Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (86.99 KB, 2 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Ngày 2-9-1945, sau 80 năm đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta, Chủ</b>
<b>tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản tun ngơn độc lập, khai sinh ra nước</b>
<b>Việt Nam dân chủ cộng hịa</b>
<b>NHÀ NƯỚC ÂU LẠC</b>
Năm 211 trước cơng ngun (TCN), Tần Thủy Hồng cho qn xâm chiếm đất đai của
tồn bộ các nhóm dân tộc người Việt. Thục Phán, thủ lĩnh liên minh các bộ lạc Âu Việt
được tôn làm người lãnh đạo cuộc chiến chống quân Tần. Năm 208 TCN, Thục Phán
xưng hiệu là An Dương Vương, liên kết các bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt lại, dựng nên
nước Âu Lạc.
Năm 179 TCN, Triệu Đà - vua nước Nam Việt, đưa quân đánh chiếm Âu Lạc, cuộc
kháng chiến của An Dương Vương thất bại. Suốt bảy thế kỷ sau đó, mặc dù các thế lực
phong kiến phương bắc thay nhau đô hộ, chia Âu Lạc thành nhiều châu, quận với
những tên gọi khác lạ, nhưng vẫn khơng xóa nổi cái tên Âu Lạc trong ý thức, tình cảm
và sinh hoạt thường ngày của người Việt.
<b>NƯỚC VẠN XUÂN</b>
Mùa xuân năm 542, Lý Bí khởi nghĩa, đánh đuổi quân Lương, giải phóng được lãnh thổ.
Tháng 2 năm 544, Lý Bí lên ngơi hồng đế, lấy tên hiệu là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là
Vạn Xn. Chính quyền họ Lý tồn tại khơng lâu lại rơi vào vịng đơ hộ của giặc phương
bắc (từ năm 602). Quốc hiệu Vạn Xuân được khôi phục sau khi Ngô Quyền đánh tan
quân Nam Hán bằng chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt năm 938.
<b>NƯỚC ĐẠI CỒ VIỆT</b>
Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên 12 sứ quân và vùng cát cứ, thống nhất đất nước,
lên ngơi hồng đế, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng và đổi quốc hiệu thành Đại Cồ Việt, và
được duy trì đến thời nhà Lý (1010-1053).
<b>NƯỚC ĐẠI VIỆT (LẦN 1)</b>
Năm 1054, từ việc trên bầu trời nước Việt xuất hiện một ngôi sao sáng chói nhiều ngày
mới tắt, vua Lý Thái Tơng liền đổi tên nước thành Đại Việt và quốc hiệu Đại Việt được
giữ nguyên cho đến hết thời nhà Trần.
<b>NƯỚC ĐẠI NGU</b>
<b>NƯỚC ĐẠI VIỆT (LẦN 2)</b>
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt tên nước giống như thời vua Lê Thái Tông là Đại Việt.
Quốc hiệu Đại Việt được giữ qua hết thời Lê (1428-1787) và thời Tây Sơn - Quang
Trung - Nguyễn Huệ (1788-1801).
<b>NƯỚC VIỆT NAM</b>
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngơi hồng đế đổi tên nước thành Việt Nam. Sách “Đại
Nam thực lục” ghi: “Giáp Tý, Gia Long năm thứ 3 (1804), tháng 2, ngày Đinh Sửu, đặt
bia cổ.
Vua Gia Long đặt quốc hiệu Việt Nam là sự thể hiện nguyện vọng lâu đời của các tầng
lớp trí thức, quan lại và nhân dân; thể hiện ý chí, sức mạnh mn đời của cộng đồng
dân cư Việt. Đây chính là sức mạnh tinh thần lớn lao để nhân dân duy trì bền bỉ cuộc
đấu tranh dành độc lập dân tộc trong suốt 80 năm bị xâm lược và đô hộ của thực dân
Pháp.
<b>VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HỊA</b>
Ngày 2-9-1945, sau 80 năm đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ
cộng hịa.
<b>NƯỚC CỘNG HỊA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM</b>