Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

On thi vao 10 ngu van 9

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (168.55 KB, 14 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>Hướng dẫn làm một số đề Tập làm văn 9</b>



<i><b>ĐỀ BÀI SỐ 1: Cảm nhận tinh tế của nhà thơ Hữu Thỉnh trước biến đổi của đất trời lúc sang</b></i>
thu.


1. Mở bài:


Mùa thu là nguồn cảm hứng của các thi nhân từ xưa đến nay, biết bao thi nhân đã gửi gắm
lòng mình vào những bài thơ thu và đem đến cho người đọc những cảm xúc tinh tế. Mỗi nhà
thơ có một cách nhìn, cách cảm nhận khác nhau tạo nên những ấn tượng rất riêng về mùa thu,
Hữu Thỉnh là một trong những nhà thơ ấy. Với con mắt nghệ sĩ, tâm hồn nhạy cảm, ông đã
đem đến cho người đọc một bức tranh sang thu đặc sắc. Bài thơ “Sang thu” được sáng tác năm
1977 in trong tập <i>“Từ chiến hào đến thành phố”</i> . Đọc bài thơ, ta cảm nhận được bức tranh
mùa thu qua những giây phút giao mùa cuối hạ sang thu qua cảm nhận tinh tế, hình ảnh thơ
tiêu biểu, gợi cảm và các BPNT đặc sắc.


2. Thân bài:


<i><b>* Giới thiệu khái quát: Bài thơ gồm có 3 khổ, mỗi khổ có 4 dịng thơ ngũ ngơn. Với các hình</b></i>
ảnh tự nhiên giàu sức gợi, <i>“Sang thu”</i> là những cảm nhận tinh tế đến vô cùng của nhà thơ
trước khoảnh khắc giao mùa, từ đó bộc lộ một t/y thiên nhiên tha thiết.


<i><b>* Phân tích: </b></i>


Luận điểm 1: Cảm nhận về những tín hiệu đầu tiên của mùa thu đến đột ngột, bất ngờ: <i>“Bỗng</i>
<i>nhận ra hương ổi – Phả vào trong gió se”</i> . Đây là sự cảm nhận rất độc đáo, rất riêng của HT.
Nhà thơ cảm nhận mùa thu bằng khứu giác bắt đầu từ một mùi hương “hương ổi”. Hương ổi
chín thơm lừng phả vào trong những cơn gió se se lạnh mà ơng đột ngột nhận ra. Từ “Bỗng”
trong câu thơ cho ta thấy một cảm giác bất ngờ, đột ngột đến độ ngạc nhiên. Động từ “phả”
vừa gợi cảm giác bất chợt vừa gợi sự vận động nhẹ nhàng của làn gió. Cái mùi hương đặc
trưng của mùa thu từ ổi thơm lừng không gian là hương vị của đồng quê mộc mạc, dân dã cứ


vương vấn mãi. Nhà thơ còn cảm nhận được sương thu: <i>“ Sương chùng chình qua ngõ”. </i>Lần
này là sự cảm nhận bằng thị giác, chùng chình là từ láy tượng hình cùng NT nhân hố gợi ra sự
lay động của lá cây và những hạt sương mai ướt mềm mại đang giăng giăng qua ngõ nhỏ. Mùa
thu đã về có hương ổi, có gió se, có sương thu chùng chình. Vậy mà nhà thơ lại hỏi: <i>“Hình</i>
<i>như thu đã về”.</i> Mùa thu được cảm nhận bằng lý trí. “Hình như” là một chút nghi hoặc, bâng
khuâng, bối rối. Mùa thu đến từ bao giờ? Từ hương ổi? Từ gió? Từ sương? Một cảm xúc ngỡ
ngàng, bất chợt trong cảm nhận. Thu đã về trên quê hương, đó là cảm xúc trong thời điểm giao
mùa. Chỉ có những con người thực sự yêu mùa thu, gắn bó với quê hương đất nước thì mới có
những cảm xúc tinh tế đến vậy.


Luận điểm 2: Mùa thu được cảm nhận bằng một không gian rộng lớn hơn, nhiều tầng bậc và
rõ rệt hơn. Đó là từ các cảnh vật lúc sang thu. Bắt đầu từ dịng sơng và những cánh chim trời:


<i>“ Sông được lúc dềnh dàng</i>
<i>Chim bắt đầu vội vã”.</i>


Con sông quê hương cũng như đang dềnh dàng chờ nước mùa thu. Từ láy “dềnh dàng” và
phép nhân hoá đã gợi tả dịng sơng mùa thu êm đềm thư thái. Con sơng q khơng cịn nước
chảy cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa mà trở nên cạn hơn, trong vắt êm đềm trôi. Đối lập với con
sông quê là những cánh chim trời đang vội vã. Mùa thu với những ngọn gió heo may, se lạnh
làm chúng phải bay về phương Nam tránh rét. Phép nhân hoá và từ láy tượng hình kết hợp cụm
từ “ Bắt đầu vội vã” là những cảm nhận độc đáo chỉ có thể thấy được ở một tâm hồn đa cảm,
tinh tế của người nghệ sĩ. Tất cả vạn vật như đang hối hả, xôn xao khi mùa thu về.Thu đã về
trên bờ đê, ngõ xóm, trên những dịng sơng và cả những cánh chim trời đang nhuốm sắc thu.
Độc đáo nhất là bức tranh thu được cảm nhận từ những áng mây:


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

Hữu Thỉnh không tả “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao” như thơ của Nguyễn Khuyến mà điểm
vào bức tranh thu một chút mây còn vương lại của mùa hạ. Đám mây mùa hạ đang vắt nửa
mình sang thu. Đây là một lối diễn đạt độc đáo. Đám mây mang trên mình cả 2 mùa. Một nửa
là vẻ đẹp của mùa hạ còn rơi rớt lại, một nửa là vẻ đẹp của mùa thu. Đó là cái đẹp rất riêng của


phút giao mùa. Đám mây vắt nửa mình là hình ảnh nhân hố. Đám mây ấy dài, mỏng, thướt
tha, duyên dáng như một dải lụa nằm vắt ngang in trên nền trời, rồi để đến một lúc nào đó trở
thành “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”.


Hai khổ thơ trên là cảm nhân tinh tế của nhà thơ trong thời khắc giao mùa. Nhà thơ đã vẽ nên 1
bức tranh sang thu nơng ấm. Đó là cảnh sang thu đẹp đến vô cùng, nhẹ nhàng tươi tắn đến lạ
kỳ. Các phép nhân hố, từ láy tượng hình đã đưa ta về với 1 miền quê dân dã mà ấm áp tình
người.


Luận điểm 3: Mùa thu được cảm nhận bằng những suy ngẫm và trải nghiệm.


Nếu như ở 2 khổ thơ trên là sự cảm nhận mùa thu 1 cách trực tiếp thì ở khổ cuối lại là sự cảm
nhận mùa thu bằng lý trí, bằng những suy ngẫm sâu sa:


<i>“Vẫn còn bao nhiêu nắng</i>
<i>Đã vơi dần cơn mưa</i>
<i>Sấm cũng bớt bất ngờ</i>
<i>Trên hàng cây đứng tuổi”.</i>


Vẫn là những hiện tượng của thời tiết: Mưa, nắng, sấm, chớp, dông, bão của mùa hạ nhưng
mức độ đã khác đi nhiều. Nắng vẫn cịn nhưng khơng cịn gay gắt, chói chang như đổ lửa trên
các ngõ xóm, con đường. Mưa giảm dần chứ khơng cịn ào ạt, xối xả và bớt chợt như những
cơn mưa dông, mưa rào của mùa hạ nữa. Sấm cũng đã thưa dần và nhỏ đi chứ không đủ sức
lay động những hàng cây sống lâu năm đã già dặn trải qua bao mùa dông bão. Đó là những
hình ảnh tả thực về hiện tượng của TN, thời tiết, khí hậu lúc giao mùa hạ, thu. Ngồi hình ảnh
tả thực, hai câu thơ cuối cịn mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc. Sấm là hình ảnh tượng trưng cho
những bất thường của ngoại cảnh cuộc đời. Cịn hàng cây đứng tuổi là hình ảnh tượng trưng
cho những con người từng trải, có nhiều kinh nghiệm và vốn sống. Họ sẽ trở nên bình tĩnh, tự
tin, vững vàng, chín chắn hơn trước những tác động bất thường của cuộc đời. Bằng hình ảnh tả
thực vừa có ý nghĩa tượng trưng, nhà thơ muốn gửi gắm những suy ngẫm, trải nghiệm của


mình về con người và cuộc đời.


<b>3. Kết bài: </b>


<i>“Sang thu”</i> của Hữu Thỉnh là 1 bài thơ đôc đáo. Bài thơ gây hấp dẫn cho chúng ta bằng những
hình ảnh thơ rất tự nhiên, giàu sức gợi. Các phép NT nhân hoá, ẩn dụ, tương phản và các từ láy
được vận dụng linh hoạt. Bằng những cảm nhận tinh tế, Hữu Thỉnh đã đưa ta đến một bức
tranh thu vừa đẹp vừa có hồn, vừa gần gũi mà ấm áp, thân thương. Đọc “Sang thu” gợi lên
trong tâm hồn ta một nét đẹp của quê hương bình dị và ta càng hiểu thêm 1 tâm hồn , 1 cái
nhìn tinh tế, 1 t/y thiên nhiên tha thiết của nhà thơ trước thời khắc giao mùa./.


<b>ĐỀ BÀI SỐ 2: Phân tích bài thơ </b><i>“Viếng lăng Bác”</i> của nhà thơ Viễn Phương.
1. Mở bài:


Viễn Phương là một nhà thơ chiến sĩ ở miền Nam. Ông đã từng làm thơ chúc thọ Bác
trong nhà giam của Mỹ nguỵ, từng làm thơ khóc Bác trên chiến trường đánh Mỹ. Đến ngày
hồ bình thống nhất đất nước, ông đã dồn hết t/c thành kính với Bác vào bài thơ <i>“Viếng lăng</i>
<i>Bác”.</i> Bài thơ được sáng tác năm 1976 trong dịp nhà thơ được ra thăm lăng Bác. Bài thơ được
in trong tập thơ “ Như mây mùa xuân”. Cả bài thơ là niềm thương nhớ, kính yêu vô hạn của
nhà thơ với Bác và nguyện ước tha thiết muốn mãi mãi được ở bên Người.


2. Thân bài:


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<i><b>* Phân tích:</b></i>


Luận điểm 1: Cảm xúc của nhà thơ khi đến thăm lăng Bác.


Mở đầu bài thơ là lời xưng hô: “ Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Đây là cách xưng hô
mang đậm chất Nam Bộ. Bao nỗi nhớ, niềm thương bật lên thành tiếng gọi cha trào dâng bao
cảm xúc, tình cha con cứ trào dâng mãi. Nhà thơ không dùng từ “viếng” như ở đầu đề bài thơ


mà chuyển thành từ “thăm” để làm giảm đi sự đau đớn mà sao vẫn không dấu được nỗi bùi
ngùi của cảnh tử biệt sinh ly.


Từ xa nhà thơ đã nhìn thấy hình ảnh hàng tre trong sương biết bao thân thuộc:


<i> “Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam</i>
<i> Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”.</i>


Hàng tre ẩn hiện trong làn khói sương của quảng trường Ba Đình. Đó là màu xanh thân thuộc
của làng q Việt ln gắn bó với tâm hồn Bác, tâm hồn Người cũng ln gắn bó với quê
hương xứ sở. Từ hình ảnh tả thực của cây tre đã được nâng lên thành hình ảnh ẩn dụ “xanh
xanh VN”. Cây tre bình thường, dung dị trở thành biểu tượng cho phẩm chất cao quí của con
người VN: Mộc mạc, dẻo dai, kiên cường, bất khuất. Thì ra ở bên Bác vẫn có cả dân tộc VN
như đang ở quanh Người. Cùng với hình ảnh ẩn dụ là từ cảm “Ôi” được biểu cảm theo lối trực
tiếp và điệp từ “xanh” đã thể hiện sự xúc động của nhà thơ khi liên tưởng và tự hào về sức
mạnh của dân tộc VN dù trải qua bao “bão táp phong ba” vẫn kiên cường, bất khuất trong suốt
bốn ngàn năm lịch sử. Nếu ở khổ 1 cảnh vật cịn đang trong sương phủ thì lúc này mặt trời đã
lên cao. Nhà thơ bùi ngùi, xúc động:


<i> “ Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng</i>
<i> Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”</i>


Nhà thơ đã xây dựng 2 hình ảnh mặt trời có kết cấu song song. Mặt trời trên lăng là mặt trời
của thiên thể ngày ngày đem đến ánh sáng cho mn lồi trên trái đất. Đây là hình ảnh tả thực.
Nhưng nhà thơ cịn cảm nhận được một mặt trời rực rỡ hơn. Đó là “mặt trời trong lăng”. Bằng
một hình ảnh ẩn dụ, so sánh độc đáo nhà thơ muốn ca ngợi công lao to lớn trời biển của Bác
như vầng thái dương chiếu sáng sưởi ấm trái tim chúng ta. Đặc biệt là ở chỗ nhà thơ ví Bác với
thiên thể có t/c trường tồn để thể hiện sự ngưỡng mộ,vĩ đại với Người.


Hồ vào dịng người vào lăng viếng Bác, nhà thơ đã có sự liên tưởng:



<i> “ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ</i>
<i> Kết tràng hoa dâng bẩy mươi chín mùa xuân”.</i>


Hai câu thơ với 2 hình ảnh ẩn dụ và cũng là hình ảnh tả thực: Nhìn dịng người vào lăng viếng
Bác nhà thơ liên tưởng tới những tràng hoa kết thành vòng, chuỗi để dâng lên một cuộc đời 79
mùa xuân. Đây là một hình ảnh tuyệt đẹp vì là cách nói rất thơ: 79 mùa xuân ấy đã đem lại
những mùa xuân cho dân tộc, đất nước VN, đồng thời thể hiện lòng biết ơn ,sự gắn bó của
nhân dân đối với Bác.


Bốn câu thơ với 2 hình ảnh tả thực và 2 hình ảnh ẩn dụ được kết cấu song song, điệp từ “ngày”
được láy lại tạo nên cảm xúc về một cõi trường sinh bất tử, thể hiện lòng thương tiếc vô hạn,
sự biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với Bác.


Luận điểm 2<b> : Cảm xúc của nhà thơ khi ở trong lăng Bác.</b>


Vào lăng viếng Bác, nhà thơ nâng niu, trân trọng giấc ngủ của Người bởi “Trọn cuộc đời Bác
có ngủ n đâu”. Hình ảnh Bác yên nghỉ trong lăng được nhà thơ cảm nhận và diễn tả thật giản
dị:


<i> “Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên</i>
<i> Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”. </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

Trăng từ thơ Bác đã theo Người vào giấc ngủ hiền hoà. Tâm hồn người ln gắn bó, giao cảm
với TN cao rộng, thích hợp với tầm vóc lãnh tụ vĩ đại. Có lẽ đây cũng là một trong những nét
đẹp nhất của bài thơ này.


Ngắm nhìn Bác, nhà thơ vơ cùng xúc động:


<i> “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi</i>


<i> Mà sao nghe nhói ở trong tim”.</i>


“Trời xanh” là một hình ảnh ẩn dụ. Vẫn biết con người sinh ra là phải tuân theo qui luật của
tạo hoá: Sinh, lão, bệnh, tử nhưng nhà thơ vẫn khơng khỏi bàng hồng, thảng thốt, xót xa trước
một sự thực đau lòng, phũ phàng trước sự ra đi mãi mãi của Người. “Nghe nhói” là một nỗi
đau đớn khôn cùng bởi cảm nhận ra cái bất tử của Bác càng lớn thì nỗi đau mất Bác càng lớn
lao khiến câu thơ như một tiếng nấc nghẹn ngào!Ta thấy 1 sự mâu thuẫn giữa lý trí và t/c trong
tâm hồn nhà thơ. Qua đó làm nổi bật sự xót thương vơ hạn của cả DT trước sự ra đi mãi mãi
của Người.


Luận điểm 3: Cảm xúc của nhà thơ khi rời lăng Bác.


<i> “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”</i>


Câu thơ nhắc đến thì gian. Thời gian như đang trơi nhanh hơn bởi sự chia ly đang đến gần. Giá
có thể làm cho TG ngừng trôi? T/c da diết, xúc động bị dồn nén; nỗi nhớ thương khôn nguôi
trước giờ phút chia tay như vỡ oà khiến nhà thơ trào dâng nước mắt. Cảm xúc mãnh liệt, t/c
dồn nén bấy lâu khiến nhà thơ nảy sinh bao ước muốn<i>: “Muốn làm con chim hót</i>
<i>quanh lăng Bác</i>


<i> Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây</i>


Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”.


Điệp ngữ “Muốn” được nhắc lại 3 lần kết hợp với nhịp thơ dồn dập đã khảng định nguyện ước
thật chân thành. Nhà thơ muốn được hoá thân thành con chim để cất những tiếng ca véo von
quanh lăng; Muốn được làm đố hoa rực rỡ mn sắc màu để toả hương thơm ngát dâng lên
Bác và muốn làm cây tre trung hiếu để canh gữi giấc ngủ cho Người. Đó là một sự hoá thân
thật kỳ diệu đươc thể hiện qua những h/a thơ đẹp, ý thơ sâu lắng. Các hình ảnh <i>“con chim, đố</i>
<i>hoa, cây tre”</i> là những hình ảnh ẩn dụ, nhân hoá rất độc đáo. Đặc biệt là hình ảnh cây tre trung


hiếu đã thể hiện nguyện ước được sống dâng hiến và lịng trung thành vơí lý tưởng của tác giả.
Khổ cuối gợi ra 1 sự xa cách về không gian nhưng lại vô cùng gần gũi về t/c. Đó là tâm trạng
xúc động, tình cảm nhớ thương, lịng kính u vơ hạn, lưu luyến ngậm ngùi mong mãi mãi
được ở bên Bác. Bài thơ khép lại nhưng dư âm của nó cịn vang vọng mãi, nhắc nhở ta không
bao giờ được quên công lao trời biển của Bác và sống, học tập theo tấm gương đạo đức của
Người.


<b>3. Kết bài</b><i>:</i>


<i>“Viếng lăng Bác”</i> là một bài thơ hay, đặc sắc với giọng điệu thành kính, trang nghiêm của thể
thơ 8 chữ tự do, nhịp điệu chậm, khi thì sâu lắng, lúc lại thiết tha. Các phép ẩn dụ, nhân hoá,
điệp ngữ được vận dụng sáng tạo. Bài thơ là tấm lịng u kính, biết ơn vơ hạn của nhà thơ nói
riêng và của đồng bào miền Nam nói chung đối với Bác. Có thể nói bài thơ như một nén
hương trầm thơm ngát của Viễn Phương thành kính dâng lên Bác. Đọc bài thơ, em ln ghi
nhớ và làm theo 5 lời Bác dạy, cố gắng phấn đấu tốt để trở thành chủ nhân tương lai của đất
nướcẫmứng đáng là con ngoan trò giỏi , cháu ngoan Bác Hồ, học tập và rèn luyện theo tấm
gương đạo đức của Người.


………..


<b>ĐỀ BÀI SỐ 3: Phân tích vẻ đẹp của tình cha con trong bài thơ “ Nói với con” của nhà thơ Y</b>
Phương.<b> </b>


1. Mở bài:
<b>C1</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

<i> Mà ai đi xa cũng nhớ nhiều”.<b> </b></i>


Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã diễn tả t/y quê hương của mình bằng những vần thơ thật giản dị.
Quả thật ai cũng có một quê hương nơi đón nhận tiếng khóc chào đời. Viết về quê hương, mỗi


nhà thơ có một cách thể hiện khác nhau. Nếu như với Đỗ Trung Quân là chiếc cầu tre nhỏ, với
Tế Hanh là chiếc buồm vôi, là “mùi nồng mặn quá” thì nhà thơ Y Phương lại biểu lộ t/y và
niềm tự hào về quê hương qua lời tâm sự vói con. Bài thơ “ Nói với con” được in trong “Thơ
Việt Nam 1945 – 1985” là tiếng lòng của một tấm hồn chân thật, mạnh mẽ, trong sáng của
người cha dành cho con. Qua đó, thể hiện t/y quê hương thắm thiết và diễn tả niềm tự hào về
cội nguồn dân tộc.


<b>C2: Trong thành tựu của VH hiện đại VN từ sau CMT8 có đóng góp khơng nhỏ của thơ ca các</b>
dân tộc anh em như Nơng Quốc Chấn, Bàn Tài Đồn...Y Phương là một trong những nhà thơ
tiêu biểu sau này. Y Phương là nhà thơ dân tộc tày, thơ ông giàu chất suy tư, trải nghiệm về lẽ
sống, đạo lý làm người, gắn bó với quê hương đất nước. Tiêu biểu là bài thơ “Nói với con”
được in trong “Thơ Việt Nam 1945 – 1985”. Bằng giọng thơ tâm tình, tha thiết, trìu mến, hình
ảnh thơ chân thực bài thơ là tiếng lịng của một tâm hồn chân thật, mạnh mẽ, trong sáng của
người cha dành cho con. Qua đó, thể hiện t/y quê hương thắm thiết và diễn tả niềm tự hào về
cội nguồn dân tộc.


2. Thân bài:


<b>* Khái quát: Mượn lời người cha nói với con bài thơ đã bộc lộ niềm tự hào về sức sống mạnh</b>
mẽ của quê hương, dân tộc với cách tư duy độc đáo, giàu hình ảnh cụ thể mang phong cách
của người dân miền núi – “Nói với con” là khúc tâm tình của người cha dặn dị con. Qua đó
bộc lộ tình yêu thương con và mong ước thế hệ can cái sau này sẽ phát huy truyền thống tốt
đẹp của cha ông.


<b>Luận điểm 1: Tình yêu thương của cha mẹ, sự đùm bọc của quê hương đối với con ( Cội</b>
nguồn của hạnh phúc con người chính là gia đình và quê hương)


+ Mở đầu bài thơ, tác giả đã tái hiện và gợi tả khung cảnh một gia đình đầm ấm:
<i>“ Chân phải bước tới cha</i>



<i> Chân trái bước tới mẹ</i>
<i> Một bước chạm tiếng nói</i>
<i> Hai tiếng tới tiếng cười”.</i>


Đây là một hình ảnh cụ thể về 1 mái ấm gia đình quen thuộc tràn đầy yêu thương hạnh phúc
trong sự chăm chút cho con. Phép liệt kê “ Chân phải, chân trái; Một bước, hai bước” đã giúp
ta hình dung một khơng khí gia đình ấm áp, ngọt ngào, ríu rít, quấn quýt trong từng bước đi,
tiếng nói bi bơ của con trẻ. Con lớn lên trong t/y thương của cha mẹ. Tuy tấm lòng cha mẹ có
bao dung, yêu thương rộng lớn đến đâu thì với con cũng là chưa đủ. Con cần đến bầu sữa tinh
thần thứ 2: Đó là quê hương. Người cha nói với con về q hương của mình bằng những h/a
thơ thật giản dị<i>: “ Người đồng mình yêu lắm con ơi</i>


<i> Đan lờ cài nan hoa</i>
<i> Vách nhà ken câu hát”.</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

+ Quê hương trong lòng nhà thơ là hình ảnh những con đường nghĩa tình và cảnh TN đẹp đẽ
của quê hương: “ Rừng cho hoa - Con đường cho những tấm lịng”.


Bằng cách nói nhân hố “rừng, con đường” kết hợp với điệp từ “cho” đã làm rõ hình ảnh TN
của quê hương thật nghĩa tình. Rừng khơng chỉ cho con người lâm sản q giá mà cịn chở che.
Con đường đâu chỉ đi ngược về xi, lên non xuống bể mà còn soi đường mở lối. Con đường
người cha nói với con trong bài thơ có hai hình ảnh độc đáo. Trước hết là con đường đi vào
bản làng, đường ra sông, ra suối đến trường. Song đằng sau h/a cụ thể ấy là h/a ẩn dụ rất sáng
tạo. Đó cũng chính là con đường đi tới ước mơ, con đường đi đến mọi chân trời, con đường đi
tới tương lai của con.


+ Qua lời thơ giản dị người cha muốn nói với con về gia đình, q hương và khảng định đó
cũng là cái nôi nuôi con khôn lớn và nhắc nhở con về ý thức cội nguồn sinh dưỡng:


<i>“ Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới</i>


<i> Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”.</i>


Người cha đã nhắc đến kỷ niệm khởi đầu cho hạnh phúc để giúp con vững bước trên con
đường tương lai dài rộng.


<b>Luận điểm 2: Những pchất cao đẹp của người đồng mình và lời nhắn nhủ con.</b>


+ Y Phương đã vận dụng lối diễn đạt của người dân miền núi với cách nói dân dã, mộc mạc về
những phẩm chất cao quý của người dân quê hương. Nếu như ở khổ thơ thứ nhất người cha mở
ra cho con những ký ức đẹp đẽ về gia đình, quê hương thì ở khổ thơ thứ 2 người cha đã nhấn
mạnh sự gắn bó của con với những con người quê hương. Cụm từ “Người đồng mình” được
điệp đi, điệp lại:


<i> “ Người đồng mình thương lắm con ơi”. </i>


Cách gọi ấy gợi cảm giác thân quen gây 1 ấn tượng sâu sắc về con người quê hương, lời gọi
con cất lên thật tha thiết, chân thành “con ơi”.


Người cha lần lượt ca ngợi những phẩm chất của người đồng mình với cách nói cụ thể:


<i> “ Cao đo nỗi buồn - Xa nuôi chí lớn”.</i>


Đó là những con người giàu ý chí, nghị lực, ln ln vượt lên mọi khó khăn thử thách với bao
nỗi buồn, niềm vui của cuộc đời. Nhà thơ lấy sự từng trải để đo chiều cao; lấy ý chí để đánh
giá sự bền vững. Hai câu thơ 4 chữ đăng đối như một câu tục ngữ đúc kết 1 thái độ, 1 phương
châm ứng xử cao quý, thể hiện 1 bản lĩnh sống đẹp của người dân tộc Tày.


+ Phẩm chất cao đẹp của người đồng mình cứ lần lượt hiện dần lên qua lời tâm tình với con,
nhẹ nhàng gieo vào lòng con những cảm xúc chân thành tha thiết. Đó là lối sống thuỷ chung
tràn đầy niềm tin của người đồng mình:



<i> “Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn</i>


<i> Sống trên đá không chê đá gập ghềnh</i>


<i> Sống trong thung khơng chê thung nghèo đói</i>
<i> Sống như sông, như suối</i>


<i> Lên thác xuống ghềnh</i>
<i> Không lo cực nhọc”.</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

của người đồng mình và đó cũng là điều mà người cha hy vọng con hãy sống sao cho xứng
đáng với quê hương.


+ Phẩm chất cao đẹp của người đồng mình cịn được nhà thơ thể hiện bằng cách nói rất cụ thể
của bà con dân tộc Tày, khơng hề biết nói hay, nói khéo:


<i> “ Người đồng mình thơ sơ da thịt</i>
<i> Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”.</i>


Đó là vẻ đẹp của tâm hồn cao thượng, của nhân cách làm người được diễn tả qua cách nói
tương phản đối lập giữa hình thức và phẩm chất bên trong. Dù mộc mạc, giản dị như cây cỏ thì
cũng khơng được sống tầm thương mà phải ngẩng cao đầu. Bộc lộ những suy nghĩ về người
dân quê hương, người cha như nhắn nhủ con phải biết gắn bó, qúi trọng nơi sinh thành; trân
trọng yêu mến con người quê hương.


+ Chính vẻ đẹp ấy mà người đồng mình sống rất thuỷ chung, nhân hậu:


<i> “ Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương</i>
<i> Cịn q hương thì làm phong tục”.</i>



Người đồng mình kiên trì, bền bỉ trong cơng cuộc lao động để vun đắp, xây dựng xóm làng,
biết dệt lên những phong tục để tôn vinh quê hương. Với cách nói cụ thể “ đục đá kê cao quê
hương” - Nhà thơ đã sử dụng h/a ẩn dụ thật đọc đáo để ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của
họ như cần cù, chăm chỉ, chịu khó và ý thức tự tôn dân tộc, ý thức bảo vệ cội nguồn.


Có thể nói người cha đã nói với con tất cả những gì tốt đẹp nhất của con người quê hương –
Cái nôi đã sinh ra con, nuôi con lớn khôn và trưởng thành. Một lần nữa quê hương hiện lên
như nguồn tiếp sức nhưng không phải là vỗ về, âu yếm giống như thời thơ bé mà giờ đây là lời
nhắc nhở con ngẩng cao đầu mà đi.


+ Kết thúc bài thơ là lời khuyên con của người cha thật tha thiết, chân thành với tiếng gọi âu
yếm:


<i> “ Con ơi!</i>


<i> Tuy thô sơ da thịt</i>
<i> Lên đường</i>


<i> Không bao giờ nhỏ bé được </i>
<i> Nghe con”. </i>


Đó cũng là lời căn dặn con khơng bao giờ được nhỏ bé, tầm thường mà phải biết gữi lấy cái
cốt cách giản dị, mộc mạc của người đồng mình. Hai tiếng “ Nghe con” là cả 1 tấm lịng mênh
mơng của người cha. Cái điều cha nhắn nhủ thật là ngắn gọn, hàm súc mà sâu sắc biết nhường
nào. Ta nghe âm vang của nó như có cả mệnh lệnh của trái tim. Câu thơ ngắn lại, có câu chỉ có
2 tiếng nhưng lại là sức mạnh của người cha đang tiếp cho con, nhắc nhở con phải khắc cốt ghi
tâm để khi con bước trên con đường đời phải biết sống cao thượng, tự trọng, xứng đáng với
những phẩm chất cao q của người đồng mình. áng thơ đã giúp ta cảm nhận được vẻ đẹp của
tình phụ tử cao quý và sự xúc động trước lời căn dặn yêu thương mà người cha muốn con thấu


hiểu.


3. Kết bài: <i>“Nói với con”</i> là 1 bài thơ đặc sắc của Y Phương với thể thơ tự do, bằng cách nói
mộc mạc, giàu hình ảnh phóng khống vừa cụ thể vừa giàu sức khái quát, các BP điệp từ, điệp
ngữ được vận dụng linh hoạt. Bài thơ là một điệp khúc về t/y con, t/y quê hương đất nước,
đồng thời cũng là điệp khúc về lòng tự hào về những truyền thống cao đẹp của dân tộc. Qua
bài thơ, ta hiểu thêm về vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của người dân miền núi và ta cũng như
đang bắt gặp lại chính làng q mình, tâm hồn mình. Đọc xong bài thơ, một lần nữa ta cúi đầu
thành kính nhớ về cội nguồn với những gì thân thương nhất và đem đến cho chúng ta một bài
học làm người : “ Không bao giờ được quên đi xứ sở, cội nguồn. Đó là sức mạnh, là niềm tự
hào của lòng ta”.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

<b>ĐỀ BÀI SỐ 4: Phân tích bài thơ </b><i>“ Mùa xuân nho nhỏ”</i> của nhà thơ Thanh Hải.
<b>1. Mở bài: </b>


Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời, người ta thường hay bộc lộ tâm trạng bi
quan, chán nản và tuyệt vọng nhưng với nhà thơ Thanh Hải lại khác. Bởi trước khi ra đi mãi
mãi, ông đã để lại cho đời những vần thơ thiết tha, thanh thản không hề gợn nét u buồn của
một một cuộc đời sắp tắt. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác năm 1980 khi nhà thơ
đang nằm trên giường bệnh kề cận với cái chết. Bài thơ không giống như một lời trăn trối mà
là cảm xúc về một mùa xuân tươi tắn, rộn ràng và ước nguyện chân thành, cao đẹp muốn làm
một mùa xuân nho nhỏ để dâng cho cuộc đời.


<b>2. Thân bài:</b>


<b>* Khái quát: Với thể thơ 5 chữ, nhịp điệu biến đổi linh hoạt theo mạch cảm xúc, âm hưởng</b>
nhẹ nhàng, tha thiết – Bài thơ là tiếng lòng tha thiết mến yêu và gắn bó với đất nước, cuộc đời
và khát vọng được sống cống hiến, góp một phần nhỏ của mình vào mùa xuân của đất nước,
dân tộc.



<b>Luận điểm 1: Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân của TN, đất trời, sông núi.</b>


+ Mạch cảm xúc bắt nguồn từ những t/c hồn nhiên, trong trẻo của nhà thơ trước mùa xuân tươi
đẹp của xứ Huế:


<i> “Mọc giữa dịng sơng xanh</i>
<i> Một bơng hoa tím biếc</i>
<i> Ơi con chim chiền chiện</i>
<i> Hót chi mà vang trời”.</i>


Bằng 3 nét chấm phá: Dịng sơng xanh, bơng hoa tím, âm thanh chim chiền chiện nhà thơ đã
khắc hoạ cảnh mùa xuân tươi đẹp tràn đầy sức sống. Nhà thơ đã vẽ ra một không gian cao rộng
với màu sắc tươi thắm của dịng sơng xanh, màu tím mộc mạc của bơng hoa lục bình và âm
thanh vang vọng, tươi vui của tiếng chim hót vang trời. Hai câu thơ đầu, ta gặp 1 cách viết rất
lạ. Tác giả đảo trật tự cú pháp: ĐT “ Mọc” được đảo lên trước CN, đầu đoạn, đầu bài thơ đã
tạo ra ấn tượng đột ngột, bất ngờ, sống động về hình ảnh 1 bơng hoa đang từ từ x nở trên
dịng sơng như hiện dần ra trước mắt người đọc. Bức tranh xn khơng chỉ có màu sắc mà cịn
có âm thanh vang vọng đậm chất Huế. Nhà thơ dùng từ cảm “ Ơi” ở đầu câu và từ “chi” liền
sau ĐT “Hót” là cách nói dịu dàng, trìu mến, u thương. Bốn câu thơ đầu, cho ta cảm nhận về
1 bức tranh mùa xuân trong sáng, đằm thắm, tươi vui, ấm áp, rộn ràng, náo nức.


+ Từ vẻ đẹp của khung cảnh mùa xuân ấy, cảm xúc nhà thơ rạo rực:
<i>“Từng giọt long lanh rơi</i>


<i> Tôi đưa tay tôi hứng”. </i>


Chim chiền chiện là loài chim nhỏ thường bay cao, bay thành đơi mới cất tiếng hót. Tiếng hót
lảnh lót, trong trẻo như cơ đúc thành giọt âm thanh có thể đưa tay ra nhẹ nhàng hứng được.
Nhà thơ đã khéo léo sử dụng NT ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Âm thanh của tiếng chim được
cảm nhận từ thính giác chuyển sang cảm nhận bằng xúc giác. Âm thanh đã hố thành vật thể,


tiếng chim hót vang trời ấy khơng cịn là âm thanh bình thường nữa mà là tiếng của mùa xuân,
từng giọt âm thanh của mùa xuân long lanh rơi xuống. Động tác “hứng” là 1 cử chỉ diễn tả sự
nâng niu, trân trọng, quyến luyến của thi nhân trước vẻ đẹp của mùa xuân. Hình như lúc này,
nhà thơ đang quên đi thực tại của mình để sống trọn vẹn, tắm mình trong sức xuân tươi đẹp để
tận hưởng những giây phút ngọt ngào của mùa xuân xứ Huế với niềm say sưa, ngây ngất.
<b>Luận điểm 2: Cảm xúc của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân đất nước, của CM.</b>


+ Từ cảm xúc trước mùa xuân của TN, đất trời nhà thơ chuyển sang suy ngẫm về mùa xuân
của đất nước, CM. Khi đất nước vào xuân, khi bản nhạc mừng xuân như vang cả đất trời, tràn
ngập cả không gian và làm bừng lên cuộc sống – Thì nhà thơ nhắc đến 2 hình ảnh tiêu biểu:
<i>“ Mùa xuân người cầm súng</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

<i> Lộc trải đầy nương mạ”.</i>


“Người cầm súng” là người bảo vệ đất nước; “Người ra đồng” là người xây dựng đất nước.
Khổ thơ có cấu trúc song hành, nhà thơ chỉ rõ 2 nhiệm vụ chiến lược quan trọng của đất nước
ta những năm 1980 là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc và xây dựng đất nước. Ý thơ vừa có
hình ảnh tả thực chỉ mùa xuân với chồi non lộc biếc, vừa là hình ảnh ẩn dụ chỉ sức sống mãnh
liệt của đất nước. H/a người cầm súng giắt lộc trên lưng vòng lá nguỵ trang như mang theo sức
xuân vào trận đánh. Người ra đồng như gieo sự sống mùa xuân trên từng nương mạ. “Tất cả
như hối hả, xôn xao” gặt hái mùa xuân về cho đất nước. Tác giả sử dụng điệp từ, điệp ngữ, các
từ láy đã diễn tả khơng khí khẩn trương, sơi động của đất nước đang vào xuân. Nhịp thơ rộn
ràng, tươi vui như nhịp sống đi lên của đất nước đang vào xuân.


+ Từ sức sống rộn ràng của mùa xuân đất nước, nhà thơ suy ngẫm:
<i>“ Đất nước bốn ngàn năm</i>


<i> Vất vả và gian lao</i>
<i> Đất nước như vì sao</i>
<i> Cứ đi lên phía trước”.</i>



Đất nước được nhân hố như một bà mẹ tần tảo, vất vả, gian nan. Chặng đường 4000 năm văn
hiến của DT với bao thăng trầm, thử thách đã tạo nên sức mạnh vĩnh cửu. Đất nước đã được
so sánh với vì sao – Một h/a tuyệt đẹp biểu tượng cho sức mạnh trường tồn mà khơng có 1 thế
lức nào ngăn cản nổi. Đồng thời diễn tả niềm tự hào, kiêu hãnh và niềm tin sắt đá, ý chí quyết
tâm trong hành trình dẫn đến ngày mai của DT.


<b>Luận điểm 3: Ước nguyện chân thành của nhà thơ.</b>


+ Từ cảm xúc về mùa xuân của đất nước, của CM – Nhà thơ đã tự nhìn lại cuộc đời mình và
bộc lộ tâm nguyện, ước vọng chân thành:


<i> “ Ta làm con chim hót</i>
<i> Ta làm một nhành hoa</i>
<i> Ta nhập vào hoà ca</i>
<i> Một nốt trầm xao xuyến”.</i>


Điệp từ “Ta làm” được điệp đi điệp lại cùng các ĐT “nhập, hoà” và các hình ảnh “ Con chim,
cành hoa, nốt trầm”. Đó là ước nguyện được hố thân – Một sự hoá thân kỳ diệu. Đây là các
h/a ẩn dụ tượng trưng cho cái đẹp, cho tài trí của mỗi chúng ta. Đoạn thơ đã có sự thay đổi đại
từ. “Ta” là nhà thơ và cũng là của tất cả mọi người. Cái riêng như đã hồ quện vào cái chung.
Đó là khát vọng được sống có ý nghĩa, hồ nhập, cống hiến cho cuộc đời. Tâm niệm của nhà
thơ thật nhỏ bé tự nhiên, giản dị, chân thành mà cao đẹp biết bao. Nếu đã là một cành hoa thì
cả đất nước ta sẽ là một vườn hoa rực rỡ khoe sắc, toả hương. Nếu mỗi người là 1 nốt nhạc thì
cả đất nước sẽ trở thành một bản hồ ca ngân nga, hùng tráng. Nếu mỗi người là 1 mùa xuân
nho nhỏ thì cả đất nước sẽ là 1 mùa xuân rực rỡ.


=> Bằng các h/a đẹp, tự nhiên, giọng thơ chân thành, giàu cảm xúc đã thể hiện nguyện ước cao
đẹp: Đó là sống cống hiến cho cuộc đời, Tổ quốc.



+ Nhà thơ muốn làm một mùa xuân nho nhỏ để lặng lẽ dâng cho đời:


<i> “ Một mùa xuân nho nhỏ</i>
<i> Lặng lẽ dâng cho đời</i>
<i> Dù là tuổi hai mươi</i>
<i> Dù là khi tóc bạc”.</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

xuân tươi sáng: Niềm tin vào cuộc sống. Đó là nguyện ước của 1 con người có cuộc đời đẹp
như những mùa xuân, muốn giữ cho tâm hồn tràn đầy sức xn và ln muốn mình là 1 mùa
xuân nho nhỏ để lặng lẽ dâng cho đời, muốn làm 1 nốt trầm thơi để góp vào bản hoà ca của đất
nước thật lặng lẽ, khiêm nhường.


<b>Luận điểm 4: Niềm tự hào về những giá trị truyền thống bền vững của dân tộc. </b>
Khổ thơ cuối là tiếng hát về mùa xuân xứ Huế yêu thương:


<i> “ Mùa xuân ta xin hát</i>
<i> Câu Nam ai, Nam bình</i>
<i> Nước non ngàn dặm mình</i>
<i> Nước non ngàn dặm tình</i>
<i> Nhịp phách tiền đất Huế”.</i>


Khổ thơ cuối ngân lên khúc hát mùa xuân vang vọng trải dài cùng âm hưởng của dân ca xứ
Huế mênh mang, tha thiết. Nhà thơ muốn hồ lịng mình vào làn điệu dân ca nổi tiếng xứ Huế.
Nhịp phách tiền là nhạc cụ dân tộc để nhịp cho lời ca. Nhà thơ có cảm xúc dạt dào với quê
hương yêu dấu trong buổi xuân về. Quê hương, đất nước trải ngàn dặm chan chứa yêu thương.
Đó là ngàn dặm mình, ngàn dặm tình với nước non và đất nước, quê hương. Câu thơ của người
con sông Hương núi Ngự thật ngọt ngào trong điệu dân ca với cảm xúc dạt dào.


<b>3. Kết bài:</b>



“Mùa xuân nho nhỏ” là 1 bài thơ đặc sắc. Trước khi từ giã cõi đời, Thanh Hải đã để lại cho đời
1 bài thơ xuân đậm đà tình nghĩa. Với thể thơ 5 chữ, giọng điệu biến đổi linh hoạt: Lúc thì tha
thiết, ngân vang- lúc thì mạnh mẽ, hào hùng. Ngơn ngữ trong sáng, giàu sắc thái biểu cảm. Các
BPTT ẩn dụ, điệp từ, so sánh, nhân hoá được vận dụng linh hoạt. Bài thơ là 1 bức tranh mùa
xuân tươi sáng, sống động và là tiếng lòng tha thiết, yêu mến gắn bó với đất nước, với cuộc đời
– Thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ góp 1 mùa xuân nho nhỏ của mình vào mùa
xuân lớn của DT. Chính vì vậy mà “Một mùa xn nho nhỏ” sống mãi với thời gian. Bài thơ
được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc thành 1 khúc ca xuân say đắm lòng người. Đọc bài thơ, ta
thêm yêu cuộc sống, như tiếp thêm cho ta sức mạnh, bồi dưỡng cho ta niềm lạc quan, yêu đời
và nhắc nhở chúng ta hãy sống có ích, hãy sống cống hiến để làm nên mùa xuân tươi đẹp cho
đất nước.




...


<b>ĐỀ BÀI SỐ 7: Phân tích bài thơ </b><i>“Đồn thuyền đánh cá”</i> của nhà thơ Huy Cận.
<b>1. Mở bài: </b>


<b>*</b>

<b> Cách 1: Huy Cận là một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới”. Trước CM 1945 với</b>
các tập thơ nổi tiếng như “ Lửa thiêng”, “Vũ trụ ca” là sự cảm nhận cô đơn nhỏ bé, bơ vơ qua
hình ảnh “cành củi khơ” hay những cánh bèo dập dếnh trơi nổi. Nhưng sau CM tháng 8 ơng có
một sự đổi thay rất kì diệu. Ơng mau chóng hồ nhập vào cuộc k/c vĩ đại của dân tộc. Ánh
sáng cuộc sống mới đem lại cho nhà thơ một cái nhìn tươi trẻ, ấm áp, tràn đầy niêm tin và hạnh
phúc. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng” là một minh chứng
được sáng tác năm 1958 nhân dịp đi thực tế ở vùng biển Quảng Ninh, phản ánh khơng khí lao
động sơi nổi của nhân dân miền Bắc trong xây dựng cnxh. Cả bài thơ là một bức tranh TN
tráng lệ ca ngợi vẻ đẹp của biển quê hương và là bài ca hào hùng về những con người lao động
phấn khởi, hăng say của cuộc đời làm chủ.



</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

<i><b>2. Thân bài:</b></i>


* Khái quát: Cảm hứng bao trùm cả bài thơ là cảm hứng trữ tình được diễn tả theo mạch thời
gian từ hồng hơn đến đêm trăng tới lúc bình minh trong cái nhìn lạc quan yêu đời của những
con người thực sự làm chủ cuộc sống mới. Với bút pháp lãng mạn bay bổng, tác giả đã vẽ nên
một bức tranh TN tươi tắn, tráng lệ và ca ngợi khí thế hào hùng của ngư dân trong buổi đầu
làm chủ cuộc sống mới.


<b>Luận điểm 1: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi.</b>


+ Mở đầu bài thơ là cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong khung cảnh hồng hơn. Nếu như
trong thơ cổ hồng hơn là những ngày tàn gợi cảm giác buồn, lạnh lẽo thì ở đây hồng hơn lại
bắt đầu bằng hình ảnh mặt trời:


Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa”.


Cách nhìn của nhà thơ thật độc đáo, càng độc đáo hơn khi liên tưởng so sánh mặt trời như hòn
lửa đỏ rực đang từ từ lặn xuống biển. Phép so sánh ấy cho ta thấy hoàng hôn ở đây không hề
ảm đạm mà vô cùng ấm áp, tràn đầy sức sống.


Hồng hơn bng xuống nhường chỗ cho màn đêm. Bầu trời và mặt biển bao la như ngơi nhà
vũ trụ trong khoảnh khắc bóng tối mịt mùng. Phép nhân hố “sóng cài then, đêm sập cửa”
được vận dụng độc đáo. Những con sóng chạy qua chạy lại giống như chiếc then cài vào màn
đêm. Cảm hứng vũ trụ được kết hợp với các ĐT “cài, sập”diễn tả cảnh biển đêm âm u, huyền
bí như một sự thr thách con người. Hai câu thơ miêu tả cảnh hồng hơn thật kì vĩ, tráng lệ mà
tĩnh lăng.


+ Với TN một ngày đã khép lại, mọi vật đi vào trạng thái nghỉ ngơi yên tĩnh, còn với con
người lại là sự khởi đầu của công cuộc lao động:



“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”.


Từ lại” cho ta thấy đây là công việc thường ngày của ngư dân, khảng định nhịp điệu lao động
đã ổn định đi vào nề nếp. Khúc hát lên đường vang động, tràn ngập niềm vui phơi phới. Gió
thổi mạnh, cánh buồm no gió. Câu thơ sử dụng NT ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Từ cảm nhận
tiếng hát bằng thính giác đưa ta sang cảm nhận bằng thị giác về câu hát căng buồm”. Câu thơ
gợi nên khung cảnh hùng vĩ. Tiếng hát, gió khơi, buồm” là 3 chi tiết mang t/c tượng trưng diễn
tả tinh thần phấn khởi, hăng say, niềm tin yêu cuộc sống của những con người làm chủ.


Hai câu thơ sau đối lập hai câu thơ đầu. Vũ trụ nghỉ ngơi – con người hoạt động; TN tĩnh lặng
– con người náo nức, khẩn trương; Cảnh đoàn thuyền ra khơi trong ngày tàn – gợi ra sự ấm áp.
+ Đoàn thuyền ra khơi trong tiếng hát lạc quan phơi phới:


<i> “ Hát rằng cá bạc biển Đông lặng</i>
<i> Cá thu biển Đơng như đồn thoi</i>
<i> Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng</i>
<i> Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi”.</i>


Âm thanh của những câu hát vang lên làm nổi bật tâm hồn hiền hậu người dân chài. Đó là
tiếng hát cầu mong sóng yên biển lặng. Niềm mong ước ấy phản ánh niềm lạc quan của ngư
dân đã từng trải qua nhiều nắng gió, bão tố trên biển. Giọng điệu thơ ngọt ngào cùng bút pháp
LM bay bổng, kết hợp với các từ cá bạc, đoàn thoi, dệt biển”là những h/a so sánh, ẩn dụ, nhân
hoá đem đến nhiều liên tưởng thú vị về vẻ đẹp của lao động.


<b>Luận điểm 2: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đêm tuyệt đẹp,</b>


+ Nếu ra khơi trong khung cảnh TN tuyệt đẹp thì cảnh đánh cá đêm trăng cũng đẹp biết chừng
nào:



</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

Với bút pháp lãng mạn, Huy Cận đã tả cảnh đánh cá trên biển một đêm trăng bằng bao hình
ảnh nhân hố tuyệt vời. Đồn thuyền ra khơi có gió làm bánh lái, có ánh trăng làm buồm. Biển
khơi như một trận địa khổng lồ “dàn đan thế trận” mà ngư dân là chiến sĩ, con thuyền và mái
chèo là vũ khí. Chữ “lướt” đặc tả đồn thuyền ra khơi với vận tốc phi thường. Âm điệu khổ thơ
hào hùng, khoẻ khoắn diễn tả sức mạnh con người lao động trên con đường chinh phục và
khám phá thiên nhiên.


+ Khổ thơ tiếp theo, nhà thơ ca ngợi vẻ đẹp của biển quê hương:
<i>“Cá nhụ, cá chim cùng cá đé</i>


<i> Cá song lấp lánh đuốc đen hồng</i>
<i> Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé”.</i>


Nhà thơ vận dụng sáng tạo câu thành ngữ “Chim thu nhụ đé”để miêu tả các loài cá quý hiếm,
ngon nổi tiếng. Phép liệt kê, NT so sánh, ẩn dụ “như đoàn thoi” và NT phối sắc tuyệt đẹp. Bầy
cá như những nàng tiên vũ hội rực rỡ. Cá song là một nét vẽ tài hoa: Vẩy cá đen hồng lấp lánh
trên nước biển sóng sánh chan hồ ánh trăng. Hình ảnh “Cái đi quẫy trăng vàng ch” là
một hình ảnh hùng vĩ, lộng lẫy của biển đêm: Những chiếc đuôi cá vẫy dưới làn nước lấp lánh
ánh trăng, ánh sáng chói lố cả không gian. Câu thơ đẹp như một bức tranh sơn mài rực rỡ.
Biển đêm không chỉ có tiếng sóng rì rầm, nhà thơ lại cảm nhận một âm thanh khác:


<i>“Đêm thở, sao lùa nước Hạ Long”.</i>


Tác giả sử dụng NT nhân hoá để cảm nhận tiếng thở của biển, của TN, của sự sống mơ mộng
lãng mạn. Đây là âm thanh của thuỷ triều và gió tạo thành. ánh sao như lung linh trên mặt
nước, biển tĩnh lặng với những gợn sóng phập phồng trong lồng ngực. Câu thơ huyền ảo như
đang đưa người đọc vào cõi mộng. Hẳn phải có 1 t/y biển sâu nặng mới viết được những vần
thơ tuyệt bút đến thế.



+ Trong cảm xúc vui sướng nhìn đàn cá “dệt lưới”, người dân chài cất cao tiếng hát ngọt ngào:


<i> “ Ta hát bài ca gọi cá vào</i>


<i> Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao</i>
<i> Biển cho ta cá như lòng mẹ</i>
<i> Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”.</i>


Lần thứ hai tiếng hát vang xa trên biển. Tiếng hát, tiếng gõ thuyền đuổi cá hồ vào với tiếng
sóng biển lấp lánh ánh trăng vàng tan ra vỗ vào mạn thuyền. Biển hào phóng, bao dung, chở
che như lịng mẹ. Biển cho cá, tôm và biết bao hải sản quý hiếm, nuôi sống người dân chài từ
bao đời nay. Cách so sánh độc đáo ấy nói lên niềm tự hào, biết ơn hoà quyện trong tiếng hát
ngợi ca ấm áp, chan chứa nghĩa tình.


+ Một đêm trơi qua nhanh trong nhịp điệu lao động hào hứng, hăng say:


<i> Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng</i>
<i> Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng</i>
<i> Vẩy bạc, đuôi vàng loé rạng đông</i>
<i> Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng”.</i>


ánh sao đã thưa và mờ dần nhưng ngư dân vẫn hăng say kéo lưới, những cơ thể rắn chắc,
những cánh tay khoẻ mạnh đang “ kéo xoăn tay”. Đây là hình ảnh đặc tả động tác kéo lưới rất
căng, khoẻ và đẹp. “Chùm cá nặng” là hình ảnh ẩn dụ đầy độc đáo, gợi tả được mùa cá. Những
con cá mắc vào lưới được so sánh như những chùm quả lủng lẳng thật thích mắt. Khoang
thuyền đầy ắp màu vàng của đuôi cá “loé rạng đông”. Một lần nữa ta thấy NT miêu tả màu sắc
của nhà thơ thật điêu luyện. Màu bạc” của vẩy cá, màu vàng của của đuôi cá lấp lánh dưới ánh
rạng đông.


<b>Luận điểm 3: Cảnh đồn thuyền đánh cá trở về trong ánh bình minh rực rỡ.</b>



</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

<i>Câu hát căng buồm với gió khơi</i>
<i> Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời</i>
<i> Mặt trời đội biển nhô màu mới</i>
<i> Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”.</i>


Vẫn là khúc tráng ca hăng say lao động tạo cảm giác tuần hồn, đó là tiếng hát thắng lợi hân
hoan. Cảnh rạng đông nhô dần lên, ánh sáng chan hoà một màu rực rỡ bao trùm biển khơi.
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” là 1 h/a nhân hoá tuyệt đẹp tạo ra ấn tượng phi thường,
lãng mạn bay bổng: Đồn thuyền phóng như bay về bến như như muốn giành lấy TG, chạy đua
với TG trở về cho kịp trời sáng. Con người trong tư thế chủ động và chiến thắng bởi trong
cuộc chạy đua này, con người đã về đích trước. Nếu như ở khổ đầu, mặt trời xuống biển để thử
thách con người thì ở giờ đây lại nhơ lên để chứng kiến thành quả lao động của họ sau một
đêm miệt mài. Câu thơ :Mắt cá huy hồng mn dặm phơi” là h/a hoán dụ, ẩn dụ đầy sáng tạo.
Mắt cá ánh lên phơ ra vẻ đẹp rực rỡ dưới ánh bình minh gửi gắm mơ ước về cuộc sống ấm no
hạnh phúc của người ngư dân vùng biển.


Cả bài thơ là một bức tranh lung linh mang âm hưởng của khúc tráng ca lao động. Đặc biệt câu
hát đã trở thành âm hưởng chủ đạo của tồn bài. Câu hát đó thổi vào bài thơ một ngọn gió tin
yêu cuộc sống với một chất men say lãng mạn – Một khúc ca phơi phới, lạc quan yêu đời.
<b>3. Kết bài:</b>


Bài thơ tiêu biểu cho phong cách Huy Cận sau CM T8. Với âm điệu ngọt ngào, bút pháp lãng
mạn bay bổng, phép liên tưởng kì thú, cách gieo vần linh hoạt, âm điệu khoẻ khoắn; NT so
sánh, ẩn dụ, nhân hoá được kết hợp tài hoa. Bài thơ là khúc ca của người lao động trong khung
cảnh TN rộng lớn, kì vĩ, rộng lớn và tráng lệ. Đó là vẻ đẹp của con người làm chủ cuộc đời với
những phẩm chất đáng quí, đáng trân trọng: Cần cù, sáng tạo, dũng cảm, chủ động và tinh thần
lạc qua yêu đời. Đọc bài thơ, ta càng thêm yêu cuộc sống mới, yêu thêm vẻ đẹp TN của quê
hương, đất nước mình. Em hứa sẽ cố gắng học tập và tu dưỡng để sau này góp phần xây dựng
quê hương ngày càng giàu đẹp./.



</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14></div>

<!--links-->

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×