BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM
---oo0oo---
LỚP: 10DHTP9
BÀI THUYẾT TRÌNH MƠN
MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN NHẬN THỨC
GVHD: CƠ PHAN THỊ HIÊN
NHĨM THỰC HIỆN: NHĨM 6
1. LỘC TƯỜNG THỨC
MSSV: 2005191285
2. NGUYỄN THỊ THANH THÚY
MSSV: 2005191557
3. NGÔ NGUYỄN HỒNG THANH (NT)
MSSV: 2005191260
TP HCM , 2019
MỤC LỤC
I. BẢN CHẤT CỦA NHẬN THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI
VỚI NHẬN THỨC...............................................................................................2
1. Bản chất của nhận thức..............................................................................2
a. Quan niệm về nhận thức của một số trào lưu triết học trước Mác:..........2
b. Quan niệm về bản chất nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng:....2
2. Thực tiễn và vai trị của nó đối với nhận thức.........................................2
a. Phạm trù thực tiễn.....................................................................................2
b. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:....................................................4
II.
QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ CÁC CẤP ĐỘ CỦA NHẬN THỨC. .6
1. Biện chứng của quá trình nhận thức........................................................6
a. Trực quan sinh động:.................................................................................6
b. Tư duy trừu tượng:....................................................................................7
c. Quan hệ giữa nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính và thực tiễn:...........8
2. Cấp độ của nhận thức................................................................................8
a. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận:..........................................8
b. Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học:.....................................9
III. VẤN ĐỀ CHÂN LÝ..................................................................................10
1. Chân lý.......................................................................................................10
2. Các tính chất của chân lý.........................................................................10
3. Vai trị của chân lý đối với thực tiễn.......................................................11
IV.
TÓM LƯỢC NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GHI NHỚ.................................12
1
I.
BẢN CHẤT CỦA NHẬN THỨC VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN
ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
1.
Bản chất của nhận thức
a. Quan niệm về nhận thức của một số trào lưu triết học trước Mác:
Xuất phát từ chỗ phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: vũ trụ do ý thức, tinh thần của chúng ta sản
sinh ra.
- Chủ nghĩa duy tâm khách quan: vũ trụ do thượng đế sáng tạo ra.
- Chủ nghĩa hoài nghi: nghi ngờ sự tồn tại của sự vật và nghi ngờ khả năng
nhận thức của con người.
Sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức
khách quan
b. Quan niệm về bản chất nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho nhận thức là quá trình phản ánh hiện
thực khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn. Điều này
có nghĩa là chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận thế giới vật chất tồn
tại khách quan độc lập với ý thức của con người. Cơ sở của nhận thức
chính là thực tiễn lịch sử - xã hội.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng công nhận khả năng nhận thức thế giới của
con người. Khơng có cái gì mà con người khơng nhận thức được, chỉ có
cái mà con người chưa nhận thức được mà thôi.
- Nhận thức là quá trình biện chứng, có vận động biến đổi, phát triển, đi từ
chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều hơn, từ chưa đầy đủ đến đầy đủ
hơn, từ bản chất cấp 1 đến bản chất cấp 2,… nhưng khơng có giới hạn
cuối cùng.
- Nhận thức phải dựa trên cơ sở thực tiễn, lấy thực tiễn làm mục đích nhận
thức, làm tiêu chuẩn kiểm tra chân lý.
Tóm lại, nhận thức là q trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế
giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.
2.
Thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức
a. Phạm trù thực tiễn
2
Theo triết học duy vật biện chứng, thực tiễn là tồn bộ những hoạt động vật
chất cảm tính, có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm
cải tạo tự nhiên và xã hội.
Thực tiễn có 3 đặc trưng sau:
- Thực tiễn là hoạt động vật chất cảm tính. Đó là những hoạt động mà con
người phải dùng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối
tượng vật chất để làm biến đổi chúng.
Ví dụ, hoạt động cày ruộng, đào đất, xây nhà, sản xuất ra của cải vật chất nói
chung,…
Hoạt động cày ruộng
- Thực tiễn có tính lịch sử - xã hội. Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt
động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo
người, và trải qua những giai đoạn lịch sử nhất định, bị giới hạn bởi những
điều kiện lịch sử - cụ thể nhất định.
- Thực tiễn là hoạt động có tính mục đích - nhằm trực tiếp cải tự nhiên và xã
hội phục vụ con người.
Thực tiễn có ba hình thức cơ bản:
3
- Sản xuất vật chất. Đây là hình thức cơ bản, đầu tiên quan trọng nhất. Nó
có sớm nhất và đóng vai trị quyết định các hình thức thực tiễn khác. Đó là
những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như lương thực, quần áo, nhà
cửa.
- Hoạt động cải tạo xã hội - chính trị cũng như cải tạo các quan hệ xã hội.
Chẳng hạn như đấu tranh giai cấp, đấu tranh cho hồ bình, dân chủ, tiến
bộ xã hội,…
- Hoạt động thực nghiệm khoa học. Đây là một hình thức đặc biệt của thực
tiễn. Nó được tiến hành trong những điều kiện mà con người chủ định tạo
ra để nhận thức và cải tạo tự nhiên - xã hội phục vụ con người.
Mỗi hình thức hoạt động thực tiễn có vai trị, chức năng riêng khơng thể
thay thế, nhưng chúng quan hệ mật thiết với nhau, liên hệ tác động lẫn
nhau. Trong đó, sản xuất đóng vai trị quyết định đối với các hình thức
khác. Bởi lẽ, nếu sản xuất vật chất khơng phát triển thì các hoạt động cải
tạo xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học khơng thể tiến hành được
hoặc có tiến hành được cũng kém hiệu quả. Tuy nhiên, hai hình thức thực
tiễn kia có ảnh hưởng quan trọng đối với sản xuất vật chất. Chẳng hạn, nếu
những hoạt động cải tạo xã hội, các quan hệ xã hội tốt sẽ tạo ra những điều
kiện xã hội thuận lợi cho phát triển sản xuất vật chất. Nếu thực nghiệm
khoa học phát triển sẽ góp phần tăng năng xuất lao động,…
b. Vai trị của thực tiễn đối với nhận thức:
- Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức là vì nhờ có hoạt
động thực tiễn mà các giác quan của con người ngày càng được hoàn
thiện; năng lực tư duy lơgíc khơng ngừng được củng cố và phát triển; các
phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác dụng “nối dài” các giác
quan của con người trong việc nhận thức thế giới.
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức:
4
+ Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật làm
cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật. Trên cơ sở đó con người có
hiểu biết về chúng. Nghĩa là thực tiễn cung cấp “vật liệu” cho nhận thức.
Khơng có thực tiễn khơng thể có nhận thức.
Ví dụ: chính đo đạc ruộng dất trong chế độ chiếm hữu nô lệ là cơ sở cho định lý
Talét, Pitago ra đời…
Định lý Pitago
+ Thực tiễn ln đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ địi hỏi nhận thức phải trả lời. Nói
khác đi, chính thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức phải giải quyết. Trên
cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển.
Ví dụ: dịch cúm gà H5N1 đặt ra cho nhân loại nhiệm vụ nghiên cứu chế tạo vắcxin chống loại dịch cúm này. Từ đó, các nhà khoa học đặt cho mình nhiệm vụ
nghiên cứu vi-rút để tìm ra phác đồ điều trị cũng như chế tạo vắc-xin.
+ Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan của con người.
Ví dụ: thông qua sản xuất, chiến đấu những cơ quan cảm giác như thính giác, thị
giác,.. được rèn luyện.
5
+ Thực tiễn cịn là cơ sở chế tạo cơng cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận
thức hiêụ quả hơn.
Ví dụ: kính thiên văn, máy vi tính,… đều được sản xuất, chế tạo trong sản xuất
vật chất.
Kính thiên văn
Thực tiễn là mục đích của nhận thức:
+ Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại.
Ngay từ thưở xa xưa, để sống con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh,
tức là để sống, con người phải nhận thức. Nghĩa là ngay từ khi con người xuất
hiện trên trái đất, nhận thức của con người đã bị chi phối bởi nhu cầu thực
tiễn.
+ Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được
vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người. Nói khác đi, chính thực tiễn là tiêu
chuẩn đánh giá giá trị của tri thức - kết quả của nhận thức. Vì vậy, những tri
thức khoa học kết quả của nhận thức càng có ý nghĩa, giá trị khi càng được
nhiều người vận dụng vào thực tiễn.
6
+ Nếu nhận thức khơng vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình thức,
chủ nghĩa thành tích,… thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng, sẽ
phải trả giá.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Có nghĩa là thực tiễn là thước
đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời thực
tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện
nhận thức.
+ Theo triết học duy vật biện chứng, chân lý không phải là cái có lợi. Bởi lẽ,
cái này có lợi với người này nhưng lại khơng có lợi với người kia. Như vậy,
khơng thể coi chân lý là cái có lợi được. Chân lý không thể là cái đúng với
người này mà không đúng với người kia trong cùng một thời gian, một không
gian. Chân lý không phải bao giờ cũng thuộc về số đơng. Chân lý cũng khơng
phải cái hiển nhiên.
Ví dụ: chúng ta thấy nhìn thấy cái que như bị gẫy khi cắm xuống nước. Nhưng
trên thực tế cái que không gẫy.
+ Triết học duy vật biện chứng khẳng định thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan
của chân lý. Bởi lẽ, chỉ có thơng qua thực tiễn, con người mới “vật chất hoá”
7
được tri thức, “hiện thực hố” được tư tưởng. Thơng qua q trình đó, con
người có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm.
- Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó
vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối.
* Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ: thực tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể là
tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định được chân lý, bác bỏ được
sai lầm.
* Tính tương đối thể hiện ở chỗ: bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi,
phát triển. Cho nên, khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải đổi thay
cho phù hợp. Nghĩa là những tri thức đã đạt được trước đây hiện nay vẫn phải
được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn. Thực tiễn được xem xét trong không
gian càng rộng, trong thời gian càng dài thì càng rõ đâu là chân lý, đâu là sai
lầm.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức địi hỏi chúng ta phải ln ln qn
triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất
phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi
trọng công tác tổng kết thực tiễn. Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với
thực tiễn, học đi đôi với hành. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của
bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu… Ngược lại, nếu
tuyệt đối hóa vai trị của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng, kinh
nghiệm chủ nghĩa.
II. QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ CÁC CẤP ĐỘ CỦA NHẬN THỨC
1. Biện chứng của quá trình nhận thức
Con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách
quan: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến
thực tiễn”. Như vậy, nhận thức gồm 2 giai đoạn:
a. Trực quan sinh động:
Đây là giai đoạn đầu tiên của nhận thức diễn ra dưới 3 hình thức: cảm giác, tri
giác và biểu tượng.
- Cảm giác là hình thức đầu tiên, đơn giản nhất của nhận thức cảm tính,
được nảy sinh do sự tác động trực tiếp của khách thể lên giác quan của con
người. Về bản chất, cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
8
quan. Do đó, hình thức biểu hiện của cảm giác phụ thuộc vào chủ thể nhận
thức nhưng nội dung của nó khơng phụ thuộc vào chủ thể, chỉ phụ thuộc
vào khách thể.
Ví dụ: chiếc xe máy đi qua cho ta cảm giác về màu sắc khi tác động vào mắt của
ta (thị giác).
- Tri giác là tổng hợp của nhiều cảm giác về sự vật. Nói khác đi, tổng hợp
nhiều cảm giác cho ta tri giác về sự vật. Nó là kết quả tác động trực tiếp
của sự vật đồng thời lên nhiều giác quan của con người.
Ví dụ: khi xem tivi, cả hình ảnh, màu sắc, âm thanh đều tác động lên các cơ quan
cảm giác của ta (thị giác, thính giác,…) và cho ta tri giác về cái đang xem.
- Biểu tượng là hình ảnh về sự vật do tri giác đem lại nhưng được tái hiện
lại nhờ trí nhớ. Khác với tri giác, biểu tượng là hình ảnh được tái hiện
trong óc, khi sự vật khơng trực tiếp tác động vào giác quan. Nhưng biểu
tượng vẫn giống tri giác ở chỗ, nó vẫn chỉ là hình ảnh cảm tính về sự vật,
tức là hình ảnh trực tiếp, bề ngồi về sự vật.
Ví dụ: ta xem một loại xe máy mới xuất hiện, sau đó kể lại cho người khác nghe
về loại xe máy mới này. Để kể được ta phải huy động trí nhớ để kể về màu sắc,
hình dáng,…
Cảm giác, tri giác và biểu tượng là những hình thức của nhận thức cảm tính
có liên hệ hữu cơ với nhau, phản ánh trực tiếp vẻ ngồi của sự vật. Những
hình ảnh này trực tiếp, sống động, phong phú nhưng chưa cho ta sự hiểu biết
về bản chất bên trong của sự vật.
b. Tư duy trừu tượng:
Đây là giai đoạn tiếp theo, cao hơn về chất của q trình nhận thức. Nó nảy
sinh trên cơ sở của nhận thức cảm tính gắn liền với thực tiễn và diễn ra dưới 3
hình thức: khái niệm, phán đốn, suy lý.
- Khái niệm là hình thức đầu tiên, cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh
khái quát, gián tiếp một hoặc một số thuộc tính chung có tính bản chất nào
đó của một nhóm sự vật được biểu thị bằng một từ hay một cụm từ. Khái
niệm được hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn và nhận thức của con
người; do đó, nó ln vận động, biến đổi.
Ví dụ: khái niệm con người, động vật, thanh niên,…
9
- Phán đốn là hình thức liên kết các khái niệm để khẳng định hay phủ định
một thuộc tính nào đó của sự vật, hiện tượng dưới hình thức ngơn ngữ. Ví
dụ: nhơm là kim loại, nhựa khơng dẫn điện,… Có ba loại phán đốn:
+ Phán đốn đơn nhất (ví dụ: đồng dẫn điện)
+ Phán đốn đặc thù (ví dụ: nhơm là kim loại)
+ Phán đốn phổ biến (ví dụ: mọi kim loại đều dẫn điện).
Nhờ phán đoán mà nhận thức của con người luôn được mở rộng, phát triển.
- Suy lý là hình thức của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra
tri thức mới bằng phán đốn mới.
Ví dụ, nếu liên kết phán đốn “Kim loại thì dẫn điện” với phán đốn “Đồng là
kim loại” ta rút ra được một phán đoán mới là “Đồng dẫn điện”.
- Có hai loại suy luận: suy luận quy nạp - đi từ cái riêng tới cái chung (tức là
từ phán đoán đơn nhất qua phán đoán đặc thù đến phán đoán phổ biến) và
suy luận diễn dịch - đi từ cái chung tới cái riêng (từ phán đoán phổ biến
qua phán đoán đặc thù rồi tới phán đoán đơn nhất).
Như vậy, khái niệm, phán đốn, suy lý là những hình thức của tư duy trừu
tượng. Chúng có thể phản ánh gián tiếp, khái quát sự vật. Các hình thức này
có quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau.
c. Quan hệ giữa nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính và thực tiễn:
- Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn của một quá trình
nhận thức thống nhất. Tuy chúng khác nhau về vị trí và mức độ phản ánh
nhưng lại thống nhất với nhau, liên hệ bổ sung cho nhau và đều dựa trên
cơ sở thực tiễn.
- Nhận thức cảm tính là cơ sở cho nhận thức lý tính, khơng có nhận thức
cảm tính thì khơng có nhận thức lý tính.
- Nhờ có nhận thức lý tính mà con người mới đi sâu nhận thức được bản
chất sự vật, làm cho nhận thức của con người ngày càng sâu sắc hơn, đầy
đủ hơn, đúng đắn hơn.
Ví dụ: chúng ta nhìn thấy chớp rồi mới nghe thấy sấm, thậm chí khơng nghe thấy
sấm. Nhưng nhờ nhận thức lý tính chúng ta mới hiểu rõ, chớp khơng phải là
ngun nhân của sấm. Mặc dù chớp về thời gian là đập vào mắt chúng ta trước
so với sấm đập vào tai chúng ta. Phải nhờ nhận thức lý tính mới lý giải được vấn
đề này (chớp là ánh sáng mà ánh sáng vận động với tốc độ 333.000km/s).
10
Cả hai giai đoạn nhận thức này luôn dựa trên cơ sở thực tiễn, được kiểm tra
bởi thực tiễn và đều nhằm phục vụ thực tiễn.
2. Cấp độ của nhận thức
a. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận:
- Nhận thức kinh nghiệm là nhận thức được hình thành từ sự quan sát trực
tiếp các sự vật, hiện tượng hay các thí nghiệm khoa học. Kết quả của nó là
tri thức kinh nghiệm. Có hai loại tri thức kinh nghiệm. Một là, tri thức kinh
nghiệm thông thường: thu nhận từ quan sát trong đời sống thường ngày, từ
lao động, sản xuất, chiến đấu… Tri thức này đóng vai trò rất quan trọng đối
với đời sống thường nhật của con người. Hai là, tri thức kinh nghiệm khoa
học: thu nhận từ thí nghiệm khoa học. Nó là cơ sở để khái quát thành lý
luận khoa học. Tri thức kinh nghiệm đóng vai trị hết sức quan trọng trong
đời sống hàng ngày của con người, nhưng nó chưa phản ánh được bản chất
bên trong của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, khơng được tuyệt đối hố tri thức
kinh nghiệm.
- Nhận thức lý luận là nhận thức gián tiếp, trừu tượng, khái quát về bản chất,
quy luật của sự vật, hiện tượng. Kết quả của nhận thức lý luận là tri thức lý
luận. Tri thức lý luận phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang
tính quy luật của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và được
biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, phạm trù, quy luật. Do đó, khác với tri
thức kinh nghiệm, tri thức lý luận có tính khái qt cao, có tính trừu tượng,
tính hệ thống và tính lơgíc chặt chẽ. Chính vì vậy mà lý luận có thể phản
ánh được bản chất của sự vật hiện tượng. Cũng vì vậy, lý luận có vai trị to
lớn đối với thực tiễn, nhất là khi nó thâm nhập vào quảng đại quần chúng
nhân dân và được chủ thể lãnh đạo, quản lý vận dụng một cách sạng tạo,
đúng đắn.
- Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận có quan hệ biện chứng, tác
động, bổ sung cho nhau. Nhận thức kinh nghiệm là cơ sở cho nhận thức lý
luận và cung cấp cho nhận thức lý luận tư liệu phong phú. Tuy nhiên, nhận
thức kinh nghiệm còn hạn chế. Còn nhận thức lý luận làm sâu sắc nhận
thức kinh nghiệm, bổ sung cho nhận thức kinh nghiệm.
b. Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học:
- Nhận thức thông thường (nhận thức tiền khoa học) là nhận thức được hình
thành một cách tự phát, trực tiếp từ hoạt động hàng ngày của con người.
Cho nên nó phản ánh sự vật phong phú, đa dạng, gắn liền với quan niệm
11
sống hàng ngày của con người. Nó cịn phản ánh sự vật trực tiếp, sinh
động. Do vậy, nó phong phú, nhiều vẻ.
- Nhận thức khoa học là nhận thức được hình thành một cách tự giác và
gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm, bản chất, những mối liên hệ tất yếu của
sự vật, hiện tượng. Sự phản ánh trong nhận thức khoa học diễn ra dưới
dạng trừu tượng lơgíc là các khái niệm, quy luật.
- Hai dạng nhận thức này là hai nấc thang nhận thức khác nhau nhưng quan
hệ chặt chẽ với nhau. Nhận thức thông thường cung cấp vật liệu cho nhận
thức khoa học. Nhận thức khoa học làm cho nhận thức thông thường sâu
sắc, đầy đủ hơn.
Như vậy, để đạt tri thức khoa học, trong quá trình nhận thức diễn ra theo
những cấp độ khác nhau, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính; từ
nhận thức kinh nghiệm đến nhận thức lý luận; từ nhận thức thông thường
đến nhận thức khoa học. Tuy nhiên, những tri thức đạt được cần phải được
kiểm tra xem có là chân lý khơng.
III. VẤN ĐỀ CHÂN LÝ
1. Chân lý
- Theo triết học duy vật biện chứng, chân lý là những tri thức có nội dung
phù hợp với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm.
Ví dụ: mọi kim loại đều dẫn điện,… Điều này đã được thực tiễn kiểm nghiệm là
đúng.
- Không phải bao giờ chân lý cũng thuộc về số đông, cũng không phải là cái
gì đó hiển nhiên và cũng khơng phải cái gì có ích, có lợi. Chân lý cũng
khơng phải là những gì mà đối chiếu với Kinh Thánh đúng thì là đúng. Và
cũng khơng phụ thuộc vào uy tín của ai đó.
2. Các tính chất của chân lý
Chân lý có tính khách quan, tính tương đối, tính tuyệt đối và tính cụ thể:
- Tính khách quan hay chân lý khách quan: tính phù hợp giữa tri thức và
thực tại khách quan; khơng phụ thuộc ý chí chủ quan.
Ví dụ: sự phù hợp giữa quan niệm “quả đất có hình cầu chứ khơng phải hình
vng” là phù hợp với thực tế khách quan; nó khơng phụ thuộc vào quan niệm
truyền thống đã từng có hàng nghìn năm trước thời Phục hưng.
12
- Tính cụ thể của chân lý hay chân lý cụ thể: chân lý đạt được trong quá
trình nhận thức bao giờ cũng phản ánh sự vật, hiện tượng trong một điều
kiện cụ thể với những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, trong một không gian và
thời gian xác định. Do đó, khơng có chân lý chung chung, trừu tượng.
Tính chất này của chân lý là cơ sở quan trọng cho quan điểm lịch sử - cụ
thể trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Chính chân lý là cụ thể nên
cách mạng phải sáng tạo.
Ví dụ: mọi phát biểu định lý trong các khoa học đều kèm theo các điều kiện xác
định nhằm đảm bảo tính chính xác của nó: nước sơi ở 100°C với điều kiện nước
ngun chất và áp suất 1 atmotphe,…
- Chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối: chân lý tuyệt đối là chân lý mà nội
dung của nó phản ánh đúng đắn, đầy đủ, toàn diện về hiện thực khách
quan. Chân lý tương đối là chân lý mà nội dung của nó phản ánh đúng đắn
hiện thực khách quan nhưng chưa đầy đủ, chưa toàn diện, mới phản ánh
đúng một mặt, một khía cạnh của sự vật, hiện tượng, sẽ được nhận thức
của con người bổ sung, hồn thiện. Tính tuyệt đối và tính tương đối của
chân lý quan hệ biện chứng với nhau. Một mặt, chân lý tuyệt đối là tổng
số chân lý tương đối . Mặt khác, trong mỗi chân lý tương đối bao giờ cũng
chứa đựng những yếu tố của chân lý tuyệt đối.
Ví dụ: hai khẳng định sau đây đều là chân lý, nhưng chỉ là chân lý tương đối: (1)
Bản chất của ánh sáng có đặc tính sóng; (2) Bản chất của ánh sáng có đặc tính
hạt. Trên cơ sở hai chân lý đó có thể tiến tới một khẳng định đầy đủ hơn: ánh
sáng mang bản chất lưỡng tính là sóng và hạt.
- Triết học duy vật biện chứng chỉ ra rằng, nhận thức của con người là toàn
năng tuyệt đối, nếu xem xét nhận thức như một q trình phát triển vơ tận
của các thế hệ người. Nhận thức của con người cũng là không toàn năng,
là tương đối nếu xem xét nhận thức chỉ giới hạn ở từng người, từng thế hệ
người cụ thể. Chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối đều là sự thể hiện quá
trình nhận thức chân lý khách quan của con người.
Các tính chất trên của chân lý quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời
nhau. Thiếu một trong các tính chất đó thì những tri thức đạt được trong q
trình nhận thức khơng có giá trị đối với con người.
3. Vai trò của chân lý đối với thực tiễn
13
- Để sinh tồn và phát triển, con người phải tiến hành những hoạt động thực
tiễn. Đó là các hoạt động cải biến môi trường tự nhiên và xã hội, đồng thời
cũng qua đó con người thực hiện một cách tự giác hay khơng tự giác q
trình hồn thiện và phát triển chính bản thân mình. Chính q trình này đã
làm phát sinh và phát triển hoạt động nhận thức của con người. Thế nhưng
hoạt động thực tiễn chỉ có thể thành cơng và có hiệu quả một khi con
người vận dụng được những tri thức đúng đắn về thực tế khách quan trong
chính hoạt động thực tiễn của mình. Vì vậy, chân lý là một trong những
điều kiện tiên quyết bảo đảm sự thành cơng và tính hiệu quả trong hoạt
động thực tiễn.
- Mối quan hệ giữa chân lý và hoạt động thực tiễn là mối quan hệ biện
chứng trong quá trình vận động, phát triển của cả chân lý và thực tiễn:
chân lý phát triển nhờ thực tiễn và thực tiễn phát triển nhờ vận dụng đúng
đắn những chân lý mà con người đã đạt được trong hoạt động thực tiễn.
- Quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa chân lý và thực tiễn đòi hỏi
trong hoạt động nhận thức con ngưòi cần phải xuất phát từ thực tiễn để đạt
được chân lý, phải coi chân lý cũng là một quá trình. Đồng thời, phải
thường xuyên tự giác vận dụng chân lý vào trong hoạt động thực tiễn để
phát triển thực tiễn, nâng cao hiệu quả hoạt động cải biến giới tự nhiên và
xã hội.
- Coi trọng tri thức khoa học và tích cực vận dụng sáng tạo những tri thức
đó vào trong các hoạt động kinh tế – xã hội, nâng cao hiệu quả của những
hoạt động đó về thực chất cũng chính là phát huy vai trò của chân lý khoa
học trong thực tiễn hiện nay.
IV. TÓM LƯỢC NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GHI NHỚ
1. Bản chất của nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách
tích cực, chủ động sáng tạo bởi con người trên cơ sở thực tiễn và so sánh thấy
được quan niệm này khác với các quan niệm khác về bản chất nhận thức.
2. Hiểu được thực tiễn (nội dung, đặc trưng, ba hình thức) cùng với vai trò của
thực tiễn đối với nhận thức (cơ sở, động lực của nhận thức, mục đích của nhận
thức, tiêu chuẩn của chân lý).
3. Nắm được biện chứng của quá trình nhận thức gồm hai giai đoạn: trực quan
sinh động (với các hình thức cảm giác, tri giác, biểu tượng) và tư duy trừu tượng
(với các hình thức khái niệm, phán đoán, suy luận) biện chứng của hai giai đoạn
nhận thức này.
14
4. Hiểu được chân lý là gì, các tính chất của chân lý (khách quan, chân lý tương
đối và chân lý tuyệt đối, chân lý cụ thể).
5. Hiểu được quan điểm triết học Mác-Lênin về thực tiễn và vai trò của thực tiễn
và vai trị của nó đối với nhận thức là cơ sở lý luận của quan điểm thực tiễn cùng
yêu cầu của quan điểm thực tiễn.
15