Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

Tiểu luận Thực trạng giáo dục giới tính cho sinh viên khoa Lý–Hóa-Sinh trường đại học Quảng Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (214.64 KB, 26 trang )

A-MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn đổi mới hiện nay của đất nước, việc coi trọng chất lượng cuộc
sống của con người Việt Nam đã và đang trở thành mục tiêu, động lực của chiến
lược phát triển kinh tế xã hội. Đảng ta luôn luôn đề cao nhân tố con người, nghị
quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trương ương Đảng khoá VIII đã khẳng
định: " Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là xây dựng những con người và
thế hệ thiết tha gắn bó với ý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức
trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng va bảo vệ tổ quốc; cơng nghiệp hố, hiện
đại hố đất nướ ; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hố của dân tộc, có năng lực
tiếp thu tinh hoa văn hố nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc Việt Nam; có
sức khoẻ, là người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên như
lời dặn của Bác Hồ " .
Khi đó, sinh viên là một lực lượng to lớn và là những chủ nhân tương lai của
đất nước. Bởi vậy, thực hiện cơng tác chăm sóc, giáo dục sức khoẻ sinh sản, giáo
dục giới tính cho sinh viên không chỉ liên quan trực tiếp đến sự phát triển của mỗi
con người mà còn ảnh hưởng đến sự tồn vong của dân tộc. Tuy nhiên, với cuộc
sống sinh viên xa nhà, thỏa mái, tự do, không bị kểm sốt bởi cha mẹ khiến nhiều
bạn sinh viên khơng làm chủ được bản thân. Bên cạnh những bạn sinh viên tốt, cố
gắng nỗ lực vươn lên trong học tập thì cịn một bộ phận khơng nhỏ mải mê với
những trị vơ bổ, những lối sống bng thả,…
Cuộc sống tự lập nơi đất khách quê người, thiếu thốn tình cảm lại ở chung với
nhau trong một môi trường, một khuôn viên nên giữa các cô cậu sinh viên đã nảy
sinh ra những mối tình nên thơ, lãng mạn. Nhiều sinh viên coi tình yêu là động lực
thúc đẩy họ thăng tiến trong học tập, niêm an ủi, chỗ dựa tinh thần. Nhưng cũng có
nhiều sinh viên xem tình u như một trị vui qua ngày với quan niệm tình dục là
cái đích của tình u hay học tập bình thường, ăn uống khẩn trương, yêu đương
thỏa mái… Bên cạnh đó, sự du nhập của các nền văn hóa phương tây khiến các bạn
trẻ không chỉ được tiêp xúc với sự đa dạng của nó mà nhiều bạn đã bị ảnh hưởng
khơng ít bởi chính nền văn hóa “lai căng ”. Các bạn đã quên mất đi nền văn hóa
truyền thống để thay vào đó là lối sống bng thả nên chuyện nạo phá thai đang trở


thành vấn đề cơm bữa của một số sinh viên hiện nay, mà nguyên nhân chủ yếu là
do sự thiếu hiểu biết về giới tính – sức khỏe sinh sản (SKSS).
Theo ông Đào Văn Dũng-Vụ trưởng Vụ các vấn đề xã hội, Ban Tuyên giáo
TƯ, hiện nay tỉ lệ nạo phá thai ở độ tuổi vị thành niên của Việt Nam khá cao,
chiếm khoảng 20% trong tổng số ca nạo phá thai hằng năm (khoảng 300.000 ca).
Tỷ lệ nạo phá thai ở độ tuổi vị thành niên vẫn cao nhất so với các nước Đông Nam
Á. Ngoài ra, Việt Nam cũng là 1 trong 5 quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế
giới. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới trong đó
giáo dục giới tính cịn nhiều hạn chế. Nhiều mơ hình tập huấn cho trẻ vị thành niên
về các biện pháp tránh thai hiện nay cho thấy, chúng ta giới thiệu còn rất khiêm
tốn, chưa đáp ứng được nhu cầu trong vấn đề giáo dục, tun truyền về giới tính,
tình dục an tồn… tới trẻ vị thành niên. Cũng theo thống kê trong những năm gần
đây của Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy, tỷ lệ nạo phá thai vị thành niên


tại Việt Nam không ngừng gia tăng. Mỗi năm cả nước có khoảng 1,2 triệu đến 1,6
triệu ca nạo phá thai; trong đó 20% là ở lứa tuổi vị thành niên và khoảng 15% đến
20% số ca nạo phá thai là của thanh niên chưa lập gia đình, số thanh niên có quan
hệ tình dục trước hơn nhân tăng. Thực tế này phản ánh tình trạng nhiều bạn trẻ
thiếu kiến thức cơ bản về tình dục, sức khỏe sinh sản dẫn đến những hệ lụy khôn
lường về tâm lý, thể chất và dẫn đến nguy cơ vơ sinh. Do đó, biện pháp hiệu quả
nhất là truyền thông giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe sinh sản, giáo dục tình
dục cần phải được đi trước một bước để trẻ vị thành niên, đặc biệt là trẻ gái nhận
thức đúng vấn đề này, thậm chí phải giáo dục làm sao để các bạn hiểu và phân biệt
thế nào là tình yêu, hôn nhân… và biết cách sử dụng các biện pháp tránh thai.
Là người giáo viên trong tương lai, việc nhận thức và hiểu biết của các bạn
ngành sư phạm về giáo dục giới tính (GDGT) là hết sức cần thiết và có ý nghĩa
quan trọng trong cơng tác giáo dục. Bởi vì họ khơng chỉ là đối tượng của cơng tác
GDGT mà còn là chủ thể của hoạt động này cho các em học sinh sau này. Là sinh
viên năm 2, đã trải nghiệm cuộc sống sinh viên, được tiếp cận với cách thức

GDGT ở trường đại học, vậy các bạn đã trang bị đủ cho mình kiến thức về GDGT
chưa, có thấy được sự khác biêt giữa cơng tác GDGT ở bậc đại học so với THPT
hay khơng... Chính vì vậy chúng tơi chọn đề tài: “Thực trạng giáo dục giới tính
cho sinh viên khóa K14 khoa Lý–Hóa-Sinh trường đại học Quảng Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn nhằm đánh giá thực trạng
GDGT. Từ đó đề ra các biện pháp có tính khoa học góp phần nâng cao hiệu quả
của việc GDGT cho sinh viên trong khoa nói riêng và sinh viên tồn trường nói
chung.
3. Phạm vi nghiên cứu
-Vấn đề GDGT
-Sinh viên khóa K14
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
-Đối tương nghiên cứu: Thực trang GDGT cho sinh viên khóa K14
-Khách thể nghiên cứu: Q trình giáo dục ở khoa Lý-Hóa-Sinh trường ĐH
Quảng Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu nhập tài liệu có liên quan đen đề tài nghiên cứu như: sách, báo, các tài
liệu khoa học,…
-Phương pháp điều tra chọn mẫu
Phát khoảng 200 mẫu điều tra chia đều cho các lớp:sinh 01, sinh 02, lý 01, lý
02, bảo vệ thực vật khóa K14.
-Phương pháp trị chuyện
Tiến hành trao đổi, nói chuyện với các bạn sinh viên về vấn đề liên quan đến
GDGT.
-Phương pháp điều tra-hỏi


Hỏi-đáp với giáo viên - cán bộ của khoa về vấn đề tổ chức GDGT ở khoa hiện

nay, phương hướng và cách thức nâng cao hiệu quả GDGT cho sinh viên trong thời
gian tới.


B-NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề GDGT
1. Lịch sử nghiên cứu
Ngay từ thời Cổ đại, giới tính đã dược quan tâm tìm hiểu, tuy rằng rất thơ sơ
và mang màu sắc cảm tính, mê tín. Từ thời kỳ xa xưa của văn minh lồi người, giới
tính đã được đề cập đến bằng một hệ thống thần thoại cổ đại và các khảo luận về
tình yêu như Kinh “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidius,
“Chuỗi ngọc của người yêu” của Hazma, “Phaedr” và “Bữa tiệc” của Platon…
Trong đó các tác giả“ khơng những đặt cơ sở các chuẩn mực về đạo đức và tôn
giáo cho tình u, mà cịn cung cấp những kiến thức về sinh học và tâm lí học tình
dục”.
Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các đề tài nghiên cứu giới tính được
mở rộng hơn… Cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học J.
Bachocen (Thuỵ Sỹ), J. Mac Lennan (Anh), E.Westermach (Phần Lan), Lewis
Henry Morgan Mĩ), X.M. Kovalevxki (Nga)… không những đã gắn sự phát triển
quan hệ tính dục với các dạng hơn nhân và gia đình, mà cịn gắn cả với yếu tố khác
của chế độ xã hội và văn hoá.
Vấn đề tổ chức hoạt động giáo dục giới tính ở Việt Nam trong thời gian gần
đây đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý, các tổ chức chính trị - xã hội quan
tâm nghiên cứu.
Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương
trình chính khố và ngoại khố nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức về
khoa học giới tính, về hơn nhân gia đình và ni dạy con cái.”. Bộ Giáo dục đã đưa
ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong tồn bộ hệ thống

trường học các cấp và các ngành học của cả nước. Năm 1975, Bộ Đại học và trung
học chuyên nghiệp đã phối hợp với cơng đồn đại học tổ chức hội thảo về giáo dục
giới tính cho sinh viên các trường đại học; tổ chức hai lớp tập huấn về giáo dục
giới tính cho một số cán bộ Đồn, cán bộ tuyên huấn, cán bộ giáo vụ các trường
đại học và trung học chuyên nghiệp ở các tỉnh phía bắc tại Hà Nội và các tỉnh phía
nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua tập huấn mọi người đều nhận nhận thức phải
nhanh chóng đưa GDGT vào nhà trường, cung cấp cho thanh niên, sinh viên những
ý kiến về đặc điểm tâm-sinh lí giới tính về hơn nhân và gia đình, chuẩn bị cho họ
hành trang bước vào đời.
Từ năm 1985, những cơng trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về
tình u, hơn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố. Các tác giả Đặng Xuân Hoài,
Trần Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc
Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều
khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính. Những cơng trình này đã nêu
lên nhiều vấn đề rất phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở
Việt Nam. Cơng trình nghiên cứu các dự án VIE/88/P09, VIE 88/P11... cấp quốc
gia do tổ chức PATH CANADA tài trợ cùng nhóm nghiên cứu là các nhà khoa học
tầm cỡ của Việt Nam đã xem xét việc giáo dục giới tính là vấn đề mấu chốt của


đức dục đối với tuổi vị thành niên nói chung và sinh viên nói riêng được triển
khai thực nghiệm từ thập niên 1980 và chính thức đưa vào thực hiện rộng rãi trong
các trường từ năm học 1990-1991 đã mở ra một bước ngoặc quan trọng trong
việc nghiên cứu, quy hoạch, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo
viên ở các cơ sở giáo dục trực tiếp làm cơng tác giáo dục giới tính có phẩm chất, có
năng lực trình độ chun mơn nhất định, có tầm nhìn trong lĩnh vực này nhằm đáp
ứng kịp thời cho sự nghiệp ''trồng người''.
Giáo dục giới tính bao hàm những tri thức về mối quan hệ giữa sự phát triển
tình dục và nhân cách, thể chất và tinh thần của trẻ em và thanh thiếu niên thơng
qua các hình thức: lồng ghép vào một số mơn văn hóa, sinh hoạt nội khóa, sinh

hoạt ngoại khóa bằng phương pháp dạy học tích cực và việc trao đổi kinh nghiệm
giáo dục để tìm ra những giải pháp tốt nhất cho việc giáo dục giới tính trong nhà
trường.
Các tác giả, các nhà nghiên cứu giáo dục, các chuyên gia đầu ngành trong
và ngồi nước đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tính trong
nhà trường, về vai trò của các nhà giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục như:.
- Dự án VIE/97/P12 đã nghiên cứu về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên (SKSS-VTN) cho rằng: ''Vị thành niên và thanh niên là một giai đoạn trong
cuộc đời con người. Lớp thanh niên này được thông tri giáo dục về SKSS -VTN sẽ
trưởng thành lên người lớn. Lại có một lớp VTN mới cần được thơng tin giáo dục
về SKSS - VTN. Và vì vậy, nhu cầu về thông tin giáo dục cho vị thành niên là một
nhu cầu thường xuyên, liên tục.''
- Dự án VIE/88/P10 đã nghiên cứu về kiến thức y học liên quan đến giới tính.
Đặc biệt là giáo dục sức khỏe sinh sản trong thanh niên.
- Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục
đời sống gia đình và giới tính cho học sinh đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực
hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của
Giáo sư Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, đề án đã được tiến hành rất
thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về
tình bạn, tình u, hơn nhân, nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo
viên, học sinh,sinh viên, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến
hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thơng từ lớp 9 đến bậc đại học.
- Tác giả J.P.MA-SƠ-LÔ-VA (Tiệp Khắc) đã nghiên cứu các vấn đề về giới
tính cho rằng: ''Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tự
lần mị tìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động,
không biết khi nào cần nói và nói như thế nào. Thế hệ trẻ ngày nay khác rất xa thế
hệ chúng ta. Vì vậy phải dẫn dắt họ theo kiểu khác. Mục đích của tồn bộ chương
trình giáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành không chỉ là trang bị
kiến thức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng là xây dựng những quan

niệm đúng đắn về vai trị, trách nhiệm của người đàn ơng và phụ nữ trong cuộc
sống vợ chồng, trong gia đình và trong xã hội.”- sách “giới tính tuổi hoa”
- Tác giả Nguyễn Quang Dương cho rằng:'' Trở ngại lớn trong việc giáo dục
giới tính trẻ vị thành niên là do thầy cơ và cha mẹ thường chỉ chú trọng việc giáo


dục bằng sức ép từ trên dội xuống và tác động một chiều, khơng cởi mở, thiếu lắng
nghe. Điều đó càng tạo thêm hố sâu, khoảng cách giữa thầy cô, cha mẹ và con cái,
làm giảm thiểu (có khi phản tác dụng) về hiệu quả giáo dục... Chính vì vậy, mà
việc liên kết giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong vấn đề này là vô cùng quan
trọng.” - tạp chí phát triển giáo dục số 165.
Năm 2003, Võ Bình Dũng với luận văn thạc sĩ mang tên " Một số biện pháp
phối hợp giữa trường cao đẳng sư phạm Quảng Nam và Đoàn thanh niên tỉnh trong
việc giáo dục giới tính cho sinh viên"
- Tác giả Võ Hưng, tại hội thảo khoa học ''Đề xuất và thử nghiệm giải pháp
đưa giáo dục giới tính vào trường trung học tại Tp. HCM'' khẳng định: ''Các bậc
cha mẹ cần hiểu rõ mục đích giáo dục giới tính là giúp con em biết tự tin, tự trọng
và tự bảo vệ để sau này trở thành người có trách nhiệm với xã hội, biết tôn trọng
nhau trong quan hệ nam nữ, tạo điều kiện để xây dựng cuộc sống hạnh phúc'' - báo
giáo dục và thời đại số 37-2004.
Ngồi ra, cịn nhiều tác giả, nhiều cơng trình nghiên cứu được cơng bố trên
các tập san chuyên nghành như: nghiên cứu giáo dục, giáo dục phổ thơng,... Những
cơng trình này thực sự nghiên cứu những mảng đề tài hết sức thiết thực, cụ thể
trong công tác quản lý, xây dựng đội ngũ làm cơng tác giáo dục giới tính trong các
trường phổ thơng, đặc biệt là bậc đại học.
2. Một số khái niệm
2.1 Giáo dục
Giáo dục là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có
tổ chức thơng qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục với người được
giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của

loài người.
Giáo dục là hoạt động có mục đích, có tổ chức, có ý thức và phát triển cao chỉ
riêng biệt có trong xã hội lồi người, nhờ đó giúp cho con người trở thành chủ thể
nhận thức, cải tạo, sáng tạo cả thế giới, đồngng thời nhận thức, cải tạo và sáng tạo
chính bản thân mình.
Giáo dục cịn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định
được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của
các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân
cách. Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt động như báo
cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… được tổ chức ngoài giờ lên
lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách
của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục.
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta luôn luôn xác định “Giáo dục là quốc sách
hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển”, “giáo dục là chìa
khóa mở cửa tiến vào tương lai”…Từ việc xác định vị trí của giáo dục trong xã hội
như vậy cho thấy giáo dục đóng vai trị quan trọng trong xã hội, là yếu tố quan
trong quyết định sự tồn tại, phát triển của một đất nước, một quốc gia. Chính vì xác
định vị trí đó của giáo dục mà Đảng và nhà nước ta luôn luôn quan tâm và đầu tư
cho giáo dục, tỷ lệ % ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng cao hàng năm.


Thực tế cho thấy những quốc gia, đất nước nào đầu tư cho giáo dục nhiều thì quốc
gia đó có sự phát triển về kinh tế, xã hội.
Trong xã hội hiện nay vị trí vai trị của giáo dục càng được coi trong. Khi lồi
người đang cịn tồn tại thì giáo dục luôn là yếu tố để thúc đẩy sự phát triển của xã
hội lồi người, vị trí của giáo dục luôn luôn được xem trọng và mãi mãi chiếm vị
trí hàng đầu trong xã hội.Như vậy: Giáo dục ln luôn chịu sự chế ước của xã hội,
và ngược lại giáo dục cũng luôn là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đóng vị
trí quan trọng trong xã hội.
2.2 Giới tính

Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sử
dụng lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như: giới, tính dục, tình dục, sinh dục…
Nhiều người thường quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc với tính
dục. Đó là quan niệm chưa thật sự đầy đủ, chỉ hiểu một cách đơn giản hoặc hiểu về
một mặt nào đó của giới tính.
Giới tính cần được hiểu một cách tồn diện hơn:
- Trước hết, theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm
của giới. Những đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng. Vì giới vừa bao
gồm những thuộc tính về sinh học và những thuộc tính về tâm lí xã hội, nên giới
tính cũng bao gồm những đặc điểm về sinh lí cơ thể và tâm lí xã hội.
- Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặc
trưng của giới, giúp cho chúng ta phân biệt giới này với giới kia. Những đặc điểm
trên thường mang đặc trưng của từng giới và tạo nên sự khác biệt giữa hai giới.
Giới tính là những yếu tố xác định sự khác biệt giữa giới này và giới kia. Có thể
định nghĩa, giới tính là tồn bộ những đặc điểm ở con người, tạo nên sự khác biệt
giữa nam và nữ.
Trong đời sống con người, hai giới không thể tồn tại độc lập mà ln tác động
đến nhau, có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Sự quan hệ này bị chi
phối bởi nhiều đặc điểm về sinh lí, về tâm lí ở mỗi người, bởi những đặc điểm về
văn hố, chính trị, phong tục tập qn của xã hội, trong đó có các đặc điểm đặc
trưng của mỗi giới. Từ đó lại hình thành nên nhiều yếu tố mới, hiện tượng mới
trong đời sống giới tính như: Sự giao tiếp giữa hai giới, quan hệ bạn khác giới,
quan hệ tình u, hơn nhân…Đời sống giới tính của con người rất phong phú và đa
dạng. Đó là những hiện tượng tâm lí và sinh lí nảy sinh trong đời sống của mỗi
người, trong mối quan hệ giữa người này với người kia, trong cuộc sống chung của
mỗi người, trong sự tồn tại của xã hội. Đời sống giới tính là một tổng hợp phức tạp
các hiện tượng tâm lí và sinh lí có liên quan đến mỗi giới, là mọi yếu tố, mọi mặt
hoạt động, mọi mối quan hệ… trong đời sống của con người, trong đời sống xã hội
lồi người. Đời sống giới tính là tồn bộ những hiện tượng về mặt sinh lí cơ thể
xuất hiện trong con người có liên quan đến hệ cơ quan sinh dục (đời sống tính

dục), những hiện tượng tâm lí đặc trưng ở mỗi giới, những hiện tượng tâm lí người
trong mối quan hệ với người khác giới (tình bạn khác giới, tình yêu… ), những
hiện tượng trong đời sống xã hội như hơn nhân, gia đình…Gần đây cịn xuất hiện
những biểu hiện phức tạp hơn của đời sống giới tính như: các quan điểm yêu


đương ngồi hơn nhân, tình dục ngồi hơn nhân, tình bạn và sự giao tiếp giữa
những người khác giới…
Như vậy, khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ, tồn diện
về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hơn nhân và gia đình, tình yêu và
tình bạn, sự giao tiếp nam nữ…
2.3 Giáo dục giới tính
Giáo dục giới tính là một lĩnh vực rất phức tạp. Có nhiều quan điểm, nhiều ý
kiến khác nhau về vấn đề này.
Theo A.G.Khrivcova, D.V.Kolexev: “GDGT là một quá trình hướng vào việc
vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng như khuynh hướng
phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với
người khác”.
GDGT là một bộ phận hữu cơ của phức hợp các vấn đề giáo dục nhân cách,
giáo dục con người mới, con người phát triển tồn diện, kết hợp một cách hài hịa
sự phong phú về tinh thần, sự thuần khiết về đạo đức và sự hoàn thiện về thể xác.
Theo A.X.Makarenko: “khi giáo dục cho đứa trẻ tính ngay thẳng, khả năng làm
việc, tính chân thật, tơn trọng người khác, tơn trọng những cảm xúc và hứng thú
của họ là chúng ta đã đồng thời giáo dục nó về quan hệ giới tính”.
Giáo dục giới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động tồn diện đến tâm lí, đạo
đức con người, là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh
vực thầm kín của đời sống con ngưịi, hình thành những quan niệm đạo đức lành
mạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế
có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của người học.
Theo giáo sư Phạm Hoàng Gia, giáo dục giới tính phải được xem xét như

một bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội. Nó có mối quan hệ mật thiết với
giáo dục dân số, kế hoạch hố gia đình, hơn nhân - gia đình và với các mặt giáo
dục khác trong nhà trường phổ thông. Do vậy cần phải tiến hành cơng tác giáo dục
giới tính một cách đồng thời, đồng bộ trong mối quan hệ có tính chất hệ thống với
các mặt giáo dục khác.
Ngồi ra còn rất nhiều quan niệm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về
tâm lí học giới tính. Có thể nói rằng, giáo dục giới tính phải gắn liền với giáo dục
đạo đức, tư tưởng và phải tiến hành trên cơ sở của giáo dục đạo đức tư tưởng. Giáo
dục giới tính cũng phải gắn bó mật thiết với các mặt giáo dục khác trong nền giáo
dục toàn diện. Từ những quan niệm trên, PGS.TS. Bùi Ngọc Oánh đã kết luận:
“Giáo dục giới tính là q trình giáo dục con người (thanh thiếu niên), nhằm làm
cho họ có nhận thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính,
có nếp sống văn hố giới tính, hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện để phát
triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính, giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất
cuộc sống riêng cũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển.
3. Nguyên tắc GDGT
- Tính khoa học: Việc GDGT phải dựa trên cơ sở khoa học vững chắc,
khơng được mang tính chất chủ quan của cá nhân.
- Tính tư tưởng: GDGT phải kết hợp với giáo dục đạo đức công dân và phải
thiết lập mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội với mục đích và phương tiện GDGT.


- Tính hiện thực: Việc GDGT phải xây dựng trên cơ sở hiểu biết thực tế về
sự phân hóa giới tính, về những khác biệt giới tính và tình dục của con người.
- Tính tích cực: kết hợp giữa chủ đạo định hướng của các nhà sư phạm với
chủ động tích cực nhận thức của người học
- Tính chân thật: Ln nói sự thật và chỉ nói sự thật một cách phù hợp với
lứa tuổi và khả năng nhận thức của từng người
- Tính thuần khiết: Địi hỏi khơng được quy rút giới tính chỉ về mặt đạo đức
của nó, nhưng phải chống lại thái độ tầm thường, vô liêm sỉ hoặc khêu gợi dục tính

khi trình bày các tài liệu về giới tính và các mối quan hệ của hai giới.
- Tính thành thục: Người dạy phải ln tự nhiên và thoải mái, không bị xấu
hổ, không tạo ra những tình huống căng thẳng cho cả người học và bản thân mình.
Việc giáo dục giới tính cho thanh niên học sinh là vấn đề quan trọng, cần
thiết. Tuy nhiên cũng là một lĩnh vực phức tạp và tế nhị. Vì vậy, ngồi việc phải
đảm bảo những ngun tắc chung trên cần phải chú ý thêm những vấn đề sau đây:
- Giáo dục giới tính phải gắn liền với giáo dục đạo đức, giáo dục nhân
cách, hình thành thế giới quan khoa học. Giáo dục giới tính phải gắn liền với việc
giáo dục và hình thành nếp sống sinh hoạt lành mạnh, lối sống văn hoá văn minh.
Cần phải xác định rằng, đó là một trong những mục tiêu cơ bản của giáo dục giới
tính.
- Giáo dục giới tính phải được thực hiện một cách toàn diện cả về sinh lí
giới tính, tâm lí giới tính, thẩm mĩ giới tính, xã hội giới tính. Khơng nên chỉ tập
trung vào những vấn đề sinh lí tính dục mà coi nhẹ các vấn đề tâm lí xã hội giới
tính.
- Phải kết hợp việc giảng dạy tri thức khoa học với việc hình thành thái
độ đúng đắn. Khi giảng dạy những “vấn đề nhạy cảm”, không nên chỉ tập trung mô
tả các sự kiện, hiện tượng một cách “trần trụi”, “sống sượng”, mà cần chú ý kết
hợp với việc hình thành ý thức đạo đức, phê phán những biểu hiện sai trái.
- Phải kết hợp việc truyền thụ những tri thức lí luận với những kiến thức
thực tiễn nhất là những vấn đề thực tiễn trong đời sống sinh hoạt của thanh niên,
học sinh.
- Giáo dục giới tính phải được thực hiện một cách phù hợp với đặc điểm
tâm sinh lí của lứa tuổi, của lớp học, của yêu cầu giáo dục đặc trưng thích hợp với
đối tượng, phải phù hợp với phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương.
4. Mục đích, nhiệm vụ, nội dung GDGT
4.1 Mục đích giáo dục giới tính
Mục đích GDGT là nhằm hình thành ở người học sự hiểu biết đúng đắn về
bản chất các tiêu chuẩn và tâm thế đạo đức trong lĩnh vực quan hệ giữa hai giới và
nhu cầu hành động theo các tiêu chuẩn và tâm thế đó trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt

động.
Điều đó có nghĩa là GDGT làm cho người học:
- Hiểu được ý nghĩa xã hội chứa đựng trong các quan hệ giữa mình với người
khác giới.


- Biết cách tìm được lối giải quyết đúng đắn các vấn đề đạo đức cụ thể, xuất
hiện trong các lĩnh vực, các quan hệ theo tinh thần của đạo đức xã hội
- Kiên định trước ảnh hưởng của tư tưởng cổ vũ cho tính phóng đãng về tình
dục và thái độ hưởng thụ đối với người khác giới, coi thường các giá trị đạo đức.
4.2 Nhiệm vụ giáo dục giới tính
- Hình thành và trang bị cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học, thái độ và
quan niệm đúng đắn về những hiện tượng của đời sống giới tính, sinh lí tính dục,
về cấu trúc và chức năng của các hệ cơ quan của cơ thể, nhất là hệ cơ quan sinh
dục; về sự cư xử đúng đắn, về những vấn đề đạo đức giới tính, thẩm mỹ giới tính,
tình u, hơn nhân và đời sống gia đình…
- Giúp cho các bạn có bản lĩnh vững vàng bước vào đời sống xã hội, biết bảo
vệ, giữ gìn sức khoẻ cho người bạn và cho chính mình, có khả năng chống chọi lại
những cạm bẫy, quyến rũ của lối sống ăn chơi đồi truỵ, biết phê phán, bác bỏ
những quan niện khơng đúng về tình u, tình dục, quan hệ tình dục q sớm hoặc
bng xi, cả nể, dẫn tới quan hệ tình dục bừa bãi, yêu nhau, bỏ nhau quá dễ
dàng.
- Giúp cho các bạn biết trân trọng và bảo vệ những giá trị cao cả và thiêng
liêng của tình bạn thân thiết và gắn bó, của tình yêu sâu nặng và chung thuỷ, biết
được cái hay cái đẹp của nếp sống văn hoá văn minh.
- Chuẩn bị về tinh thần và khả năng thực tiễn cho thế hệ trẻ, giúp cho họ
phát triển nhân cách toàn diện, biết cách tổ chức và xây dựng cuộc sống gia đình
hạnh phúc, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng và thúc đẩy xã hội
phát triển, giàu mạnh.
Tóm lại, nhiệm vụ của giáo dục giới tính bao gồm cả việc truyền thụ tri

thức về giới tính, về mối quan hệ nam nữ và các mối quan hệ khác (với người lớn,
với gia đình, xã hội, bản thân…) và cả việc giáo dục những phẩm chất đạo đức,
những hành vi cư xử với mọi người, nhất là làm cho các em biết được những hành
vi tốt và xấu, đúng và sai trong quan hệ với người khác giới, những tri thức và
quan niệm đúng đắn về đời sống giới tính của con người.
4.3 Nội dung giáo dục giới tính
Nội dung GDGT cho sinh viên phải đảm bảo cung cấp những kiến thức cơ
bản về tình dục học, về tình bạn, tình yêu, về các bệnh lây qua đường tình sinh dục,
hiểu biết về sinh sản và các biện pháp phịng tránh thai.
Có thể chia thành ba nội dung:
- Giáo dục tâm lí nhân cách: các đặc điểm tâm lí, hành vi đạo đức, phép ứng
xử, thái độ đối với mọi người,…
- Giáo dục sinh lí, đời sống sinh sản: đặc điểm và những điều cần biết về
vấn đề sinh lí, giới tính, về hơn nhân cho mỗi giới, mỗi lứa tuổi.
- Giáo dục xã hội: nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của từng giới với
nhau, với xã hội và ngược lại.


Chương 2: Thực trạng GDGT cho sv khóa K14 ở khoa Lý-Hóa-sinh
1. Thực trạng các biện pháp GDGT cho sinh viên ở khoa
Ở khoa và nhà trường đã có sự kết hợp chặt chẽ trong việc tổ chức GDGT cho
sinh viên. Vào mỗi kì, sẽ tổ chức các cuộc đối thoại về GDGT, có mời các bác sĩ
khoa phụ sản ở trung tâm y tế Tam Kì đến giải đáp thắc mắc cho sinh viên, đồng
thời trình bày một số vấn đề liên quan đến giới tính như tỉ lệ mang và phá thai ở
lứa tuổi vị thành niên, ở sinh viên hiện nay, một số biện pháp phòng tránh việc lây
lan các bệnh qua đường tình dục…
Việc lồng ghép GDGT vào nội dung chương trình học đã được áp dụng. Tuy
nhiên, chỉ những môn chuyên ngành mới được nhắc đến cịn hầu hết là khơng đề
cập. Do đó, giáo viên bộ mơn phải hiểu rõ mục đích, nội dung của GDGT, biết xác
định đúng mức, liều lượng lồng ghép để tránh hiện tượng quá thiên về nội dung

giới tính, làm ảnh hưởng nội dung của mơn học chính. Nhiều giảng viên, giáo viên
trẻ còn ngại khi trả lời những vấn đề liên quan đến GDGT. Khi được hỏi về vấn đề
này, cơ Nguyễn Hồng Lan Anh chia sẻ: “Nhiều lúc cũng ngại khi trả lời những
vấn đề này. Có những trường hợp, sinh viên hỏi những vấn đề quá tế nhị, cô chỉ trả
lời trong những phạm vi cô biết”.
Việc tuyên truyền chăm sóc SKSS cho sinh viên cũng được quan tâm nhưng
chưa phổ biến, thường xuyên, nhất là đối với sinh viên Lào.
Phần lớn các biện pháp trên chưa thu hút được sự hưởng ứng nhiệt tình của
các bạn. Đa số cho rằng hoạt động GDGT ở trường chưa đáp ứng được nhu cầu
của bản thân, nội dung chưa sát thực, chưa đi sâu vào nhiều khía cạnh, và có sự
trùng lặp về nội dung tổ chức giữa các năm, gây nhàm chán.
2. Đánh giá của giáo viên - cán bộ về nhận thức giới tính, GDGT của sinh viên
Hầu hết các bạn đã có những kiến thức, kĩ năng cơ bản về vấn đề này nhưng
chưa quan tâm tìm hiểu các khía cạnh liên quan. Tâm lí e ngại, sợ sệt khi chia sẻ
những suy nghĩ, ý kiến thực của mình vẫn cịn chiếm đa số. “Hầu như khơng có
sinh viên nào đến tìm cơ chia sẻ những vấn đề riêng tư, hay xin lời khuyên về vấn
đề giới tính. Chỉ có khi bài học liên quan đến nội dung này, mới có một vài sinh
viên đứng lên hỏi” - đó là chia sẻ của cơ Lan Anh. Thông qua việc điều tra, chúng
tôi cũng nhận thấy rằng: Nhiều bạn không trả lời đúng với suy nghĩ của mình, phần
lớn trả lời theo số đơng. Một số ít thì tỏ ra khơng quan tâm, bỏ trống nhiều câu trả
lời.
Trong các buổi đối thoại về GDGT, nhiều sinh viên có thái độ thờ ơ, thiếu tơn
trọng mọi người, coi việc tham dự những buổi đối thoại này là nhiệm vụ phải làm,
khơng có tinh thần tự nguyện. “Nếu khơng bị trừ điểm, thì thà ở trọ ngủ cho
sướng”, đây là ý kiến của hầu hết các bạn. Một số sinh viên cịn có những câu hỏi
hết sức thiếu tế nhị.
Nhiều sinh viên Lào gặp khó khăn trong việc học nên vấn đề GDGT ở trường
cũng không được các bạn quan tâm. Hầu hết trong các buổi ngoại khóa số lượng
sinh viên Lào cịn ít, nhà trường, giáo viên và bạn cùng lớp cần tạo điều kiện giúp
đỡ những bạn đó.



Các thầy cô cũng cho rằng việc thực hiện những nội dung về GDGT một
cách đồng bộ sẽ góp phần quan trọng giíup sinh viên tập trung học tập, ổn định sức
khỏe và nhân cách, tạo tiền đề cho sự phát triển lâu dài sau này của các em.
Nhận thức của sinh viên trong khoa về tầm quan trọng và ý nghĩa của GDGT
đối với bản thân mình cịn thấp. Các bạn nên mạnh dạn, tự tin bày tỏ những thắc
mắc, lo lăng hay tâm sự của mình với thầy cô hoặc bạn bè
3. Thực trạng nhận thức của sinh viên K14 về các vấn đề liên quan tới giới
tính
3.1 Đặc điểm giải phẫu-sinh lí liên quan đến giới tính
Việc đánh giá được mức độ hiểu biết của sinh viên về các vấn đề liên quan
đến giải phẫu-sinh lí giới tính là một trong những nội dung chủ yếu của giáo dục
giới tính trong nhà trường.
Phần lớn các bạn cịn tỏ ra ngại ngùng, xấu hổ khi trả lời những câu hỏi liên
quan đến cấu tạo cơ quan sinh dục nam, nữ; về tuổi trưởng thành sinh dục và về sự
thụ thai. Theo điều tra có 33.33% khơng trả lời những câu hỏi liên quan đến vần đề
này, chỉ có 6,06% sinh viên trả lời đúng tất cả, 36,36% sinh viên trả lời đúng hơn
một nữa số câu hỏi. Điều đáng chú ý là 6,06% sinh viên trả lời đúng đều thuộc về
hai lớp sinh. Kết quả này cho thấy sự hiểu biết của sinh viên K14 về đặc điểm giải
phẫu-sinh lí giới tính cịn thấp.
3.2 Các biện pháp phịng ngừa thụ thai
Rõ ràng việc GDGT không chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp kiến thức cho
người học về đặc điểm sinh lí giới tính mà cịn phải trang bị các tri thức, biện pháp
phòng ngừa thai. Nhiều sinh viên khi xảy ra quan hệ, không chú ý đến vấn đề này
đã dẫn đến hậu quả mang thai ngoài ý muốn. Từ đó phát sinh nhiều vấn đề như:
nạo phá thai, bỏ học, kết hơn khi cịn đang đi học,…
Khi được hỏi về việc sử dụng các biện pháp phịng ngừa thai khi quan hệ,
chúng tơi nhận được nhiều câu trả lời là các bạn ít khi để ý đến vấn đề này, hầu như
là không bao giờ sử dụng bao cao su khi quan hệ, việc phòng tránh mang thai nên

để các bạn nữ uống thuốc tránh thai khẩn cấp sau khi quan hệ chứ việc dùng bao
cao su sẽ làm các bạn cảm thấy mất hứng, không vui… Qua phiếu điều tra, chúng
tơi tổng kết có:
Các biện pháp
tránh thai

Uống thuốc
tránh thai

Sử dụng bao
cao su

Tính chu kì
kinh nguyệt

Xuất tinh
ra ngồi

Số SV chọn

60

188

40

10

Trong đó: có 7.5% sinh viên cho rằng dùng thuốc tránh thai; 71.5% đồng ý
với ý kiến sử dụng bao cao su; 2.0% nghĩ rằng không quan hệ vào những ngày

trứng rụng thì khơng cần sử dụng biện pháp gì vẫn tránh có thai; 0.5% cho rằng
việc xuất tinh ra ngồi sẽ khơng thể có thai; 22.5% vừa dùng thuốc, vừa sử dụng
bao cao su. Các biện pháp tránh thai này đều khơng có hiệu quả tuyệt đối, việc lạm
dụng thuốc tránh thai quá nhiều có thể dẫn tới khả năng vơ sinh sau này, việc tính
chu kì kinh nguyệt để quan hệ là biện pháp kém an tồn nhất, bởi vì thời điểm


trứng rụng chịu ảnh hưởng của các yếu tố như ăn uống, nghỉ ngơi,… vì vậy rứng
có thể rụng sớm hoặc muộn hơn nên việc tính tốn thời kì trứng rụng khó có thể
chính xác cũng như việc xuất tinh ra ngồi cũng khó kiểm sốt. Cách tốt nhất là
nên sử dụng bao cao su.
Kết quả này, cho thấy sinh viên K14 đã có ý thức trong việc tìm hiểu kĩ năng
phòng ngừa thụ thai. Việc phòng ngừa mang thai ngoài ý muốn là trách nhiệm của
cả hai bên, cả hai phải có ý thức bảo vệ cho nhau. Tuy nhiên, hiện nay các bạn
đang là sinh viên, vấn đề chính của các bạn là học, tham gia vào các hoạt động xã
hội,…do đó các bạn khơng nên để xảy ra quan hệ sớm, phải biết tự bảo vệ bản
thân.
3.3 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục và cách phịng ngừa
Quan hệ tình dục khơng chỉ xảy ra việc mang thai ngồi ý muốn mà cịn là
ngun nhân để lây truyền một số bệnh qua con đường này.
Hàng năm có khoảng 300 triệu người mắc các bệnh lây qua đường tình dục.
Vì vậy, hiểu tác hại, cơ chế lây lan bệnh tình dục và biết cách phịng tránh là một
trong những mục tiêu chủ yếu của GDGT.
Nhằm kiểm tra kiến thức của các bạn sinh viên K14 về các bệnh lây truyền
qua đường tình dục. Nhóm chúng tơi có đưa ra một vài câu hỏi liên quan, đây là
một ví dụ minh họa: Theo bạn, trong các bệnh dưới đây, bệnh nào lây qua đường
tình dục:
a. Giang mai
d. Sa dạ con
b. Lậu

e. Viêm đường tiết niệu
c. Siđa
f. Viêm da vùng cơ quan sinh dục
Đáp án đúng: a, b,c
Thống kê kết quả:
Viêm
Viêm da vùng
Giang
Bệnh
Lậu Siđa Sa dạ con đường tiết cơ quan sinh
mai
niệu
dục
Tỉ lệ chọn
82
67,5
99
7.5
11
85
(%)
Nhận xét: Qua việc điều tra, chúng tơi tổng kết được có 36.5% sinh viên trả
lời đúng hồn tồn, số cịn lai trả lời sai do thừa hoặc thiếu.Cụ thể: không nêu được
bệnh giang mai là 28.35%, bệnh lậu là 51,18%, cho rằng bệnh viêm đường tiết niệu
là bệnh lây qua đường tình dục 11%, bệnh sa dạ con 7.5%, viêm da vùng cơ quan
sinh dục là 85%. Trong số sinh viên trả lời đúng thì có 30% sinh viên đang học
chuyên ngành sinh. Điều này đã phản ánh lên tình trạng các bạn chưa có được sự
hiểu biết rõ ràng về các bệnh lây qua đường tình dục, nhất là các bạn lớp sinh, mặc
dù chuyên ngành các bạn đang học có nội dung liên quan trực tiếp đến vấn đề này.
Đây là một thực trạng đáng buồn, các nội dung liên quan đến giới chưa được các

bạn quan tâm, tìm hiểu, hiểu biết của sinh viên về mặt này cịn yếu, trong khi đó
đây là các bệnh phổ biến lây qua đường tình dục.
Điều đáng chú ý là có tới 99% sinh viên chỉ ra được si đa là bệnh lây qua
đường tình dục, 1% cịn lại khơng trả lời câu hỏi này do nhiều nguyên nhân chủ


quan. Điều này cho thấy rằng công tác truyền thông-thông tin về siđa đã phát huy
hiệu quả và đạt được kết quả cao. Qua đó, cho thấy nếu được giáo dục đầy đủ và
toàn diện sẽ nâng cao được nhận thức của mọi người.
Ngày nay, y học thế giới đã xác định khá nhiều bệnh lây qua đường tình dục:
giang mai, lậu, hạ cam, viêm nệu do Chlamydia, u hạt bẹn, AIDS, trùng roi âm
đạo, viêm âm đạo,… các bạn nên tìm hiểu một số biển hiện cơ bản của bệnh, giả sử
như bản thân có dấu hiệu đó thì cần đến các cơ sở y tế để kịp thời chữa trị, cách tốt
nhất là quan hệ tình dục an tồn, khơng nên sống lối sống bng thả, phóng túng.
Cần cung cấp những kiến thức cơ bản, định hướng, cung cấp tài liệu cho các
bạn tìm hiểu về hiện tượng thụ thai, hiện tượng mang thai sớm và hậu quả của nó,
các biện pháp tránh thai phù hợp… để các bạn ý thức được rằng: chỉ cần quan hệ
tình dục không được bảo vệ dù chỉ một lần các bạn có thể mang thai ngồi ý muốn.
Mang thai , phá thai ảnh hưởng tới thể chất , tinh thần và xã hội của cả nam và nữ .
Sử dụng bao cao su đúng cách trong quan hệ tình dục sẽ giúp sinh viên tránh được
mang thai ngoài ý muốn, bệnh lây truyền qua đường tình dục và kể cả
HIV/AIDS…
4. Thái độ của sinh viên về tình u-tình dục-hơn nhân
4.1 Đối với tình yêu
Tình yêu đối với các bạn ở lứa tuổi sinh viên là bước đệm đầu tiên và quan
trọng nhất để bước vào giai đoạn hôn nhân sau này. Sống xa nhà, tình yêu sẽ giúp
các bạn cảm thấy ấm áp, hạnh phúc hơn khi có người quan tâm, chăm sóc, động
viên những lúc bản thân gặp khó khăn. Có thể nói tình u thời sinh viên là một
trong những kỉ niệm đẹp của nhiều cặp đôi yêu nhau, vì tình u lúc này ít nhuốm
màu toang tính. Nếu ở thời cấp ba, tình yêu chỉ là sự bồng bột, ngộ nhận giữa tình

yêu và tình bạn nhưng đến lúc này thì tình yêu là sự rung động mạnh liệt của con
tim, sự tin tưởng, yêu thương của người khác phía đối với bản thân và ngược lại
với mong muốn gắn bó với nhau suốt đời.
Tuy nhiên, giữa cuộc sống tấp nập, bơn chen, tình u cũng bị chịu ảnh hưởng
từ nhiều khía cạnh. Có những cặp u nhau, nếu vượt qua mọi thử thách sẽ ném
được quả ngọt mà nó mang lại. Nhiều khi tình u bị biến dạng, mất đi bản chất
vốn có của nó, chỉ cịn lại là sự toan tính, lừa lọc nhau. Điều đó phụ thuộc vào quan
điểm tình yêu của mỗi người.
Với quan điểm: “yêu nhiều người cùng lúc để chọn một là chuyện bình
thường”.
Có 71% sinh viên khơng tán thành, điều đó chứng minh được phần đơng sinh
viên có thái độ nghiêm túc với tình yêu. 25% sinh viên đồng ý và rất tán thành. Ta
có thể giải thích lí do này do các bạn chưa hiểu hết được ý nghĩa hành vi của mình
hoặc đang rơi vào trạng thái bâng khuâng, khó dứt khốt. Số cịn lại khơng có ý
kiến, có thể do các bạn chưa quan tâm đến vấn đề này.
Hơn 12% sinh viên cho rằng tình yêu là thứ có cũng được khơng có cũng
chẳng sao. Nhiều bạn gắn bó và yêu nhau theo kiểu lợi dụng hay để thỏa mãn nhu
cầu của bản thân,…làm xuất hiện tình trạng “tình yêu bếp dầu” hay “thay bồ như
thay áo” ở sinh viên là khơng hiếm gặp. Tình u lúc này nhuốm màu toang tính.
Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các vụ giết người yêu rồi tự sát,


hay những việc đánh ghen,… ở sinh viên hiện nay. Sự mất niềm tin vào tình yêu,
vào cuộc sống của những bạn “bị bỏ rơi” khi mà lỡ yêu sâu đậm khiến cho nhiều
bạn sa sút trong việc học, sống bng thả mình hơn…
Sự phát triển về tâm sinh lí của mỗi người là khác nhau, nên một số sinh viên
có cảm giác rung cảm với bạn cùng giới và ở họ nảy sinh tình cảm với nhau. Qua
khảo sát, hầu như các bạn K14 khơng có ai rơi vào trường hợp này, nhưng thực tế
vẫn có, đa số cảm thấy xấu hổ, sợ mọi người biết sẽ xa lánh, trêu chọc nên khơng
dám nói ra. 33% sinh viên có thái độ phản cảm với tình yêu đồng giới, cho rằng

đây là điều bất bình thường, vơ hình các bạn tạo ra sự kì thị với người đồng tính,
khiến cho các bạn này cảm thấy mặc cảm, tự ti hơn.
Như vậy dù ở cực này hay cực khác về thái độ, cho thấy sinh viên cũng cần
phải được nâng cao hơn nữa về nhận thức để có thái độ đúng mức khi bước vào
ngưỡng cửa của tình yêu. Một khi có hiểu biết và thái độ đúng đắn với tình yêu sẽ
giúp các bạn xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với người khác giới. Đó chính là
tiền đề cho hạnh phúc hơn nhân sau này.
4.2 Đối với tình dục
Tình dục là nhu cầu sinh lý tự nhiên, lành mạnh của con người, là sự tự
nguyện, hòa hợp về tâm hồn và thể xác giữa hai người; là nhu cầu cần thiết cho sự
tồn tại của giống nịi. Tình dục - tình yêu là mối quan hệ mật thiết không thể tách
rời nhau, hỗ trợ cho nhau và thống nhất nhau trong một thể duy nhất đó là tình u.
Trên nền tảng của tình u, tình dục khơng đơn thuần là một bản năng mà được
nâng lên tầm cao mới.Tình dục là một yếu tố hết sức quan trọng của tình u đơi
lứa nhưng khơng nên trở thành mục đích của tình u. Nó là biểu hiện cụ thể của
sự hịa đồng trong tình u. Vấn đề này cần phải có cái nhìn hết sức đúng đắn,
nghiêm túc và đấy đủ trong mối quan hệ của hai người khác giới để từ đó có cách
xử sự và đánh giá đúng mức trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau.
Với cách nghĩ: “Tình dục là cách để thể hiện tình yêu và giữ người yêu” được
các bạn đồng ý chiếm 67.5%, phân vân chiếm 2.5%, khơng đồng ý chiếm 30%. Có
thể thấy rằng ranh giới giữa tình dục và tình yêu là rất mong manh. Ở các bạn còn
tồn tại một mâu thuẫn lớn trong nhận thức: không nên quan hệ tình dục sớm nhưng
nếu khơng thì sẽ khơng giữ được người yêu. Bạn T sinh viên lớp DT14SSH01cho
rằng: “Dù có yêu bạn gái đến đâu thì mình vẫn nghĩ nên có quan hệ trước khi kết
hơn, lỡ sau này cưới về rồi mà khơng đẻ được thì rắc rối lắm với lại mình là con
một mà”.
Hầu hết, các bạn sinh viên thể hiện quan điểm của bản thân cho rằng các bạn
chỉ quan hệ tình dục khi tình yêu đạt đến sự chín muồi và đã sẵn sàng kết hơn, hay
khi mình kết hơn. Tuy nhiên, trên thực tế điều này diễn ra không dễ dàng và đơn
giản. Nhiều khi quan hệ tình dục diễn ra sớm hơn sự chín muồi của tình u.Các

bạn cho rằng đó là sự dâng hiến cho người mình yêu, để giữ chân người yêu hay
khi từ chối thì sẽ phật lịng người u và sợ bị chia tay,…Bởi vì tình u khơng
được xây dựng trên nguyên tắc bền vững, mất đi cái hồn mà vơ tình trở thành cái
cớ cho việc quan hệ tình dục cùng với sự thiếu hiểu biết về giới tính mà đã để lại
nhiều kết quả đau lòng.


Tình trạng “góp gạo thổi cơm” , sống thử giữa các cặp yêu nhau là điều không
hề hiếm gặp ở các bạn sinh viên hiện nay. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng cháy”, đã
tạo điều kiện cho việc xảy ra quan hệ tình dục, nếu quan hệ tình dục khơng an tồn
có thể xảy ra việc có thai ngồi ý muốn, thâm chí có thể mắc một số bệnh lây qua
đường tình dục…
4.3 Đối với hơn nhân
Việc quan hệ tình dục thiếu an toàn là nguyên nhân dẫn đến việc mang thai
ngoài ý muốn. Nhiều bạn đã phải bước vào cánh cửa hơn nhân khi cịn ngồi trên
ghế nhà trường. Có bạn đã từ bỏ cả ước mơ của mình vì áp lực từ cuộc sống hơn
nhân, hay cảm thấy xấu hổ với bạn bè…Một số khác thì tiếp tục việc học, nhưng
do mất nhiều thời gian cho việc đến trường và chu tồn cuộc sống gia đình mà việc
tham gia các hoạt động ngoại khóa của khoa, trường trở thành thứ “sa sỉ” đối với
các bạn. Qua khảo sát, ở khóa K14 có tới 8 bạn sinh viên đã kết hôn mà nguyên
nhân của việc kết hôn sớm đều do tình trạng mang thai ngồi ý muốn. Đáng buồn
nhất là nhiều bạn cho rằng: “hôn nhân là nấm mồ của tình yêu”, “lên xe hoa là lên
xe tang” nên khi biết mình mang thai, mặc dù được người yêu đồng ý cưới nhưng
vẫn kiên quyết từ chối, thà bỏ một sinh mạng còn hơn bước vào “nấm mồ”ấy.
Nhiều bạn đồng ý với qua điểm hôn nhân bắt nguồn từ tình u. Nhưng cũng
khơng ít ý kiến cho rằng: chồng-vợ khơng sang thì cũng phải giàu, thời buổi này,
lấy nhau chỉ vì gia cảnh của họ thơi. Vì thế mà hôn nhân của mỗi người thể hiện
kết quả khác nhau. Có những cuộc hơn nhân hạnh phúc, lại có những cuộc hơn
nhân bất hạnh có thể dẫn đến li hơn.
Đa số các bạn không quan tâm đến vấn đề hôn nhân cho rằng hôn nhân đối

với các bạn lúc này là quá xa vời. Tuy nhiên, sự hiểu biết về hôn nhân, về sự lựa
chọn bạn đời, về sự chuẩn bị cho hôn nhân sẽ giúp cho sinh viên - những người
trước cửa, thềm bậc của tình yêu tránh bớt những lầm lỗi để trong tương lai có thể
tìm thấy và tạo ra cho mình hạnh phúc trong hơn.


Chương 3: Một số biện pháp nâng cao GDGT cho sv ở khoa Lý-Hóa-Sinh
nói riêng và tồn trường nói chung
Đứng trước thực trạng nhận thức của sinh viên, cùng với ý kiến của giáo viên
và sinh viên. Cần phải triển khai GDGT cho sinh viên trong khoa nói riêng , nhà
trường nói chung dưới nhiều hình thức, biện pháp sinh động, phong phú phù hợp
với nhu cầu của các bạn.
1. GDGT thông qua con đường lồng ghép các môn học
Nâng cao chất lượng việc giảng dạy lồng ghép các nội dung GDGT trong
chính khóa thơng qua việc tăng cường áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực và
tăng thêm thời gian cho các nội dung GDGT trong các môn như tâm lí học, giáo
dục học. Các nội dung có thể lồng ghép vào như:
- Một số vấn đề cơ bản về GDGT
- Tình u-hơn nhân và gia đình
- Các tệ nạn xã hội, các bệnh lây qua đường tình dục
Lồng ghép theo hướng tích hợp nội dung GDGT vào các mơn khoa học trong
chương trình học giúp khai thác được thế mạnh của các mơn chính khóa, tạo ra sức
mạnh tổng hợp khắc phục được sự eo hẹp về thời gian học tập của sinh viên.
Để việc lồng ghép có hiệu quả, địi hỏi giáo viên bộ mơn hiểu rõ mục đích,
nội dung của GDGT, biết xác định đúng mức liều lượng lồng ghép để tránh hiện
tượng quá thiên về vấn đề này, làm ảnh hưởng nội dung của môn học chính.
Đặc biệt đối với sinh viên ngành sư phạm sinh, nên đưa GDGT thông qua con
đường giảng dạy chuyên đề từ 15-30 tiết. Với tư cách là một chuyên đề độc lập,
GDGT cung cấp cho người học hệ thồng kiền thức đầy đủ, phong phú về giới tính
dưới góc độ khác nhau. Tuy nhiên, việc thực hiện chuyên đề này cịn gặp nhiều

khó khăn liên quan đến nhiều vấn đề có tính chất pháp lí và tài chính.
2. Các biện pháp GDGT ngoài giờ lên lớp
Trong điều kiện thời gian nội khóa hạn hẹp, lại tùy thuộc vào khả năng tích
hợp lồng ghép của mỗi giáo viên nên các hoạt động ngoại khóa trở nên quan trọng.
Các hình thức ngoại khóa vừa sinh động, vừa tạo ra sự chủ động tích cực của
người học. Các hình thức này vừa là sự nối tiếp của nội khóa, vừa là sự nâng cao
các kiến thức thu được trong nội khóa. Mặt khác, các hoạt động ngoại khóa dễ
dàng gắn được và đáp ứng nhu cầu của mỗi nhóm đối tượng sinh viên nên dễ thu
hút sinh viên. Có thể nói, hoạt động ngoại khóa sẽ là rất hiệu quả khơng chỉ với vai
trò hỗ trợ, mà là quyết định hiệu quả giáo dục trong lĩnh vực nhạy cảm này. Do đó,
cần nghiên cứu hệ thống các hình thức hoạt động ngoại khóa để ''quy chế hóa'' một
số hình thức phổ dụng nhất và từ đó có quy định về điều kiện thực hiện. Cần coi
các hình thức này như là các hình thức bắt buộc. Các hoạt động ngoại khóa cần
được quản lý chặt chẽ như nội khóa và vẫn cần sự hướng dẫn của giáo viên các
mơn học có liên quan và sự cộng tác của các bộ phận khác trong nhà trường.
• Các hình thức GDGT ngồi giờ học
+ Sinh hoạt câu lạc bộ theo chủ đề:
Câu lạc bộ là môi trường sinh hoạt tập thể hấp dẫn, bổ ích đối với sinh viên.
Loại hình hoạt động này khơng chỉ là phương tiện thỏa mãn các nhu cầu phong
phú của sinh viên mà cịn là mơi trường thuận lợi để qua đó tuyên truyền, giáo dục


các bạn về các vấn đề xã hội, lối sống,… trong đó có lĩnh vực giới tính. Thơng qua
các hoạt động, sinh hoạt, giao tiếp các nội dung GDGT trở nên gần gũi, thiết thật,
tự nhiên, không cảm thấy khô khan, gượng ép như trong các bài giảng.
+ Thi tìm hiểu, sáng tác theo chủ đề GDGT:
Ưu thế của hình thức này là tính chất gọn nhẹ về tổ chức và hiêu quả tổ chức.
điều này thể hiện ở chỗ, về phương diện tổ chức khơng địi hỏi bộ máy phức tạp,
các điều kiện khơng cầu kì, thời gian khơng bị khống chế nhất định thu hút được
đong đảo sinh viên tham gia. Các chủ đề thi được xác định phù hợp với sự định

hướng của công tác GDGT trong điều kiện thực tế của mơi trường. Người tham dự
có đủ thời gian và tài liệu để tìm hiểu vấn đề mình tham gia.
+ Phát thanh tuyên truyền thường xuyên hàng ngày với nội dung đa dạng,
phong phú trong đó có GDGT:
Đây là hình thức tun truyền mang tính truyền thống nhưng mang lại hiệu
quả rất cao. Thực ra, việc thường xuyên phát thanh, tuyên truyền hằng ngày vào
thời gian thích hợp, ổn định có tác dụng to lớn. Do nhiều yếu tố tác động, nhiều
sinh viên không tiếp cận được với những thông tin khoa học, thời sự cập nhập hoặc
nếu có chỉ là thoảng qua. Vì vậy, việc phát thanh tuyên truyền thường xuyên hàng
ngày với nội dung đa dạng, phong phú trong đó có GDGT là điều kiện thuận lợi để
các bạn, nhất là những bạn ở kí túc có được các thơng tin thiết yếu vầ các vấn đề
cần quan tâm, đồng thời góp phần củng cố các thơng tin đó, biến chúng trở nên ổn
định, vững chắc trong ý thứ của họ.
+ Tham quan thực tế tại các cơ sở nghiên cứu GDGT và bệnh viện:
Thâm nhập thực tế khơng chỉ là một hình thức đào tạo hữu hiệu của trương theo
nguyên lí giáo dục lí thuyết gắn với thực tiễn mà cịn là loại hình hoạt động hấp
dẫn các em.Việc tổ chức cho các em tham quan thực tế tại các bệnh viện, các trung
tâm cải tạo, giáo dục cai nghiện, phục hồi nhân phẩm… sẽ giúp các em tận mắt
chứng kiến các sự kiện nêu trong nội dung GDGT ở nhà trường. Qua đó giúp các
em khắc sâu thêm kiến thức, củng cố thái độ và hành vi đúng đắn về giới tính.
3. Xây dựng trung tâm tư vấn trong trường
Việc tham gia các buổi hội thảo, các cuộc tuyên truyền,… về những vấn đề
GDGT chưa thực sự giải đáp hết thắc mắc của các bạn sinh viên, nhiều vấn đề
thầm kín, khó nói khơng được các bạn chia sẻ vì cho rằng đây là hình thức mang
tính tập thể nên khơng dám nói ra. Nhiều sinh viên có nhu cầu chia sẻ vấn đề riêng
tư với những người có chun mơn trong vấn đề này nhưng họ lại ngại bày tỏ với
giáo viên và giáo viên nhiều khi cũng không giải đáp được những vấn đề thắc mắc
đó. Chính vì vậy việc xây dựng trung tâm tư vấn trong trường là hết sức cần thiết.
Khi đó, dưới sự tư vấn, giúp đỡ của những cán bộ được đào tạo tốt, chuyên trách
hoặc bán chuyên trách phụ trách về vấn đề GDGT, chăm sóc sức khỏe sinh sản

nhiều bạn sinh viên sẽ được giải đáp, khơng cịn cảm thấy hoang mang và có
những quyết định đúng đắn trong nhận thức và hành động.
Tuy nhiên, việc xây dựng trung tâm tư vấn ở trường cịn gặp khó khăn trong
vấn đề tài chính. Thiết nghĩ, nhà trường nên tổ chức bồi dưỡng cho các cán bộ ở
phòng y tế những kiến thức, kĩ năng về GDGT, về đặc điểm tâm-sinh-lí của sinh
viên để có thể đảm nhận được việc tư vấn này.


4. Động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho sv tham gia nghiên cứu khoa học với
các đề tài giáo dục dân số, SKSS, GDGT và các vấn đề tâm lí xã hội liên quan
Nhà trường cần khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khao học về
những đề tài xã hội khác nhau mang tính chất thời sự nóng bỏng như sự bùng nổ
dân số, thảm họa của đại dịch AIDS,… Điều này không chỉ mang lại cho sinh viên
việc mở mang kiến thức, làm phong phú thêm vốn từ sẵn có của mình trong nhiều
lĩnh vực mà tạo điều kiện cho sinh viên hịa nhập với cuộc sống.
Đồn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, liên chi hội ở các khoa có kế hoạch
thường xuyên tổ chức tuyên truyền, các cuộc thi về SKSS và các vấn đề về giới
tính cho sinh viên trong các buổi sinh hoạt ngoại khoá, sinh hoạt dưới cờ… phát
động phong trào tham gia nghiên cứu những vấn đề xoay quanh lĩnh vực này. Điều
này không chỉ tạo sân chơi cho các bạn sinh viên, mà cịn tạo điều kiện cho các bạn
có điều kiện nghiên cứu kĩ hơn những vấn đề bản thân cũng như xã hội quan tâm.


C- KẾT LUẬN-KIẾN NGHỊ
1. kết luận
Từ thực trạng điều tra, chúng tơi có thể rút ra một số kết luận sau:
Về cơ bản, sinh viên khóa K14 nói riêng và tồn trường nói chung đã có vốn
tri thức nhất định về các vấn đề có liên quan đến vấn đề GDGT. Trong đó, các nội
dung tâm lý, đạo đức, xã hội và pháp lý của các vấn đề liên quan đến giới được các
bạn nhận thức tốt hơn các nội dung có liên quan đến sinh lý, cơ chế thụ thai, ngừa

thai. Tuy nhiên, sự hiểu biết của các bạn cịn phiến diện, cảm tính, khơng có tính hệ
thống. Nhiều bạn còn tỏ ra e dè, ngần ngại, né tránh trong việc tiếp nhận thông tin
dịch vụ, cũng như bày tỏ những thắc mắc của bản thân liên quan đến vấn đề này.
Trong công tác giáo dục, hướng dẫn về giới tính, tình dục học và SKSS của
khoa Lý-Hóa-Sinh nói riêng và của trường nói chung vẫn cịn đang tồn tại một số
vấn đề cần giải quyết:
- Giữa nhà trường và khoa đã có sự kết hợp trong cơng tác tổ chức GDGT cho
sinh viên. Tuy nhiên, các buổi tổ chức GDGT cho sinh viên cịn ít.
- Nhận thức của cán bộ, giáo viên trong khoa đã tỏ ra rất quan tâm và lo lắng
đến việc GDGT cho sinh viên hiện nay, nhưng việc nhìn nhận rõ trách nhiệm của
mình trong việc tham gia tổ chức, giáo dục còn chưa cao.
- Sinh viên có nhu cầu đối với việc được tiếp nhận thơng tin, hướng dẫn về
vấn đề tình dục, SKSS nhưng nhà trường chưa đáp ứng nhiều được nhu cầu này.
- Công tác GDGT ở trường đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa cao. Nội
dung giáo dục mới chỉ đề cập nhiều đến các khía cạnh tâm lý, đạo đức, pháp lý, các
biện pháp phòng tránh mang thai cịn các nội dung khác vẫn ít được chú ý. Biện
pháp giáo dục chưa đa dạng, hình thức giáo dục chưa phong phú, chưa thật sự có
những cuộc vận động có tính chiến lược, giáo dục cao.
- Trong điều kiện tình hình thực tế hiện nay, khoa có thể kết hợp với nhà
trường có thể sử dụng nhiều biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả của công
tác GDGT cho sinh viên. Trong đó cần chú ý đến phát triển hơn nữa những biện
pháp đã có nhiều hiệu quả: Lồng ghép, tích hợp các nội dung GDGT vào các môn
học trong nhà trường, phát huy các biện pháp giáo dục ngồi giờ lên lớp như tổ
chức các hình thức sinh hoạt câu lạc bộ theo chủ đề, thi tìm hiểu, sáng tác, tổ chức
hội thảo, phát thanh, tuyên truyền...
2. Kiến nghị
- Đảng và Nhà nước ta cần sớm hoàn chỉnh bộ máy chỉ đạo và quản lý thống
nhất từ trung ương đến địa phương, sớm ban hành các chính sách quốc gia về
GDGT. Các tỉnh cần triển khai chỉ đạo thực hiện các chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước đối với công tác GDGT. Huy động nhiều hơn nữa các nguồn

lực tài chính phục vụ cho chiến lược giáo dục của tỉnh và sát sao với việc sử dụng
nguồn lực có được vào những mục đích chính đáng, tránh lãng phí tài chính vào
những việc chưa xác định cụ thể và có hiệu quả.
- Cần nhanh chóng triển khai đầy đủ các nội dung GDGT, ưu tiên lồng ghép
các nội dung GDGT vào các bộ môn học có liên quan. Từng bước xây dựng phịng
tư vấn về các vấn đề tâm lý - xã hội cho sinh viên ở trường


- Tăng cường các nguồn lực và có kế hoạch đào lạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo
viên, cán bộ quản lý về những nội dung có liên quan đến GDGT.
- Nhà trường cần có kế hoạch phối hợp với các ngành có liên quan: Đồn
thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, sở y tế để tổ chức các hoạt động giao lưu, hội
thảo, nói chuyện về các chuyên đề nhằm cung cấp cho đội ngũ giáo viên, cán bộ
quản lý cũng như sinh viên những kiến thức cần thiết.


D- TÀI LIỆU KHAM KHẢO
-Https://m.tailieu.vn/doc/bai-tieu-luan-giao-duc-hoc-su-thieu-hut-giao-ducgioi-tinh-1676232.htm.
- />-Https://Vi.m.wikipedia.org/wiki/giao-duc-gioi-tinh
-IU.I.Kusniruk (1988), Tính dục học phổ thông, NXB Văn học, trang 10-11.
-Trần Trọng Thuỷ; Đặng Xuân Hồi (1988), “Vấn đề giáo dục đời sống gia
đình và giới tính cho thế hệ trẻ”, Báo cáo khoa học của đề án P09.
-Tạ Thúy Lan (2001), Một số vấn đề sinh lý tình dục và sinh sản, NXB
ĐHQG Hà Nội.
- Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Doan (1997), Giáo dục giới tính, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội
-Võ Bình Dũng "Một số biện pháp phối hợp giữa trường cao đẳng sư phạm
Quảng Nam và Đoàn thanh niên tỉnh trong việc giáo dục giới tính cho sinh viên",
Luận văn Thạc sĩ. HN 2003.
- J.P.MA-SƠ-LƠ-VA (Tiệp Khắc)(1999), Giới tính tuổi hoa,tr38,48, NXB Hà

Nội
-Nguyễn Quang Dương,tạp chí phát triển giáo dục số 165 trang 56,57
-Võ Hưng ,báo giáo dục và thời đại số 37-2004 tr41


E- PHỤ LỤC
PHIẾU ĐIỀU TRA
Họ tên:…………………
Lớp:……………………
Quan điểm của bạn về các ý sau:
1. Yêu nhiều người cùng một lúc để chọn một là chuyện bình thường:
a. Khơng đồng ý
b. Rất đồng ý
c. Đồng ý
d. Khơng có ý kiến
2. Theo bạn tình dục khơng nhất thiết là một yếu tố cần thiết của tình u
trước hơn nhân:
a. Khơng đồng ý
b. Rất đồng ý
c. Đồng ý
d. Khơng có ý kiến
3. Theo bạn, trong các bệnh dưới đây, bệnh nào lây qua đường tình dục:
a. Giang mai
d. Sa dạ con
b. Lậu
e. Viêm đường tiết niệu
c. Siđa
f. Viêm da vùng cơ quan sinh dục
Đáp án:………………………………………………………………
4. Bạn nghĩ gì về ý kiến sau: “Bạn gái là người khơng tốt, khơng đứng

đắn nếu có quan hệ tình dục trước hơn nhân”?
a.Đúng, chỉ có những cơ gái khơng ra gì, thiếu suy nghĩ mới quan hệ tình dục
trước khi kết hơn
b.Sai, bạn gái đó có thể là người tốt, việc quyết định quan hệ tình dục trước
hơn nhân chỉ là do những suy nghĩ cịn nơng nổi của cơ ấy
c.Đúng, những bạn gái có quan hệ tình dục trước hôn nhân đều không đáng
được tôn trọng.
d. Sai, bạn gái hồn tồn có quyền quyết định có nên quan hệ hay khơng và
quan hệ tình dục vào thời điểm nào phụ thuộc vào sự sẵn sàng của cô ấy
5. Hãy chọn cách phòng tránh việc mang thai?
a. Sử dụng thuốc tránh thai
b. Tính chu kì kinh nguyệt, chỉ quan hệ những ngày an toàn
c. Sử dụng bao cao su
d. Xuất tinh ra ngoài
6. Khi người yêu của bạn nói về việc cần sử dụng bao cao su thì bạn cảm
thấy:
a. Thoải mái vì điều đó sẽ giữ gìn cho cả hai tránh mang thai ngoài ý muốn và
bệnh lây truyền qua đường tình dục.


b. Khơng chấp nhận được vì sử dụng bao cao su thường chỉ dành cho các
"quan hệ ngồi luồng", khơng đứng đắn.
c. Bình thường, vì việc sử dụng hay khơng sử dụng bao cao su cũng khơng
quan trọng lắm
d. Khó chịu, vì điều đó thể hiện sự khơng tin tưởng nhau
7. Bạn nghĩ như thế nào về phát biểu: “Bệnh lây truyền qua đường tình
dục ln có những dấu hiệu nhận biết rõ ràng”?
a. Đúng, bất cứ bệnh nào cũng phải có dấu hiệu bệnh rõ ràng, nên bệnh lây
truyền qua đường tình dục cũng phải như vậy
b. Sai, bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể khơng có dấu hiệu nào trong

một thời gian rất ngắn ban đầu, rồi sau đó mới có biểu hiện rõ ràng
c. Sai, bạn vẫn có thể đang mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục dù khơng
có triệu chứng hay biểu hiện gì
d. Đúng, chỉ cần mắc bệnh là có biểu hiện ngay trên cơ thể
8. Hướng giải quyết nào là hợp lý nhất sau khi một bạn gái sinh con
trong thời gian còn đang ngồi trên ghế giảng đường đại học?
a. Chấp nhận tương lai sự nghiệp chấm dứt, cần phải nghĩ cách kiếm tiền nuôi
con
b.Con cái là trên hết, đã có bố mẹ hỗ trợ về tài chính nên bạn gái chỉ cần dành
thời gian chăm sóc con cái là đủ
c. Bạn gái tiếp tục học, tiếp tục thực hiện ước mơ cho dù có thể chậm trễ hơn
bạn bè
d. Bạn gái thấy xấu hổ với mọi người và không còn muốn gặp ai nữa
9.Theo bạn, hướng giải quyết nào là phù hợp hơn cả nếu một bạn gái
mang thai khi cơ ấy và người u cịn đang ngồi trên ghế giảng đường?
a. Cô ấy cần giấu bạn trai và đi phá thai ngay lập tức
b. Cô ấy nên nghỉ ở nhà và sinh con
c. Cô ấy và bạn trai cần trao đổi và thống nhất với nhau về việc bỏ thai hay
giữ thai
d. Cô ấy cần yêu cầu bạn trai cưới ngay
10. Khi nào bạn có thể quan hệ tình dục?
a. Khi tơi đã đến tuổi trưởng thành và đã sẵn sàng để kết hôn
b.Khi tôi cảm thấy sẵn sàng cho việc quan hệ tình dục và tự tơi cùng người
yêu sẽ quyết định thời điểm phù hợp cho chuyện này
c. Khi người yêu tôi thấy rằng đã đến lúc chúng tơi nên quan hệ tình dục
d. Khi tơi kết hơn
11. Bạn có đồng ý với phát biểu “Tình yêu cùng giới là một điều bất bình
thường”?
a. Đồng ý, chỉ có những người khác giới mới yêu nhau, chứ những người
cùng giới có bao giờ nảy sinh được tình yêu

b. Đồng ý, hai người nam hoặc hai người nữ thì làm gì có gì để hấp dẫn nhau
cơ chứ.


c. Khơng đồng ý, tình u giữa hai người nam hoặc hai người nữ cũng chứa
đựng tất cả những yếu tố của tình u giữa hai người khác giới. Đó là một thiên
hướng tự nhiên.
d. Không đồng ý, những người cùng giới u nhau vì họ có những vấn đề
riêng về sở thích và xã hội.
12. Quan điểm tình u của bạn?
a. Tình yêu là sự tin tưởng,chia sẻ với nhau bất cứ điều gì trong cuộc sống
b. Tình yêu là sự sẵn sàng có quan hệ tình dục để thể hiện sự tin tưởng nhau
c. Tình yêu là thứ có cũng được khoong có cũng chẳng sao
d. Tình u là sự dâng hiến bản thân cho người mình yêu
13. Bạn nhận xét gì về hoạt động GDGT ở trường mình
a. Tổ chức tốt về mọi mặt
b. Chưa đáp ứng nhu cầu của SV, nội dung chưa sát thực tế
c. Các buổi hội thoại về GDGT cịn ít
d.Ý kiến khác:…………………………………………………………...


×