TRƯỜNG ĐẠI HỌC CƠNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
---
---
MỤC LỤC
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: KINH TẾ VĨ MƠ
Đề tài
CHÍNH SÁCH TÀI KHĨA CỦA VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN CUỐI NĂM 2008 – ĐẦU NĂM 2009
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Trần Nguyễn Minh Ái
Lớp: DHMK15E
Nhóm: 7
Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2020
1
Chương I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHĨA.
1.1.
KHÁI QT CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHĨA
1.1.1. Khái niệm chính sách tài khóa.
Chính sách tài khố là các chính sách thu chi của Chính phủ nhằm tác động đến
định hướng phát triển của nền kinh tế thơng qua chính sách thuế và các khoản chi tiêu của
Chính phủ.
Chính sách tài khóa có 3 mục tiêu cơ bản: Thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, tạo
công ăn việc làm đầy đủ, ổn định nền kinh tế ở mức sản lượng tiềm năng.
1.1.2. Các cơng cụ của chính sách tài khóa.
1.1.2.1 Chi tiêu của chính phủ
Chi tiêu của chính phủ là khoản tài sản được Chính phủ đưa ra dùng vào mục đích
chi mua hàng hóa và dịch vụ nhằm sử dụng cho lợi ích cơng cộng và điều tiết nền kinh tế
vĩ mô. Như: Chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ gốc tiền do chính phủ vay.
1.1.2.2 Thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật định đối với các cá
nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
+ Phân loại theo kinh tế: Thuế trực thu và thuế gián thu.
+ Phân loại theo đối tượng đánh thuế: Thuế đánh vào hoạt động kinh doanh và dịch vụ,
thuế đánh vào hàng hóa, thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tài sản.
1.1.3 Phân loại chính sách tài khóa:
1.1.3.1 Chính sách tài khóa mở rộng
Chính sách tài khóa mở rộng là chính sách thơng qua việc tăng cường chi tiêu Chính
phủ (G) hoặc giảm bớt thuế (T) hoặc kết hợp cả 2. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách
nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng.
Chính sách tài khóa mở rộng: Nền kinh tế thiếu hụt tổng cầu (AD), để đưa nền kinh
tế thốt khỏi tình trạng suy thối thì mục tiêu là phải làm dịch chuyển đường tổng cầu sang
phải. Tuy nhiên trước tiên ta phải xác định xem muốn dịch chuyển nó đi bao xa. Tổng cầu
phải tăng một lượng thiếu hụt AD. Để làm tăng tổng cầu thì chính phủ có thể thực hiện
bằng hai cơng cụ của chính sách tài khóa:
• Tăng chi tiêu của chính phủ (G):
Đây là giải pháp đơn giản nhất cho thiếu hụt tổng cầu. Chính phủ khơng cần
lấp đầy tồn bộ thiếu hụt tổng cầu, vì theo hiệu ứng số nhân thì mỗi đồng chi tiêu
tăng thêm sẽ làm cho tổng chi tiêu tăng lên gấp nhiều lần (phụ thuộc vào số nhân).
Hiệu ứng số nhân làm cho những thay đổi trong chi tiêu Chính phủ trở thành một
địn bẩy tài chính cực mạnh. Nếu ta biết chính xác sự thiếu hụt tổng cầu ta có thể
dễ dàng tính được sự gia tăng cần thiết trong mức chi tiêu của chính phủ.
Cơng thức tính sự kích thích tài chính mong muốn: Kích thích tài chính
mong muốn = Thiếu hụt AD / Số nhân
Trong thực tế, ta khó biết chính xác mức độ thiếu hụt của tổng cầu cũng như
khó tính tốn được số nhân hơn khi đưa thêm thuế và hàng nhập khẩu vào. Nhưng
dù sao thì công thức trên vẫn cung cấp được một quy tắc hữu dụng để vận dụng
chính sách.
• Cắt giảm thuế (T):
2
Mặc dù chi tiêu của chính phủ cho hàng hóa và dịch vụ có thể lấp được
khoảng cách GDP. Nhưng việc mua hàng của chính phủ vẫn khơng phải là con
đường duy nhất để làm điều đó. Cầu tăng lên có thể sinh ra từ các khoản tăng tiêu
dùng hay đầu tư cũng như từ chi tiêu tăng lên của chính phủ. Nó cũng có thể đến
từ nước ngồi dưới hình thức xuất khẩu tăng lên. Các quyết định tiêu dùng và đầu
tư có thể thay đổi. Chính sách tài chính có thể khuyến khích những thay đổi như
vậy. Chính phủ khơng chỉ mua hàng hóa dịch vụ mà cịn đánh thuế. Bằng cách hạ
thuế, chính phủ làm tăng thu nhập khả dụng. Vấn đề ở đây là một sự cắt giảm thuế
ảnh hưởng đến chi tiêu như thế nào? Tiêu dùng sẽ tăng bao nhiêu trong mỗi đồng
tiền có được do cắt giảm thuế? Câu trả lời là ở khuynh hướng tiêu dùng biên
(MPC). Người tiêu dùng không chi hết mỗi đồng có được từ cắt giảm thuế mà họ
sẽ tiết kiệm một phần và chi tiêu một phần.
Như vây: Tăng ban đầu trong tiêu dùng = MPC x số thuế cắt giảm. Việc
tăng tiêu dùng ban đầu do cắt giảm thuế đưa quá trình số nhân vào hoạt động và
kết quả là làm đường tổng cầu dịch chuyển sang phải.
Số thuế cắt giảm mong muốn = Thiếu hụt AD/(số nhân x MPC)
1.1.3.2. Chính sách tài khóa thu hẹp
Chính sách tài khóa thu hẹp là chính sách thơng qua việc giảm bớt chi tiêu Chính
phủ hoặc tăng thuế hoặc kết hợp cả 2. Việc này sẽ dẫn đến thặng dư ngân sách.
Chính sách tài khóa thu hẹp: Nền kinh tế dư tổng cầu (AD), để đưa nền kinh tế thốt
khỏi tình trạng lạm phát thì mục tiêu là phải làm dịch chuyển đường tổng cầu sang trái. Tuy
nhiên trước tiên ta phải xác định xem muốn dịch chuyển nó đi bao xa. Tổng cầu phải giảm
một lượng thiếu hụt AD. Biết qui mô của tổng cầu dư thừa, ta có thể tính sự kiềm chế tài
khóa mong muốn như sau:
Kiềm chế tài khóa mong muốn= Lượng dư thừa AD/Số nhân.
Để làm giảm tổng cầu thì chính phủ có thể thực hiện bằng hai cơng cụ của chính
sách tài khóa:
• Cắt giảm chi tiêu chính phủ:
Lựa chọn thứ nhất để cân nhắc là cắt giảm chi tiêu Chính phủ. Song chúng ta
phải giảm chi tiêu của Chính phủ cho hàng hóa và dịch vụ bao nhiêu? Câu trả lời
trong trường hợp này tương tự như trường hợp kích thích tổng cầu. Đầu tiên, ta
tính kiềm chế tài khóa mong muốn, như trên đã tính. Sau đó cắt giảm chi tiêu
Chính phủ đúng bằng số đó.
Cắt giảm chi tiêu Chính phủ (G) = Kiềm chế tài khóa mong muốn
• Tăng thuế
Những khoản tăng thuế có thể được sử dụng để làm dịch chuyển đường tổng
cầu sang trái. Ảnh hưởng trực tiếp của tăng thuế là giảm thu nhập khả dụng. Người
ta sẽ phản ứng bằng cách giảm tiêu dùng. Khi họ quá trình số nhân và dẫn tới sự
dịch chuyển lớn hơn nhiều của tổng cầu.
Bởi vì khi tăng thuế người tiêu dùng giảm cả tiêu dùng lẫn tiết kiệm nên thuế phải
được tăng thêm nhiều hơn mức kiềm chế tài khóa mong muốn.
Tăng thuế mong muốn = Kiềm chế tài khóa mong muốn/MPC
3
Nói cách khác, những thay đổi trong thuế phải ln lớn hơn thay đổi mong
muốn trong những khoản rò rỉ hay các khoản thêm vào. Việc lớn hơn bao nhiêu là
tùy thuộc vào khuynh hướng tiêu dùng biên.
Hình 1. Chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tài khóa thu hẹp
1.2. SUY THỐI KINH TẾ.
1.2.1. Khái niệm suy thối kinh tế
Suy thoái kinh tế là một thuật ngữ kinh tế vĩ mô dùng để chỉ sự suy giảm đáng kể
trong hoạt động kinh tế nói chung trong một khu vực nhất định. Tình trạng suy thối kinh
tế thường được ghi nhận sau hai quý suy giảm kinh tế liên tiếp hay nói rõ hơn là kinh tế
tăng trưởng âm, được phản ánh bởi chỉ số GDP kết hợp với các chỉ số hàng tháng khác
như việc làm. Suy thoái kinh tế có biểu hiện rất rõ trong sản xuất công nghiệp, việc làm,
thu nhập thực tế và thương mại.
1.2.2. Nguyên nhân gây ra suy thoái
Nhiều học thuyết kinh tế đã cố gắng giải thích nguyên nhân tại sao và cách thức
một nền kinh tế chệch khỏi xu hướng tăng trưởng dài hạn và bước vào thời kì suy thối
tạm thời. Những học thuyết này được phân loại rộng theo các yếu tố kinh tế thực tế, tài
chính hoặc tâm lí, và một số học thuyết làm cầu nối giữa các học thuyết trên.
Một số nhà kinh tế tin rằng những thay đổi có thực và sự thay đổi cấu trúc trong
các ngành là cách giải thích tốt nhất cho nguyên nhân và cách thức suy thoái kinh tế xảy
ra. Ví dụ, khi giá dầu tăng đột ngột, kéo dài do khủng hoảng địa chính trị có thể dẫn tới
chi phí của nhiều ngành tăng vọt hoặc sự xuất hiện của một cơng nghệ mới mang tính
cách mạng có thể khiến toàn bộ các ngành khác trở nên lỗi thời.
Thuyết chu kì kinh doanh thực là ví dụ hiện đại tốt nhất cho những học thuyết này,
giải thích suy thối là phản ứng tự nhiên của những người tham gia lí trí trong thị trường
đối với một hay nhiều cú sốc tiêu cực có ảnh hưởng thực, khơng lường trước được đối
với nền kinh tế.
Một số học thuyết khác cho rằng suy thoái phụ thuộc vào các yếu tố tài chính. Các
học thuyết này tập trung vào sự bùng nổ của tín dụng và rủi ro tài chính trong khoảng
thời gian mà nền kinh tế đang tăng trưởng tốt trước một cuộc suy thối, hoặc sự thắt chặt
của tín dụng và tiền bạc trước thềm suy thoái, hoặc cả hai.
4
Các học thuyết dựa trên tâm lí học về suy thối có xu hướng nhìn vào sự hưng
phấn q mức của thời kì bùng nổ của nền kinh tế trước đó hoặc sự bi quan sâu sắc trong
mơi trường suy thối như giải thích tại sao suy thối có thể xảy ra và thậm chí cịn tồn
tại.
Học thuyết kinh tế của Keynes chính là ví dụ tiêu biểu của trường hợp này, vì nó chỉ
ra rằng một khi suy thối bắt đầu, vì bất kỳ lí do gì, khi tâm lí bầy đàn của các chủ thể
trong nền kinh tế trở nên tiêu cực, các nhà đầu tư có thể tự xây dựng nên thực tế dựa theo
kì vọng của họ về tâm lí bi quan của thị trường, điều này dẫn tới giảm thu nhập khiến cho
chi tiêu sụt giảm.
Khi nền kinh tế suy thối, chính phủ có thể sử dụng chính sách tài khóa mở rộng
để kích thích nó bằng việc mua hàng nhiều hơn, cắt giảm thuế. Ngân sách nhà nước
khi áp dụng chính sách này nên thâm hụt.
5
Chương II. THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN CUỐI
NĂM 2008 – ĐẦU NĂM 2009.
2.1. GIAI ĐOẠN CUỐI NĂM 2008.
Về sản lượng nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Tổng hợp số liệu điều tra cho thấy kết quả sản xuất của một số cây trồng cao hơn
ước tính ban đầu, trong đó: Sản lượng lúa cả năm đạt 38,7 triệu tấn, tăng 7,7% so với
năm 2007; sản lượng sắn đạt 9,4 triệu tấn, tăng 14,7% so với năm 2007; sản lượng cà phê
đạt 1055,8 nghìn tấn, tăng 15,3% so với năm 2007.
Do những sản phẩm chủ yếu nêu trên đạt mức cao hơn ước tính ban đầu nên giá trị
sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo giá so sánh 1994 đạt 213,5 nghìn tỷ đồng,
tăng 6% so với năm 2007, trong đó nơng nghiệp đạt 156,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6%.
Về sản xuất công nghiệp.
Trong những tháng cuối năm, nhất là tháng 12/2008 sản xuất công nghiệp gặp
nhiều khó khăn hơn nên giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến theo giá so sánh
1994 chỉ đạt 577 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2007; cơng nghiệp sản xuất và
phân phối điện, khí đốt và nước đạt 34,5 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7%.
Do sản xuất của 2 ngành công nghiệp nêu trên không đạt được tốc độ tăng trưởng
như ước tính lần trước nên giá trị sản xuất tồn ngành cơng nghiệp theo giá so sánh 1994
đã giảm từ 652,8 nghìn tỷ đồng xuống 647,3 nghìn tỷ đồng và tốc độ tăng so với năm
2007 của tồn ngành cơng nghiệp giảm từ 14,6% xuống cịn 13,9%.
Về xuất – nhập khẩu hàng hóa.
Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu cả năm 2008 đạt 62,7 tỷ USD, giảm 221 triệu USD
so với ước tính lần trước, trong khi đó kim ngạch hàng hố nhập khẩu đạt 80,7 tỷ USD,
tăng 298 triệu USD nên nhập siêu cả năm 2008 là 18 tỷ USD, tăng 26,8% so với mức
nhập siêu năm 2007 và bằng 28,8% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu.
Về tổng sản phẩm trong nước (GDP).
Trên cơ sở điều chỉnh kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và công nghiệp,
tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 được đánh giá đạt
489,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,18% so với năm 2007, trong đó khu vực nơng, lâm nghiệp và
thủy sản tăng 4,07%; công nghiệp và xây dựng tăng 6,11%; dịch vụ tăng 7,18%. (Nguồn:
Chinhphu.vn)
Tỉ lệ thất nghiệp:
Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2008 ước tính 45
triệu người. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị ước tính
4,65%. (Nguồn: Chinhphu.vn)
Chỉ số giá tiêu dùng:
Giá tiêu dùng tháng 12 năm 2008 so với tháng trước giảm 0,68%. Nhưng giá tiêu
dùng năm 2008 nhìn chung tăng khá cao và diễn biến phức tạp, khác thường so với xu
hướng giá tiêu dùng các năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tăng 22,97%.
(Nguồn: Chinhphu.vn)
6
2.2. GIAI ĐOẠN ĐẦU NĂM 2009.
Bước vào năm 2009, kinh tế-xã hội nước ta tiếp tục chịu ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều nền kinh tế lớn suy thối. Trong khi chưa khắc phục hết
những khó khăn của năm 2008 và những năm trước đó để lại thì nước ta lại phải đương
đầu với những thách thức mới.
Về tăng trưởng kinh tế:
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2009 ước tính tăng 3,1% so với cùng kỳ
năm 2008, bao gồm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,4%; khu vực công
nghiệp và xây dựng tăng 1,5%; khu vực dịch vụ tăng 5,4%.
Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản:
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I/2009 theo giá so sánh 1994
ước tính đạt 44,6 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm nông
nghiệp đạt 33,2 nghìn tỷ đồng, giảm 0,1%; lâm nghiệp 1,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5%;
thuỷ sản 10 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9%.
Về sản xuất công nghiệp:
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 3/2009 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng
2,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2009, giá trị sản xuất công nghiệp theo
giá so sánh 1994 tăng 2,1% so với quý I/2008, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước giảm
3,2%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngồi tăng 2,9%.
Hình 12: Tăng trưởng giá trị sản xuất cơng nghiệp năm 2009
(Nguồn: GSO&WSS)
Xuất, nhập khẩu hàng hố:
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 3/2009 ước tính đạt 4,7 tỷ USD, giảm 6,5%
so với tháng trước và giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2009, kim
ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 13,5 tỷ USD, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Kim
ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I/2009 tăng chủ yếu do tái xuất vàng 2,3 tỷ USD (Nếu
khơng tính lượng vàng xuất khẩu thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu quý I/2009 đạt 11,2
tỷ USD, giảm 15% so với cùng kỳ năm trước).
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 3/2009 ước tính đạt 4,3 tỷ USD, tăng 2,7%
so với tháng trước và giảm 46,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung kim ngạch hàng
7
hóa nhập khẩu q I/2009 ước tính đạt 11,8 tỷ USD, giảm 45% so với cùng kỳ năm
trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 7,5 tỷ USD, giảm 50,4%; khu vực có vốn
đầu tư nước ngồi đạt 4,3 tỷ USD, giảm 32,4%.
Nguồn: Báo cáo KTXH hàng tháng, Tổng cục Thống kê (2009).
Giá tiêu dùng:
Giá tiêu dùng tháng 01/2009 tăng 0,32% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng
của dân cư tăng lên trong dịp Tết Nguyên đán. Riêng nhóm phương tiện đi lại, bưu điện
giảm 3,51% do giá xăng dầu giảm mạnh. Giá tiêu dùng tháng 01/2009 so với tháng
01/2008 tăng 17,48%.
Giá vàng tháng 01/2009 so với tháng 12/2008 tăng 3,64%, so với tháng 01/2008
tăng 5,38%. Giá đô la Mỹ tháng 01/2009 so với tháng 12/2008 tăng 1,48%, so với tháng
01/2008 tăng 8,16%.
Tỉ lệ thất nghiệp:
8
Diễn biến tình hình thất nghiệp của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2009
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2009) và Asian Development Bank (ADB) (2009).
Tỉ lệ thất nghiệp trong năm 2009 ở Việt Nam tăng lên 2,9% từ mức 2,38% năm
2008. Hiện cả nước có khoảng 1,3 triệu người chưa có việc làm trên tổng số 55 triệu
người trong độ tuổi lao động.
Kết luận:
Từ những số liệu cuối năm 2008 – đầu năm 2009, chúng ta có thể thấy chỉ số xuất
– nhập khẩu năm 2009 giảm so với năm 2008 và tỉ lệ thất nghiệp tăng. Từ đó, ta có thể
kết luận tình hình nền kinh tế Việt Nam đang suy thối, từ đó Chính Phủ cần đưa ra các
chính sách tài khóa phù hợp. Cụ thể ở đây là chính sách tài khóa mở rộng để kích cầu,
đưa nền kinh tế Việt Nam vượt qua khó khăn, từng bước thiết lập ổn định trật tự.
9
Chương III. NGUYÊN NHÂN
3.1. NGUYÊN NHÂN GIÁN TIẾP
Nguyên nhân sâu xa của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng
và nhà đất tại Mỹ. Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đã đặt thị trường nhà
đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia châu Âu vào thế nguy hiểm.
Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho quả bong bóng tại thị trường nhà
đất. Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản mà không quan tâm tới khả năng chi trả
của khách. Dư nợ trong mảng này nhảy từ 160 tỷ USD của năm 2001 lên 540 tỷ vào năm
2004 và bùng nổ thành 1.300 tỷ vào năm 2007. Theo ước tính vào cuối quý III năm 2008,
hơn một nửa giá trị thị trường nhà đất Mỹ là tiền đi vay với một phần ba các khoản này là
nợ khó địi. Trước đó, để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào
giữa năm 2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006 khiến lãi vay phải trả trở thành áp lực quá
lớn với người mua nhà. Thị trường bất động sản thời điểm này bắt đầu có dấu hiệu đóng
băng và sụt giảm.
Trước tình hình trên, các ngân hàng, cơng ty bảo hiểm, tổ chức tài chính... đã mua
lại các hợp đồng thế chấp và biến chúng thành tài sản đảm bảo để phát hành trái phiếu ra
thị trường. Loại sản phẩm phát sinh này được đánh giá cao bởi các tổ chức định giá tín
dụng, nên thanh khoản tốt. Khơng chỉ dừng lại ở đó, nhiều cơng ty bảo hiểm, trong đó có
AIG, cịn sẵn sàng bảo lãnh cho những hợp đồng hoán đổi này.
Chiến lược trên được đưa ra với mục đích giảm rủi ro cho những khoản vay bất
động sản. Tuy nhiên, trái lại nó tạo ra hiệu ứng sụp đổ dây chuyền và khiến rủi ro bị đẩy
lên cao hơn. Những bất ổn từ hoạt động cho vay dưới chuẩn khiến giá nhà sụt giảm
mạnh, thị trường nhà đất đóng băng. Cuộc khủng hoảng từ đó lan từ thị trường bất động
sản sang thị trường tín dụng và cuối cùng dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ và tràn
sang nhiều nước châu Âu, khiến nhiều cơng ty lớn phá sản.
Chưa dừng lại ở đó, ba nhà sản xuất xe hơi hàng đầu của Mỹ là Ford, General
Motors (GM) và Chrysler phá sản khiến cho ngành công nghiệp xe hơi của Mỹ rơi vào
khủng hoảng nghiêm trọng.
3.2. NGUYÊN NHÂN TRỰC TIẾP.
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn đã đẩy kinh tế
thế giới, trong đó có Việt Nam rơi vào tình trạng suy thối, thu hẹp thị trường xuất khẩu,
thị trường vốn đầu tư nước ngoài, thị trường lao động và tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh
vực kinh tế - xã hội khác ảnh hưởng tới mục tiêu phát triển bền vững của nền kinh tế
nước ta. Nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp, dịch vụ, thương mại... sẽ phải
thu hẹp sản xuất và kinh doanh, thậm chí phá sản khiến cho nhiều lao động bị mất việc
làm, đời sống khó khăn. Mặt khác, thị trường xuất khẩu lao động của nước ta cũng sẽ
giảm do các nước khác cũng bị tác động của cuộc đại suy thối tồn cầu. Bên cạnh đó, do
thiếu nguồn vốn đầu tư vào các cơng trình trọng điểm, đặc biệt là các cơng trình cơ sở hạ
tầng phục vụ nhu cầu phát triển trước mắt và lâu dài rất dễ rơi vào tình trạng thi cơng
dang dở, chậm đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả. Hơn thế nữa, mưa lớn ở miền
Trung và rét đậm ở miền Bắc đã gây tổn thất rất lớn cho ngành nông nghiệp của nước ta.
Thị trường hàng hóa nội địa gặp nhiều bất lợi do hàng hóa nước ngồi ồ ạt tràn vào nước
10
ta. Đứng trước những khó khăn đó, địi hỏi Chính phủ phải có những chính sách tài khóa
phù hợp để ổn định và phát triển đất nước.
Chương IV. CHÍNH SÁCH TÀI KHĨA MỞ RỘNG CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN CUỐI NĂM 2008 – ĐẦU NĂM 2009.
Khi nền kinh tế suy thối, Chính phủ Việt Nam sử dụng chính sách tài khóa mở
rộng bằng cách tăng chi tiêu của Chính phủ (G) và giảm thuế (T).
Chi phí cho gói giải pháp đợt 1
Nguồn: Dựa trên số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. Số liệu
trong ngoặc kép thể hiện việc hoãn thuế (khác với miễn trừ) các khoản thu hoặc chi không nằm trong
ngân sách.
4.1. TĂNG CHI TIÊU CHÍNH PHỦ (G).
1. Ngày 15/01/2009, Chính phủ đã quyết định các phương án sử dụng khoản kích
cầu 1 tỷ USD (17.000 tỷ VND) để hỗ trợ 4% lãi suất vốn vay cho các khoản vay ngắn
hạn trong thời gian tối đa là 8 tháng, kết thúc vào ngày 31/12/2009. Đối tượng được
hưởng là các DN nhỏ và vừa, có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng, sử dụng khơng q 300
cơng nhân, khơng có nợ đọng thuế và khơng có nợ tín dụng q hạn.
2. Ngày 04/04/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định cho các tổ chức,
cá nhân vay vốn trung, dài hạn và sẽ được Nhà nước hỗ trợ lãi suất tiền vay 4%/năm
trong khoảng thời gian tối đa 24 tháng, với tổng số lãi hỗ trợ là 20.000 tỷ VND. Việc hỗ
trợ lãi suất này được thực hiện từ ngày 01/04/2009 đến hết ngày 31/12/2011. Gói kích
cầu thứ hai này có quy mơ lớn hơn, thời hạn dài hơn (tới 2 năm), điều kiện nới lỏng hơn
11
(DN và cả HTX có vốn dưới 20 tỷ đồng, sử dụng dưới 500 lao động, có thể nợ thuế và tín
dụng q hạn nhưng có dự án phù hợp vẫn được xét cho vay) và lĩnh vực cho vay cũng
được mở rộng hơn.
3. Chính phủ sẽ điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ theo nguyên tắc linh hoạt, nhằm khuyến
khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Tổng nguồn lực sử dụng để kích cầu đầu tư và tiêu
dùng của Việt Nam là rất lớn, nếu tính thêm cả 17.000 tỷ đồng tăng thêm dư nợ bảo lãnh
tín dụng cho DN thì tổng giá trị các gói kích cầu của Chính phủ Việt Nam hiện nay lên
đến 160.000 tỷ đồng, tương đương 9 tỷ USD, chiếm gần 10% GDP của Việt Nam hiện
nay.
4. Hỗ trợ người nghèo ăn Tết và người lao động mất việc; trợ cấp khó khăn cho
cán bộ cơng chức có thu nhập thấp trong 4 tháng đầu năm; hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo;
triển khai chương trình giảm nghèo ở 62 huyện; hỗ trợ khuyến nơng, khuyến ngư ở địa
bàn khó khăn; xây dựng các cơng trình cấp nước trên các đảo có đơng dân cư, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ lãi suất vay mua vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nơng thơn;
xây dựng ký túc xá cho sinh viên; chính sách xây dựng nhà ở cho công nhân lao động tại
các khu cơng nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp ở đô thị; điều chỉnh tăng mức
lương tối thiểu chung và tiền lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp...
Tổng số chi cho an sinh xã hội ước khoảng 22.470 tỷ đồng, tăng 62% so với năm
2008. Chi điều chỉnh tiền lương, trợ cấp, phụ cấp khoảng 36.700 tỷ đồng. Trợ cấp cứu đói
giáp hạt và khắc phục thiên tai 41.580 tấn gạo (riêng số gạo cứu trợ đợt đầu khắc phục
hậu quả bão số 9 là 10.300 tấn). Tổng dư nợ của 18 chương trình cho vay hộ nghèo và
các đối tượng chính sách do Ngân hàng Chính sách Xã hội thực hiện ước đến cuối năm
đạt 76 nghìn tỷ đồng, tăng 45,3% so với năm 2008. Các doanh nghiệp đã hỗ trợ 62 huyện
nghèo trên 1.600 tỷ đồng. Kết quả các nỗ lực chung đó đã góp phần ổn định và cải thiện
đời sống nhân dân, đặc biệt là đối với người nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm, đến cuối năm
cịn khoảng 11%.
4.2. GIẢM THUẾ (T)
Chính phủ thực hiện miễn, giảm, giãn một số loại thuế, và kéo dài thời hạn nộp
thuế xuất nhập khẩu, ước tính có khoảng 28.000 tỷ đồng để kích cầu nhờ thực hiện chính
sách giảm thuế. Giảm 50% thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với 19 nhóm mặt hàng tiêu
thụ nội địa (Quyết định 16/2009/QĐ-TTg) và hoãn thu thuế thu nhập cá nhân trong 5
tháng đầu năm 2009. Tạm hoàn 90% số thuế GTGT đầu vào khi chưa có chứng từ và
hồn tiếp 10% khi có chứng từ thanh tốn. Giãn thời hạn nộp thuế GTGT đến 180 ngày
đối với hàng nhập khẩu là thiết bị, máy móc trong nước chưa sản xuất được, phải nhập
khẩu để tạo tài sản cố định của DN. Đối với thuế nhập khẩu, thực hiện giảm thuế cho
nhiều mặt hàng là nguyên liệu đầu vào và hàng tiêu dùng.
Để thực hiện chính sách kích cầu, Chính phủ đã cho phép giảm 30% số thuế thu
nhập DN (TNDN) phải nộp của quý IV/2008 và cả năm 2009 của DN nhỏ và vừa. Đồng
thời, giãn thời hạn nộp thuế TNDN trong thời gian 9 tháng của năm 2009 đối với thu
nhập từ các hoạt động: sản xuất sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất, sản xuất vật liệu xây
dựng, dịch vụ du lịch, kinh doanh lương thực, phân bón,... (Nguồn: Tapchitaichinh.vn)
12
Đồng thời thực hiện điều chỉnh giảm thuế đối với 8 nhóm thuốc chữa bệnh để góp
phần bình ổn thị trường, giảm giá thuốc (từ các mức 2%, 5% và 8% xuống 0%). (Nguồn:
Luatminhkhue.vn).
Giảm thuế tác động đến nhiều thành phần của tổng cầu:
4.2.1. Về kích cầu tiêu dùng (C)
Giảm thuế làm tăng thu nhập khả dụng (Yd) kéo theo chi tiêu (C) tăng, từ đó làm
tổng cầu (AD) tăng.
a) Tiếp tục điều hành giá theo cơ chế thị trường đối với các mặt hàng: điện, than, nước
sạch, cước vận chuyển xe buýt,...Trong tháng 01 năm 2009, Bộ Tài chính chủ trì, phối
hợp với Bộ Cơng Thương và cơ quan liên quan báo cáo Thủ tướng Chính phủ lộ trình
thực hiện cụ thể.
b) Bộ Cơng Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính
phủ Đề án phát triển hệ thống phân phối các mặt hàng thiết yếu, trong đó tập trung vào
các mặt hàng: lương thực, xăng đầu, phân bón, sắt thép, xi măng và thuốc chữa bệnh, để
hoạt động sản xuất kinh doanh của các mặt hàng này bảo đảm được sự quản lý của Nhà
nước, chống gian lận thương mại, đầu cơ, tăng giá, gây mất ổn định thị trường, bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng.
c) Các Bộ: Cơng Thương, Tài chính, Y tế, Khoa học và Công nghệ tăng cường các biện
pháp quản lý thị trường, giá cả, chất lượng hàng hóa và vệ sinh an tồn thực phẩm; xử lý
nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật hiện hành, nhất là kinh doanh
trái phép, trốn lậu thuế, liên kết độc quyền nhằm thao túng thị trường và giá cả.
d) Khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức các đợt hạ giá bán hàng để kích thích tiêu
dùng trước mắt là trong dịp Tết Nguyên đán 2009.
4.2.2. Về kích cầu đầu tư (I)
Đi đơi với việc tiếp tục tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện và khuyến khích các thành
phần kinh tế tham gia trực tiếp đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, cần tập trung triển
khai thực hiện các giải pháp cấp bách sau đây:
a) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan rà
soát lại toàn bộ các văn bản pháp luật hiện hành về đầu tư, xây dựng để sửa đổi ngay
những bất cập làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án đầu tư; khẩn trương xây
dựng dự Luật sửa đổi, bổ sung các Luật về đầu tư, xây dựng để trình Quốc hội tại kỳ họp
thứ 5, Quốc hội khố XII thơng qua.
b) Đối với các dự án, cơng trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước: cho phép tiếp
tục giải ngân số vốn còn lại của năm 2008 đến hết tháng 6 năm 2009. Đối với các dự án,
cơng trình quan trọng cấp bách nhưng chưa bố trí được nguồn vốn, trong đó có dự án tái
định cư các khu kinh tế, các Bộ, ngành và địa phương chỉ đạo các chủ đầu tư khẩn trương
hoàn thành các thủ tục đầu tư và chủ động làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài
chính để xử lý nguồn vốn, kể cả việc tạm ứng từ ngân sách nhà nước để thực hiện.
c) Tạm hoãn thu hồi các khoản vốn ngân sách nhà nước đã ứng trước kế hoạch năm 2009,
trừ các khoản đã được tạm ứng năm 2009 để hoàn thành trong năm 2008. Giao Bộ Kế
hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan có liên trình Thủ
tướng Chính phủ trong tháng 12 năm 2008 danh mục các dự án và mức vốn được hoãn
thu hồi.
13
d) Đối với các dự án, cơng trình sử dụng nguồn trái phiếu Chính phủ, cho phép điều
chỉnh tổng mức đầu tư đối với các dự án đã có trong danh mục được Ủy ban Thường vụ
Quốc hội và Thủ tương Chính phủ giao; trên cơ sở đó thực hiện việc điều hồ vốn giữa
các dự án, cơng trình và được thanh toán theo tiến độ. Đồng thời, cho phép tiếp tục giải
ngân số vốn trái phiếu Chính phủ cịn lại của năm 2008 trong năm 2009.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan hoàn
thành phương án phân bổ kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ năm 2009 trước ngày
31 tháng 12 năm 2008, trong đó ưu tiên cho các dự án trong danh mục của Quyết định
số 171/QĐ-TTg ngày 24 tháng 7 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ; bổ sung các dự án
cấp bách khác trong các lĩnh vực giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục để triển khai thực
hiện.
Tạm ứng từ nguồn trái phiếu Chính phủ khoảng 1.500 tỷ đồng để đầu tư xây dựng, cải
tạo, nâng cấp hệ thống thủy lợi, tu bổ hệ thống đê điều, nâng cao năng lực tưới tiêu và
phịng, chống lụt bão vùng đồng bằng sơng Hồng. Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì,
phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính trình Thủ tướng
Chính phủ trong tháng 12 năm 2008 danh mục và mức vốn tạm ứng cho từng dự án cụ
thể.
đ) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì ban hành biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục thu hút và đẩy
nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn FDI và ODA, nhất là các dự án xây dựng cơ sở hạ
tầng, các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm cơng nghệ cao, có giá trị xuất khẩu lớn, những
dự án giải quyết nhiều việc làm; phấn đấu năm 2009 thực hiện việc giải ngân các nguồn
vốn trên không thấp hơn mức thực hiện năm 2008.
e) Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ báo cáo Ủy ban
Thường vụ Quốc hội trong tháng 12 năm 2008 cho phép cấp quyết định đầu tư được chỉ
định thầu các dự án có mức vốn tối đa không quá 05 tỷ đồng/dự án tại các địa bàn miền
núi, vùng sâu, vùng xa, đồng thời chịu trách nhiệm về các quyết định của mình theo quy
định của pháp luật.
g) Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư các dự án, cơng trình có
quy mơ lớn được tạo điều kiện thuận lợi tối đa về đất đai, tiếp cận nguồn vốn, giải phóng
mặt bằng, lãi suất, . . .
Các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước chủ động tham gia các dự án, cơng trình
đầu tư hạ tầng quan trọng như: cảng biển, điện, đường cao tốc, thuỷ lợi, trường học, cơ sở
y tế… để góp phần đẩy nhanh tiến độ và kế hoạch thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng kinh
tế và xã hội của đất nước.
h) Trong tháng 12 năm 2008, Bộ Xây dựng trình Chính phủ Đề án xây dựng Quỹ nhà ở
xã hội giai đoạn 2009 – 2015, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ ban hành cơ chế
phù hợp để bảo đảm khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở công nhân tại các khu công
nghiệp.
14
Chương V. NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA GIAI
ĐOẠN CUỐI NĂM 2008 – ĐẦU NĂM 2009.
5.1. KẾT QUẢ ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ.
Đầu tư phát triển
Với mục tiêu ưu tiên là ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, trong
năm qua Chính phủ đã tập trung thực hiện các gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng; đồng thời
chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, cơng trình trọng điểm nhằm nâng cao hiệu
quả vốn đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Nhờ vậy, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2009 theo giá thực tế ước tính đạt
704,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008 và bằng 42,8% GDP, bao gồm vốn khu
vực Nhà nước 245 nghìn tỷ đồng, chiếm 34,8% tổng vốn và tăng 40,5%; khu vực ngồi
Nhà nước 278 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,5% và tăng 13,9%; khu vực có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngồi 181,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,7% và giảm 5,8%.
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2009
Nghìn tỷ
đồng
Cơ cấu So với cùng kỳ
(%) năm trước (%)
TỔNG SỐ
704,2
100,0
115,3
Khu vực Nhà nước
245,0
34,8
140,5
Khu vực ngoài Nhà nước
278,039,5
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngồi
181,2
113,9
25,7
94,2
(Nguồn: chinhphu.vn)
Cân đối thu, chi ngân sách Nhà nước
Mặc dù bị ảnh hưởng trong những tháng đầu năm do thực hiện miễn, giảm, giãn
thuế và giá dầu thô trên thế giới giảm, nhưng những tháng cuối năm sản xuất kinh doanh
trong nước phát triển nên tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước
tính đạt xấp xỉ dự tốn năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 102,5%; thu từ dầu thô
bằng 86,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 101,6%. Trong thu
nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 106,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngồi (không kể dầu thô) bằng 88,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch
vụ ngoài Nhà nước bằng 95,6%; thuế thu nhập cá nhân bằng 87%; thu phí xăng dầu đạt
157,5%; thu phí, lệ phí bằng 90,8%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đạt 96,2% dự
tốn năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 95,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt
93,4%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phịng, an ninh, quản lý Nhà nước,
Đảng, đồn thể đạt 99,6%; chi trả nợ và viện trợ đạt 102,7%. Bội chi ngân sách Nhà nước
năm 2009 ước tính bằng 7% GDP, thực hiện được mức bội chi Quốc hội đề ra, trong đó
81,2% mức bội chi được bù đắp bằng nguồn vay trong nước; 18,8% bù đắp bằng nguồn
vay nước ngoài.
15
Xuất khẩu hàng hoá
Do sức tiêu thụ hàng hoá trên thị trường thế giới thu hẹp, giá cả của nhiều loại
hàng hoá giảm mạnh nên kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2009 chỉ đạt gần 41,4 tỷ
USD, giảm 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Những tháng cuối năm tình hình đã được
cải thiện rõ rệt. Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tháng 11 đạt gần 4,7 tỷ USD, tăng 10,2%
so với cùng kỳ năm trước. Tháng 12 đạt mức cao nhất trong năm với 5,25 tỷ USD, tăng
12% so với tháng trước và tăng 12,5% so với tháng 12 năm trước, chủ yếu do hầu hết các
mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng, trong đó hàng dệt may tăng 90 triệu USD, gạo tăng
80 triệu USD; giày dép tăng 77 triệu USD; cà phê tăng 67 triệu USD; dầu thơ tăng 33
triệu USD. Tính chung q IV năm 2009, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tăng 7,1% so
với quý IV năm 2008.
Nhập khẩu hàng hoá
Tương tự như xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá 8 tháng đầu năm chỉ đạt
gần 41,8 tỷ USD, giảm 29% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, những tháng cuối năm kinh tế thế giới có sự phục hồi nên một số mặt
hàng đã tăng giá; mặt khác, kinh tế trong nước đạt tốc độ tăng trưởng khá, nhu cầu hàng
hoá phục vụ sản xuất và đời sống cũng tăng lên nên kim ngạch nhập khẩu hàng hoá tháng
9, tháng 10, tháng 11 và tháng 12 liên tục tăng so với cùng kỳ năm trước với tốc độ tăng
lần lượt là: 13,9%, 14,5%, 44,5% và 15,7%.
Do vậy, tính chung cả năm 2009, kim ngạch nhập khẩu hàng hố ước tính đạt 68,8
tỷ USD, giảm 14,7% so với năm 2008, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 43,9 tỷ
USD, giảm 16,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngồi đạt 24,9 tỷ USD, giảm 10,8%.
Hầu hết kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng nguyên, nhiên liệu phục vụ sản xuất
của năm nay đều giảm so với năm 2008.
Kết quả phòng ngừa lạm phát cao
Giá tiêu dùng năm 2009 tương đối ổn định, ngoài tháng 2 và tháng 12 chỉ số giá
tiêu dùng tăng trên 1%, các tháng còn lại giảm hoặc tăng thấp nên chỉ số giá tiêu dùng
tháng 12 năm 2009 so với tháng 12 năm 2008 tăng 6,52%, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu
tăng dưới 10% Quốc hội đề ra.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2009 tăng 6,88% so với bình quân năm 2008,
là mức thấp nhất trong 6 năm trở lại đây (Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2004 tăng
7,71%; năm 2005 tăng 8,29%; năm 2006 tăng 7,48%; năm 2007 tăng 8,3%; năm 2008
tăng 22,97%).
Chỉ số giá vàng tháng 12/2009 tăng 10,49% so với tháng trước; tăng 64,32% so
với cùng kỳ năm 2008. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2009 tăng 3,19% so với tháng
trước; tăng 10,7% so với cùng kỳ năm 2008. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn
cầu, nền kinh tế nước ta vừa đạt mức tăng trưởng tương đối khá, vừa duy trì được mức độ
lạm phát không cao, đây là thành công lớn trong chỉ đạo, điều hành kinh tế vĩ mô.
Về tỉ lệ thất nghiệp:
Tại thời điểm điều tra, cả nước có 1,3 triệu lao động trong độ tuổi thất nghiệp, tỷ
lệ thất nghiệp là 2,9% (cao hơn mức 2,38% của năm 2008), trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu
vực thành thị là 4,64%, xấp xỉ năm 2008; khu vực nông thôn là 2,25%, cao hơn mức
1,53% của năm 2008.
16
5.2. NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ.
5.2.1. Những mặt tích cực của chính sách
Có thể nói, gói kích cầu trước hết có hiệu ứng tâm lý tích cực, làm tăng tức thời
lòng tin của các doanh nghiệp, các ngân hàng và nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào
trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, cũng
như tin vào triển vọng thị trường và mơi trường đầu tư trong nước.
Gói kích cầu đã trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn
ngân hàng với chi phí rẻ hơn, từ đó giảm bớt chi phí kinh doanh, góp phần giảm giá
thành sản phẩm, tăng cạnh tranh và tăng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trên thị trường;
giúp các ngân hàng cải thiện hoạt động huy động vốn và cho vay tín dụng của mình, một
mặt, khơng phải hạ thấp lãi suất huy động dễ gây giảm và biến động mạnh nguồn tiền gửi
và huy động; mặt khác, mở rộng đầu ra nhờ không buộc phải nâng lãi suất cho vay dễ
làm thu hẹp cầu tín dụng trên thị trường.
Sự ổn định và hoạt động lành mạnh của hệ thống ngân hàng trong khi gia tăng
dòng tiền vào thị trường là điều kiện tiên quyết cho sự ổn định kinh tế vĩ mô và gia tăng
các hoạt động đầu tư xã hội, mà bài học khủng hoảng tài chính ở Mỹ hiện đang là bài học
đắt giá nóng hổi.
Hơn nữa, gói kích cầu cịn trực tiếp góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng và
động lực của sự phát triển xã hội cả hiện tại, cũng như tương lai. Nhiều doanh nghiệp
nhận được sự hỗ trợ kịp thời của gói kích cầu đã có thêm cơ hội giữ vững và mở rộng sản
xuất, từ đó góp phần giảm bớt áp lực thất nghiệp và đảm bảo ổn định xã hội.
Những hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại quốc gia được tài trợ từ gói kích
cầu nếu thực hiện có hiệu quả sẽ có tác động tích cực đến việc tăng dịng vốn chảy vào và
mở rộng thị trường đầu ra cho doanh nghiệp và nền kinh tế, từ đó trực tiếp góp phần vào
phát triển kinh tế -xã hội đất nước..
Những kết quả đạt được của năm 2009 đã khẳng định nền kinh tế nước ta đã vượt qua
giai đoạn khó khăn nhất. Đây là thắng lợi của ý Đảng, lòng dân; thể hiện sức mạnh nội lực
Việt Nam. Do vậy, cần tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệm thành công để lãnh đạo,
chỉ đạo, điều hành Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 và những năm tiếp theo.
Một số chỉ tiêu chủ yếu năm 2009 (tăng/giảm) so với năm trước (%)
Tổng sản phẩm trong nước
+ 5,32
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
+3,0
Giá trị sản xuất công nghiệp
+7,6
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng kim ngạch xuất khẩu
+18,6
-9,7
17
Tổng kim ngạch nhập khẩu
-14,7
Khách quốc tế đến Việt Nam
-10.9
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá thực tế
+15,3
Chỉ số giá tiêu dùng năm 2009 so với năm 2008
+6,88
(Nguồn: Chinhphu.vn)
5.2.2. Những mặt hạn chế của chính sách
Bên cạnh những kết quả quan trọng nêu trên, tình hình kinh tế - xã hội năm 2009 vẫn
còn những hạn chế. Cụ thể là:
- Thứ nhất, nền kinh tế tuy đã tăng trưởng khá và vượt qua giai đoạn khó khăn,
nhưng tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển theo chiều rộng, tăng khối lượng
các nguồn lực, nhất là tăng vốn đầu tư, chưa thực sự dựa trên cơ sở tăng năng suất lao
động xã hội và nâng cao hiệu quả nên chất lượng tăng trưởng chưa cao và chưa thật vững
chắc.
Tỷ lệ đầu tư so với GDP năm 2008 là 41,3%; năm 2009 là 42,8%, nhưng tốc độ
tăng GDP hai năm chỉ đạt 6,18% và 5,32% là chưa tương xứng. Khả năng cạnh tranh của
nền kinh tế và của nhiều ngành, nhiều sản phẩm còn thấp trong khi nước ta đã hội nhập
đầy đủ với thế giới.
- Thứ hai, cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Mức thâm hụt ngân sách tuy
đã được khống chế, nhưng đã lên tới 7% GDP; nhập siêu hàng hoá năm 2009 tuy giảm
32,1% so với năm 2008, nhưng vẫn bằng 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá;
nhập siêu dịch vụ bằng 18,6% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ và tăng 17% so với năm
2008. Lạm phát trong năm được khống chế ở mức hợp lý, nhưng nhìn chung giá cả vẫn
tiếp tục tăng và đang tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể gây tái lạm phát cao.
Hình 15: Thâm hụt ngân sách nhà nước từ năm 2003 đến năm 2009
18
(Nguồn: GSO&WSS)
- Thứ ba, một số vấn đề xã hội bức xúc chậm được khắc phục. Đời sống nhân dân,
nhất là những người có thu nhập thấp, dân cư vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người và
vùng thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai vẫn còn nhiều khó khăn. Tình trạng thất
nghiệp và thiếu việc làm vẫn còn cao. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở
01/4/2009, tại thời điểm điều tra, cả nước có 1,3 triệu lao động trong độ tuổi thất nghiệp
với tỷ lệ thất nghiệp là 2,9%, cao hơn mức 2,38% của năm 2008. Tỷ lệ hộ nghèo tuy đã
giảm nhưng vẫn cịn 12,3%. Tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp. Tai nạn giao thơng
chưa giảm mạnh, thậm chí có nơi, có thời điểm cịn tiếp tục gia tăng. Tình trạng vi phạm
quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm xuất hiện trên tất cả các khâu từ sản xuất đến bảo
quản, chế biến và lưu thông tiêu thụ.
19