Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (129.31 KB, 10 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>I. Strokes / Các cú đánh</b>
o Block / Chặn
o Brush / Đẩy
o Chop / Cắt
o Counter / Đánh chặn
o Drop Shot / Bắt ngắn / Thả ngắn
o Flick / Vụt nhẹ / Hất bóng trên bàn
o Flip / Hất bóng
o Lob / Câu bóng bổng
o Loop / Líp / Giật / Moi
o Loop Kill / Giật sát thủ
o Push / Đẩy
o Reverse Penhold Backhand (RPB) / Đánh trái tay bằng mặt trái của vợt dọc
o Smash / Đập bóng
<b>II. Strategy and Tactics / Chiến thuật và các phương cách thực hiện</b>
o Cho / “Cho” (tiếng hô)
o Chopper / Rơ cắt
o Closed Angle / Khép góc / Khép vợt
o Dead Ball / Bóng chết / Bóng xịt
o Double Bounce / Nảy đúp / Nảy 2 lần
o Medium Long / Giao bóng cự ly dài trung bình
o Mid-Long Serve / Giao bóng cự ly dài trung bình
o Open Angle / Mở góc /Mở vợt
o Playing Elbow / Khuỷu tay đang chơi
o Short Game / Chơi bóng ngắn
o Step Around / Bước gần / Né người đánh bóng
o Third-Ball Attack / Tấn công trái thứ ba
o Twiddle / Xoay vợt
o Two-Winged Looper / Giật 2 càng / Giật 2 phía
<b>III. Equipment / Trang thiết bị</b>
o Anti-Spin / mặt phản xoáy
o Blade / Phông / Cốt vợt
o Inverted Rubber / Mút gai ngược (mút láng)
o Long Pips / Gai dài (Mặt sần)
o Medium Pips / Gai trung (Mặt sần)
o Pad ? Miếng lót / Miếng đệm
o Pips / Pimpled Rubber / Mặt gai / Mặt sần
o Rubber / Mặt vợt (Mặt cao su)
o Short Pips Gai ngắn (Mặt sần)
o Speed Glue ? Keo tăng lực / Keo tốc độ
o Sponge Lớp lót / Lớp đệm
o Sponge Hardness / Độ cứng của lớp lót (lớp đệm)
o Sponge Thickness / Độ dày của lớp lót (lớp đệm)
o Stiffness / Độ cứng (của cốt, phông)
o Topsheet / Mặt trên cùng (mặt mút)
o VOCs (Volatile Organic Compounds) / VOCs (Hợp chất hữu cơ bay hơi)
<b>IV. Racket Handles or Grips / Các kiểu cán hoặc tay cầm của vợt</b>
o Anatomic Handle / Cán cầm kiểu AN (bầu ở giữa)
o Chinese Penhold Handle (CPEN) / Cán vợt dọc kiểu Trung Quốc
o Flared Handle Cán cầm kiểu FL (Loe ở đuôi)
o Japanese Penhold Handle (JPEN) / Cán vợt dọc kiểu Nhật Bản
o Penhold Grip / Cầm kiểu Vợt dọc
o Seemiller Grip / Cầm kiểu Seemiller
o Shakehand Grip / Cầm kiểu Vợt ngang
o Straight Handle / Cán cầm kiểu ST (cán thẳng)
<b>V. Physics / Các khái niệm vật lý</b>
o No-Spin / Khơng xốy
o Sidespin / Xốy ngang / Xốy bên
o Spin / Xoáy
o Spin Reversal / Đảo xoáy
o Throw Angle / Góc đánh / góc bắn
o Topspin / Xốy lên
o Underspin / Bottomspin / Backspin / Xoáy xuống / Xoáy đáy / Xoáy lùi
<b>VI. Other / Những thuật ngữ khác</b>
o Adham Sharara / Adham Sharara (tên người)
o Basement Player / Người chơi hạng dưới / đấu thủ “tầng hầm” / Rơ “phủi”
o Default / Bị loại / mất quyền thi đấu
o Equipment Junkie (EJ) / Cong nghiện “đồ chơi” / Gfhiền Dụng cụ BB
o Fault / Lỗi
o Free Hand / Tay tự do
o ITTF / Liên đồn Bóng bàn Thế giới
o Let / Dừng bóng
o Playing Hand / tay đang chơi bóng
o Rating / Xếp hạng
o USATT / Hiệp hội Bóng bàn Hoa kỳ
<b>---oOo---I. Strokes </b>
<b>I. Các cú đánh</b>
<b>I.1 Block</b> ( <b>Chặn ) </b>
Chặn là một cú đánh được sử dụng để kiểm sốt một cú tấn cơng (của đối phương - ND). Người ta
sử dụng quả chặn một cách thường xuyên nhất để chống lại các cú loop, trả bóng trở lại một cách đơn
giản an tồn.
Cú chặn tấn cơng là cú chặn với lực đẩy nhiều nhằm tạo ra quả bóng trả lại nhanh hơn. Cú này
thường được thực hiện đối phó với đối thủ đang tấn cơng nhưng lại ở một vị trí khơng thuận lợi (ra bên
cạnh), để hở một khoảng rộng cho người nhận bóng chặn bóng một cách nhanh nhẹn vào phần bàn trống.
<b>I.2 Brush</b> ( <b>Miết / Xượt nhẹ )</b>
Miết bóng là đánh vào bóng với một góc rất nhỏ để có độ xốy tối đa. Việc qt quả bóng sẽ sinh
ra độ xốy nhiều nhất, nhưng bù lại là tốc độ bị giảm đi. Một cú “móc mỏng” (brush loop) sẽ rất xốy,
nhưng khơng nhanh. Ngồi ra những quả giao bóng cũng rất xốy và ngắn nếu bạn có thể qt một cách
hiệu quả vào trái bóng.
<b>I.3 Chop</b> (<b> Cắt )</b>
nặng. Đây thường là bài thử để xem lối đánh tấn công của đấu thủ tấn công tốt hơn hay sức phòng thủ của
đấu thủ phòng ngự tốt hơn.
<b>I.4 Counter</b> (<b> Đánh chặn )</b>
Cú đánh chặn là một cú tấn cơng chống lại quả loop đi đến. Thay vì đợi lâu hơn trước khi đánh,
người chơi sẽ đánh vào bóng sớm hơn (gần bàn), thường là khi bóng vẫn cịn đi lên sau khi nảy lên (trước
điểm cao nhất của cú nảy), nắm thời cơ người kia rời khỏi vị trí và làm cho anh ta ít có thời gian phản ứng
hoặc trở về vị trí. Cú đánh này dựa vào tốc độ và độ xốy của bóng đến để đẩy trở lại rất nhanh mà không
cần phải sử dụng quá nhiều lực.
Một số người áp dụng cái gọi là “cú loop đánh chặn” (counter loop) để loop ở xa hơn sau bàn (quả
loop chống lại một cú loop của đối thủ), cú này rất khác với những gì chúng ta đang thảo luận ở đây.
<b>I.5 Drop Shot</b> ( <b>Bắt ngắn/Thả ngắn )</b>
Cú bắt ngắn là khi đối thủ đang ở xa bàn, vừa lốp bóng về phía bạn, và bạn cố gắng chặn quả bóng
một cách nhẹ nhàng để giữ cho nó càng ngắn càng tốt, làm cho đối phương chạy “cuống cuồng” để đánh
bóng. Ý đồ bắt ngắn là làmcho bóng nảy 2 lần trên phần bàn đối phương, sao cho bóng khơng ra khỏi
mép bàn, đối phương khơng thể moi nó lên được.
<b>I.6 Flip</b> (<b> Vụt nhẹ/Hất bóng )</b>
Cú Vụt nhẹ hoặc hất bóng là cú đánh nhanh được thực hiện đối với những quả bóng ở gần lưới.
Nó thường sử dụng cổ tay và cẳng tay, và tạo ra một đường bóng nhanh khi đối thủ đang ở xa bàn, vừa
lốp bóng về phía bạn, và bạn cố gắng chặn quả bóng một ít xốy lên vừa phải.
<b>I.7 Lob ( Câu bóng bổng /Lốp bóng ) </b>
Câu bóng bổng là cú đánh phịng thủ, trong đó người chơi nâng bóng lên để trả bóng thật cao,
chấp nhận cho đối phương đập bóng mạnh (smash). Đây là lối phịng thủ thơng thường. Tuy nhiên cú
đánh này thường có bất lợi, một đấu thủ lốp bóng giỏi có thể có tỷ lệ phần trăm thắng cao với những cúa
<b>I.8 Loop</b> ( <b> Líp/ Giật /Moi bóng ) </b>
Líp/Móc /moi bóng là cú đánh tạo ra một ít xốy lên (với cú đánh thuận tay hoặc trái tay). Có những quả
móc chậm hơn, xốy hơn cũng như xốy hơn nhưng khơng phải là những cú móc xốy. Kiểu chơi móc
bóng thường được nhiều người chơi nhất trong bóng bàn với chiến thuật dựa nhiều vào cú đánh moi/móc.
Móc/moi bóng là cú đánh hay vì xốy lên nhiều giúp cho trái bóng rơi theo hình vịng cung trên bàn, lại
cịn lao rất nhanh (về phía trước - ND). Sự kết hợp giữa tốc độ và độ xoáy làm cho cú đánh có cả 2 sự
nguy hiểm (do tốc độ), và khả năng kiểm sốt vì nó rơi xuống với hình vịng cung trên bàn. Mặt khác, cú
đập bóng có một ít xốy lên cũng có một số cơ hội an toàn để sử dụng cú đập một cách hiệu quả.
Bạn cũng có thể thêm xoáy ngang nhằm làm cho cú móc/moi “qụeo” sang ngang.
<b>I.9 Loop Kill</b> ( <b>Giật sát thủ )</b>
Giật sát thủ là một cú giật rất mạnh tập trung vào tốc độ nhằm kết thúc pha bóng. Cú giật sát thủ
có thể được xem là ở giữa cú đập mạnh và cú líp, mục đích để có tốc độ cao kèm một ít xốy để giúp
kiểm sốt cú đánh.
<b>I.10 Push</b> ( <b> Đẩy )</b>
Đẩy bóng là một cú đánh, trong đó bạn cắt vào trái bóng (xốy xuống), nhưng quả cắt đó ở trên
bàn. Nếu như bạn đứng xa bàn và cắt bóng, thì đó mới chính là cú “Cắt”, chứ không phải là cú Đẩy. Trái
với nhiều người thường nghĩ, cú đẩy bóng khơng phải là cú chặn.
<b>I.11 Reverse Penhold Backhand (RPB)</b> (<b> Đánh trái tay bằng mặt trái của vợt dọc )</b>
Đánh trái tay bằng mặt trái của vợt dọc là một sự thích nghi mới mẻ của những người chơi vợt dọc
bắt đầu bằng việc sử dụng mút bên mặt trái để líp và đánh bóng. Điều này đã thay đổi mạnh mẽ trận đấu
Vì giờ đây những người chơi vợt dọc đã có thể đánh bóng một cách linh hoạt ở cả 2 cánh.
<b>I.12 Smash</b> ( <b> Đập )</b>
Đập bóng là cú đánh có tốc độ rất cao nhằm mục tiêu dứt điểm với một cú đánh dứt khốt (đặc
biệt khơng có xốy). Một số cú đập có thể tạo ra một ít xốy lên,song chúng khơng xốy bằng cú líp.
<b>II. Strategy and Tactics</b> ( <b>Chiến thuật và các phương cách thực hiện )</b>
<b>II.1 Cho “Cho” (Tiếng hô)</b>
xuyên, sử dụng “cho” với giọng nói lớn nhất của bạn, và việc sử dụng “cho” sau khi thắng một điểm bằng
đường bóng chạm cạnh bàn (bon – ND), bóng bật lưới, hoặc lỗi xử ép đối phương thì đếu được coi là mất
lịch sự hoặc khơng thích hợp.
<b>II.2 Chopper</b> ( <b> Rơ Cắt )</b>
Cắt bóng phịng thủ là một kiểu chơi, trong đó đấu thủ cắt liên tục với độ xốy xuống rất nặng, và
đối thủ thường xuyên loop bóng, nhưng những quả loop này thiếu độ nguy hiểm cũng như độ khó của nó
để loop một cách tích cực chống lại quả xoáy xuống nặng. Đây thường là bài thử để xem lối đánh tấn
công của các đấu thủ tấn công tốt ơn hay sức phòng thủ của các đấu thủ phòng ngự tốt hơn.
Một số đấu thủ cắt bóng còn xoay vợt, chuyển từ mặt mút láng thành mặt gai để gây lúng túng cho đối
phương. Đấu thủ cắt bịng hiện đại cịn kết hỡp lối chơi tấn cơng. Khi đấu thủ tấn công lỡ đưa qua một
quả bóng quá cao, thì đấu thủ cắt bóng có thể nhảy vào ra đòn quyết định.
<b>II.3 Closed Angle (Closed Racket)</b> ( <b> Khép Góc (Khép Vợt) )</b>
Khép Góc là khi bạn giữ mặt vợt hướng thấp xuống đất. Ngược lại, khi nói mở góc, điều đó có
nghĩa là bạn cần phải xoay mặt vợt về phía trước hoặc hướng lên.
<b>II.4 Dead Ball</b> ( <b>Bóng chết (xịt) )</b>
Bóng chết/bóng xịt là quả bóng khơng có độ xốy trên nó (hoặc rất ít xốy). Cũng có thể hiểu là
Bóng khơng xoáy.
<b>II.5 Double Bounce</b> ( <b>Nảy đúp / Nảy 2 lần )</b>
Một cú giao bóng hoặc trả giao bóng nảy đúp là khi bạn có thể làm cho quả bóng nảy 2 lần (hoặc
nhiều hơn) trên phần bàn của đối phương.
Đối với cú giao bóng nảy đúp, bạn cần phải giữ cho quả bóng chậm và ngắn, và có thể sử dụng đa
dạng các loại xoáy trong khi vẫn làm cho quả bóng nảy đúp. Điều này rất hiệu quả vì khó mà tấn cơng
một quả bóng mà nó chưa đi qua mép cuối bàn. Dĩ nhiên nếu bạn đánh một quả bóng cao, thì người nhận
bóng vẫn có khả năng tấn cơng.
Bạn cũng có thể đánh trả các quả giao bóng và các quả bóng qua lại của đối phương bằng việc sử
dụng cú bóng nảy đúp, với việc giữ cho bóng ngắn và thấp sao cho nó khó hoặc không thể tấn công.
<b>II.6 Extreme Angles (Wide Angles)</b> (<b> Các góc xa (Các góc rộng))</b>
Khi chọn vị trí (điểm rơi – ND) để đánh bóng, các góc ở xa thường là vị trí tốt nhất đề nhắm đến.
Đa số các đấu thủ thường hướng các cú đánh của họ vào các góc bàn (vị trí tốt) nhưng sẽ tốt hơn nếu
nhắm xa hơn đến các cạnh bên bàn. Đễ thực hiện điều này, bạn cần đánh trái bóng ngắn hơn vì các giới
hạn (phạm vi) của bàn kết thúc sớm hơn là các góc xa.
<b>II.7 Falkenberg Drill (Falkenburg)</b> ( <b> Bài tập Fan-ken-ber )</b>
Bài tập Fan-ken-ber là bài tập bộ chân để cải thiện bước di chuyển sang ngang và chéo lên từ quả
đánh trái tay sang quả đánh thuận tay. Đọc thêm về phần này ở Falkenberg Drill.
Nội dung trong đường link Falkenberg Drill:
- Người tập bắt đầu tại góc trái tay của anh ta/cơ ta, và người cùng tập (người chịu bóng-ND) đứng ở góc
chéo với anh ta (nếu người tập là thuận tay phải, và anh ta sẽ đứng ở phía trái bàn).
- Người cùng tập đưa bóng đế phía trái tay của người tập và người tập đánh bóng theo đường chéo với cú
trái tay.
- Người cùng tập chặn bóng trở lại theo đường chéo đến cùng điểm, và người tập bước sang gần bên và
đánh bóng chéo bản với cú Thuận tay.
- Người cùng tập chặn bóng dọc theo đường biên (chúng ta hay gọi đánh chữ I – ND), và người tập với
tay đánh bóng bằng cú Thuận tay.
- Người cùng tập chặn bóng trở lại theo đường chéo đến điểm ban đầu và người tập di chuyển trở về (vị
trí cũ – ND) để đánh bóng với cú Trái tay.
Cứ vậy lặp đi lặp lại
<b>II.8 Footwork</b> ( <b> Động tác chân / Bộ chân )</b>
túng.
Ryu Seung Min được cho là người giỏi nhất với bộ chân của anh ấy và có thể di chuyển trên các
khoảng cách rất lớn trong một thời gian ngắn để giật cú thuận tay ghê gớm. Các đấu thủ chơi vợt dọc
thường được cho là có bộ chân tốt hơn, vì họ thường thiên về các cú đánh thuận tay của mình nhiều hơn
và họ thích né người sang trái và sử dụng cú thuận tay của họ thay vì chống đỡ bằng cách đẩy bóng và sử
dụng cú trái tay.
Động tác chân thường ít được quan tâm trong quá trình phát triển các đấu thủ và phát triển chậm.
Cần cố gắng phát triển nó sớm hơn!
<b>II.9 Junk Player</b> ( <b> Rơ “quái” )</b>
Cụm từ “Rơ quái” là một cách gọi không mấy thiện cảm mà một số người đặt cho đấu thủ sử dụng
những mặt vợt đòi hỏi kỹ thuật khéo léo (mặt "quái" - ND), như các loại gai dài hoặc mút phản xoáy.
Người sử dụng cách gọi “ác cảm” này biện luận rằng “người có ít kinh nghiệm mới sử dụng các loại mặt
vợt qi”, vì thế là người khơng có kỹ thuật (nhưng lại là người vẫn thường thắng trong các trận đấu,
bằng khả năng nắm được lợi thế trước sự thiếu kinh nghiệm chống các loại mặt vợt này của đối phương).
Trong thực tế, khi chơivới bất cứ loại mặt vợt nào cũng đều địi hỏi phải có nhiều kỹ năng và kinh nghiệm
thực tế để chơi bóng được ở trình độ cao.
<b>II.10 Mid-Long Serve (Medium Long)</b> ( <b>Giao bóng cự ly dài trung bình )</b>
Giao bóng ở cự ly dài trung bình và quả giao bóng hướng điểm nảy thứ hai ở phía bàn người nhận
bóng rất gần với mép cuối bàn, đôi khi rơi trong bàn, đôi khi rơi q ra ngồi bàn. Điều này có hiệu quả
tốt vì người nhận bóng sẽ khó phán đốn khơng biết bóng sẽ rơi ra ngồi mép cuối bàn (và từ đó sẽ sẵn
sàng líp bóng) hay là bóng sẽ rơi 2 lần trên bàn và cần phải đánh bóng trên bàn. Tình trạng phán đốn
khơng chắc chắn này thường dẫn đến các sai sót. Ngồi ra, các cú giao bóng dài trung bình khơng thể
đánh trên bàn (hất) một cách hiệu quả được.
<b>II.11 Open Angle (Open Racket)</b> (<b> Mở Góc (Mở Vợt))</b>
` Mở Góc/Mở vợt là khi bạn giữ mặt trước của vợt hướng về phía trước hoặc ngửa lên. Khi huấn
luyện viên nhắc nạn hãy mở góc lên, là ông ta / bà ta muốn bạn xoay vợt thêm để mặt vợt hướng ra trước
hoặc lên trên.
Ngược lại, khi nói khép góc, điều đó có nghĩa là bạn cần phải xoay để mặt vợt hướng nhiều xuống
đất (úp mặt vợt xuống– ND).
<b>II.12 Playing Elbow </b>(<b> Khuỷu tay đang chơi)</b>
Khuỷu tay đang chơi là khuỷy tay trên cánh tay đang cầm vợt của người chơi. Chiến thuật thông
thường là nhắm cú đánh (như cú giật xung hoặc cú đập) vào khuỷu tay đang chơi của đối phương (điều
này rất có hiệu quả để chơi với những người cầm vợt ngang). Khuỷu tay là điểm chia giữa cú đánh thuận
tay và cú đánh trái tay, vì vậy người nhận bóng phải quyết định nhanh chóng sử dụng cú thuận tay hay cú
trái tay, thường thì sẽ dẫn đến sự quyết định hấp tấp và một cú trả bóng khơng tốt. Nếu bạn nhắm vào
phía bên thuận tay hoặc trái tay thì bạn có khả năng phải nhận một cú tấn cơng bằng quả đánh chặn.
<b>II.13 Short Game</b> (<b> Chơi bóng ngắn) </b>
Chơi ngắn là nói đến những cú đánh từ vị trí trên bàn và gần lưới. Người chơi có lối chơi ngắn
giỏi có thể kiểm sốt bàn bóng bằng việc giữ cho bóng thấp và nặng để tấn cơng, và cịn bằng việc mở ra
cú tấn cơng với bất cứ trái bóng nào khơng được chơi một cách hợp lý.
<b>II.14 Step Around</b> (<b> Bước gần / Né người đánh bóng)</b>
Bước gần là một phương thức của bộ chân, khi mà bóng đi tới bên trái tay của người chơi và
người chơi chọn cách bước về hướng trái tay nhằm cho phép anh ta đánh được quả bóng với cú đánh
thuận tay của mình. Đây là một phương cách phổ biến vì cú đánh thuận tay thường có lực và độ ổ định
nhiều hơn cú đánh trái tay.
Như vậy, với người chơi mà thuận tay phải sẽ bước gần bằng cách di chuyển sang trái.
Một bất lợi khi chuyển bộ là đã để hở phía thuận tay, do đó một cú chặn hoặc đánh nhanh của đối
phương (vào phía đó) sẽ khiến người vừa chuyển bộ rơi vào thế khó khăn cho cú đánh bóng tiếp theo.
<b>II.15 Third-Ball Attac ( Tấn công trái thứ ba )</b>
Tấn công ở trái thứ ba là chiến thuật trong đó người chơi A giao bóng (bóng 1), người chơi B trả
giao bóng (bóng 2), và người chơi A tấn cơng (bóng 3).
Thường thì chiến thuật tấn cơng trái thứ ba là giao bóng xốy xuống, sau đó gây bất ngờ cho đối
phương với cú giao bóng xốy ngang hoặc xốy lên. Khi đối phương đánh trả, thường là bóng đột ngột
nảy lên cao, và khi đó người giao bóng có thể đập (smash) hoặc giập (loop) bóng để dứt điểm.
Xoay vợt là quay tròn vợt của bạn để chuyển mặt trái tay của vợt thành mặt thuận tay. Động tác
xoay vợt thường được sử dụng bởi các đấu thủ chơi phòng thủ, những người sử dụng mặt gai một bên và
mặt mút láng thơng thường ở bên cịn lại. Ở giữa những pha bóng qua lại nhanh, những đấu thủ này xoay
vợt và đánh bóng với các mặt khác nhau (về tính chất-ND), hy vọng đối phương sẽ không để ý đến sự
thay đổi đó và sẽ đánh bóng hỏng.
Trường hợp cá biệt, Ma Long (VDV Trung Quốc), lại thích xoay vợt khi anh ta đập (smash) bóng
và đối thủ thì đang câu bóng bổng (lob). Anh ta sử dụng mút bên trái tay cho phía thuận tay vì như vậy sẽ
tạo ra lực đánh mạnh hơn so với mút bên thuận tay bình thường của anh ta.
<b>II.17 Two-Winged Looper</b> (<b> Giật hai càng (giật 2 phía))</b>
Giật bóng hai càng là lối chơi mà đấu thủ có khả năng giật bóng tốt cả bên thuận tay và bên trái
tay, và đa số các cú đánh của anh ta là dựa vào các cú giật bóng.
Có thể nói đây là lối chơi phổ biến nhất.
<b>III. Equipment</b> (<b> Trang thiết bị)</b>
<b>III.1 Anti-Spin</b> (<b> Mặt phản xốy)</b>
Các mặt phản xốy hầu như khơng bám bóng (trong một số trường hợp là hồn tồn khơng bám)
và chúng có những hiệu ứng khó lường lên trái bóng. Chiều xốy của trái bóng sẽ được đảo ngược khi trả
lại. Vì thế nếu đối phương đưa sang cho bạn một quả xoáy lên, và bạn chặn bằng mặt phản xốy, thì nó sẽ
trở lại phía anh ta (cơ ta) với xốy xuống. Nhiều người đã bị lúng túng với hiệu ứng này và đánh hỏng
bóng, hoặc bóng nảy lên cao dễ bị đập, hoặc bóng bị rúc vào lưới.
<b>III.2 Blade</b> (<b> Phông (Cốt vợt))</b>
Phông (Cốt) là cây vợt bằng gỗ, chưa dán các mặt mút. Phơng có thể bằng gỗ đơn thuần (hoặc kết
hợp nhiều loại gỗ có tính chất khác nhau) và cũng có thể có các loại vật liệu tổng hợp như carbon, arylate,
kevlar, zylon, .v.v.
Một số kiểu phông thường gặp:
1. Kiểu cầm vợt dọc
2. Kiểu cầm vợt ngang
3. Kiểu cầm Seemiller (do Seemiller – USA phát minh)
4. Vợt dọc có cán kiểu Trung Quốc (CPEN)
5. Vợt dọc có cán kiểu Nhật Bản (JPEN)
6. Cán vợt hình đi các (cán loe)
7. Cán vợt thẳng
8. Cán vợt bầu ở giữa
<b>III.3 Inverted Rubber (Smooth)</b> ( <b> Mút gai ngược (Mút láng) )</b>
Mút gai ngược (gai quay vào trong, hay còn gọi là gai úp – ND) có bề mặt láng nhẵn, bám bóng
nên tạo ra nhiều xoáy (ngoại trừ các mặt phản xoáy mặc dù là mặt láng nhưng khơng có độ bám). Đây là
loại mặt mút phổ biến nhất được nhiều người sử dụng.
<b>III.4 Long Pips (Pimples)</b> ( <b>Gai dài (Mặt sần) )</b>
Mặt gai dài là mặt được làm sần với các gai chân cao. Kết quả thường là chúng đảo ngược chiều
xốy của bóng, vì thế nếu bạn đánh một quả bóng xốy lên nặng và đối thủ chặn bằng mặt gai dài, thì
Người chơi gai dài đơi khi cịn được gọi là một “quái thủ”.
Một vài vì dụ về gai dài là: Joola Octopus; Yasaka Phantom 0012 Infinity; 729 755.
<b>III.5 Medium Pips (Pimples)</b> (<b> Gai trung (Mặt sần))</b>
Mặt gai trung có chân gai cao trung bình trên mặt cao su. Loại mặt gai này khi giao bóng tạo ra
các đường bóng kỳ cục (loạng quạng), thường làm giảm xốy của bóng đến, và cho độ kiểm sốt bóng
cao.Một vài mẫu về các loạigai trung là: Frienship/729 563; Gamble Peace Keeper; DHS 874.
<b>III.6 Pad</b> (<b> Miếng lót / Miếng đệm )</b>
Đây là một thuật ngữ khơng chính xác của “miếng lót cao su” trên vợt. Các miếng lót cao su có
thể được nói đến là “mặt cao su” hoặc “miếng lót cao su”.
Các loại mặt Sần hoặc mặt Gai (mà một số người gọi nhầm chúng là “núm”, “khe /rãnh”, hoặc
“…”) có các ống mọc lên theo một quy luật nhất định (thay cho bề mặt nhẵn, láng), và tạo ra các hiệu ứng
khác nhau (lên bóng – ND). Có 3 loại gai: Gai Ngắn; Gai Trung; Gai Dài
<b>III.8 Robot</b> (<b> Rơ bốt (Máy bắn bóng))</b>
Máy bắn bóng là một cái máy tập bắn ra những trái bóng. Độ phức tạp của máy bắn bóng rất đa
dạng. Một máy bắn bóng đơn giản chỉ có thể bắn bóng đến 1 vị trí và rất hạn chế về phạm vi của độ xốy.
Máy bắn bóng phức tạp có thể được lập trình để giao một loạt các trái bóng khác nhau với độ xốy khác
nhau, đến các vị trí khác nhau.
Mặc dù máy bắn bóng là rất tuyệt, nhưng khơng có gì có thể thay thế được một người huấn luyện
viên thực thụ.
<b>III.9 Rubber</b> (<b> Mặt vợt (Mặt cao su))</b>
Mặt vợt là một mặt có tính chất bám được dán lên mặt cốt vợt và tạo ra sự tiếp xúc với bóng. Đa
số các mặt vợt có độ bám lớn để tạo ra nhiều xốy, tuy nhiên cũng có những ngoại lệ đó là mặt mút phản
xốy có bề mặt rất trơn. Các loại mặt vợt có thể có hoặc cũng có thể khơng có lớp mút xốp gắn kèm ở bên
dưới (lớp sponge).
<b>III.10 Short Pips (Pimples)</b> (<b> Gai ngắn (Mặt sần)</b> )
Các loại mặt gai ngắn có chân gai thấp, và dẫn đến là nó có tác dụng làm giảm xốy, mặt khác vẫn
có khả năng sinh ra xốy ở một mức độ nhất định. Nếu các mặt gai ngược thơng thường tạo ra xốy là
100% thì các loại gai ngắn sẽ tạo ra khoảng 15 đến 50%. Như vậy độ xốy của bóng đến bị giảm đi, và độ
xốy của bóng đánh về phía đối phương cũng ít xốy. Các loại gai ngắn này thích hợp với lối đánh bóng
đơn điệu (đều đều-ND). Đa số những người chơi gai ngắn thường đứng gần bàn và giao chiến bằng
những cú đánh qua lại nhanh, với việc kiểm soát xoáy bằng mặt gai.
Một vài ví dụ về gai ngắn là: Butterfly Flarestorm; Frienship 802; Donic Baxster D25
<b>III.11 Speed Glue</b> (<b> Keo Tăng lực /Keo Tốc độ )</b>
Các loại keo tăng lực là keo nhằm nâng caothành tích thi đấu, chúng làm tăng tốc độ và độ xoáy
của mặt mút. Hiệu ứng này xảy ra bởi việc nở ra của lớp lót phía dưới lớp mút, làm cho miếng mút cuộn
cong lên. Khi miếng mút được dán phẳng xuống, lớp bề mặt mút trên cùng sẽ được kéo căng như một cái
lò xo, tạo ra hiệu quả mạnh mẽ.
Keo tăng lực được khám phá ra bởi một sự tình cờ vào năm 1970, khi một VĐV đã sử dụng keo
vá xe đạp để dán vợt trước trận đấu. Sự khác nhau của bóng trong khi chơi trở nên rõ ràng ngay lập tức.
<b>III.12 Sponge</b> (<b> Lớp lót /Lớp đệm)</b>
Lớp đệm được chế tạo bởi một vật liệu có tính chất xốp (dĩ nhiên) và được đặt nằm dưới lớp mút
cao su trên cùng (mặt mút-ND). Lớp đệm cho phép bóng lún vào và bắn ra, điều này làm tăng thêm độ
xoáy và lực nảy của mặt vợt. Lớp đệm cứng và dày hơn thì mặt vợt sẽ nhanh hơn. Lớp đệm mà mỏng và
mềm hơn, thì mặt vợt sẽ chậm hơn.
<b>III.13 Sponge Hardness</b> (<b> Độ cứng của Lớp lót (lớp đệm)</b> )
Các loại cao su được dùng để chế tạo các loại đệm có độ cứng khác nhau. Các lớp đệm cứng hơn
sẽ cho bạn tốc độ cao hơn, song độ xoáy lại ít hơn. Các lớp đệm mềm hơn cho phép bóng lún vào sâu
hơn, và sinh ra độ xoáy nhiều hơn nhưng tốc độ lại giảm đi. Độ cứng của lớp đệm được đo bằng độ:
- Mềm : dưới 35o
- Mềm Vừa: 40o
- Trung bình/Vừa : 42o
- Cứng : 45o
- Rất Cứng : 47o +
<b>III.14 Sponge Thickness</b> ( <b>Độ dày của Lớp lót (lớp đệm))</b>
Các mặt mút được gắn với lớp đệm với độ dày khác nhau. Các lớp đệm đày hơn có khả năng sinh ra tốc
độ và độ xoáy nhiều hơn, trong khi các lớp đệm mỏng hơn lại dễ dàng hơn cho việc kiểm soát, làm bớt
xoáy và tốc độ.1.5mm được coi là mỏng, và từ 2.2 đến 2.5mm được coi là dày.
<b>III.15 Stiffness (Blade)</b> (<b> Độ cứng (Cốt / Phông)</b> )
Các phông cứng thì khơng tạo ra xốy nhiều bằng các phơng mềm, nhưng chúng có độ kiểm sốt
cao hơn đối với các loại tiếp xúc phẳng (như những cú đập bóng chẳng hạn). Thơng thường bạn muốn
một cái gì đó nằm giữa cứng và mềm.
Độ dính là một chỉ số về “tính chất dính” của mặt vợt. Đa số các mặt mút Trung Quốc có một mức
độ dính nào đó, đến mức bạn có thể nâng một trái bóng bằng cách đơn giản ấn mặt mút lên đỉnh quả bóng
và nhấc nó lên. Những mặt mút khơng có tính chất dính thì khơng có độ dính này và sẽ khơng bao giờ
nhấc được trái bóng, nhưng chúng vẫn có độ bám (grip), vì thế chúng vẫn có khả năng tạo ra nhiều xoáy
cho các cú đánh của bạn, tuy rằng chúng khơng nhiều bằng các mặt mút có tính dính (tacky). Đa số các
mút Nhật và Châu Âu có tính bám (grippy) nhưng khơng có tính dính (tacky)
<b>III.17 Topsheet</b> (<b> Mặt trên cùng (mặt mút))</b>
Mặt mút là mặt cao su tạo ra sự tiếp xúc với trái bóng trong khi chơi. Một cách điển hình, một lớp
đệm (sponge - ND) sẽ được đặt bên dưới mặt mút để làm tăng tốc độ và độ xoáy.
<b>III.18 VOCs (Volatile Organic Compounds)</b> (<b>VOCs (Hợp chất hữu cơ bay hơi))</b>
VOCs (Volatile Organic Compounds), hay “Các Hợp chất Hữu cơ Bay hơi” là những hóa chất
được cho là có đặc tính gây hại cho con người. Các loại keo truyền thống (gồm cả keo tăng lực và các loại
theo thường như keo dán bằng cao su) mà có chứa chất VOCs đều bị ITTF (Liên đồn bóng bàn thế giới –
ND) cấm sử dụng. Thiết bị kiểm tra ENEZ được sử dụng để phát hiện VOCs.
Nếu bạn đnag sử dụng vợt được dán keo có chứa chất bị cấm, bạn cần phải dán lại các mặt vợt của bạn
bằng keo gốc nước, hoặc để vợt của bạn ngồi khơng khí tối thiểu vài ngày cho chất VOCs bay hơi hết.
<b>IV. Racket Handles or Grips</b> ( <b>Các kiểu cán hoặc tay cầm của vợt)</b>
<b>IV.1 Anatomic Handle</b> (<b> Cán cầm kiểu AN (AN là viết tắt của Anatomic - ND))</b>
Cán cầm kiểu AN cũng tương tự như cán loe (FL – Flared) nhưng có một vùng phình rộng ra ở
<b>IV.2 Chinese Penhold Handle (CPEN)</b> (<b> Cán vợt dọc kiểu Trung Quốc (viết tắt tiếng Anh là CPEN</b>
<b>– ND))</b>
Cán Vợt dọc kiểu Trung Quốc là dạng điển hình của loại cán vợt dọc, có cán ngắn hơn so với cán
của vợt ngang. Có loại cán vợt dọc khác, đó là vợt dọc kiểu Nhật Bản (JPEN)
<b>IV.3 Flared Handle</b> (<b> Cán loe - FL (viết tắt tiếng Anh của Flared – ND))</b>
Cán vợt kiểu loe nhìn giống phần đáy quả chng: nó loe ra về phía đi của cán. Cán loe là kiểu
cán vợt được sử dụng phổ biến nhất.
<b>IV.4 Japanese Penhold Handle (JPEN)</b> (<b> Cán vợt dọc kiểu Nhật Bản (viết tắt tiếng Anh là JPEN –</b>
<b>ND))</b>
Cán Vợt dọc kiểu Nhật Bản là một dạng của loại cán vợt dọc, được gắn thêm vào một khối li-e
(bấc – ND) khiến tay cầm khác đi một chút. Khối li-e này sẽ làm tăng độ ổn định khi sử dụng sự mềm dẻo
của cổ tay.
<b>IV.5 Penhold Grip</b> (<b> Cầm kiểu vợt dọc )</b>
Vợt dọc là một kiểu cầm vợt của người châu Á, trong đó đầu vợt hướng xuống dưới và nó được
cầm theo cách mà người ta cầm cây bút hay bút chì. Thường những người chơi vợt dọc khơng sử dụng
mặt mút bên mặt trái tay (BH – ND) và chỉ chơi với mặt thuận tay (FH – ND) của vợt (tuy nhiên với lối
đánh hiện đại ngày nay nhiều VĐV cũng sử dụng cả mặt trái tay). Các phơng vợt dọc thường có cán cầm
ngắn hơn các phơng vợt ngang.
Có 2 kiểu cán vợt dọc:
- Cán vợt dọc kiểu Trung Quốc (CPEN – ND)
- Cán vợt dọc kiểu Nhật Bản (JPEN – ND)
<b>IV.6 Seemiller Grip</b> (<b> Cầm kiểu Seemiller )</b>
Đây là kiểu cầm vợt được phát minh bởi Danny Seemiller (Mỹ) trong đó ngón cái và ngón trỏ
được đặt ở mặt sau của vợt và chỉ mặt thuận tay (mặt trước – ND) của vợt là được sử dụng (để đánh bóng
- ND).
<b>IV.7 Shakehand Grip</b> (<b> Cầm kiểu Vợt ngang)</b>
Cầm kiểu “Vợt ngang” là một điển hình của kiểu cầm châu Âu, trong đó đầu vợt hướng lên trên,
và nhìn tay của bạn như đang sẵn sàng lắc tay người khác (bắt tay và lắc – ND). Các đấu thủ dùng kiểu
cầm vợt ngang sử dụng cả mặt trước và mặt sau của vợt, trong khi những đấu thủ chơi vợt dọc chỉ sử
dụng một mặt của vợt (tuy vậy những VĐV chơi vợt dọc hiện đại ngày nay thường sử dụng cả mặt sau
của vợt). Các phông vợt ngang có tay cầm (cán – ND) dài hơn so với các phông vợt dọc.
Cán Thẳng - ST (viết tắt của chữ Straight / Thẳng) là cán vợt ngang mà nó có cùng độ rộng từ đầu
đến đuôi cán, khác với kiểu cán loe (cán FL) được làm rộng ra thêm phía đi cán.
<b>V. Physics</b> (<b> Các khái niệm vật lý)</b>
<b>V.1 No-Spin</b> (<b> Khơng xốy)</b>
Bóng khơng xốy là đường bóng khơng có độ xốy (hoặc có rất ít xốy). Các quả giao bóng
khơng xốy có hiệu quả như là một phần trong chiến thuật gồm các quả giao bóng nhiều xoáy với tất cả
các loại xoáy, lẫn lộn quả giao khơng xốy và làm đối phương lúng túng.
<b>V.2 Sidespin</b> (<b> Xốy Ngang/Xốy Bên)</b>
Xốy ngang sẽ cuộn (xoay) bóng theo hướng ngang (hoặc thuận chiều kim hoặc ngược chiều kim
Bạn có thể thấy rằng bóng sẽ có xốy ngang nhiều (nặng – ND) nếu bạn nhìn thấy nó uốn cong
sang một bên khi đang bay.
<b>V.3 Spin</b> ( <b> Xoáy )</b>
Xoáy là chuyển động quay của trái bóng. Các mặt cao su có độ bám nhiều sẽ sinh ra nhiều xốy.
Các mặt vợt có tính dính (tacky-ND) có các mẩu (mũi – ND) bám và cũng sinh ra nhiều xốy.
Có một số loại xốy:
- Xoáy lên
- Xoáy xuống / Xoáy đáy / xoáy dưới
- Xốy ngang
- Khơng xốy
<b>V.4 Spin Reversal</b> ( <b>Đảo xốy )</b>
Xốy có thể bị đảo ngược khi sử dụng các mặt phản xoáy hoặc các loại gai dài. Khi chơi với mặt
có độ bám bình thường, thì nếu đối phương đưa sang bạn bóng xốy lên và bạn chặn, nó sẽ trả lại với
cùng kiểu xoáy, là xoáy lên. Nếu bạn chặn cú đánh tương tự nhưng với mặt gai dài hoặc phản xốy, thì
kiểu xốy có thể bị đảo ngược, trở thành xốy xuống. Nhiều người đã khơng sử dụng mặt gai dài và phản
xoáy để chơi, nên hiệu ứng đảo kiểu xoáy là cả một thách thức lớn.
<b>V.5 Throw Angle</b> (<b> Góc đánh/góc bắn )</b>
Góc đánh là góc bóng bay ra khỏi vợt từ cú đánh của bạn. Ví dụ, khi bạn thực hiện một cú giật,
<b>V.6 Topspin</b> (<b> Xốy lên )</b>
Xốy lên sẽ cuộn về phía đối phương. Ví dụ (khơng liên quan đến bóng bàn): nếubạn lăn một trái
bóng trên mặt đất hướng về phía một người khác, thì xốy của trái bóng đó là xốy lên, cịn trong bóng
bàn thì bóng sẽ xoáy trong khơng khí thay vì lăn trên mặt đất.
Khi bạn chặn quả bóng xốy lên, quả bóng sẽ nảy về phía trước do xốy đã bám lên mặt vợt của bạn.
<b>V.7 Underspin / Bottomspin / Backspin</b> (<b> Xốy xuống/Xốy đáy/Xốy lùi )</b>
Khi bạn chặn (block) quả bóng xốy xuống, quả bóng sẽ đi xuống dưới. Khi bạn giao một quả
bóng xốy xuống, rốt cuộc quả bóng có xu hướng lăn trở lại phía bạn do bóng bám vào bàn (giả thiết
bóng khơng rơi ra ngồi mép bàn).
<b>VI. Other ( Những thuật ngữ khác)</b>
<b>VI.1 Adham Sharara</b> (<b> Adham Sharara (tên người))</b>
Ngài Adham Sharara là Chủ tịch của ITTF (Liên đồn Bóng bàn Quốc tế), người quản lý tổ chức
bóng bàn trên tồn thế giới.
<b>VI.2 Basement Player</b> ( <b>Người chơi hạng dưới /Đấu thủ “tầng hầm” / Rơ “phủi”)</b>
Người chơi hạng dưới là người chơi chỉ có tính chất giải trí, họ khơng chơi bóng bàn một cách
thực sự. Đặc điểm dễ thấy nhất của người chơi hạng dưới là:
- Họ chơi với một cây vợt không sinh ra tí xốy nào.
- Họ khơng được học và khơng đánh đúng được những cú đánh như cú giật chẳng hạn.
- Họ không biết luật thi đấu.
Bị loại xảy ra khi đấu thủ bị truất quyền thi đấu. Nếu bạn đang chơi trong một vòng đấu, bạn có
thể bị loại nếu bạn khơng hiện diện đúng giờ cho trận đấu của bạn.
<b>VI.4 Equipment Junkie (EJ)</b> (<b> Con nghiện “đồ chơi” (Ghiền dụng cụ BB))</b>
Con nghiện “đồ chơi” là người ln bị ám ảnh bởi việc tìm cho được một sự phối hợphồn hảo
giữa phơng và mặt vợt. Dấu hiệu phổ biến của các con nghiện này là:
1. Chi tiêu một khoản lớn tiền bạc cho trang thiết bị.
2. Xăm xoi quá mức đến những khuyết tật của trang thiết bị.
3. Khơng baogiờ cảm thấy hài lịng với cây vợt mình hiện đang sở hữu.
4. Có đầy một tủ các loại mút và phông đã qua sử dụng.
<b>VI.5 Fault</b> ( <b>Lỗi )</b>
Lỗi sẽ được xướng (nhắc – ND) lên khi đấu thủ mắc một sai sót để mất điểm theo luật.
Ví dụ: Khi quả giao bóng được thực hiện sai luật (chẳng hạn bóng tung dưới độ cao 6 inh – 16cm), đây là
lỗi và đối phương sẽ giành được 1 điểm.
<b>VI.6 Free Hand</b> (<b> Tay tự do)</b>
Tay tự do là tay không cầm vợt.
<b>VI.7 ITTF (International Table Tennis Federation)</b> (<b> ITTF (Liên đồn Bóng bàn Thế giới) )</b>
ITTF là cụm từ viết tắt của International Table Tennis Federation (Liên đồn Bóng bàn Thế giới).
Cơ quan này quản lý chung, đưa ra những quy định về chun mơn bóng bàn và thiết lập tất cả các điều
luật cho các cuộc đấu quốc tế.
<b>VI.8 Let</b> (<b> Let (dừng bóng))</b>
Let được xướng lên đối với những điểm bóng khơng được tính. Khi bạn giao một quả bóng mà nó
nảy trên phần bàn của bạn, sau đó chạm vào lưới, nhưng vẫn tiếp tục qua lưới (leo lưới – ND) và nảy trên
phần bàn của đối phương, thì đó là “Let” và trái bóng đó khơng được tính.
Ví dụ khác của Let là khi trận đấu bị cản trở bởi một sự kiện từ bên ngồi (chẳng hạn bóng từ khu
vực kế bên lăn vào phạm vi mà bạn đang chơi).
<b>VI.9 Playing Hand</b> (<b> Tay đang chơi bóng)</b>
Tay đang chơi là tay đang cầm vợt.
<b>VI.10 Rating</b> (<b> Xếp hạng )</b>
Xếp hạng là điểm đưa ra cho một đấu thủ để thể hiện trình độ kỹ năng của anh ta/chị ta. Có những
hệ thống xếp hạng khác nhau trong các quốc gia khác nhau. Canada và Hoa Kỳ có hệ thống xếp hạng
riêng được quyết định bởi hiệp hội BB của mỗi nước (CTTA của Canada và USATT của Hoa kỳ).
Đấu thủ có được điểm xếp hạng bằng việc thi đấu trong các trận đấu chính thức được cơng nhận và kiếm
được hay mất điểm phụ thuộc vào số trận thắng và thua, và sự khác nhau về điểm giữa các đấu thủ.
<b>VI.11 USATT (United States of America Table Tennis)</b> (<b> USATT (Hiệp hội Bóng bàn Hoa kỳ) )</b>
USATT là Hiệp hội BB Hoa kỳ quản lý chung đối với toàn Liên bang. Cơ quan này đặt ra các quy
định đối với các cuộc thi đấu và xúc tiến thể thao.