhiệt độ tháng thấp nhất cũng đã trên 200C, có lượng mưa khá lớn và mùa mưa kéo dài. 2b. Á đới có mùa khô rõ rệt và kéo dài. Á đới này bao gồm phần còn lại từ vĩ độ 14 0B trở vào cho đến bán đảo cà mau. Á đới này có đặc trưng là có mùa khô điển hình nhất ở nước ta, kéo dài 4 – 5 tháng. - Các đơn vị phi địa đới cỡ lớn mà lãnh thổ Việt Nam chỉ là một bộ phận: + Á địa ô Nước Việt Nam chỉ là một bộ phận của địa ô gió mùa châu Á và được xác định trong á địa ô gió mùa Đông Nam Á, Á địa ô gió mùa Đông Nam Á có đặc điểm cơ bản là có sự thay đổi theo mùa của những khối khí lục địa lạnh khô và những khối khí hải dương nóng ẩm. Với ưu thế của tính chất hải dương, có lượng nhiệt - ẩm dồi dào, tạo nên những đới rừng liên tục từ Bắc vào Nam. + Xứ địa lí Việt Nam nằm ở nơi tiếp xúc với hai xứ địa lí tự nhiên, ranh giới được vạch theo lung lũng sông Hồng. Đó là: A. Xứ Hoa Nam – Bắc Việt Nam – Một phần lãnh thổ phía Bắc Việt Nam nằm ở khu vực rìa đông của nền hoạt động Hoa Nam. B. Xứ Đông Dương – Đại bộ phận lãnh thổ Việt Nam nằm ở khu vực địa máng Trung sinh Đông Dương, bao gồm cả các nước Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Mianma. + Miền địa lí Việt Nam có ba miền địa lí tự nhiên như sau: 1. Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ (kết quả của sự đan cắt giữa xứ Hoa Nam Bắc Việt Nam.
<span class='text_page_counter'>(29)</span> và đới rừng gió mùa chí tuyến). 2. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ (kết quả của sự đan cắt giữa xứ Đông Dương và đới rừng gió mùa chí tuyến). 3. Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ (kết quả của sự đan cắt giữa xứ Đông Dương và đới rừng gió mùa á xích đạo). + Khu địa lí Việt Nam có các khu địa lí tự nhiên sau: 1. Khu Việt Bắc 2. Khu Đông Bắc 3. Khu đồng bằng Bắc Bộ Ba khu này nằm trong miền địa lí tự nhiên Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ. 4. Khu Tây Bắc 5. Khu Bắc Trường Sơn 6. Khu đồng bằng Thanh – Nghệ - Tĩnh 7. Khu đồng bằng Bình – Trị - Thiên Bốn khu này nằm trong miền địa lí tự nhiên Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. 8. Khu Nam Trường Sơn 9. Khu đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ 10. Khu Đông Nam Bộ 11. Khu Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) Bốn khu này thuộc miền địa lí tự nhiên Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.. BÀI 4. HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 4.1. Đặc điểm Đặc điểm của chương này là các nội dung có tính chất lí luận nhằm giới thiệu và phân tích các quy luật phân hoá của tự nhiên, các cách nhận biết và thể hiện chúng bằng một sơ đồ phân vùng cụ thể với các nguyên tắc, phương pháp và hệ thống chỉ tiêu các cấp phân vị. Những vấn đề này khá trừu tượng và cần được khái quát thông qua tư duy khoa học để cuối cùng thể hiện được trên bản đồ cho thấy rõ sự phân hoá của tự nhiên Việt Nam theo không gian và thời gian. Vì thế, giảng viên cần chuẩn bị tốt nhiều tài liệu, bảng số liệu, biểu đồ, sơ đồ và bản đồ để.
<span class='text_page_counter'>(30)</span> minh hoạ cho bài giảng. 4.2. Phương pháp giảng dạy Các phương pháp giảng dạy thích hợp cho việc giảng dạy và học tập chuyên ngành có thể được lựa chọn là: - Phương pháp diễn giảng: Những nội dung chính cần truyền đạt, giảng viên có thể trình bày dưới dạng: + Diễn dịch: chủ động nêu vấn đề trước rồi tìm các luận cứ để chứng minh. Thí dụ: Thiên nhiên Việt Nam có sự phân hoá địa đới như quy luật phân hoá chung của lớp vỏ địa lí. Hãy chứng minh điều đó qua các chỉ tiêu cụ thể đã xác định, qua các thành phần của tự nhiên. + Quy nạp: từ những biểu hiện, những hiện tượng và quá trình tự nhiên rút ra quy luật phân hoá. Thí dụ: từ những biểu hiện giống nhau và khác nhau mỗi khi thay đổi theo độ cao của một thành phần tự nhiên nào đó có thể rút ra được sự phân hoá không theo vĩ độ mà theo độ cao của quy luật phi địa đới. - Phương pháp so sánh Phương pháp so sánh giúp nhận biết một cách cụ thể sự giống nhau cũng như khác nhau của các hiện tượng, các quá trình địa lí và các quá trình nhận thức để phản ánh và nhận biết sự phân hoá của các thành phần tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên các cấp trong phạm vi lãnh thổ nghiên cứu. Giảng viên có thể so sánh các thành phần tự nhiên tại các địa điểm có cùng vĩ độ để nhận biết sự phân hoá theo độ cao hoặc theo hướng núi, theo sườn đón gió và khuất gió của địa hình; hoặc so sánh các thành phần tự nhiên ở các địa điểm có cùng độ cao, hướng gió để chứng minh có sự phân hoá theo vĩ độ. Giảng viên cũng có thể so sánh các phương pháp, các hệ thống phân vị của các tác giả trong các công trình nghiên cứu phân vùng địa lí tự nhiên để rút ra cách làm và sự lựa chọn hệ thống phân vị phù hợp nhất trong phân vùng địa lí tự nhiên Việt Nam. - Phương pháp thảo luận và trình bày kết quả theo nhóm Giảng viên cần nêu chủ đề, gợi ý tư liệu và cách làm để các nhóm sinh viên chủ động tìm tư liệu, thảo luận rồi trình bày các vấn đề đã được lựa chọn hoặc được phân công trước lớp dưới dạng bài tập hoặc xemina có sự tham gia đánh giá của giảng viên. CÂU HỎI ÔN TẬP.
<span class='text_page_counter'>(31)</span> 1. Vì sao có sự phân hoá về mặt địa lí tự nhiên của Trái Đất và của thiên nhiên Việt Nam. 2. Những biểu hiện của quy luật phân hoá địa đới ở nước ta. 3. Những biểu hiện của quy luật phân hoá phi địa đới ở nước ta. 4. Phân tích và chứng minh mối quan hệ giữa hai quy luật phân hoá địa đới và phi địa đới. 5. Ý nghĩa của việc phân vùng địa lí tự nhiên. 6. Các nguyên tắc cơ bản của phân vùng địa lí tự nhiên. 7. Các phương pháp phân vùng địa lí tự nhiên. 8. Nêu những nhận xét về việc phân vùng địa lí tự nhiên Việt Nam từ trước đến nay. 9. Trình bày hệ thống các đơn vị phân vùng địa lí tự nhiên Việt Nam. 10. Xác định trên bản đồ và vẽ sơ đồ phân vùng địa lí tự nhiên Việt Nam..
<span class='text_page_counter'>(32)</span>