------------------------
LUẬN VĂN THAM KHẢO
KIỂM SỐT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NƠNG THƠN - CHI NHÁNH BẮC QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
2021
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan luận văn: “Kiểm sốt nội bộ hoạt động tín dụng
khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn - Chi nhánh Bắc Quảng Bình” là cơng trình do tơi tự nghiên cứu và
hoàn thành dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học.
Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng
được công bố trong các luận văn trước đây.
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUÂN VĂN(bản sao)
KIỂM DUYỆT HÌNH THỨC LUẬN VĂN (bản sao)
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan luận văn: “Kiểm sốt nội bộ hoạt động tín dụng
KHDN tại Ngân hàng Nơng nghiệp và phát triển nơng thơn chi nhánh
Bắc Quảng Bình” là cơng trình do tơi tự nghiên cứu và hồn thành dưới
sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học.
Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng
được công bố trong các luận văn trước đây.
Tác giả luận văn
Cao Hoàng Ngọc Hà
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AGRIBANK
NHNo và PTNT Việt Nam
CBTD
Cán bộ tín dụng
CT TNHH
Cơng ty trách nhiệm hữu hạn
GCNQSDĐ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
HMTD
Hạn mức tín dụng
HTX
Hợp tác xã
KHCN
Khách hàng cá nhân
KHDN
Khách hàng doanh nghiệp
KSNB
Kiểm soát nội bộ
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
TSBĐ
Tài sản bảo đảm
XLRR
Xử lý rủi ro
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Bảng 1.1
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Tên bảng
Trang
Phân loại khách hàng, phân loại nợ
Nguồn thông tin phục vụ KSNB
Kết quả phân loại nợ cho vay KHDN giai đoạn 2017-
24
59
2019
Bảng kết quả kiểm soát hồ sơ giai đoạn 2017-2019
68
72
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
hình vẽ
Sơ đồ 1.1
Sơ đồ 2.1
Tên sơ đồ
Trang
Quy trình tín dụng
Mơ hình tổ chức, cơ cấu bộ máy quản lý tại Agribank
17
- CN Bắc Quảng Bình
31
8
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
ngân hàng có những diễn biến ngày càng tinh vi và phức tạp, gây nên hậu quả
vô cùng nghiêm trọng. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những vi
phạm pháp luật liên quan đến tiền tệ ngân hàng thời gian qua là do kinh doanh
ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt bởi tính chất và mức độ rủi ro
cao. Đây cũng là một lĩnh vực nhạy cảm, dễ bị cám dỗ và có nhiều cạm bẫy
đối với bất cứ cán bộ ngân hàng nào khơng có lập trường tư tưởng vững vàng,
đạo đức nghề nghiệp, nghiệp vụ non nớt.
Lĩnh vực mà ngân hàng kinh doanh rất đa dạng do đó rủi ro gặp phải
cũng đa dạng. Trong số các rủi ro dễ gặp phải ấy thì rủi ro tín dụng là đặc
trưng tiêu biểu nhất, dễ xảy ra nhất. Trong hoạt động tín dụng tại các ngân
hàng thương mại nói chung và Agribank nói riêng, bộ phận khách hàng doanh
nghiệp chiếm số lượng ít hơn khách hàng cá nhân, tuy nhiên dư nợ lại cao hơn
rất nhiều lần, vì vậy một khi rủi ro xảy ra, nhất là rủi ro trong hoạt động tín
dụng khách hàng doanh nghiệp thì tổn thất mà các ngân hàng phải chịu cũng
cao hơn gấp nhiều lần.
Trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, hoạt động tín dụng được
xem là đem lại nhiều lợi nhuận nhất, tuy nhiên một khi gặp rủi ro thì đây cũng
chính là hoạt động khiến cho các ngân hàng phải trích lập dự phịng cao, dẫn
đến lợi nhuận sụt giảm nhanh chóng.
Những tổn thất đáng kể phát sinh trong hoạt động ngân hàng chủ yếu
xuất phát từ việc các ngân hàng khơng duy trì được hệ thống kiểm soát nội bộ
hữu hiệu để ngăn chặn, phát hiện sớm những rủi ro, từ đó hạn chế những thiệt
hại có thể xảy đến với ngân hàng. Một hệ thống kiểm soát nội bộ được coi là
hữu hiệu, vững mạnh sẽ giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong quá trình hoạt
động, đảm bảo cho tài sản, nguồn lực của ngân hàng được bảo vệ, tránh bị
9
thất thoát, gian lận nhằm sử dụng hiệu quả nhất những tài sản và nguồn lực
ấy.
Vì vậy, muốn tồn tại và phát triển, ngoài các biện pháp kỹ thuật nghiệp
vụ tín dụng thì việc thiết kế một hệ thống kiểm sốt nội bộ chặt chẽ, hiệu quả
sẽ góp phần rất quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả
quản lý, điều hành trong hoạt động tín dụng.
Trước tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ, trên địa bàn Quảng Bình
những năm qua, các ngân hàng thương mại nói chung và Agribank - CN Bắc
Quảng Bình nói riêng đã rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng kiểm sốt
nội bộ hoạt động tín dụng, từng bước có những cải thiện rõ rệt. Việc nhận
diện rủi ro và đưa ra các biện pháp để hạn chế rủi ro là vấn đề mang tính cấp
bách, ln nhận được sự quan tâm hàng đầu của lãnh đạo ngân hàng. Đặc
biệt, với quy mô ngày càng mở rộng, xu thế cho vay khách hàng doanh
nghiệp lớn ngày càng cao thì rủi ro trong hoạt động tín dụng khách hàng
doanh nghiệp càng dễ xảy ra.
Tuy nhiên,thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng khách hàng
doanh nghiệp tại Agribank chi nhánh Bắc Quảng Bình vẫn cịn những hạn chế
nhất định, cần phải nghiên cứu và có những biện pháp khắc phục phù hợp.
Trước tình hình đó, tác giả chọn đề tài “Kiểm sốt nội bộ hoạt động tín
dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
2.
Nông thơn chi nhánh Bắc Quảng Bình” để làm luận văn thạc sĩ của mình.
Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ thực trạng KSNB đối với hoạt động tín dụng KHDN tại
Agribank - CN Bắc Quảng Bình.
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hồn thiện KSNB hoạt động tín
dụng nói chung và KSNB hoạt động tín dụng KHDN nói riêng tại Agribank CN Bắc Quảng Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
10
- Đối tượng nghiên cứu: KSNB đối với hoạt động tín dụng KHDN tại
Agribank - CN Bắc Quảng Bình.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: đề tài tập trung vào KSNB hoạt động tín dụng KHDN tại
Agribank chi nhánh Bắc Quảng Bình.
+ Về thời gian: thực trạng KSNB tại Agribank chi nhánh Bắc Quảng
Bình với dữ liệu từ năm 2017 đến năm 2019.
+ Về không gian: thực hiện tại Agribank - CN Bắc Quảng Bình.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp với các
phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích thống kê, khảo sát thực tế để
làm rõ bản chất, nội dung của KSNB đối với hoạt động tín dụng KHDN tại
Agribank chi nhánh Bắc Quảng Bình.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm sốt nội bộ hoạt động
tín dụng tại các Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng kiểm sốt nội bộ hoạt động tín dụng khách hàng
doanh nghiệp tại Agribank chi nhánh Bắc Quảng Bình.
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ
hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Agribank chi nhánh Bắc
Quảng Bình.
11
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiểu được tầm quan trong và tính cấp thiết của việc kiểm sốt nội bộ
hoạt động tín dụng, đã có nhiều tác giả có cơng trình nghiên cứu tương tự
-
như sau:
Nguyễn Hồi Nam (2006) đã hệ thống những nội dung cơ bản của KSNB và
đã đưa ra được những biện pháp hoàn thiện hệ thống KSNB nghiệp vụ tín
dụng cho các ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của tác giả là các ngân hàng thương mại,
phạm vi quá rộng, chưa đi sâu vào từng thành phần KSNB của một ngân hàng
cụ thể nào.
- Lê Phương Hồng (2006) đã khái quát được ưu, nhược điểm trong quá
trình KSNB của ngân hàng và đề ra được những giải pháp khá hữu ích cho
hoạt động KSNB tại ngân hàng Công thương Việt Nam.
Tuy nhiên tác giả chưa nêu rõ được cụ thể lĩnh vực nào hay các nhân tố
ảnh hưởng, tiêu chí đánh giá cụ thể về KSNB tại ngân hàng. Luận văn này
vẫn mang nặng về tính lý thuyết.
- Nguyễn Tiền Phong (2009) đã mơ tả và trình bày hệ thống KSNB tại
các ngân hàng thương mại, cho thấy rõ sự liên kết của các bộ phận của ngân
hàng trong hoạt động KSNB và đưa ra những đề xuất khá hữu ích để hoàn
thiện hơn hệ thống KSNB.
Tuy vậy, tác giả chưa cụ thể hóa những nhân tố ảnh hưởng tới KSNB tại
ngân hàng mà đi sâu vào phân tích bộ máy của ngân hàng là chính.
- Nguyễn Thị Bích Ngọc (2011) đã nêu được thực trạng KSNB hoạt
động tín dụng tại Agribank TP Đà Nẵng, đồng thời đưa ra những nhận xét và
hạn chế trong hoạt động KSNB. Từ thực trạng đã phân tích kết hợp với cơ sở
lí luận về KSNB hoạt động tín dụng, tác giả đã chứng minh sự cần thiết phải
nâng cao chất lượng KSNB hoạt động tín dụng tại Agribank Thành phố Đà
Nẵng.
12
Tuy nhiên tác giả chưa nhận dạng và giải quyết một cách có cơ sở về các
yếu tố cấu thành hệ thống KSNB hoạt động tín dụng, do đó những biện pháp
đề ra còn mang hơi hướng chủ quan cá nhân.
- Đào Mỹ (2012) đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về cho vay theo dự án
đầu tư của Nhà nước qua kênh Ngân hàng, qua đó làm rõ KSNB tại ngân
hàng được phân cấp theo mơ hình trực thuộc nhưng bộ phận KSNB ở các chi
nhánh lại chưa mang lại hiệu quả.
Tác giả chưa làm rõ được quy trình kiểm sốt hoạt động cho vay cũng
như chưa nêu được các nhân tố ảnh hưởng tới KSNB, điều đó dẫn đến những
kiến nghị đưa ra cịn thiếu tính thực tiễn. Nghiên cứu này giúp nắm rõ lý luận
về KSNB nhưng vẫn mang nặng tính lý thuyết.
- Phan Thụy Thanh Thảo (2014) đã đánh giá các ưu điểm và tồn tại của
hệ thống KSNB tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bình Dương,
từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB đối với
nghiệp vụ tín dụng.
Tuy nhiên đối tượng và phạm vi nghiên cứu trong luận văn này khá rộng
nên chưa làm rõ được nội dung KSNB trong ngân hàng thương mại dẫn đến
các giải pháp đề xuất cịn mang tính chung chung.
- Nguyễn Thị Lan Hương (2016) đã cụ thể hóa được các đặc điểm hoạt
động nghiệp vụ trong hệ thống ngân hàng Vietcombank và đánh giá được thực
trạng KSNB của ngân hàng.
Tuy nhiên luận văn chủ yếu tập trung về hồn thiện cơng tác KSNB
trong hoạt động tín dụng mà bỏ qua công tác KSNB trong hoạt động của bộ
phận Kế toán – Ngân quỹ - cũng là một hoạt động quan trọng và dễ xảy ra sai
sót trong KSNB tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Trần Ngọc Vân (2017) tuy không phải là một nghiên cứu về KSNB
nhưng kiểm sốt rủi ro tín dụng cũng là một phần trong KSNB. Luận văn đã
nêu ra cơ sở lý luận về kiểm sốt rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp,
từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm kiểm soát được rủi ro trong hoạt động cho
13
vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) - Chi nhánh
Đắk Lắk.
- Trần Thị Mỹ Lợi (2018) đã phản ánh khá đầy đủ các khái niệm cũng
như nội dung về KSNB nói chung và xây dựng các biện pháp hoàn thiện
KSNB trong khâu đầu tiên của hoạt động cho vay là thẩm định và xét duyệt.
Luận văn đã đáp ứng được mục tiêu đề ra của tác giả tuy nhiên công tác
thẩm định và xét duyệt mới chỉ là một phần trong công tác cho vay tại các
ngân hàng thương mại.
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu có liên quan trên đã góp phần hồn
thiện hệ thống KSNB trong ngân hàng và đã nêu lên được một số giải pháp
phù hợp với đối tượng khảo sát. Tuy nhiên những nghiên cứu đó vẫn chưa chú
trọng tới việc nhận diện rủi ro cụ thể trong từng giai đoạn, chủ yếu đang mơ tả
quy trình rồi đưa ra hạn chế, cịn thiếu phương pháp đánh giá tính hữu hiệu
của KSNB. Đặc biệt, cho đến nay vẫn chưa có một cơng trình nghiên cứu nào
cụ thể về KSNB hoạt động tín dụng KHDN tại Agribank CN Bắc Quảng
Bình, do đó đề tài nghiên cứu “Kiểm sốt nội bộ hoạt động tín dụng khách
hàng doanh nghiệp tại Agribank chi nhánh Bắc Quảng Bình” có tính cấp thiết
cả về mặt lý thuyết và thực tiễn.
14
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SỐT NỘI
BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1
Tổng quan về tín dụng khách hàng doanh nghiệp
Theo Lê Văn Tề (2009): Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa
Ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền
kinh tế) trong đó Ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử
dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách
nhiệm hồn trả vơ điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng (TCTD) khi đến
hạn thanh toán.
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam thơng qua thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ
chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo ngun tắc có hồn trả
bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho th tài chính, bao thanh tốn, bảo
lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Tín dụng doanh nghiệp là khoản tiền hoặc tài sản mà tổ chức tín dụng
cấp cho một doanh nghiệp sau khi đã đánh giá rủi ro của doanh nghiệp này và
doanh nghiệp sẽ nhận được một khoản tiền gốc lãi sau một thời gian nhất định
theo thỏa thuận.
15
Có nhiều cách định nghĩa, và tín dụng doanh nghiệp là một loại hình của
tín dụng ngân hàng, vì vậy tín dụng ngân hàng nói chung và tín dụng KHDN
nói riêng tựu trung lại đều chứa đựng ba nội dung sau:
+ Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang
người sử dụng.
+ Sự chuyển nhượng này có thời hạn.
+ Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro.
- Một số đặc điểm của tín dụng doanh nghiệp:
+ Đối với những doanh nghiệp lớn,quy mô các khoản vay lớn. Tại các
ngân hàng, số lượng KHDN vay ít hơn rất nhiều so với KHCN, và KHDN lớn
cũng chiếm phần ít trong tổng số KHDN, nhưng dư nợ của nhóm khách hàng
này lại chiếm tỉ trọng cao trong tổng dư nợ của các chi nhánh ngân hàng do
nhu cầu vay là lớn, thậm chí là rất lớn.
+ Lãi suất cho vay KHDN thấp hơn so với KHCN. Lãi suất có phần ưu
đãi hơn, tuy nhiên quy mô lớn và chiếm tỉ trọng cao trong tổng dư nợ nên vẫn
đáp ứng nhu cầu đề ra về chi phí và lợi nhuận của ngân hàng. Bên cạnh lợi
nhuận thu được từ việc cấp tín dụng cho đối tượng KHDN, ngân hàng cịn thu
được lợi ích từ các dịch vụ khác như bảo lãnh, tài trợ thương mại… từ các
doanh nghiệp này.
+ Các khoản vay của KHDN cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng độ rủi ro
thường thấp hơn KHCN bởi tình hình tài chính của các doanh nghiệp đều
được cơng khai minh bạch trên báo cáo tài chính. Tuy nhiên một khi xảy ra
rủi ro thì rủi ro sẽ rất lớn, hậu quả do rủi ro đem lại thường rất cao do quy mô
khoản vay KHDN lớn. Đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, do xuất phát
từ đặc điểm quy mô nhỏ nên bộ máy tổ chức hoạt động, diều hành thường đơn
giản, thiếu sự chặt chẽ dẫn tới việc chấp hành các quy định của nhà nước về
chế độ kế tốn tài chính cũng cịn nhiều bất cập.
16
1.1.2
a.
Phân loại tín dụng khách hàng doanh nghiệp
Dựa vào thời hạn cho vay
- Cho vay ngắn hạn: là cho vay với thời hạn dưới 01 năm. Loại hình cho
vay ngắn hạn này chủ yếu tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. Rủi ro
cho ngân hàng là khá nhỏ khi cho vay ngắn hạn, vì trong thời gian ngắn ít có
biến động xảy ra và nếu có ngân hàng cũng có thể dự tính được.
- Cho vay trung và dài hạn: là loại hình cho vay với thời gian từ 01 năm
trở lên, chủ yếu tập trung vào cho vay để đầu tư vào TSCĐ, cải tiến hoặc mua
sắm máy móc thiết bị mở rộng SXKD, dự án đầu tư có quy mơ lớn… Nhìn
chung, đối với ngân hàng, tín dụng dài hạn tiềm ẩn rủi ro lớn.
b.
Dựa vào phương thức cho vay
- Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng tiến hành
thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Phương thức này áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn khơng
thường xuyên, sản xuất kinh doanh theo thời vụ, thương vụ.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng (HMTD): là phương thức cho vay mà
ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một HMTD trong một
khoảng thời gian nhất định. HMTD được xác định trên cơ sở nhu cầu vay vốn
của khách hàng và khả năng đáp ứng của ngân hàng.
- Cho vay theo dự án đầu tư: là phương thức cho vay để thực hiện đầu
tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời
sống.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng thỏa
thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài
khoản thanh tốn của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và
NHNN Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán.
17
-
Cho vay theo HMTD dự phòng: là phương thức cho vay mà ngân hàng cam
kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi HMTD nhất
định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của
HMTD dự phịng, mức phí trả cho HMTD dự phòng.
c.
Dựa vào biện pháp bảo đảm tiền vay
- Cho vay có TSBĐ là khoản vay trên cơ sở được đảm bảo bằng tài sản
(bất động sản, động sản, chứng chỉ tiền gửi, hợp đồng tiền gửi, trái phiếu...).
Cho vay có TSBĐ được chia làm 2 loại:
Loại 1: cho vay có TSBĐ đã hình thành, thuộc sở hữu lâu dài của khách
hàng hoặc bên thứ ba. Đối với TSBĐ là động sản, bất động sản.. thì hình thức
bảo đảm là thế chấp, còn đối với TSBĐ là chứng chỉ tiền gửi, hợp đồng tiền
gửi, trái phiếu… hình thức bảo đảm là cầm cố.
Loại 2: cho vay có TSBĐ hình thành trong tương lai gồm: tài sản được
hình thành từ vốn vay, tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được
tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, tài sản đã hình
thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu nhưng sau thời điểm
giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của
pháp luật.
- Cho vay khơng có TSBĐ: Là cho vay dựa trên uy tín (tín chấp) hoặc
bảo lãnh của bên thứ ba, khơng có tài sản bảo đảm. Ngân hàng lựa chọn các
khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay. Ngân hàng cho khách
hàng vay tiền để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tín chấp lương,
chủ yếu được áp dụng đối với khách hàng có thu nhập ổn định, thu nhập
ngồi việc trang trải các chi tiêu thường xun cịn có một phần tích luỹ để trả
nợ vay (thuộc đối tượng là công chức, viên chức trong biên chế nhà nước,
nhân viên có hợp đồng lao động dài hạn,…), các cán bộ cơng nhân viên tại
các doanh nghiệp đang thanh tốn lương hay có quan hệ với ngân hàng; ngồi
18
ra thu nhập hình thành từ sản xuất kinh doanh cũng có thể được xem xét dùng
làm nguồn trả nợ. Hình thức này phù hợp với những khoản vay giá trị không
lớn, thời hạn vay ngắn.
1.1.3
Ý nghĩa của hoạt động tín dụng đối với ngân hàng
Hoạt động tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng. Hầu hết,
các ngân hàng lâm vào tình trạng tài chính khó khăn nghiêm trọng hoặc phá
sản thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng. Thơng qua hoạt
động tín dụng, ngân hàng mở rộng thêm các loại hình dịch vụ khác như thanh
tốn, huy động tiền gửi…. Từ đó đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, tăng
thêm lợi nhuận.
Hiện nay, xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam là nguồn cung
vốn cho các doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu từ ngân hàng chứ không đến từ
thị trường chứng khoán như một số nước phát triển khác, do đó các NHTM
Việt Nam với tư cách là một trung gian tài chính tiến hành cho vay dưới nhiều
hình thức khác nhau, thơng qua hoạt động cho vay đó thu về lợi nhuận vẫn
đang là lợi nhuận chiếm tỷ trọng cao nhất.
Hoạt động tín dụng hiện tại đang là hoạt động chủ yếu mang lại lợi
nhuận cho các NHTM Việt Nam, nếu các ngân hàng khơng kiểm sốt tốt hoạt
động tín dụng thì hoạt động kinh doanh sẽ rơi vào tình trạng khó khăn, thậm
chí là phá sản, do đó kiểm sốt tốt hoạt động tín dụng là vấn đề hàng đầu tại
các NHTM.
Mặc dù trong thời gian gần đây hoạt động tín dụng có xu hướng giảm
trên thị trường tài chính song tín dụng ngân hàng vẫn ln là nghiệp vụ mang
lại lợi nhuận quan trọng với ngân hàng.
1.1.4
Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối
với người cho vay khi đến hạn phải thanh tốn. Ln là người cho vay phải
19
chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng. Bất kỳ một hợp
đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, rủi ro ln đi kèm với
cơ hội, vậy nên rủi ro tín dụng trở nên khơng thể loại trừ, chỉ có thể tìm cách
hạn chế rủi ro về mức thấp nhất có thể.
Theo Thơng tư 02/2013/TT-NHNN, “Rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngồi do khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có
khả năng thực hiện một phần hoặc tồn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Từ sự khách quan trong rủi ro tín dụng khiến cho nó trở nên không thể
loại trừ mà chúng ta cần phải xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu
hiệu, hiệu quả.
Rủi ro tín dụng là rủi ro bao trùm đối với hoạt động tín dụng và rủi ro tín
dụng bắt nguồn từ nhiều rủi ro cụ thể có thể phát sinh trong từng bước, từng
giai đoạn của hoạt động tín dụng. Do vậy để đối phó tốt với rủi ro thì phải
nhận diện rõ các rủi ro cụ thể của từng bước, từng giai đoạn để đối phó, từ đó
mới có những biện pháp kiểm sốt hiệu quả rủi ro tín dụng.
1.2
TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.2.1
Khái niệm kiểm sốt nội bộ
Hiện nay có nhiều khuôn khổ KSNB được sử dụng ở nhiều quốc gia
khác nhau; tuy nhiên, có 2 khn khổ được chấp nhận khá phổ biến hiện nay
về KSNB, được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu và đánh giá KSNB tại
nhiều quốc gia: khuôn khổ KSNB theo khuôn khổ COSO là khn khổ chấp
nhận phổ biến nhất cho các loại hình doanh nghiệp và điển hình là cơng ty cổ
phần cơng chúng, không xem xét riêng lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh
20
doanh nào và khuôn khổ cho hệ thống KSNB trong ngân hàng do Ủy ban
Basel về giám sát ngân hàng ( là một ủy ban giám sát ngân hàng được thành
lập bởi thống đốc ngân hàng trung ương của G-10 năm 1974) phát hành.
Theo COSO (2013) được công bố dưới tiêu đề “Kiểm sốt nội bộ Khn khổ hợp nhất” đã định nghĩa về kiểm soát nội bộ như sau:
“Kiểm sốt nội bộ là một q trình bị chi phối bởi người quản lý, hội
đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một
sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:
. Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động.
. Sự tin cậy của báo cáo tài chính.
. Sự tuân thủ pháp luật và các quy định.”
Theo ủy ban Basel, KSNB là quá trình được thực hiện bởi hội đồng quản
trị (HĐQT), ban điều hành và toàn thể nhân viên. Đó khơng chỉ là một thủ
tục, một chính sách được thực hiện tại một thời điểm cố định mà tiếp diễn ở
tất cả các cấp trong ngân hàng. HĐQT và ban điều hành chịu trách nhiệm
thiết lập mơi trường văn hóa tạo thuận lợi cho q trình KSNB được hiệu quả
và việc theo dõi sự hiệu quả được diễn ra liên tục. Mỗi cá nhân trong tổ chức
phải tham gia vào q trình đó.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày
29/12/2011 quy định về Hệ thống KSNB và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi thì: “Hệ thống KSNB là tập hợp các
cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi được xây dựng phù hợp theo quy định
tại Thông tư này và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát
hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra.”
Hệ thống KSNB là một tập hợp các yếu tố, mỗi yếu tố có một chức năng
nhất định, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất để
21
thực hiện mục tiêu đối phó với rủi ro.
1.2.2
Mục tiêu của kiểm soát nội bộ
KSNB bao gồm các mục tiêu sau:
-Mục tiêu hoạt động: đảm bảo cho mọi tài sản, nguồn lực được bảo vệ,
tránh tình trạng thất thốt, gian lận nhằm đảm bảo cho tài sản, nguồn
lực ấy được sử dụng hiệu quả nhất.
-Mục tiêu thông tin: bảo đảm thông tin phải đáng tin cậy, phù hợp, đầy
đủ và kịp thời.
-Mục tiêu tuân thủ: đảm bảo mọi hoạt động của ngân hàng đều tuân
theo quy định của pháp luật và của ngân hàng nhà nước, cũng như
tuân theo các chính sách, quy trình do ngân hàng đề ra.
1.2.3
Hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống KSNB là một tập hợp các yếu tố, mỗi yếu tố có một chức năng
khác nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất để
thực hiện mục tiêu đối phó hiệu quả với rủi ro, bảo đảm thực hiện các mục
tiêu của đơn vị.
Hiện nay, hệ thống KSNB gồm 05 thành phần sau:
-Mơi trường kiểm sốt: là nền móng của hệ thống KSNB, bao gồm: đặc
điểm của nhà quản lý, chức năng giám sát của cơ quan cấp trên, cơ
cấu tổ chức, đạo đức và tính chính trực, năng lực, thúc đẩy sự chịu
trách nhiệm
-Đánh giá rủi ro: là việc nhận diện được rủi ro, chỉ ra tất cả các rủi ro
22
liên quan đến hoạt động tín dụng, từ đó đánh giá tầm quan trọng của
rủi ro và xác định mức rủi ro có thể chấp nhận được, sau đó tìm ra
cách thức để đối phó với rủi ro ấy.
-Hoạt động kiểm sốt: chỉ những hoạt động, chính sách tác động trực
tiếp làm giảm rủi ro thì mới là hoạt động kiểm sốt.
-Thơng tin và trao đổi thơng tin: thơng tin là dữ liệu đầu vào bắt buộc,
còn việc trao đổi thơng tin chỉ mang tính chất hỗ trợ để nắm bắt
thơng tin một cách kịp thời, chính xác nhằm tạo điều kiện cho các
thành viên thực hiện nhiệm vụ.
-Hoạt
động giám sát: là việc giám sát tính hữu hiệu của hệ thống
KSNB, kiểm tra xem hệ thống KSNB ấy có cịn hữu hiệu hay
khơng, nếu yếu kém thì phải tìm biện pháp khắc phục.
1.3
KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.3.1
Mục tiêu của kiểm sốt nội bộ đối với hoạt động tín dụng
khách hàng doanh nghiệp trong ngân hàng thương mại
Mục tiêu của KSNB đối với hoạt động tín dụng KHDN trong các NHTM
ở Việt Nam hiện nay như sau:
- Rủi ro trong hoạt động tín dụng được hạn chế đến mức thấp nhất có
thể, nhằm ngăn ngừa được thất thốt tài sản, thu hồi vốn về cho ngân hàng,
trích lập dự phịng ở mức cho phép.
- Các thơng tin cần thiết được cung cấp kịp thời, chính xác giúp cho việc
ra quyết định tín dụng đúng đắn, chất lượng.
23
- Bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật và nhà nước trong hoạt
động tín dụng KHDN.
1.3.2
Quy trình hoạt động tín dụng đối với khách
hàng doanh nghiệp
Quy trình hoạt động tín dụng là một tập hợp các nguyên tắc, quy định
của ngân hàng trong việc cấp tín dụng cho khách hàng, bao gồm các bước
phải tiến hành từ khi bắt đầu đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng. Đây là một
quy trình gồm nhiều bước liên hồn, theo một trật tự nhất định và có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nhìn chung quy trình tín dụng của các NHTM đều gồm các giai đoạn
sau:
24
Lập hồ sơ tín dụng Phân tích TD
Quyết định TD
Giải ngân Giám sát và thu nợ Thanh lý HĐTD
Sơ đồ 1.1: Quy trình tín dụng
Bước 1: Lập hồ sơ tín dụng: CBTD triển khai tiếp xúc khách hàng để tìm
hiểu và nắm bắt thông tin về nhu cầu vay vốn của khách hàng, tư vấn về thời
hạn khoản vay, số tiền vay, phương thức trả lãi và gốc hàng kỳ, tài sản đảm
bảo,… và hướng dẫn khách hàng chuẩn bị các giấy tờ pháp lý và thủ tục cần
thiết để hoàn thành hồ sơ vay vốn. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, CBTD kiểm tra
tính hợp pháp hợp lệ của bộ hồ sơ mà khách hàng cung cấp.
Bước 2: Phân tích tín dụng: phân tích khoản vay dựa trên cơ sở thơng
tin, hồ sơ vay vốn, tài liệu có liên quan, thu thập thông tin và xem xét khả
năng đáp ứng các điều kiện vay vốn của khách hàng, từ đó đánh giá năng lực
pháp luật dân sự của khách hàng, đánh giá nguồn trả nợ chính, sự khả thi của
phương án vay vốn…
Bước 3: Quyết định tín dụng: Dựa trên kết quả thẩm định và tờ trình đã
được lập, CBTD trình hồ sơ cho ban tín dụng các cấp theo mức phê duyệt
quy định (trường hợp các tiêu chí xét cấp tín dụng có tiêu chí rơi vào nhóm
hạn chế). Khi có kết quả phê duyệt, nếu ngân hàng chấp nhận hoặc từ chối
cấp tín dụng đều phải thơng báo cho khách hàng bằng văn bản.
Bước 4: Giải ngân: CBTD lập hợp đồng tín dụng, khách hàng tiến hành
ký hợp đồng tín dụng với trưởng đơn vị. CBTD tiến hành tạo tài khoản tiền
vay cho khách hàng và lập phiếu yêu cầu giải ngân.
Bước 5: Giám sát và thu nợ Trong thời gian vay, CBTD định kỳ hoặc bất
thường tiến hành kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn đúng mục đích
hay khơng.
25
Bước 6: Thanh lý HĐTD
HĐTD được thanh lý sau khi khách hàng hoàn thành hết việc trả nợ gốc,
lãi và các nghĩa vụ phát sinh đã được giao kết trong hợp đồng.
Đối với các khách hàng vay vốn có tài sản bảo đảm, sau khi HĐTD được
thanh lý nếu khách hàng khơng có nhu cầu tiếp tục vay vốn thì thực hiện giải
chấp và bàn giao tài sản lại cho khách hàng.
1.3.3. Các rủi ro trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp
Rủi ro là những nguy cơ làm cho mục tiêu của đơn vị không được thực
hiện. Mọi tổ chức đều có rủi ro. Rủi ro xảy ra tại các bước khác nhau của quy
trình là khác nhau. Do đó để đối phó tốt với rủi ro tín dụng (hay cịn gọi là rủi
ro bao trùm) thì phải nhận diện rõ rủi ro của từng bước để đối phó.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh
doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm
ẩn nhiều rủi ro lớn. Từ những thống kê và nghiên cứu trước đây cho thấy, rủi
ro trong hoạt động tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân
hàng. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân
hàng, các ngân hàng có xu hướng giảm thu nhập từ hoạt động tín dụng xuống
và tăng nguồn thu từ hoạt động dịch vụ lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn
chiếm hơn 2/3 thu nhập ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi
ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất của ngân hàng.
Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013
Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng
rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là
tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngồi do khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng