Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (465.21 KB, 19 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>LUẬT HÌNH SỰ 1</b>
<b> Câu 1: Trình bày khái niệm các giai đoạn phạm tội. Tại sao các giai đoạn phạm tội chỉ</b>
<b>đặt ra đối với tội thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp.</b>
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong quá trình cố ý thực hiện tội phạm bao
gồm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và phạm tội hoàn thành. Khái niệm giai đoạn
phạm tội trong luật hình sự VN chỉ đặt ra đối với những tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý
trực tiếp mà không đặt ra đối với những tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp hoặc vô
ý. Bởi vì, ở những tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp hoặc vô ý, xét về mặt chủ quan
(ý chí) chủ thể khơng mong muốn tội phạm xảy ra, cho nên không thể quy định các bước "chuẩn
bị phạm tội" hay "phạm tội chưa đạt" để buộc họ phải chịu TNHS về điều chưa xảy ra.
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó kẻ phạm tội có những hành vi tự tạo ra những điều
kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm. "Chuẩn bị
phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn cơng cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác
để thực hiện tội phạm" (Đ17, K1, BLHS). Chuẩn bị phạm tội là trường hợp mức độ nguy hiểm
cho xã hội thấp nhất so với phạm tội chưa đạt và phạm tội hoàn thành vì chưa trực tiếp xâm hại
đến khách thể của loại tội định thực hiện. Do vậy, luật hình sự VN chỉ đặt vấn đề TNHS cho
những trường hợp chuẩn bị phạm tội khi tội định phạm là một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nguy hiểm (Đ15, K2).
Ngoài ra, điều 18 BLHS cịn giải thích rõ "Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm
nhưng không thực hiện được đến cùng vì những ngun nhân ngồi ý muốn của người phạm
tội". Căn cứ vào thái độ, tâm lí người phạm tội có thể phân biệt phạm tội chưa đạt trong hai
trường hợp là phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hồn thành. Trường
hợp thứ nhất: kẻ phạm tội vì những nguyên nhân khách quan chưa thực hiện được hết các hành
vi cần thiết để gây ra hậu quả của tội phạm. Trường hợp thứ hai: kẻ phạm tội đã thực hiện các
hành vi thoả mãn về mặt khách quan của một tội phạm nhưng chưa đạt được mục đích của
mình.
Phạm tội hoàn thành là trường hợp kẻ phạm tội đã thực hiện những hành vi thoả mãn các
dấu hiệu quy định đối với tội phạm đó, nghĩa là hành vi phạm tội đã có đủ các dấu hiệu nói lên
được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Khái niệm phạm tội hồn thành
khơng dùng để chỉ thời điểm kẻ phạm tội đạt được mục đích của mình. Nói phạm tội hồn thành
là hồn thành về mặt pháp lí, tức là phạm tội đã thoả mãn hết các dấu hiệu cấu thành về tội
phạm.
<i><b>* Tại sao các giai đoạn phạm tội chỉ đặt ra đối với tội thực hiện với hình thức lỗi cố ý</b></i>
<i><b>trực tiếp. Dựa vào đặc điểm cấu trúc của CTTP, CTTP được chia thành hai loại chính là CTTP</b></i>
vật chất và CTTP hình thức. CTTP vật chất là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là
hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Đối với dấu hiệu hậu quả
(và cùng với nó là dấu hiệu mối quan hệ nhân quả) ở loại CTTP này lại được quy định theo hai
mức độ khác nhau:
1) Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để xác định tội phạm hoàn thành. Ở loại CTTP này, nhà
làm luật không trực tiếp đưa dấu hiệu hậu quả vào trong CTTP mà hậu quả được quy định gián
tiếp thông qua cách quy định về hành vi phạm tội. Ví dụ: CTTP của tội giết người, mặc dù đều
khơng có hậu quả được quy định trực tiếp trong CTTP nhưng loại CTTP này khác căn bản với
CTTP hình thức vì trong các CTTP hình thức chỉ mơ tả dấu hiệu hành vi (ví dụ: Hành vi dùng
vũ lực trong tội cướp tài sản) mà không quy định dưới dạng hành vi hàm chứa hậu quả. Với
cách quy định như vậy, chỉ khi người phạm tội thực hiện hành vi và gây ra hậu quả tương ứng
mới thể hiện được đầy đủ bản chất nguy hiểm của tội phạm và vì vậy mới được xác định là tội
phạm ở giai đoạn hoàn thành; ngược lại, nếu mới chỉ thực hiện được hành vi mà hậu quả tương
ứng chưa xảy ra thì chỉ xác định là giai đoạn phạm tội chưa đạt.
2) Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Ở dạng CTTP này, nhà làm luật trực tiếp đưa
hậu quả vào các quy định của CTTP với ý nghĩa là điều kiện xác định những trường hợp thoả
mãn CTTP của loại tội đó, loại trừ những trường hợp hành vi không CTTP. Vấn đề này đã được
đề cập trong các sách báo pháp lí hình sự nhưng ở đây chúng tơi muốn bàn đến dưới góc độ mối
quan hệ của loại CTTP này với vấn đề giai đoạn thực hiện tội phạm và việc xác định lỗi đối với
Về mặt lí luận, vấn đề giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ được đặt ra đối với lỗi cố ý trực tiếp,
vì vậy, có thể khẳng định chính xác hơn vế thứ nhất trong nội dung nghiên cứu nói trên là mối
quan hệ của loại CTTP vật chất mà hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để định tội đối với những tội
phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Đây là loại CTTP trong đó thái độ tâm lí của người
phạm tội đối với hành vi và đối với hậu quả thống nhất với nhau (hậu quả xảy ra nằm trong dự
kiến của người phạm tội). Những CTTP loại này lại có thể tồn tại dưới hai dạng sau đây:
1. CTTP mà hậu quả được quy định dưới dạng tình tiết định lượng. Cách quy định này được
sử dụng trong trường hợp hành vi trong mặt khách quan của CTTP chứa đựng khả năng gây ra
loại hậu quả có cùng tính chất nhưng có thể ở các mức độ khác nhau và giữa chúng tồn tại ranh
giới quyết định vấn đề hành vi được thực hiện có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội hay không.
VD: CTTP cơ bản tội cố ý gây thương tích (K1, Đ104 BLHS) quy định trong trường hợp thông
thường tỉ lệ thương tật gây ra phải từ 11% trở lên. Đối với loại CTTP này vấn đề các giai đoạn
thực hiện tội phạm vẫn được đặt ra nếu xác định được hậu quả mà người phạm tội hướng tới phù
hợp với hậu quả bắt buộc để xác định TNHS cho giai đoạn phạm tội tương ứng (đối với giai
đoạn chuẩn bị phạm tội: Hậu quả mà người phạm tội hướng tới phải đủ thoả mãn khung quy
định loại tội là rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; đối với giai đoạn phạm tội chưa
đạt: Hậu quả mà người phạm tội hướng tới phải là hậu quả mà CTTP quy định. VD: Hành vi
chuẩn bị cố ý gây thương tích cho người khác mà tỉ lệ thương tật từ 61% trở lên;hành vi cố ý
gây thương tích chưa đạt mà tỉ lệ thương tật người phạm tội mong muốn gây ra từ 11% trở lên).
2. CTTP mà hậu quả được quy định khơng phải dưới dạng tình tiết định lượng. Loại CTTP
này được xây dựng trong trường hợp hành vi khách quan chứa đựng khả năng gây ra loại hậu
quả nhất định không thể phân chia ở các mức độ khác nhau, hậu quả này khi xuất hiện mới đủ
khả năng làm cho hành vi được thực hiện trở thành nguy hiểm đáng kể cho xã hội. VD:CTTP tội
xúi giục người khác tự sát quy định hậu quả làm người khác tự sát là dấu hiệu bắt buộc. Đối với
loại CTTP này vấn đề giai đoạn thực hiện tội phạm được giải quyết như những trường hợp
thông thường.
Ngồi loại CTTP vật chất mà hình thức lỗi là cố ý như trên, BLHS còn quy định những
CTTP vật chất trong đó thái độ tâm lí của người phạm tội đối với hành vi và đối với hậu quả mà
CTTP quy định mang tính bắt buộc khơng thống nhất với nhau (hậu quả xảy ra nằm ngoài dự
kiến của người phạm tội). Ví dụ: Trong một số CTTP của các tội đua xe trái phép, gây rối trật tự
công cộng... nhà làm luật quy định dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” là dấu hiệu bắt buộc để
các hành vi tương ứng là tội phạm. Ở các CTTP này, người phạm tội khơng có ý thức lựa chọn
hậu quả được quy định trong CTTP (khi khả năng đó xảy ra hành vi được thực hiện có thể thoả
mãn dấu hiệu cấu thành của một tội cố ý khác). Đối với một số CTTP trong loại CTTP này,
trong đó bao gồm cả những CTTP về các tội chúng tôi nêu trên, trong các sách báo pháp lí hình
sự hiện nay đa số các ý kiến vẫn khẳng định hình thức lỗi là cố ý. Theo quan điểm của chúng
tôi, dựa trên lí thuyết về lỗi, trong những trường hợp này phải xác định hình thức lỗi của tội
phạm là vơ ý.
<b>Câu 2: Trình bày khái niệm, điều kiện của trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc</b>
<b>phạm tội. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội xảy ra ở giai đoạn nào của quá trình</b>
<b>phạm tội.</b>
<i><b>* Khái niệm, điều kiện của trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội:</b></i>
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình khơng thực hiện tội phạm đến cùng,
tuy khơng có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS về
tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì
người đó phải chịu TNHS về tội này.
<i>Các điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội:</i>
<i>1. Điều kiện thứ nhất: Việc chấm dứt thực hiện tội phạm phải xảy ra khi tội phạm đang ở</i>
<i>giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành.</i>
Hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ có thể phát sinh khi hậu quả pháp lý
của tội phạm chưa xảy ra. Nếu hậu quả đã xảy ra thì việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
tội thì sẽ khơng cịn ý nghĩa vì nó khơng làm thay đổi tính chất nguy hiểm của hành vi phạm
tội đã thực hiện. Do vậy hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ có thể xảy ra ở
giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt.
Tuy nhiên, ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cũng chỉ
có thể xảy ra ở giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, tức là trong trường hợp người
phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi mà người đó cho là cần thiết để ra hậu quả. Khi tội
phạm đã ở giai đoạn chưa đạt đã hồn thành thì người phạm tội đã thực hiện hết những hành vi
mong muốn và do vậy khơng thể có việc tự ý dừng lại khơng thực hiện tiếp tội phạm. Tại thời
điểm chưa đạt đã hoàn thành, hậu quả của tội phạm tuy chưa xảy ra nhưng sẽ xảy ra mà khơng
cần có những hành vi gì tiếp nữa (theo ý thức chủ quan của chủ thể).
Như vậy, việc chủ thể chỉ dừng lại khơng thực hiện tiếp rõ ràng khơng ảnh hưởng gì đến
việc hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra.
<i>2. Điều kiện thứ hai: Việc chấm dứt thực hiện tội phạm phải là tự nguyên và dứt khoát. Để</i>
được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, trước hết địi hỏi chủ thể dừng lại khơng
thực hiện tiếp tội phạm phải hoàn toàn do động lực bên trong chứ không phải do trở ngại
khách quan chi phối. Khi dừng lại, người phạm tội vẫn tin rằng, hiện tại khơng có gì ngăn cản
và vẫn có thể thực hiện tiếp tội phạm.
Tính chất dứt khốt của hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thể hiện ở chổ
người phạm tội chấm dứt một cách triệt để, từ bỏ hẳn ý định phạm tội chứ khơng phải tạm thời
ngừng lại để tìm những thủ đoạn, phương tiện khác có hiệu quả hơn, thuận lợi hơn để tiếp tục
thực hiện tội phạm.
Nguyên nhân dẫn đến việc từ bỏ ý định phạm tội, không tiến hành tội phạm đến cùng có
thể rất khác nhau: hối hận, sợ bị trừng trị, thương hại nạn nhân, nghe theo lời khun răn của
Tuy nhiên, "khơng địi hỏi người phạm tội phải tỉnh ngô, hối hận, mà chỉ cần họ đã thực
sự tự nguyện và dứt khốt khơng thực hiện tội phạm nữa". Nghị quyết 02/NQ-HĐTP
<b>* Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Chỉ có thể xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm</b>
tội và tội phạm chưa đạt chưa hoàn thành.
- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp phạm tội chưa đạt do những nguyên
nhân khách quan mà người phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra
hậu quả.
- P/tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp p/tội chưa đạt mà người phạm tội đã thực
hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả nhưng do nguyên nhân khách quan mà
hậu quả đó khơng xảy ra.
<b>Câu 3: Hãy nêu các trường hợp MTNHS. Phân biệt miễn TNHS với miễn hình phạt.</b>
<i><b>* Các trường hợp miễn TNHS: Miễn TNHS là không buộc người phạm tội phải chịu</b></i>
TNHS về tội mà người đó đã thực hiện.
Theo quy định tại Điều 25 BLHS người phạm tội được MTNHS trong các trường hợp sau:
1/ Nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà
hành vi phạm tội hoặc người phạm tội khơng cịn nguy hiểm cho xã hội nữa (là người khơng
có khả năng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội).
2/ Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú khai rõ sự việc, góp
phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất
hậu quả của tội phạm.
3/ Khi có quyết định đại xá. Việc đại xá do Quốc Hội quyết định đối với những tội phạm
Về thẩm quyền miễn TNHS do VKS hoặc TA áp dụng.
Hậu quả pháp lý của miễn TNHS là người phạm tội không bị coi là đã can án.
<i>* Phân biệt miễn TNHS với miễn hình phạt: Về bản chất pháp lý, các đặc điểm cơ bản</i>
và những trường hợp miễn TNHS (quy định tại Điều 19, Điều 15, K2 Điều 69, K3 Điều 80,
đoạn 2 K6 Đ289, K6 Điều 290 và K3 Điều 314) và miễn hình phạt (quy định tại Điều 54 và
khoản 3 Điều 314) vì đã được đề cập trong các bài viết liên quan đến hai chế định nói trên nên
trong bài viết này chỉ tập trung đi sâu phân tích các điểm giống và khác nhau cơ bản giữa
chúng theo hệ thống như sau.
<i>- Về các điểm giống nhau:</i>
a. Miễn TNHS và miễn hình phạt đều thuộc hệ thống các biện pháp tha miễn trong luật
hình sự nước ta, thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự nói chung và của
luật hình sự VN nói riêng.
b. Miễn TNHS và miễn hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người nào bị coi là có lỗi
trong việc thực hiện chính tội phạm đó. Nói cách khác, hành vi nguy hiểm cho xã hội do người
đó thực hiện bị PL hình sự cấm (BLHS (BLHS) quy định là tội phạm).
c. Miễn TNHS và miễn hình phạt chỉ có thể áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và
những điều kiện cụ thể do PL hình sự quy định tương ứng trong từng trường hợp cụ thể.
d. Cũng như người được miễn TNHS, người được miễn hình phạt khơng phạt chịu hậu quả
pháp lý bất lợi của việc phạm tội hoặc (và) của việc quyết định hình phạt - án tích.
e. Cũng như việc miễn TNHS, bằng các quy phạm có tính chất nhân đạo của chế định
miễn hình phạt, nhà làm luật khơng phải dùng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị) về
mặt hình sự và do đó, sẽ loại trừ được việc áp dụng hình phạt trong những trường hợp mặc dù
hình phạt có được TA quyết định đi chăng nữa nhưng trên thực tế là bất hợp lý vì các mục đích
của nó khơng thể đạt được.
f. Và cuối cùng, với việc áp dụng MTNHS hoặc miễn hình phạt, Nhà nước không cách ly
khỏi xã hội những người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và như vậy, sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của trật tự PL để trở lại cuộc sống bình
thường trong cộng đồng xã hội, phấn đấu làm người lương thiện và có ích cho GĐ và XH.
<i>- Về các điểm khác nhau: </i>
a. Nếu BLHS năm 1999 hiện hành của nước ta có quy định chín trường hợp (dạng)
MTNHS, thì các trường hợp miễn hình phạt trong Bộ luật này chỉ được ghi nhận tại hai điều
luật mà thôi.
c. Khác với miễn TNHS, điều kiện được miễn hình phạt áp dụng đối với từng trường hợp cụ
thể không được quy định rõ ràng như miễn TNHS. Theo quy định tại Điều 54 BLHS năm 1999
thì các điều kiện để miễn hình phạt khơng khắt khe (chặt chẽ) bằng các điều kiện để miễn
TNHS. Do đó, dưới góc độ PL hình sự thực định và thực tiễn áp dụng nó, chúng ta có thể nhận
thấy hành vi phạm tội và nhân thân người được miễn TNHS thông thường đều ít nguy hiểm hơn
so với hành vi phạm tội và nhân thân của người được miễn hình phạt. Nói một cách khác, hành
vi phạm tội và nhân thân người được miễn hình phạt nguy hiểm hơn so với hành vi phạm tội và
nhân thân người được miễn TNHS.
d. Nếu hình phạt và việc áp dụng miễn hình phạt đối với người bị kết án chỉ có thể và phải
do một cơ quan duy nhất áp dụng - TA, thì trong khi đó miễn TNHS đối với người phạm tội,
ngồi TA có thẩm quyền áp dụng ra cịn có thể do các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền
e. Và cuối cùng, nếu người được miễn TNHS đương nhiên không phải chịu hậu quả pháp lý
hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện (như: khơng bị truy cứu TNHS, khơng phải
chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, khơng bị coi là có án tích và khơng bị
coi là có tội), nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, người được miễn TNHS vẫn có thể phải chịu một
hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tương ứng khác. Cụ thể là:
các biện pháp ngăn chặn theo quy định của PL TTHS; buộc phải hồi phục lại tình trạng ban đầu,
buộc bồi thường thiệt hại… theo quy định của PL dân sự; phạt tiền, cảnh cáo hoặc buộc thôi
việc theo quy định của PL hành chính; đình chỉ hợp đồng lao động theo quy định của PL lao
động; hoặc biện pháp kỷ luật… Để minh chứng điều này có thể dẫn ra văn bản hướng dẫn thống
nhất có tính chất chỉ đạo của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày
5/1/1986 về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS: “Khi đã miễn TNHS thì TA
khơng được quyết định bất kỳ loại hình phạt nào nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường
cho người bị hại và giải quyết tang vật”. Trong khi đó, người được miễn hình phạt tuy đương
nhiên được xóa án tích (K1 Đ64 BLHS 1999), nhưng họ vẫn có thể bị áp dụng các biện pháp tư
pháp (chung) được quy định trong PL hình sự thực định (các Đ41 - 43 BLHS năm 1999).
Tóm lại: Xuất phát từ phân biệt hai chế định nói trên trong BLHS năm 1999 hiện hành, có
thể rút ra một số kết luận chung dưới đây.
Thứ nhất, miễn TNHS và miễn hình phạt là hai chế định quan trọng thể hiện nguyên tắc
nhân đạo trong chính sách hình sự nói chung, trong luật hình sự VN nói riêng. Hai chế định này
chỉ có thể áp dụng khi có đầy đủ các căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do PL hình sự
quy định.
Thứ hai, việc quy định trong PL hình sự VN hai chế định này thể hiện phương châm đúng
đắn của đường lối xử lý về hình sự - đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế
hình sự nghiêm khắc nhất của nhà nước với các biện pháp tác động xã hội khác để cải tạo, giáo
Thứ ba, trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN VN hiện nay để nhân đạo
hóa hơn nữa chính sách hình sự nói chung và luật hình sự nước ta nói riêng, dưới góc độ nhận
thức - khoa học, nhà làm luật cần điều chỉnh hai chế định độc lập này thành hai chương riêng
biệt tương ứng trong BLHS năm 1999 hiện hành, với sự ghi nhận bổ sung thêm một số trường
hợp thường có trong thực tiễn có thể áp dụng hai chế định này.
Và cuối cùng, việc tiếp tục nghiên cứu về mặt lý luận chế định miễn TNHS và miễn hình
phạt để phân biệt chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc hồn thiện PL hình sự, bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân, góp phần đấu tranh phịng và chống tội phạm.
<b>Câu 4: Hãy trình bày khái niệm, đặc điểm và mục đích của hình phạt. Phân biệt hình</b>
<b>phạt chính với hình phạt bổ sung.</b>
<i><b>* Khái niệm, đặc điểm và mục đích của hình phạt.</b></i>
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của NN nhằm tước bỏ hoặc hạn chế
quyền, lợi ích của người phạm tội được quy định trong BLHS và do TA áp dụng đối với người
phạm tội (Đ26 BLHS).
<i>- Từ khái niệm cho thấy, hình phạt có những đặc điểm sau:</i>
+ Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, bởi vì hình phạt tước bỏ người bị kết
án những quyền và lợi ích thiết thân của họ. Đó là quyền chính trị, quyền kinh tế, quyền tự do về
thân thể, thậm chí cả quyền sống của người phạm tội.
Mặt khác, hình phạt bao giờ cũng để lại cho người bị kết án một hậu quả pháp lý - đó là án
tích trong một thời gian nhất định.
+ Hình phạt được quy định trong BLHS ở phần chung và các phần các tội phạm cụ thể.
+ Hình phạt chỉ do TA nhân danh Nhà nước áp dụng trên cơ sở của bản án.
Tuy nhiên, đối với bị cáo bị kết án tử hình thì trong vịng 7 ngày kể từ khi bản án có hiệu
lực PL có quyền gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước, nếu được chấp thuận (tức là Chủ tịch
nước ra quyết định ân giảm thì người bị kết án tử hình được chuyển xuống tù chung thân), thì
quyết định ân giảm của Chủ tịch nước như một bản án thậm chí có giá trị pháp lý cao nhất. Như
vậy, trường hợp này có thể hiểu ngồi TA thì Chủ tịch nước có quyền ra bản án đối với người
phạm tội.
Nếu như vậy thì khái niệm hình phạt tại Điều 26 BLHS phải có sự sửa đổi cho phù hợp.
+ Hình phạt chỉ áp dụng đối với người có hành vi phạm tội.
Nếu so sánh TNHS và hình phạt thì giữa chúng đều là trách nhiệm pháp lý- là một trong các
biện pháp cưỡng chế hình sự áp dụng đối với người phạm tội. TNHS có thể được áp dụng từ giai
đoạn khởi tố, truy tố bởi các cơ quan có thẩm quyền là cơ quan điều tra, cơ quan VKS, cơ quan
TA, nội dung rộng hơn bao gồm cả các hình phạt, các biện pháp tư pháp, án treo... Hình phạt
chỉ do TA áp dụng ở giai đoạn xét xử.
<i>- Mục đích của hình phạt: Theo quy định tại Điều 27 BLHS thì việc áp dụng hình phạt đối</i>
với người phạm tội nhằm hướng tới 2 đối tượng đạt các mục đích khác nhau.
+ Mục đích phịng ngừa riêng hướng tới đối tượng là người phạm tội.
Hình phạt khơng chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà chủ yếu nhằm cải tạo, giáo dục họ
trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo PL và các quy tắc của cuộc sống XHCN,
đồng thời ngăn ngừa khả năng họ phạm tội mới.
Điều kiện tiên quyết để đạt được mục đích phịng ngừa riêng của hình phạt, địi hỏi các cơ
+ Mục đích phịng ngừa chung hướng tới đối tượng khác khơng phải là người phạm tội.
Thơng qua việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội nhằm giáo dục người khác ý thức
tôn trọng PL. Đồng thời giáo dục người khác có ý thức tham gia đấu tranh phịng ngừa và chống
tội phạm.
Để đạt được hiệu quả của mục đích phòng ngừa chung, các cơ quan chức năng cần thực
hiện đồng bộ nhiều biện pháp: kinh tế, chính trị, pháp lý, văn hố....Trong đó đặc biệt chú trọng
biện pháp tun truyền giáo dục PL.
<i><b>* Phân biệt hình phạt chính với hình phạt bổ sung.</b></i>
Qua định nghĩa HTHP, chúng ta rút ra được HTHP có các đặc trưng sau:
- Hệ thống hình phạt bao gồm các hình phạt được phân thành 2 loại: hình phạt chính và hình
phạt bổ sung.
<i><b>- Hệ thống hình phạt có phương thức liên kết theo một trật tự từ nhẹ đến nặng.</b></i>
<i>Hệ thống hình phạt được phân thành 2 loại: hình phạt chính và hình phạt bổ sung.</i>
<b>+ Hình phạt chính: Là loại hình được áp dụng chính thức cho tội phạm và được TA tuyên</b>
một cách độc lập. Đối với trường hợp phạm tội cụ thể thì chỉ được áp dụng một hình phạt
chính.
+ Hình phạt bổ sung: là loại hình phạt khơng được tun độc lập mà chỉ được tun kèm
với hình phạt chính. Đối với 1 trường hợp cụ thể có thể áp dụng 1 hay nhiều hình phạt bổ
sung.
So sánh hình phạt chính với hình phạt bổ sung
- Giống nhau: Đều là hình phạt nên có chung các đặc điểm của hình phạt.
- Khác nhau: Cách áp dụng; Hướng tác động (chức năng); Vị trí quy định.
<b>Câu 5: Các căn cứ quyết định hình phạt. Cho VD với mỗi căn cứ.</b>
Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử của TA.
Quyết định hình phạt đối với người phạm tội có ý nghĩa về chính trị, xã hội và ý nghĩa pháp lý.
Quyết định hình phạt có căn cứ, đúng PL, cơng bằng là tiền đề và điều kiện để đạt được mục
đích của hình phạt. Nghĩa là mới có khả năng cải tạo, giáo dục người bị kết án trở thành người
có ích cho xã hội, mới có tác dụng răn đe, phịng ngừa chung. Đồng thời, quyết định hình phạt
đúng cịn góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phịng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ và tăng
cường pháp chế và tật tự PL XHCN.
Quyết định hình phạt là việc TA lựa chọn một loại hoặc một mức trong giới hạn của một
loại hình phạt để áp dụng đối với người phạm tội.
<i>Theo quy định của BLHS tại Điều 45, để quyết định hình phạt đối với người phạm tội phải</i>
<i>dựa vào 4 căn cứ sau:</i>
1- Căn cứ vào quy định của BLHS: Để thực hiện 3 bước của quá trình giải quyết vụ án
hình sự đó là bước định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt, các cơ quan
tiến hành tố tụng đều phải căn cứ vào các quy định của BLHS để làm sáng tỏ các tình tiết định
tội, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các chế định khác đã được quy định
trong BLHS.
2- Căn cứ vào nhân thân của người phạm tội: Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các
đặc điểm nói lên bản chất của một con người có ảnh hưởng nhất định đến quá trình thực hiện
tội phạm và khả năng cải tạo giáo dục người phạm tội.
Các đặc điểm về nhân thân người phạm tội được chia làm 2 nhóm:
- Nhóm nhân thân người phạm tội mang tính chất pháp lý: Các đặc điểm nhân thân này
được quy định trong BLHS đó là các tình tiết định tội (như người có chức vụ quyền hạn của
tội tham ơ), các tình tiết định khung và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS.
- Nhóm nhân thân người phạm tội khơng mang tính pháp lý: Ngồi nhóm nhân thân kể
trên nhưng chúng có ảnh hưởng tới khả năng cải tạo giáo dục người phạm tội (là những đặc
điểm nói lên bản chất của người phạm tội). Ví dụ: ý thức chính trị, ý thức lao động, trình độ
văn hố, thành phần gia đình, đối tượng chính sách của Đảng và Nhà nước. Các đặc điểm này
cũng được xem xét cân nhắc khi quyết định hình phạt.
3- Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm: Đối với việc quyết
định hình phạt thì căn cứ này có tính chất quyết định nhất, quan trọng nhất.
Để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm phải xem xét, đánh
giá một cách tồn diện các yếu tố sau:
- Tính chất của hành vi phạm tội: hành động, không hành động, phạm tội riêng lẻ hay
đồng phạm thông thường, phạm tội có tổ chức.
- Thủ đoạn, hồn cảnh địa điểm, thời gian phạm tội.
- Giai đoạn thực hiện tội phạm.
- Hậu quả thiệt hại.
- Hình thức, mức độ lỗi, động cơ, mục đích phạm tội.
Cũng như các căn cứ khác để quyết định hình phạt, thì tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm là một căn cứ được xem xét, đánh giá từ ngay giai đoạn định tội và định
4- Các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS
<i>a. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS: Nội dung của các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định</i>
tại K1, Đ46 BLHS cụ thể là các tình tiết sau:
- Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm Ví dụ: A đâm B 2 nhát
sau đó A đưa B đi cấp cứu.
- Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Ví dụ: Người phạm tội có
hành động tích cực như giúp đỡ nạn nhân vượt qua những khó khăn do hậu quả tội phạm để lại
nhằm làm giảm nhẹ hậu quả tội phạm sau khi đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại. Tìm
lại đứa trẻ đã bán, nhận bố mẹ của nạn nhân là bố mẹ ni, thường xun lui tới chăm sóc nạn
nhân.
Tự nguyện bồi thường thiệt hại phải với mức ít nhất 1 phần 2 mức bồi thường thực tế phải
thực hiện - Nghị quyết 01/2001 ngày 15/03/2001 của HĐTPTANDTC
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn PVCĐ hoặc vượt quá yêu cầu của tình thế
cấp thiết.
- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái PL của người bị hại
hoặc của người khác gây ra.
- Phạm tội vì hồn cảnh đặc biệt khó khăn mà khơng do mình tự gây ra.
Ví dụ: A có số tiền 20 triệu đồng mang theo để đưa mẹ đi đến bệnh viện cấp cứu.Trên
đường đi đã bị kẻ gian lấy hết số tiền đó, A đã vận chuyển thuê thuốc phiện cho M để lấy tiền
điều trị cho mẹ.
- Chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn.
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
- Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức.
- Phạm tội do lạc hậu tức là người phạm tội xử sự theo phong tục, tập quán lạc hậu. Ví dụ:
Giết người do bị nghi là MaLai của người Bana ở Tây Nguyên.
- Người phạm tội là phụ nữ có thai.
- Người phạm tội là người già. Nghị quyết 01/2006/HĐTPTATC ngày 12/05/2006 quy
định người già là người từ đủ 70 tuổi trở lên.
- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi. Ví dụ: A là nhân viên đường sắt làm nhiệm vụ tại rào chắn với đường bộ. Khi
có tàu chạy qua, A bị lên cơn sốt rét cấp tính khơng đủ sức khoẻ để kéo rào chắn dẫn đến gây
tai nạn.
- Người phạm tội tự thú là trường hợp tội phạm chưa bị phát hiện người phạm tội đã chủ
động trình diện khai rõ hành vi phạm tội của mình và đồng bọn cho cơ quan chức năng.
- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải: Là trường hợp người phạm tội cảm
thấy cắn rứt, giày vò lương tâm, hối hận, muốn sửa chữa sai lầm. Ví dụ: Sau khi gây thương
tích cho B, A đến xin lỗi B, thường xuyên vào viện thăm hỏi, chăm sóc B.
- Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm.
Ví dụ: Người phạm tội cung cấp tài liệu, chứng cứ, chỉ nơi cất giấu tang vật, chỉ nơi người
khác đang trốn.
- Người phạm tội đã lập công chuộc tội. Ví dụ người phạm tội sau khi thực hiện tội phạm
* Chú ý: Ngoài những tình tiết nêu trên TA có thể coi những tình tiết khác là tình tiết giảm
nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án (Khoản 2, Điều 46). Tại Nghị quyết 01/2000 của
HĐTPTANDTC ban hành ngày 04/08/2000 quy định những tình tiết sau là tình tiết giảm nhẹ:
+ Người thứ ba hoặc người bị hại cũng có lỗi.
+ Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thay cho bị cáo.
+ Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
trong trường hợp gây tổn hại cho sức khoẻ hoặc tài sản của họ.
Ngoài ra, thực tiễn xét xử cịn thừa nhận các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ như: người
phạm tội là thương binh; vợ, chồng, con của bị cáo là liệt sĩ; bị cáo, cha mẹ, vợ, chồng, con của
bị cáo là người có cơng với cách mạng. Các tình tiết nêu trên đã được BLHS quy định là tình tiết
định tội hoặc định khung thì khơng được coi là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.
Khi có ít nhất từ hai tình tiết được quy định ở K1, Đ46 TA có thể QĐ mức hình phạt dưới
mức tối thiểu của khung hình phạt mà điều luật quy định (phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ
hơn của điều luật - nếu điều luật có nhiều khung hình phạt) hoặc chuyển sang loại hình phạt
khác nhẹ hơn (nếu khung hình phạt là mức thấp nhất của loại hình phạt đó). Lý do giảm nhẹ
phải được ghi rõ trong bản án-Đ47 BLHS.
<i>b. Các tình tiết tăng nặng TNHS: Nội dung của các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định</i>
tại K1, Đ48BLHS bao gồm các tình tiết sau:
- Phạm tội có tổ chức: Là trường hợp đồng phạm mà giữa những người tham gia thực hiện
tội phạm có sự cấu kết chặt chẽ
- Phạm tội có tính chất chun nghiệp: Phạm tội từ hai lần trở lên, thu nhập có từ hành vi
phạm tội là nguồn thu nhập chính, là một nghề chính của người phạm tội. Lấy việc phạm tội là
phương tiện kiếm sống thường xuyên.
Theo hướng dẫn tại Nghị Quyết 01/2006/HĐTPTATC thì tình tiết phạm tội có tính chất
chun nghiệp phải thoả mãn 2 điều kiện sau:
- Cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên về cùng một tội không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay
chưa, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xố án tích.
- Người phạm tội lấy việc phạm tội làm nghề sinh sống chính và lấy kết quả của việc phạm
tội làm nguồn sống chính.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội.
- Phạm tội có tính chất côn đồ. Theo hướng dẫn tại Công văn số 38/NCPL ngày 06/01/1976
của TANDTC, phạm tội có tính chất cơn đồ được hiểu là hành động của những tên coi thường
PL, luôn luôn phá rối trị an, sẵn sàng dùng vũ lực và thích dùng vũ lực để uy hiếp người khác
phải khuất phục mình, vơ cớ hoặc chỉ vì một duyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết
người. Do đó, tình tiết này chủ yếu áp dụng đối với tội chống người thi hành công vụ, tội gây
rối trật tự cơng cộng.
- Phạm tội vì động cơ đê hèn như phạm tội vì sự trả thù đê tiện. Thể hiện tính ích kỷ cao,
bội bạc, phản trắc, hèn nhát và là sự tột cùng đồi bại của đạo đức.
- Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Tình tiết này nói lên sự quyết tâm phạm tội cao của
người phạm tội. Khi gặp trở ngại khách quan như lúc đang chém người mà bị người khác ngăn
cản vẫn không từ bỏ ý định phạm tội.
- Phạm tội nhiều lần: Được hiểu là người phạm tội thực hiện tội phạm từ hai lần trở lên về
- Tái phạm: Tái phạm được quy định tại Khoản 1, Điều 49 BLHS “Người phạm tội đã bị kết
án chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng do vô ý”.
- Tái phạm nguy hiểm: Tái phạm nguy hiểm được quy định tại Khoản 2, Điều 49 BLHS
Người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng đặc biệt nghiêm trọng do cố ý chưa được
xố án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.
Hoặc đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý”.
Như vậy, để xác định người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm hay tái phạm nguy hiểm
phải xem xét các điều kiện đó là người phạm tội phải thực hiện tội phạm ít nhất 2 lần trong đó ít
nhất một lần đã bị kết án, hình thức lỗi và loại tội đã thực hiện.
- Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng khơng thể tự
vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt
khác.
- Xâm phạm tài sản của Nhà nước.
- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, tình trạng khẩn cấp, dịch bệnh hoặc khó khăn
đặc biệt khác của xã hội để phạm tội. Ví dụ: trộm trong lúc có bạo loạn.
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác hoặc thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho
nhiều người.
Thủ đoạn xảo quyệt tàn ác là mánh khoé, cách thức thực hiện tội phạm thâm hiểm làm cho
người bị hại hoặc người khác khó lường thấy để đề phịng. Ví dụ: Giả vờ âu yếm tình nhân rồi
giết họ.
- Xúi giục người chưa thành niên phạm tội.
- Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm. Là trường hợp sau
khi phạm tội người phạm tội đã có những thủ đoạn tinh vi, hoặc có những hành động bạo lực
nhằm mục đích trốn tránh, cản trở việc điều tra phát hiện tội phạm.
<i>* Chú ý:- Các tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì khơng được coi là</i>
tình tiết tăng nặng.
- Chỉ các tình tiết trên mới được coi là các tình tiết tăng nặng TNHS. (Khoản 2, Điều 48).
- Khi có nhiều tình tiết tăng nặng cũng chỉ được phép QĐ một mức hình phạt nằm trong
giới hạn của khung hình phạt mà điều luật quy định.
Hành
vi phạm
tội lần 1
Thực
hiện tội
phạm
Khởi
Tố
Truy
Tố
Xét
xử
Thi
hành án
Chấp hành
xong bản án
Xố án
tích
Hành vi
phạm tội lần
2
Xử nhiều tội hoặc phạm tội
nhiều lần hoặc phạm tội có tính
chất chun nghiệp
Xử
nhiều
tội
PT đang trong
thời gian chấp hành
án
Tái phạm,
tái phạm nguy
hiểm
<b>Câu 6: Phân tích quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn điều luật - Điều 47 BLHS</b>
<b>(điều kiện, nguyên tắc áp dụng, giới hạn của hình phạt được quyết định).</b>
Quyết định hình phạt là việc TA lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng với người
phạm tội. Nói chung, về nguyên tắc khi quyết định hình phạt, TA chỉ được phép lựa chọn loại và
mức hình phạt đã được quy định cụ thể tại khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội. Bởi
lẽ, khi xây dựng luật, nhà làm luật đã cân nhắc đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của những trường hợp phạm tội khác nhau để phân ra thành những tội phạm khác nhau và các
khung hình phạt khác nhau. BLHS nước ta không quy định các khung hình phạt cứng, nghĩa là
chỉ có một mức hình phạt cố định để áp dụng cho tội phạm, ma bao giờ trong mỗi khung hình
phạt cũng có mức tối thiểu và tối da. Điều này cho phép TA có thể có điều kiện lựa chọn loại
và mức hình phạt phù hợp với từng trường hợp phạm tội cụ thể.
VD: khung hình phạt được quy định đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản K1, Đ139
BLHS, TA có thể áp dụng một trong hai loại hình phạt là cải tạo khơng giam giữ hoặc tù có
thời hạn trong phạm vi khung hình phạt quy định. Tùy từng trường hợp, TA có thể áp dụng 6
tháng, 1 năm hoặc 3 năm tù hoặc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ với mức 6 tháng
(mức tối thiểu của hình phạt này) 2 năm hoặc 3 năm…
Trong quá trình làm luật, nhà làm luật đã cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho
Bởi vậy, để tăng khả năng lựa chọn của TA khi quyết định hình phạt đối với những trường
hợp phạm tội cụ thể khác nhau, nhất là khả năng lựa chọn hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ
luật áp dụng đối với người phạm tội, nhằm đảm bảo sự cơng bằng của hình phạt, Điều 47
BLHS năm 1999 đã quy định : “khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản I Điều
46 của Bộ luật này, TA có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật;
trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình
phạt nhẹ nhất của điều luật thì TA có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn”.
Với quy định trên, điều kiện để TA có thể quyết định một hình phạt dưới múc thấp nhất
của khung hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại
nhẹ hơn đã được xác định là ít nhất phải có từ hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại K1, Đ46
BLHS trở lên. Bởi vậy, mặc dù K2, Đ46 BLHS có quy định K1, Đ46 BLHS “TA cịn có thể
coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ” song nếu khơng có từ hai tình tiết giảm nhẹ được
quy định tại K1, Đ46 BLHS thì dù TA có viện dẫn nhiều tình tiết giảm nhẹ khác, cũng khơng
thể QĐ hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định hoặc chuyển
sang loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.
Điều đáng lưu ý là, ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ là làm giảm đi mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tôi trong phạm vi một khung hình phạt so với các trường hợp
phạm tội tương tự nhưng khơng có tình tiết này; bởi vậy, nếu hành vi phạm tội thực tế mặc dù
Theo quy định của Điều 47 BLHS TA có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ
hơn của điều luật. Quy định này nhằm tránh một khuynh hướng xấu có thể xảy ra là lạm dụng
PL và những động cơ các nhân mà quyết định mức hình phạt q nhẹ. Ví dụ áp dụng khung
hình phạt tăng nặng đối với người phạm tội ở khoản 4 (khung hình phạt nặng nhất) nhưng khi
quyết định hình phạt lại dưới mức thấp nhất của khoản 3, thậm chí dưới cả khoản 2…
Nói chung, việc xây dựng các khung hình phạt đối với từng tội phạm theo một trật tự từ
nhẹ đến nặng. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp trật tự này lại ngược lại, nghĩa là từ nặng đến
nhẹ. Ví dụ phần lơn các tội xâm phạm an ninh quốc gia (các tội ở các Đtừ 78 đến 87); Điều 89,
90 BLHS), tội giết người (Đ93 BLHS) là được sắp xếp theo trật tự từ nặng đến nhẹ, Nếu các
khung hình phạt đối với tội phạm được sắp xếp theo trật tự từ nhẹ đến nặng trong khung hình
phạt liền kề nhẹ hơn khung hình phạt liền trước khung hình phạt áp dụng. Cịn nếu các khung
hình phạt đối với tội phạm được sắp xếp theo trật tự từ nhẹ đến nặng thì khung hình phạt liền
kề nhẹ hơn là khung hình phạt liền sau khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội.
Ví dụ: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS có 4 khung hình phạt chính quy
định ở khoản 4 theo trật tự từ nhẹ đến nặng. Một người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có
Nếu người phạm tội bị áp dụng khoản 3 Điều 139 BLHS thì TA có thể quyết định hình
phạt đối với họ dưới 7 năm tù nhưng phải trong khung hình phạt quy định tại khoản 2, nghĩa là
chỉ có thể phạt tù trong giới hạn từ 2 năm đến dưới 7 năm.
Nếu người phạm tội bị áp dụng K2, Đ139 BLHS thì TA có thể quyết định hình phạt đối
với họ dưới 2 năm tù nhưng phải trong khung hình phạt quy định tại K1 nghĩa là chỉ có thể
phạt tù trong giới hạn từ 6 tháng đến dưới 2 năm hoặc phải cải tạo không giam giữ đến 3 năm.
Cùng với việc quy định TA có thể quyết định hình phạt với khung hình phạt liền kề nhẹ
hơn khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định
tại khoản 1 Điều 46 BLHS, Điều 47 BLHS còn quy định trường hợp điều luật áp dụng đối với
người phạm tội chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt áp dụng là khung hình phạt
nhẹ nhất của điều luật thì TA có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
phạt áp dụng hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Điều đáng lưu ý khi áp
dụng quyết định này là TA có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt áp dụng nhưng khơng thể thấp hơn mức tối thiểu mà BLHS đã quy định đối với từng
loại hình phạt, nghĩa là khơng thể thấp hơn 3 tháng nếu là tù có thời hạn, khơng thể thấp hơn 6
tháng nếu là cải tạo không giam giữ, không thể thấp hơn 1 triệu đồng nếu là phạt tiền. Khi
quyết định hình phạt, TA cũng có thể chuyển sang áp dụng hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
đối với người phạm tội so với loại hình phạt quy định trong khung hình phạt. Song, phải đáp
ứng những điều kiện áp dụng đối với loại hình phạt đó như cảnh cáo chỉ được áp dụng đối với
người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn định
hoặc có nơi thường trú rõ ràng…
Một vấn đề đặt ra trong lý luận và thực tiễn áp dụng PL hình sự nước ta là trong trường hợp
Vấn đề này, chúng tôi cho rằng mặc dù mục đích của hình phạt đều giống nhau song mỗi
loại hình phạt chỉ có thể phát huy được tác dụng của nó nếu được đem áp dụng thích hợp đối với
từng loại tội phạm cụ thể. Khi xây dựng luật Nhà làm luật đã phải cân nhắc tính tốn đến yếu tố
này để quy định các loại và mức hình phạt khác nhau áp dụng cho các loại tội phạm khác nhau.
Về hình phạt tiền, phạm vi áp dụng đã được quy định tại Điều 30 BLHS. Tuy nhiên, theo chúng
tôi quy định này chỉ là quy định mang tính ngun tắc để từ đó xây dụng các khung hình phạt
trong đó có hình phạt tiền ở các Điều luật về các tội phạm cụ thể. Để quyết định việc có áp dụng
hình phạt tiền hay không đối với người phạm tội, người áp dụng PL không phải căn cứ vào
khoản 1 Điều 30 BLHS mà phải căn cứ áp dụng cụ thể có quy định hình phạt tiền hay khơng?
Ví dụ, theo khoản 1 Điều 30 BLHS phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người
phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý hành chính, song trong số các tội phạm ít
nghiêm trong xâm phạm trật tự quản lý hành chính phạt tiền là hình phạt chính (các tội ở khoản
1 các Điều 266, 267, 268, 271, 272, 273, 274 BLHS) cịn phần lớn các tội ít nghiêm trọng khác
khơng quy định hình phạt tiền là hình phạt chính, kể cả những tội có quy định trong khung hình
phạt cảnh cáo là hình phạt nhẹ hơn hình phạt tiền, ví dụ khoản 1 các Đ258, 262 BLHS. Điều này
chứng tỏ khi quy định hình phạt tiền là hình phạt chính của tội phạm nào đó, điều quan trong là
Nhà làm luật đã tính đến hiệu quả của hình phạt tiền đối với tội phạm đó, chứ khơng phải chủ
yếu căn cứ vào mức độ nguy hiểm của tội phạm đó. Bởi vậy chúng tơi cho rằng chỉ khi khung
hình phạt áp dụng đối với người phạm tội có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính thì TA
mới có thể quyết định hình phạt tiền với tính cách là hình phạt chính đối với người phạm tội.
Trong trường hợp khung hình phạt áp dụng khơng có hình phạt tiền mà chỉ có hình phạt tù
hoặc hình phạt tù và hình phạt cải tạo khơng giam giữ thì mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại
K1, Đ46 BLHS, làm giảm đi đáng kể mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm TA cũng
Ví dụ, một người phạm tội khơng chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, được quy định tại Điều 269 BLHS có
khung hình phạt là từ 6 tháng đến 3 năm tù. Nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại
khoản 1 Điều 46 BLHS TA có thể quyết định hình phạt từ từ 3 tháng đến dưới 6 tháng hoặc hình
phạt cải tạo khơng giam giữ trong giới hạn từ 6 tháng đến 3 năm hoặc hình phạt cảnh cáo đối
với người đó chứ khơng được quyết định áp dụng hình phạt tiền.
Việc khơng cho phép TA chuyển từ một hình phạt khác quy định ở khung hình phạt áp dụng
sang hình phạt tiền khi quyết định hình phạt, mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong điều kiện
nước ta hiện nay là cần thiết, tránh được những dư luận khơng đáng có, có thể xảy ra là cứ có
tiền thì có thể tránh được các hình phạt khác, kể cả hình phạt tù. Mặc khác, khó có thể xác định
được chính xác mức phạt tiền bao nhiêu là phù hợp nếu chuyển từ hình phạt tù hoặc hình phạt
cải tạo khơng giam giữ sang phạt tiền.
Vấn đề khác đặt ra là trong trường hợp khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội có
quy định hình phạt tiền là hình phạt chính mà khơng có hình phạt cảnh cáo là hình phạt nhẹ hơn,
nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại K1, Đ46 BLHS TA có thể chuyển sang áp dung
hình phạt cảnh cáo được khơng?
Theo chúng tơi, điều này là hồn tồn có thể, miễn là đáp ứng được những điều kiện áp
dụng cảnh cái được quy định tại Đ29 BLHS.
Nếu như khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội có quy định hình phạt tiền nhưng
tội phạm đó là tội phạm nghiêm trọng, thì mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại K1,
Đ46 BLHS TA cũng không được chuyển sang áp dụng hình phạt cảnh cáo (vì cảnh cáo chỉ có
thể áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng). Ví dụ: Một người phạm tội sản xuất hàng
cấm, bị áp dụng K1, Đ155 BLHS có khung hình phạt là “bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu
đồng hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm”. Nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định ở K1, Đ46
<b>Câu 7: Phân tích quy định của PL về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm</b>
<b>nhiều tội (Điều 50 BLHS).</b>
Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là trường hợp bị cáo thực hiện nhiều
hành vi phạm tội thuộc nhiều loại tội phạm khác nhau, đều chưa hết thời hiệu, chưa bị xét xử và
bị đưa ra xét xử cùng một lần. Nếu bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm nhiều tội thì TA
quyết định hình phạt đối với từng tội theo quy định tại Đ45 BLHS rồi sau đó tổng hợp hình phạt
của các tội đó theo ngun tắc:
a. Đối với hình phạt chính (Khoản 1, Điều 50 BLHS)
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 BLHS thì việc tổng hợp hình phạt chính trong trường
hợp phạm nhiều tội tuân thủ theo nguyên tắc sau:
- Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là CTKGG hoặc cùng là tù có thời hạn thì các hình phạt
được cộng lại thành hình phạt chung, hình phạt chung khơng được vượt q 3 năm đối với
CTKGG, không quá 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn (Khoản 1, Điểm a, Điều 50 BLHS).
- Nếu các hình phạt đã tuyên là CTKGG và tù có thời hạn thì đổi 3 ngày CTKGG thành 1
ngày tù, rồi tổng hợp thành hình phạt chung, hình phạt chung khơng vượt q 30 năm tù.
- Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình hoặc tù chung thân thì
lấy đó là hình phạt chung.
- Trục xuất và phạt tiền khơng được tổng hợp với các hình phạt khác loại, Các khoản tiền
phạt được cộng lại thành hình phạt chung (khơng giới hạn mức tối đa).
b. Đối với hình phạt bổ sung (Khoản 2, Điều 50)
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 50 BLHS thì việc tổng hợp hình phạt bổ sung trong trường
hợp phạm nhiều tội tuân thủ theo nguyên tắc sau:
- Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì quyết định hình phạt chung trong giới hạn của
loại hình phạt đó (trừ hình phạt tiền khơng hạn chế mức tối đa)
- Nếu các hình phạt đã tun là khác loại thì khơng tổng hợp mà bị cáo phải chấp hành đồng
thời các loại hình phạt đó.
<b>Câu 8: Hãy nêu cách thức tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án (Điều</b>
<b>51 BLHS).</b>
<i>a. Đối với người đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về một tội đã thực hiện trước</i>
<i>khi có bản án này (Khoản 1, Điều 51 BLHS)</i>
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS thì việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp
người đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về một tội đã thực hiện trước khi có bản án
này tuân thủ theo các bước sau:
- Bước 1: TA quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử.
- Bước 2: Tổng hợp với hình phạt của bản án đang chấp hành thành hình phạt chung theo
quy định của Khoản 1, Điều 50 BLHS.
- Bước 3:Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp
hành hình phạt chung.
<i>b. Đối với người đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội mới thực hiện </i>(Khoản
2, Điều 51 BLHS)
Theo quy định tại K2 Đ51 BLHS thì việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp người đang
chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về một tội mới thực hiện tuân thủ theo các bước sau:
- Bước 1: TA quyết định hình phạt đối với tội mới.
- Bước 2: Tính phần hình phạt còn lại của bản án đang chấp hành.
- Bước 3: Tổng hợp hình phạt của tội mới với phần hình phạt còn lại của bản án đang chấp
hành theo quy định Khoản 1, Điều 50 BLHS.
Ví dụ: A phạm tội giết người bị phạt 20 năm tù. Khi chấp hành bản án được 3 năm, A bị
xử tiếp về tội lừa đảo với mức án là 15 năm tù. Anh chị hãy vận dụng quy định tại Điều 51
BLHS tổng hợp hình phạt cho A.
Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bán án đã có hiệu lực PL mà các hình
phạt của các bản án chưa được tổng hợp thì phải tổng hợp theo nguyên tắc trên theo quy định
tại K1, K2, Điều 51 BLHS.
<b>Câu 9: Phạm tội nhiều lần là gì. Phân biệt trường hợp phạm nhiều tội với phạm tội</b>
<b>nhiều lần.</b>
<i><b>* Phạm tội nhiều lần: Định tội danh đối với trường hợp phạm tội nhiều lần với tính chất</b></i>
là một dạng biểu hiện của nhiều tội phạm có thể được hiểu là sự đánh giá về mặt pháp lý hình
sự những hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện từ hai lần trở lên trên cơ sở đối chiếu,
so sánh và kiểm tra để xác định sự giống nhau giữa các dấu hiệu của những hành vi ấy với các
dấu hiệu của CTTP cụ thể do Điều (khoản của Điều) tương ứng trong Phần các tội phạm
BLHS quy định. Như vậy, khi Định tội danh trong trường hợp phạm tội nhiều lần các cơ quan
Thứ nhất, như đã nêu trên đây, định nghĩa pháp lý của khái niệm phạm tội nhiều lần chưa
được nhà làm luật chính thức ghi nhận về mặt lập pháp trong BLHS VN năm 1999, mà khái
niệm này chỉ mới được đưa ra trong thực tiễn xét xử đối với một số loại tội phạm.
Thứ hai, tuy nhiên, khái niệm phạm tội nhiều lần có thể được hiểu là khi tội phạm được
thực hiện trong trường hợp:
a) hành vi của bị cáo có đầy đủ các dấu hiệu của từ hai tội trở lên mà những tội ấy được
quy định tại cùng một Điều (hoặc một khoản của Điều) trong BLHS;
b) bị cáo được đưa ra xét xử cùng một lần. Ví dụ 1: Theo BLHS năm 1999, bị cáo thực
hiện từ hai lần trở lên hành vi phạm tội mà mỗi lần có đầy đủ dấu hiệu của CTTP cơ bản
(khoản 1) nhưng lần thứ nhất chưa bị phát hiện nên chưa bị phát hiện và truy cứu TNHS, song
đến lần thứ hai thì bị phát hiện nên bị truy cứu TNHS và đưa ra xét xử theo một trong các tội
danh tương ứng với các CTTP tăng nặng (hoặc đặc biệt tăng nặng) được quy định tại điểm “d”
K2 Điều 111, điểm “c” K3 Điều 112, điểm “b” K2 Điều 113, điểm “b” K3 Điều 114, điểm “a”
K3 Điều 115, điểm “a” K2 Điều 116, điểm “b” K2 Điều 121, điểm “d” K2 Điều 123, điểm “c”
K2 Điều 125, điểm “b” K2 các Đ131, 169-171, 173 hoặc Đ176.
Thứ ba, sự giống nhau của phạm tội nhiều lần với phạm tội liên tục là ở chỗ tội phạm
trong cả hai trường hợp đều:
a) được hình thành từ một loạt những hành vi nguy hiểm cho xã hội giống nhau mà những
hành vi đó có cùng chung một mục đích,
b) được thực hiện với một ý định phạm tội thống nhất và c) cùng xâm hại đến một khách
thể.
Thứ tư, nhưng bên cạnh đó, sự khác nhau của phạm tội nhiều lần với phạm tội liên tục là ở
chỗ - trong khái niệm trước hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện từ hai lần trở lên mà
mỗi lần có đầy đủ dấu hiệu của CTTP cơ bản (khoản) được quy định tại điều tương ứng trong
Phần các tội phạm BLHS, còn trong khái niệm sau (còn gọi là vi phạm nhiều lần) hành vi nguy
hiểm cho xã hội được tuy cũng thực hiện từ hai lần trở lên nhưng nếu tách riêng mỗi lần thực
hiện ra, thì hành vi ấy chưa có đầy đủ (mà chỉ có trong sự tổng hợp chúng thì mới có đầy đủ)
dấu hiệu của CTTP cơ bản (khoản 1) được quy định tại điều tương ứng trong Phần các tội
phạm BLHS.
Thứ năm, nếu bị cáo phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại các điều
khác nhau của BLHS, thì “chỉ có thể” (hoặc “phải bị” - việc quy định tính chất bắt buộc hay
tính chất tuỳ nghi là do ý chí của nhà làm luật, nhưng để đảm bảo nguyên tắc pháp chế thì phải
quy định rõ ràng và dứt khốt) tính để xác định là phạm tội nhiều lần khi có điều tương ứng
trong Phần các tội phạm BLHS quy định riêng. Chẳng hạn: Nếu tại điều đầu tiên trước khi quy
định từng CTTP cụ thể trong Chương về các tội xâm phạm sở hữu nhà làm luật quy định là
“Việc thực hiện từ lần thứ hai trở lên bất kỳ một tội phạm nào được quy định trong Chương
này đều có thể bị coi là phạm tội nhiều lần”). Để thể hiện nguyên tắc nhân đạo của PL hình sự
trong giai đoạn xây dựng Nhà nước PL, theo quan điểm của chúng tôi, nếu trong trường hợp bị
cáo đã được áp dụng một trong các chế định nhân đạo của luật hình sự (như: Miễn TNHS,
miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, xố án tích hoặc đã chấp hành xong hình phạt theo
các qui định của BLHS) đối với tội đã phạm trước đây, thì khi định tội danh khơng được tính
để xác định là phạm tội nhiều lần.
<i><b>* Phạm nhiều tội: Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là trường hợp bị</b></i>
cáo thực hiện nhiều hành vi phạm tội thuộc nhiều loại tội phạm khác nhau, đều chưa hết thời
hiệu, chưa bị xét xử và bị đưa ra xét xử cùng một lần.
Nếu bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm nhiều tội thì TA quyết định hình phạt đối với
từng tội theo quy định tại Điều 45 BLHS rồi sau đó tổng hợp hình phạt của các tội đó theo
ngun tắc:
a. Đối với hình phạt chính (K1, Điều 50 BLHS): Theo quy định tại K1, Đ50 BLHS thì
việc tổng hợp hình phạt chính trong trường hợp phạm nhiều tội tuân thủ theo nguyên tắc sau:
- Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là CTKGG hoặc cùng là tù có thời hạn thì các hình phạt
được cộng lại thành hình phạt chung, hình phạt chung không được vượt quá 3 năm đối với
CTKGG, không q 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn (K1, Điểm a, Điều 50 BLHS).
- Nếu các hình phạt đã tuyên là CTKGG và tù có thời hạn thì đổi 3 ngày CTKGG thành 1
ngày tù, rồi tổng hợp thành hình phạt chung, hình phạt chung khơng vượt quá 30 năm tù.
- Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình hoặc tù chung thân thì
lấy đó là hình phạt chung.
- Trục xuất và phạt tiền không được tổng hợp với các hình phạt khác loại, Các khoản tiền
phạt được cộng lại thành hình phạt chung (khơng giới hạn mức tối đa).
b. Đối với hình phạt bổ sung (Khoản 2, Điều 50): Theo quy định tại K2 Đ50 BLHS thì
việc tổng hợp hình phạt bổ sung trong trường hợp phạm nhiều tội tuân thủ theo nguyên tắc
sau:
- Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì quyết định hình phạt chung trong giới hạn
của loại hình phạt đó (trừ hình phạt tiền khơng hạn chế mức tối đa)
- Nếu các hình phạt đã tun là khác loại thì khơng tổng hợp mà bị cáo phải chấp hành
đồng thời các loại hình phạt đó.
<b>Câu 10: Hãy trình bày tính chất pháp lý của án treo. Các căn cứ để cho hưởng án</b>
<b>treo.</b>
<i><b>* Tính chất pháp lý của án treo: Tính chất pháp lý của án treo được thể hiện án treo là</b></i>
biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Cụm từ có điều kiện chỉ tính chất pháp lý
của án treo thể hiện ở 2 phương diện:
Hai là: Nếu người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì phải chấp
hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo tổng hợp với tội mới thực hiện.
Như vậy, thời gian thử thách của án treo chỉ thay thế cho hình phạt tù của bản án đã tuyên
cho hưởng án treo nếu người bị kết án được hưởng án treo không phạm tội mới trong thời gian
thử thách.
<i>b. Điều kiện được hưởng án treo: Một người bị kết án chỉ có thể được xem xét cho hưởng</i>
án treo khi thoả mãn đầy đủ 3 điều kiện sau:
+ Bị phạt tù từ 3 năm trở xuống (kể cả trường hợp phạm nhiều tội).
+ Có nhân thân tốt.
+ Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên được quy định ở K1, Đ46 BLHS.
<i>c. Thời gian thử thách và cách tính thời gian thử thách của án treo: Án treo chỉ có ý nghĩa</i>
khi đi kèm với thời gian thử thách. Trong mọi trường hợp cho hưởng án treo TA đều phải ấn
định thời gian thử thách từ 1 đến 5 năm nhưng không thấp hơn mức phạt tù.
Thời gian thử thách được tính từ ngày tuyên bản án cho hưởng án treo.
<i>d. Tổng hợp hình phạt đối với người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử</i>
<i>thách: Khoản 5, Điều 60 BLHS quy định: “Nếu người được hưởng án treo mà phạm tội mới</i>
trong thời gian thử thách thì phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo tổng hợp
với hình phạt của bản án mới theo quy định Điều 51 BLHS”.
Nếu một người đang chấp hành bản án cho hưởng án treo lại bị xét xử về tội thực hiện
trước, thì tội thực hiện trước đó có thể được hưởng án treo. Trong trường hợp này phải tổng hợp
hai bản án cho hưởng án treo. Nếu tội thực hiện trước đó khơng được hưởng án treo thì bị cáo
thi hành đồng thời 2 bản án.
<i>e. Áp dụng hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo: Người được hưởng án treo</i>
có thể phải chịu áp dụng một trong số các hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm thi hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
<i>f. Thi hành bản án cho hưởng án treo: TA giao người bị kết án cho cơ quan tổ chức nơi</i>
người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo
dục.
Gia đình phải có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức giám sát.
<i>* Các căn cứ để cho hưởng án treo.</i>
Theo quy định tại K1, Đ60 BLHS 1999, đã sửa đổi bổ sung năm 2009 (BLHS) và NQ của
HĐTP TANDTC số 01/2007/NQ-HĐTP(02/10/2007) hướng dẫn áp dụng một số quy định của
BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình
phạt, có 04 căn cứ để xem xét cho người bị kết án tù được hưởng án treo, cụ thể:
<i>- Về mức phạt tù, những người bị TA phạt tù không quá 03 năm, khơng kể tội đã phạm là tội</i>
gì đều có thể được xem xét cho hưởng án treo. Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần
về nhiều tội mà hình phạt chung khơng vượt q 03 năm tù thì cũng thuộc diện được xem xét
cho hưởng án treo.
<i>- Về nhân thân người phạm tội, người phạm tội có nhân thân tốt. Có nhân thân tốt được</i>
chứng minh là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội ln chấp hành đúng chính sách, PL của
Nhà nước, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi làm việc
ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng.
<i>- Có nhiều tình tiết giảm nhẹ, là phải có từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết</i>
được ghi nhận tại khoản 1 Điều 46 BLHS đó là: người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác
hại của tội phạm; người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;
phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; phạm tội trong trường hợp
vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do
hành vi trái PL của người bị hại hoặc người khác gây ra; phạm tội vì hồn cảnh đặc biệt khó
khăn mà khơng phải do mình tự gây ra; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại
không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội vì bị người khác đe
doạ, cưỡng bức; phạm tội do lạc hậu; người phạm tội là phụ nữ có thai; người phạm tội là người
già; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi của mình; người phạm tội tự thú; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm; người
phạm tội đã lập công chuộc tội; người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất,
chiến đấu, học tập hoặc cơng tác. Bên cạnh đó, các tình tiết giảm nhẹ cũng được TA xác định
trong từng vụ án cụ thể phù hợp với quy định của khoản 2 Điều 46 BLHS. Trường hợp vừa có
tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng
nặng từ hai tình tiết trở lên;
<i>- Thuộc trường hợp khơng cần bắt chấp hành hình phạt tù, là trường hợp nếu khơng bắt</i>
người phạm tội đi chấp hành hình phạt tù thì khơng gây nguy hiểm cho xã hội hoặc khơng gây
ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phịng, chống tội phạm.
<b>Câu 11: Hãy trình bày về thời gian thử thách, cách tính thời gian thử thách và giảm</b>
<b>thời gian thử thách của án treo.</b>
<b>1. V th i gian th thách c a án treo: ề</b> <b>ờ</b> <b>ử</b> <b>ủ</b> Theo kho n 1 i u 44 BLHS, thì th i gian thả Đ ề ờ ử
thách c a án treo l t 1 n m ủ à ừ ă đến 5 n m: b t c tră ấ ứ ường h p n o c ng không ợ à ũ được dưới 1
n m ho c quá 5 n m v không ă ặ ă à được ít h n m c hình ph t tù. Th i gian th thách c a ánơ ứ ạ ờ ử ủ
treo l b t bu c, không à ắ ộ được cho hưởng án treo m l i mi n th i gian th thách.à ạ ễ ờ ử
<b>2. Cách tính th i gian th thách c a án treo: ờ</b> <b>ử</b> <b>ủ</b> Để phát huy tác d ng phòng ng a c a ánụ ừ ủ
treo, tránh tình tr ng ngạ ườ đượi c hưởng án treo ph m t i m i trong th i h n kháng cáo,ạ ộ ớ ờ ạ
kháng ngh b n án s th m theo th t c phúc th m ho c ph m t i m i trong th i gian chu nị ả ơ ẩ ủ ụ ẩ ặ ạ ộ ớ ờ ẩ
b xét x phúc th m m không b coi l ph m t i trong th i gian th thách, t nay th i gianị ử ẩ à ị à ạ ộ ờ ử ừ ờ
th thách c a án treo tính t ng y tuyên b n án cho hử ủ ừ à ả ưởng án treo; n u có nhi u b n án choế ề ả
hưởng án treo thì tính t ng y tuyên b n án ừ à ả đầu tiên cho hưởng án treo. Ngh a l : n u TAĩ à ế
c p s th m cho ngấ ơ ẩ ườ ị ếi b k t án được hưởng án treo, thì th i gian th thách tính t ng yờ ử ừ à
tuyên án s th m; n u TA c p s th m không cho hơ ẩ ế ấ ơ ẩ ưởng án treo, nh ng TA c p phúc th mư ấ ẩ
cho hưởng án treo, thì th i gian th thách tính t ng y tuyên án phúc th m; n u c TA c pờ ử ừ à ẩ ế ả ấ
s th m v TA c p phúc th m ơ ẩ à ấ ẩ đều không cho hưởng án treo, nh ng TA c p giám ư ấ đốc cho
hưởng án treo, thì th i gian th thách tính t ng y tuyên án giám ờ ử ừ à đốc th m; n u TA c p sẩ ế ấ ơ
th m cho hẩ ưởng án treo, TA c p phúc th m không cho hấ ẩ ưởng án treo, nh ng TA c p giámư ấ
c th m l i cho h ng án treo, thì th i gian th thách tính t ng y tuyên án s th m.
đố ẩ ạ ưở ờ ử ừ à ơ ẩ
<b>Câu 12: Các trường hợp được miễn chấp hành hình phạt. Phân biệt miễn chấp hành</b>
<b>hình phạt - miễn hình phạt.</b>
<i><b>* Các trường hợp được miễn chấp hành hình phạt.</b></i>
<i>a. Đối với hình phạt chính: Người bị kết án CTKGG hoặc tù có thời hạn chưa chấp hành</i>
hình phạt thuộc một trong các trường hợp sau thì được miễn chấp hành tồn bộ hình phạt:
- Người phạm tội đã lập cơng lớn. Như cứu người, cứu tài sản khi hoả hoạn, lụt bão.
- Người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo. Như bị lao nặng, ung thư, bại liệt và không còn
nguy hiểm cho xã hội nữa. Tức là người phạm tội khơng có khả năng thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội.
- Khi người phạm tội được đặc xá hoặc đại xá.
- Đối với người bị kết án về tội ít nghiêm trọng đã được hỗn hoặc được tạm đình chỉ chấp
hành hình phạt mà trong thời gian tạm hỗn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt đã lập cơng.
<i>b. Đối với hình phạt bổ sung: Đối với người bị kết án hình phạt cấm cư trú hoặc quản chế</i>
nếu đã chấp hành được 1/2 thời hạn hình phạt đã tuyên, cải tạo tốt và được sự đề nghị của chính
quyền địa phương nơi người phạm tội thi hành bản án thì TA có thể quyết định miễn phần hình
phạt cịn lại.
<i><b>* Phân biệt miễn chấp hành hình phạt với miễn hình phạt.</b></i>
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN VN hiện nay, việc nghiên cứu chế
định miễn TNHS và chế định miễn hình phạt để phân biệt sự giống và khác nhau giữa hai chế
định này trong PL hình sự thực định cũng như trong thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng trên
các bình diện chủ yếu dưới đây.
Một là, miễn TNHS và miễn hình phạt là các chế định quan trọng trong luật hình sự VN
thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội và
hành vi do họ thực hiện, đồng thời qua đó nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập
công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hịa nhập với cộng đồng và
giúp họ trở thành người có ích cho xã hội. Hai chế định này chỉ có thể áp dụng khi có đầy đủ
các căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do PL hình sự quy định
Hai là, cũng như việc miễn TNHS, bằng các quy phạm có tính chất nhân đạo của chế định
miễn hình phạt, nhà làm luật khơng phải dùng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị) về
mặt pháp lý hình sự và do đó, sẽ loại trừ được việc áp dụng hình phạt trong những trường hợp
mặc dù hình phạt có được TA quyết định đi chăng nữa nhưng trên thực tế là bất hợp lý vì các
Ba là, với việc áp dụng miễn TNHS hoặc miễn hình phạt nhà nước khơng cách ly khỏi xã
hội những người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và như vậy, sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của trật tự PL để trở lại cuộc sống bình
thường trong cộng đồng xã hội, phấn đấu là người lương thiện và có ích cho GĐ&XH.
Bốn là, việc tiếp tục nghiên cứu về mặt lý luận chế định miễn TNHS và miễn hình phạt để
phân biệt chúng dưới góc độ nhận thức - khoa học không những là hướng nghiên cứu quan
trọng, mà còn là việc làm cần thiết của khoa học luật hình sự nước ta hiện nay.
<i>- Khái niệm miễn TNHS: Hiện nay xung quanh khái niệm miễn TNHS cịn có nhiều quan</i>
điểm khác nhau. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học luật hình sự có thể định nghĩa: Miễn TNHS
là một chế định nhân đạo của luật hình sự VN và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp
lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là
có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó.
Như vậy, bản chất pháp lý của chế định miễn TNHS là hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc
thực hiện tội phạm khi có các căn cứ do PL hình sự quy định, tức là các cơ quan tư pháp hình
sự có thẩm quyền của nhà nước (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của VKS, VKS và TA)
căn cứ vào giai đoạn TTHS tương ứng cụ thể để miễn TNHS cho người phạm tội.
<i>- Khái niệm miễn hình phạt: Cũng giống như khái niệm miễn TNHS, hiện nay xung quanh</i>
khái niệm miễn hình phạt cịn có nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa
học luật hình sự có thể định nghĩa: Miễn hình phạt là hủy bỏ biện pháp cưỡng chế nghiêm
khắc nhất cho người bị kết án mà lẽ ra TA phải tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực PL đối
với người này.
Như vậy, bản chất pháp lý của chế định miễn hình phạt là ở chỗ - TA khơng quyết định
hình phạt trong bản án kết tội có hiệu lực PL đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện
<i>- Phân biệt miễn TNHS với miễn hình phạt: Về bản chất pháp lý, các đặc điểm cơ bản và</i>
những trường hợp miễn TNHS (quy định tại Điều 19, Điều 15, K2 Điều 69, khoản 3 Điều 80,
đoạn 2 khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290 và khoản 3 Điều 314) và miễn hình phạt (quy
định tại Điều 54 và khoản 3 Điều 314) vì đã được đề cập trong các bài viết liên quan đến hai
chế định nói trên nên trong bài viết này chỉ tập trung đi sâu phân tích các điểm giống và khác
nhau cơ bản giữa chúng theo hệ thống như sau.
+ Về các điểm giống nhau:
a. Miễn TNHS và miễn hình phạt đều thuộc hệ thống các biện pháp tha miễn trong luật
hình sự nước ta2, thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự nói chung và của
luật hình sự VN nói riêng.
b. Miễn TNHS và miễn hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người nào bị coi là có lỗi
trong việc thực hiện chính tội phạm đó. Nói cách khác, hành vi nguy hiểm cho xã hội do người
đó thực hiện bị PL hình sự cấm (BLHS (BLHS) quy định là tội phạm).
c. Miễn TNHS và miễn hình phạt chỉ có thể áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và
những điều kiện cụ thể do PL hình sự quy định tương ứng trong từng trường hợp cụ thể.
d. Cũng như người được miễn TNHS, người được miễn hình phạt khơng phạt chịu hậu quả
pháp lý bất lợi của việc phạm tội hoặc (và) của việc quyết định hình phạt - án tích.
e. Cũng như việc miễn TNHS, bằng các quy phạm có tính chất nhân đạo của chế định
miễn hình phạt, nhà làm luật không phải dùng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị) về
mặt hình sự và do đó, sẽ loại trừ được việc áp dụng hình phạt trong những trường hợp mặc dù
hình phạt có được TA quyết định đi chăng nữa nhưng trên thực tế là bất hợp lý vì các mục đích
f. Và cuối cùng, với việc áp dụng miễn TNHS hoặc miễn hình phạt, Nhà nước khơng cách
ly khỏi xã hội những người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và như vậy, sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của trật tự PL để trở lại cuộc sống
bình thường trong cộng đồng xã hội, phấn đấu làm người lương thiện và có ích cho GĐ&XH.
+ Về các điểm khác nhau:
a. Nếu BLHS năm 1999 hiện hành của nước ta có quy định chín trường hợp (dạng) miễn
TNHS, thì các trường hợp miễn hình phạt trong Bộ luật này chỉ được ghi nhận tại hai điều luật
mà thơi.
b. TNHS có thể được thực hiện bằng hình phạt (nếu người phạm tội không được miễn
TNHS, mà bị TA áp dụng hình phạt), nhưng cũng có thể bằng biện pháp có tính cưỡng chế về
hình sự khác (nếu người phạm tội được miễn hình phạt). Cịn miễn TNHS thì đương nhiên là
khơng áp dụng hình phạt với người phạm tội, tức là không áp dụng biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của nhà nước đối với họ, nhưng miễn hình phạt thì khơng có nghĩa là khơng
có TNHS. Nói một cách khác, người được miễn hình phạt khi họ chưa đến mức được miễn
TNHS, còn người được miễn TNHS lại đương nhiên được miễn hình phạt.
c. Khác với miễn TNHS, điều kiện được miễn hình phạt áp dụng đối với từng trường hợp
cụ thể không được quy định rõ ràng như miễn TNHS. Theo quy định tại Đ54 BLHS 1999 thì
các điều kiện để miễn hình phạt khơng khắt khe (chặt chẽ) bằng các điều kiện để miễn TNHS.
Do đó, dưới góc độ PL hình sự thực định và thực tiễn áp dụng nó, chúng ta có thể nhận thấy
hành vi phạm tội và nhân thân người được miễn TNHS thơng thường đều ít nguy hiểm hơn so
với hành vi phạm tội và nhân thân của người được miễn hình phạt. Nói một cách khác, hành vi
phạm tội và nhân thân người được miễn hình phạt nguy hiểm hơn so với hành vi phạm tội và
nhân thân người được miễn TNHS.
d. Nếu hình phạt và việc áp dụng miễn hình phạt đối với người bị kết án chỉ có thể và phải
do một cơ quan duy nhất áp dụng - TA, thì trong khi đó miễn TNHS đối với người phạm tội,
ngồi TA có thẩm quyền áp dụng ra cịn có thể do các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền
(cơ quan điều tra với sự phê chuẩn của VKS, VKS) áp dụng trước khi xét xử tùy thuộc vào
giai đoạn TTHS cụ thể tương ứng.
quyết số 02/HĐTP ngày 5/1/1986 về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS: “Khi
đã miễn TNHS thì TA khơng được quyết định bất kỳ loại hình phạt nào nhưng vẫn có thể quyết
định việc bồi thường cho người bị hại và giải quyết tang vật”. Trong khi đó, người được miễn
hình phạt tuy đương nhiên được xóa án tích (khoản 1 Điều 64 BLHS năm 1999), nhưng họ vẫn
có thể bị áp dụng các biện pháp tư pháp (chung) được quy định trong PL hình sự thực định (các
Điều 41 - 43 BLHS năm 1999).
Tóm lại: Xuất phát từ phân biệt hai chế định nói trên trong BLHS năm 1999 hiện hành, có
thể rút ra một số kết luận chung dưới đây.
Thứ nhất, miễn TNHS và miễn hình phạt là hai chế định quan trọng thể hiện ngun tắc
nhân đạo trong chính sách hình sự nói chung, trong luật hình sự VN nói riêng. Hai chế định này
chỉ có thể áp dụng khi có đầy đủ các căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do PL hình sự
quy định.
Thứ hai, việc quy định trong PL hình sự VN hai chế định này thể hiện phương châm đúng
đắn của đường lối xử lý về hình sự - đảm bảo sự kết hợp hài hịa giữa các biện pháp cưỡng chế
hình sự nghiêm khắc nhất của nhà nước với các biện pháp tác động xã hội khác để cải tạo, giáo
dục người phạm tội, bằng cách đó hạn chế áp dụng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị)
về mặt hình sự.
Thứ ba, trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN VN hiện nay để nhân đạo
hóa hơn nữa chính sách hình sự nói chung và luật hình sự nước ta nói riêng, dưới góc độ nhận
thức - khoa học, nhà làm luật cần điều chỉnh hai chế định độc lập này thành hai chương riêng
Và cuối cùng, việc tiếp tục nghiên cứu về mặt lý luận chế định miễn TNHS và miễn hình
phạt để phân biệt chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc hồn thiện PL hình sự, bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân, góp phần đấu tranh phịng và chống tội phạm.
<b>Câu 13: Xóa án tích là gì. Có mấy trường hợp xóa án tích. Nêu cách tính thời hạn xóa</b>
<b>án tích theo quyết định của TA.</b>
Xố án tích được hiểu là xố bỏ việc mang dấu ấn, dấu tích về bản án của TA đã kết án là
có tội đối với người phạm tội. Thể hiện ở sự công nhận coi như chưa bị kết án đối với người
trước đó đã bị TA kết tội bằng bản án. Người phạm tội được xố án tích thì coi như chưa can án.
Nếu sau khi được xố án tích mà lại phạm tội thì khơng coi là có tiền án để xác định tái phạm
nguy hiểm. trường hợp này phải xác định là phạm tội lần đầu.
<i><b>* Theo quy định của BLHS thì xố án tích có các trường hợp sau:</b></i>
<i>a. Đương nhiên được xố án tích: Là trường hợp người phạm tội được công nhận là chưa</i>
can án mà không cần phải có sự xem xét và quyết định của TA (Điều 64 BLHS).
- Đương nhiên được xố án tích trong các trường hợp sau:Người được miễn hình phạt.
- Người bị kết án không phải về các tội ở chương XI và chương XXIV của BLHS. Nếu tính
từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó khơng phạm tội
mới trong thời hạn sau:
+ 1 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, CTKGG, phạt tiền hoặc phạt tù nhưng cho
hưởng án treo.
+ 3 năm trong trường hợp phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.
TA chỉ ra quyết định xố án tích đối với người bị kết án về các tội ở chương XI và chương
XXIV BLHS nếu tính từ thời điểm chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản
án không phạm tội mới qua những thời hạn sau đây:
+ 3 năm đối với trường hợp bị phạt tù đến 3 năm.
+ 7 năm đối với trường hợp bị phạt tù trên 3 năm đến 15 năm.
+ 10 năm đối với trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.
Khi TA xố án tích cho người phạm tội cần chú ý:
+ Nếu TA bác đơn xin xoá án lần đầu thì sau 1 năm mới được xin lại, nếu bị bác đơn lần thứ
hai trở đi phải sau 2 năm mới được xin xố án tích.
+ Xét đơn xin xố án tích phải căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, nhân thân,
thái độ chấp hành PL và thái độ lao động của người bị kết án.
<i>c. Xố án tích trong trường hợp đặc biệt (Điều 66 BLHS): Một người được xố án tích</i>
trong trường hợp đặc biệt khi thoả mãn đầy đủ các điều kiện sau:
- Đã đảm bảo được ít nhất 1/3 thời hạn quy định.
- Có biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập cơng.
- Có sự đề nghị của cơ quan, tổ chức được giao trách nhiệm giám sát.
Khi TA xoá án tích cho người phạm tội cần chú ý:
+ Thời hạn để xố án tích căn cứ vào hình phạt chính đã tun.
+ Nếu chưa được xố án tích mà phạm tội mới thì thời hạn để xố án tích cũ tính từ ngày
chấp hành xong bản án mới.
+ Việc chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ
sung và các quyết định khác của TA.
+ Người được miễn chấp hành hình phạt cịn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình
phạt.
<i><b>* Cách tính thời hạn xóa án tích theo quyết định của TA. </b></i>BLHS quy định về đương nhiên
được xóa án tích là người được miễn hình phạt; Người bị kết án không phải về các tội quy định
tại chương XI và chương XXIV của BLHS, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết
thời hiệu thi hành bản án người đó khơng phạm tội mới trong thời hạn sau đây: Một năm trong
trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng
án treo; Ba năm trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm; Năm năm trong trường hợp hình
phạt là tù từ ba đến 15 năm; Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù trên 15 năm.
Xóa án tích theo quyết định của TA là: TA quyết định việc xóa án tích đối với những người
đã bị kết án về các tội ở các chương (tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hịa
bình, chống lại lồi người và tội phạm chiến tranh), căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được
thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành PL và thái độ lao động của người bị kết án trong các
trường hợp sau đây:
+ Đã bị phạt tù đến 3 năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp
hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;
+ Đã bị phạt tù từ trên ba năm đến 15 năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm,
kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.
+ Đã bị phạt tù trên 15 năm kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi
hành bản án…
Như vậy, đương nhiên được xóa án tích là trường hợp người bị kết án mặc nhiên được coi là
chưa can án mà khơng cần có sự xem xét, quyết định của TA; cịn xóa án tích do quyết định của
TA thì người bị kết án được coi là chưa can án khi có quyết định của TA.
Về thời gian thử thách giữa đương nhiên được xóa án tích và xóa án tích do TA quyết định
thì thời gian thử thách do TA quyết định dài hơn.
Về các điều kiện được xóa án tích do quyết định của TA cịn phải căn cứ vào tính chất của
tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành PL và thái độ lao động của người bị
kết án, đây là những điều kiện cần thiết.
Trên đây là những quy định của PL về hai trường hợp mà bạn hỏi, luật gia xin nêu và phân
tích để bạn hiểu và vận dụng.
<b>Câu 14: Trình bày về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.</b>
<b>Biện pháp tư pháp có thể được áp dụng thay thế cho hình phạt đối với người chưa thành</b>
<b>niên phạm tội hay khơng. Tại sao.</b>
<b>* QĐ hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.</b>
Quyết định hình phạt là việc TA lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành.
TA lựa chọn loại hình phạt nào, mức phạt bao nhiêu, phải tuân theo những quy định của
BLHS. Quyết định hình phạt là hoạt động tư duy của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngay
sau khi đã xác định tội danh đối với hành vi phạm tội, nếu định tội là tiền đề, là cơ sở cho việc
quyết định hình phạt, thì quyết định hình phạt là kết quả cuối cùng của hoạt động xét xử.
Quyết định hình phạt chính xác có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động xét xử của TA. Để
quyết định hình phạt chính xác, đúng PL, ngồi việc định tội chính xác, TA cịn phải tn theo
Cũng như đối với người phạm tội đã thành niên, khi quyết định hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội, TA cũng phải căn cứ vào vào quy định của BLHS, cân nhắc tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các
tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS. (Điều 45 BLHS)
1. Căn cứ vào quy định của BLHS: Căn cứ vào các quy định của BLHS, tức là phải căn cứ
vào các quy định của cả phần chung và phần các tội phạm của BLHS có liên quan đến tội
phạm mà người bị kết án đã phạm. Vì vậy, chỉ quyết định hình phạt khi đã có đủ căn cứ xác
định một người đã phạm vào một tội mà BLHS quy định, tức là phải định tội trước rồi mới
quyết định hình phạt sau. Khi đã xác định được tội danh cho mọt hành vi phạm tội, thì phải
xác định tội phạm đó được quy định ở điều khoản nào của BLHS, từ đó đối chiếu với các quy
định của phần chung và phần tội phạm xem có những quy định nào có liên quan đến tội phạm
do người bị kết án thực hiện hay khơng ? Ví dụ: Khi đã xác định Nguyễn Công H 17 tuổi,
phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2
Điều 139 BLHS, khi quyết định hình phạt TA phải căn cứ vào Điều 20 BLHS quy định về
phạm tội có tổ chức để xác định vai trị của Nguyễn Cơng H trong vụ án là người tổ chức,
người thực hành, người xúi dục hay người giúp sức, đồng thời phải căn cứ vào Điều 53 BLHS
quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm.
Đối với người chưa thành niên phạm tội ngoài các quy định của BLHS như đối với người
đã thành niên, thì cịn phải căn cứ vào các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội tại
Chương X (từ Điều 68 đến Điều 77 BLHS ).
Theo quy định tại Chương X của BLHS thì khi quyết định hình phạt đối với người chưa
thành niên phạm tội TA cần chú ý một số vấn đề sau:
Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa
sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Do đó nếu có phải áp
dụng hình phạt đối với họ cũng chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển
lành mạnh và trở thành cơng dân có ích cho xã hội. Nguyên tắc này đòi hỏi TA phải lựa chọn
loại hình phạt và mức hình phạt sao cho thể hiện được yêu cầu là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ
sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành cơng dân có ích cho xã hội
Căn cứ để áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là tính chất của hành
vi phạm tội, những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa. Cần chú ý là yêu
cầu của việc “phòng ngừa” chứ không phải yêu cầu của việc “chống” tội phạm.
Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội, thì TA áp dụng một trong các biện pháp tư pháp (khơng phải là hình phạt) như: Giáo
dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội ít
nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng hoặc đưa vào trường giáo dưỡng từ một năm đến hai năm
đối với người chưa thành niên phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm
tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo
dục có kỷ luật chặt chẽ.
Nếu người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc người được đưa vào trường giáo
dưỡng đã chấp hành một phần hai thời hạn do TA quyết định và có nhiều tiến bộ, thì theo đề
nghị của tổ chức, cơ quan, nhà trường được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục, TA có thể
quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc thời hạn ở trường giáo
dưỡng.
Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội. Khi áp
dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù. Khi
xử phạt tù có thời hạn, TA cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức nhẹ hơn mức
án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi.
Khơng áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
a. Đối với hình phạt cảnh cáo: Khi áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người chưa thành
niên phạm tội, TA phải căn cứ vào quy định tại Điều 29 BLHS, chỉ áp dụng hình phạt cảnh cáo
đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng
chưa đến mức miễn hình phạt. Bởi lẽ, khơng có quy định riêng về việc áp dụng hình phạt cảnh
cáo đối với người chưa thành niên phạm tội, nên theo quy định tại Điều 68 BLHS TA vẫn phải
căn cứ vào Điều 29 BLHS. Tuy nhiên, đối với người chưa thành niên phạm tội nên mở rộng
việc áp dụng hình phạt cảnh cáo nếu đủ điều kiện quy định tại Điều 29 BLHS.
b. Đối với hình phạt tiền: TA chỉ được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính và cũng
chỉ đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu người đó có thu
nhập hoặc có tài sản riêng.
BLHS năm 1999 đã có hiệu lực PL gần 7 năm, nhưng vẫn còn một số trường hợp người
chưa thành niên phạm tội trước ngày BLHS năm 1999 có hiệu lực PL nhưng sau ngày BLHS
năm 1999 mới bị phát hiện mà thời hiệu truy cứu TNHS vẫn cịn, thì khi áp dụng hình phạt đối
với họ, TA nên cần phải chú ý một số vấn đề có liên quan đến hiệu lực về thời gian, cũng như
NQ số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội để tránh những sai lầm khơng đáng có.
BLHS năm 1985 không quy định người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng hình phạt
tiền, nên phải coi đây là trường hợp điều luật quy định một hình phạt mới, nên không được áp
dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2000 mà sau
thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử 11.
Khi áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội, cần
người bị kết án phải nộp thay khoản tiền phạt như đối với trường hợp TA buộc người chưa
thành niên bồi thường thiệt hại.
Mức tiền phạt mà TA áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội không được quá một
phần hai (1/2) mức tiền phạt mà điều luật quy định. Ví dụ: Đặng Thanh H (17 tuổi) bị kết án về
tội buôn lậu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 153 BLHS có khung hình phạt tiền từ
mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, nếu TA chọn hình phạt tiền là hình phạt chính thì chỉ
được phạt Đặng Thanh H từ năm triệu động đến năm mươi triệu đồng.
Khi xác định mức tiền phạt cụ thể, TA căn cứ vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội
phạm được thực hiện, để quyết định một mức tiền phạt như đối với người đã thành niên phạm
tội, sau đó chia đơi số tiền phạt đó để quyết định mức tiền phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội. Ví dụ: Bùi Quốc D (khi phạm tội 17 tuổi 5 tháng) bị kết án về tội buôn bán hàng cấm
theo quy định tại K1 Đ155 BLHS có khung hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu
động. Giả thiết D là người đã thành niên thì sẽ bị phạt tiền 8 triệu đồng nhưng vì D là người
chưa thành niên nên mức tiền phạt mà TA áp dụng đối với D là 4 triệu động.
c. Đối với hình phạt cải tạo khơng giam giữ: Khi áp dụng hình phạt cải tạo khơng giam giữ
đối với người chưa thành niên phạm tội, TA cũng phải căn cứ vào quy định tại Điều 31 BLHS
về cải tạo không giam giữ, đó là: Hình phạt cải tạo khơng giam giữ được áp dụng từ sáu tháng
đến ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do BLHS quy
định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần
thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Tuy nhiên, đối với người chưa thành niên phạm
tội khi áp dụng hình phạt cải tạo khơng giam giữ chỉ cần điều kiện có nơi thường trú rõ ràng, vì
theo quy định tại Điều 73 BLHS thì, khi áp dụng hình phạt cải tạo khơng giam giữ đối với người
Cũng theo quy định tại Đ73 BLHS thì, thời hạn cải tạo khơng giam giữ đối với người chưa
thành niên phạm tội không quá một phần hai (1/2) thời hạn mà điều luật quy định. VD: Trần
Công V (16 tuổi 8 tháng) phạm tội “trộm cắp tài sản” quy định tại K1 Đ138 BLHS có hình phạt
cải tạo khơng giam giữ đến 3 năm, nếu TA áp dụng hình phạt cải tạo khơng giam giữ đối với
Trần Cơng V thì thời gian cải tạo không giam giữ không được quá một năm, 6 tháng (18 tháng).
Tương tự như đối với hình phạt tiền, khi xác định thời hạn cụ thể, TA căn cứ vào tính chất
và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, để quyết định một thời hạn như đối với
người đã thành niên phạm tội, sau đó chia đôi để quyết định thời hạn đối với người chưa thành
niên phạm tội. Ví dụ: Vũ Văn M (khi phạm tội 17 tuổi 9 tháng) bị kết án về tội “vơ ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” theo quy định tại khoản 1 Điều 108 BLHS
có khung hình phạt cải tạo khơng giam giữ đến hai năm. Giả thiết Vũ Văn M là người đã thành
niên thì sẽ bị phạt cải tạo khơng giam giữ là 18 tháng, nhưng vì M là người chưa thành niên nên
mức hình phạt cải tạo khơng giam giữ mà TA áp dụng đối với M là 9 tháng.
Điều luật quy định ở đây phải hiểu là điều luật quy định về hình phạt cải tạo khơng giam giữ
đối với từng tội phạm cụ thể chứ không phải là điều luật quy định về hình phạt cải tạo không
giam giữ (Điều 31 BLHS). Đa số các tội phạm có quy định hình phạt cải tạo khơng giam giữ,
nhà làm luật thường quy định đến ba năm. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp nhà làm luật
chỉ quy định hình phạt cải tạo khơng giam giữ đến hai năm như: Điều 94-Tội giết con mới đẻ;
Điều 96-Tội giết người do vượt q giới hạn phịng vệ chính đáng; Điều 102-Tội khơng cứu
giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng; Điều 103-Tội đe doạ giết người;
Đ106-Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới
hạn phịng vệ chính đáng; Điều 108-Tội vơ ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác; Điều 121-Tội làm nhục người khác; Điều 122-Tội vu khống; Điều 123-Tội bắt, giữ
hoặc giam người trái PL.v.v… Lại có trường hợp nhà làm luật chỉ quy định hình phạt cải tạo
d. Đối với hình phạt tù có thời hạn
Khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội, TA cần phải
cân nhắc kỹ xem có nên áp dụng hình phạt tù đối với họ hay khơng ? Chỉ áp dụng hình phạt tù
đối với người chưa thành niên khi thấy không thể áp dụng được các loại hình phạt khác đối với
họ. Đây cũng là một nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử các Thẩm phán ít chú ý đến nguyên tắc này, nên thường áp dụng
hình phạt tù hoặc cho hưởng án treo, mặc dù người phạm tội có đủ điều kiện được áp dụng các
loại hình phạt khác khơng phải là hình phạt tù.
Khi buộc phải áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội, TA phải tuân
theo các quy định sau:
- Đối với người chưa thành niên khi phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu điều luật
được áp dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất
được áp dụng không quá 18 năm tù. Ví dụ: Võ Hữu B (17 tuổi 5 tháng) phạm tội “giết người”
thuộc trường hợp tại khoản 1 Điều 93 BLHS có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình,
TA chỉ được phạt B mức hình phạt tối đa là 18 năm tù. Nếu điều luật được áp dụng quy định là
hình phạt tù có thời hạn, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng khơng q ba phần tư (3/4)
mức phạt tù mà điều luật quy định. Ví dụ: Võ Minh Q (16 tuổi 10 tháng) phạm tội “bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 134 BLHS có khung hình
phạt từ năm năm đến mười hai năm tù, TA chỉ được phạt Q mức hình phạt tối đa là chín năm tù.
- Đối với người chưa thành niên khi phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu điều luật
được áp dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất
được áp dụng không quá 12 năm tù. Ví dụ: Nguyễn Anh T (15 tuổi 9 tháng) phạm tội “cướp tài
- Trường hợp người chưa thành niên phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại K1
Điều 46 BLHS và được TA áp dụng Điều 47 BLHS thì việc quyết định hình phạt dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt sẽ phức tạp hơn. Đây cũng là vẫn đề thực tiễn xét xử nhiều TA lúng
túng “sợ” vi phạm Điều 47 BLHS nên lại áp dụng một cách máy móc. Ví dụ: A mới 15 tuổi 8
tháng bị rủ rê lôi kéo cùng với một số người khác phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 BLHS có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm
năm tù. Do A có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại K1 Điều 46 đáng được khoan hồng lẽ ra
hình phạt đối với với A chỉ đáng 1 năm tù, nhưng vì Điều 47 BLHS quy định: “TA có thể quyết
định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng
phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật”, mà khung hình phạt liền kề của
khoản 3 Điều 139 là K2 Điều 139 có mức hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù, nên TA “không
dám” phạt A dưới 2 năm tù. Một số trường hợp TA cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt liền kề thì bị VKS kháng nghị với lý do vi phạm Điều 47 BLHS
và khơng ít trường hợp TA cấp phúc thẩm lại chấp nhận kháng nghị tăng hình phạt đối với bị
cáo chỉ vì lý do vi phạm Điều 47 BLHS.
Việc áp dụng Điều 47 BLHS để quyết định dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối
với người chưa thành niên phạm tội, về nguyên tắc vẫn phải bảo đảm đúng quy định của Điều
47. Tuy nhiên, đối với người chưa thành niên phạm tội, TA phải căn cứ vào các quy định tại
Điều 74 BLHS. Để bảo đảm việc quyết định dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội vừa đúng với Điều 47 BLHS vừa bảo đảm quy định tại Điều
74 BLHS, TA cần tiến hành các bước sau:
Trước hết, TA coi như họ là người đã thành niên để quyết định một mức hình phạt cụ thể
sau đó căn cứ vào quy định tại Đ74 BLHS để xác định mức hình phạt cụ thể đối với người
chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Đ47 BLHS. Ví dụ: Hồng Văn C 16 tuổi 10 tháng
phạm tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại K3, Đ138 BLHS có khung hình phạt
từ bảy năm đến mười lăm năm tù; do C có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy đinh tại Đ46 BLHS
nên được TA áp dụng Đ47 BLHS để áp dụng hình phạt quy định tại khoản 2 của Đ138 BLHS.
Giả thiết C là người đã thành niên thì sẽ bị phạt 2 năm tù, nhưng vì C là người chưa thành niên
nên C chỉ bị phạt 1 năm 6 tháng tù (2 x 3 : 4 = 1 năm 6 tháng). Mặc dù mức hình phạt 1 năm 6
tháng tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại K2, Đ138 BLHS nhưng vẫn
không vi phạm Đ47 BLHS.
Tóm lại, căn cứ vào quy định của BLHS để quyết định hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội là cơ sở, là tiền đề cho việc có áp dụng hay khơng áp dụng hình phạt, nếu áp
dụng thì áp dụng loại hình phạt nào, mức hình phạt là bao nhiêu. Căn cứ vào các quy định của
BLHS là căn cứ vào từng hành vi phạm tội cụ thể, của người phạm tội cụ thể đôi chiếu với quy
định của BLHS để áp dụng điều khoản nào cho phù hợp với hành vi phạm tội. BLHS chỉ quy
định có tính chất ngun tắc, dự kiến nếu có một hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra và hành
vi đó có thể giống (tương tự) với dự kiến của BLHS thì được áp dụng các quy định của BLHS
để xử lý. Đây là đặc điểm cơ bản của PL hình sự đối với các nước theo luật thành văn.
Căn cứ vào các quy định của BLHS khi quyết định hình phạt cịn được thể hiện ở chỗ, TA
chỉ được áp dụng một trong các hình phạt chính đã được quy định tại K1, Đ28 BLHS, riêng
hình phạt trục xuất chỉ áp dụng đối với người nước ngoài, không áp dụng đối với công dân
VN. Đối với người chưa thành niên TA khơng được áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại
K2, Đ28 BLHS đối với họ. Khi áp dụng hình phạt, TA phải áp dụng đúng khung hình phạt,
đúng loại hình phạt và khơng được phạt cao hơn mức cao nhất của khung hình phạt đã quy
định. Việc áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt phải tuân theo quy định tại Điều
47 BLHS.
Căn cứ vào các quy định của BLHS là một căn cứ quan trọng nhất, thể hiện nguyên tắc
pháp chế XHCN khi quyết định hình phạt, quyết định hình phạt mà không căn cứ vào các quy
định của BLHS sẽ làm cho bản chất của hình phạt thay đổi, mục đích của hình phạt khơng đạt
được, dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng PL; bản án mà TA tun chẳng
những khơng đúng PL mà cịn khơng được dư luận đồng tình gây ra nhiều hậu quả nghiêm
trọng khác.
<i><b>* Biện pháp tư pháp có thể được áp dụng thay thế cho hình phạt đối với người chưa</b></i>
<i><b>thành niên phạm tội hay khơng. Tại sao. Được, vì đối với người chưa thành niên phạm tội ít</b></i>
nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng TA có thể áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại xã
phường thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng thay thế cho hình phạt.
<b>Câu 15: Các điều kiện của phịng vệ chính đáng. Cho một ví dụ về phịng vệ chính</b>
<b>đáng.</b>
<i><b>* Điều kiện của phịng vệ chính đáng:</b></i>
<i><b>a. Đối với hành vi tấn công là cơ sở làm phát sinh hành vi phòng vệ: </b></i>Theo khái niệm
của PVCĐ thì hành vi tấn cơng làm cơ sở phát sinh hành vi phòng vệ của PVCĐ khi thoả mãn
3 điều kiện sau:
<i>- Về nguồn của hành vi tấn công: Hành vi tấn công phải là của con người (bao gồm cả</i>
hành vi tấn công của trẻ em hoặc người mắc bệnh tâm thần).
<i>- Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi tấn công: Hành vi tấn cơng phải có</i>
nguy cơ gây ra một thiệt hại ở mức độ đáng kể cho xã hội cần được bảo vệ.
<i> - Về thời điểm của hành vi tấn công: Hành vi tấn công phải đang hiện tại. Được coi là</i>
hành vi tấn cơng đang hiện tại có thể thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Hành vi tấn công đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc.
+ Hành vi tấn cơng chưa xảy ra nhưng có nguy cơ sẽ xảy ra ngay tức khắc. Nếu hành vi
tấn công mới ở mức độ đe doạ mà chưa có nguy cơ xảy ra ngay tức khắc mà đã thực hiện hành
vi phòng vệ chống trả để gây thiệt hại cho người đe doạ được gọi là phòng vệ quá sớm. Người
thực hiện hành vi phòng vệ quá sớm phải chịu TNHS bình thường.
+ Hành vi tấn cơng đã kết thúc nhưng nếu hành vi phòng vệ đi liền ngay sau hành vi tấn
công và khắc phục được hậu quả của hành vi tấn cơng gây ra (trường hợp này chỉ có thể xảy ra
đối với hành vi tấn công gây thiệt hại về tài sản).
Nếu hành vi tấn công đã kết thúc mà việc thực hiện hành vi phịng vệ khơng đi liền sau
hành vi tấn công và không khắc phục được hậu quả của hành vi tấn công mà thực hiện hành vi
phòng vệ chống trả để gây thiệt hại cho người đã thực hiện hành vi tấn công được gọi là phòng
vệ quá muộn. Người thực hiện hành vi phịng vệ q muộn phải chịu TNHS bình thường.
<i><b>b. Đối với hành vi phòng vệ: Hành vi phòng vệ chỉ được coi là phịng vệ chính đáng khi</b></i>
thoả mãn các điều kiện sau:
<i>- Về nội dung: Hành vi phòng vệ phải nhằm vào chính người có hành vi tấn cơng và thiệt</i>
hại cũng gây ra cho chính người có hành vi tấn cơng.
<i>- Về phạm vi: Hành vi phịng vệ phải là “cần thiết”.</i>
Hành vi phòng vệ như thế nào được coi là cần thiết hiện nay vẫn chưa có văn bản nào giải
thích hướng dẫn. Trên thực tế các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn áp dụng NQ 02/86 của
HĐTPTANDTC ban hành ngày 05/01/85 giải thích tính chất tương xứng của hành vi phòng vệ
với hành vi tấn cơng. Theo hướng dẫn của văn bản này thì, để đánh giá sự tương xứng giữa 2
loại hành vi phòng vệ và hành vi tấn công phải xem xét, đánh giá một cách khách quan tồn
diện các tình tiết sau:
- Tương quan lực lượng giữa 2 bên tấn công và bên phịng vệ.
- Cơng cụ, phương tiện 2 bên sử dụng.
- Cường độ, thái độ của sự tấn công, nhân thân người tấn công.
- Mức độ hậu quả của 2 loại hành vi gây ra hoặc đe doạ gây ra.
- Thời gian, địa điểm, hoàn cảnh nơi sự việc xẩy ra...
<b>Câu 16: Các điều kiện của tình thế cấp thiết. Như thế nào là vượt quá yêu cầu của</b>
<b>tình thế cấp thiết. Cho ví dụ chứng minh.</b>
Tình thế cấp thiết là tình thế của một người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe
doạ lợi ích của NN, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà
khơng cịn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Hành vi
gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm. (K1, Đ16 BLHS).
<i><b>* Điều kiện của tình thế cấp thiết:</b></i>
a. Đối với sự nguy hiểm: Đối với thời điểm của sự nguy hiểm: Xảy ra 2 trường hợp:
- Sự nguy hiểm phải đang diễn ra chưa kết thúc.
- Sự nguy hiểm chưa diễn ra nhưng có nguy cơ sẽ xảy ra trong khoảnh khắc.
b. Đối với hành vi trong tình thế cấp thiết (hay còn gọi là hành vi khắc phục sự nguy hiểm)
phải thoả mãn các điều kiện sau:
- Chỉ được gây thiệt hại khi khơng cịn biện pháp nào khác.
- Thiệt hại của hành vi trong tình thế cấp thiết có thể gây ra cho người khác khơng phải là
người đã gây ra sự cố nguy hiểm.
- Thiệt hại gây ra trong tình thế cấp thiết phải ln nhỏ hơn thiệt hại bị đe doạ gây ra.
Phịng vệ chính đáng Tình thế cấp thiết
- Nguồn nguy
hiểm
- Nội dung.
- Phạm vi.
- Trách nhiệm
dân sự
- Mục đích.
- Tính chất.
- Của con người.
- Gây thiệt hại cho chính
kẻ tấn công.
- Tương xứng.
- Không.
- Ngăn chặn đẩy lùi sự
tấn công.
- Chưa phải là biện pháp
cuối cùng.
- Con người, súc vật, thiên nhiên.
- Có thể gây thiệt hại cho người khác.
- Thiệt hại trong TTCT nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn
ngừa.
- Có thể phải chịu trách nhiệm dân sự.
- Chuyển từ một nguy cơ đang thực tế đe doạ sang
việc gây ra một thiệt hại khác cũng được PL bảo vệ.
- Khi khơng cịn biện pháp nào khác.
<b>* Như thế nào là vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết. Cho ví dụ chứng minh.</b>
Khoản 2, Điều 16 BLHS quy định: “Vượt quá giới hạn của tình thế cấp thiết tức là thiệt hại của
hành vi khắc phục sự nguy hiểm gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người
gây thiệt hại đó phải chịu TNHS”.
<b>Câu 17: Thế nào là vượt quá giới hạn phịng vệ chính đáng. Trường hợp vượt q giới</b>
<b>hạn phịng vệ chính đáng có đảm bảo cơ sở khởi phát quyền phịng vệ hay khơng. Tại sao.</b>
<i><b>* Vượt q giới hạn phịng vệ chính đáng: </b></i>
Hành vi xâm hại tính mạng hoặc sức khỏe của người khác mà khơng được coi là phịng vệ
chính đáng, thì có thể là hành vi phạm tội thông thường (tội giết người, tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác) hoặc là hành vi phạm tội do vượt q giới hạn
phịng vệ chính đáng. Khoản 2 Điều 15 BLHS quy định: “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, khơng phù hợp với tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại”.
Hành vi xâm hại tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng khi khơng có đầy đủ 4 điều kiện nói ở đoạn 1, nhất là hành vi phịng vệ
khơng tương ứng với hành vi xâm hại, tức là có sự chênh lệch quá đáng giữa tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi xâm hại với hành vi phòng vệ, giữa phương tiện và phương pháp mà
bên xâm hại với bên phòng vệ đã dùng, giữa sức lực và khả năng của hai bên, phương tiện họ có
sẵn, hoàn cảnh cụ thể khi xảy ra sự việc.
Nếu sự chênh lệch giữa hành vi xâm hại và hành vi phịng vệ rõ ràng là q đáng, thì sự
phịng vệ mới bị coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, vì cần phải chú ý rằng người
phịng vệ khơng phải bao giờ cũng có khả năng đánh giá được một cách chính xác tính chất và
mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại và lựa chọn biện pháp phịng vệ cho thật thích hợp, nhất
là trong trường hợp tinh thần bị hành vi xâm hại kích động đột ngột. Vì vậy nếu sự chênh lệch là
khơng q đáng, sự vượt quá là không rõ ràng, hoặc không đáng kể thì sự phịng vệ vẫn được
coi là phịng vệ chính đáng.
Tóm lại, khi phân biệt ranh giới giữa PVCĐ với vượt q giới hạn phịng vệ chính đáng,
trong một vụ án cụ thể, cần xem xét:
- Tính chất quan trọng của lợi ích bị xâm hại, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi
xâm hại và hành vi phòng vệ;
- Tương quan sức lực giữa bên xâm hại và bên phòng vệ (bao gồm cả phương tiện, phương
pháp mà hai bên đã dùng) trong một hoàn cảnh cụ thể.
<b>Câu 18: Phân biệt biện pháp tịch thu tài sản với tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan</b>
<b>đến việc phạm tội. Cho ví dụ với mỗi trường hợp.</b>
<i><b>* Hình phạt tịch thu tài sản (Điều 40 BLHS)</b></i>
Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án sung
Điều kiện áp dụng hình phạt tịch thu tài sản là:
- Có thể áp dụng đối với người phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm
trọng được BLHS sự quy định.
- Chỉ tịch thu tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án.
- Nếu tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh
sống.
<i><b>* Tịch thu vật, tiền (tài sản) trực tiếp liên quan đến tội phạm (Đ 41 BLHS) </b></i>Theo quy định
tại Đ41 BLHS chỉ tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong các trường hợp sau:
- Công cụ, phương tiện mà người phạm tội đã dùng vào việc phạm tội. Ví dụ như con dao
dùng để giết người, chiếc thuyền hoặc chiếc ghe chở hàng lậu.
- Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có. Ví dụ số tiền
nhận của hối lộ.
- Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành. Ví dụ, ma tuý, vũ khí quân dụng...
- Vật, tiền thuộc sở hữu của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm
tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm.
Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép mà chủ sở hữu, người
quản lý hợp pháp không có lỗi đối với việc sử dụng vào việc phạm tội thì khơng tịch thu mà trả
lại cho chủ sở hữu. Những vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép là
những vật, tiền thuộc sở hữu người khác và đã xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chúng.
<b>Câu 19: Như thế nào là tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm</b>
<b>có phải là trường hợp phạm tội nhiều lần khơng.</b>
Theo quy định tại Điều 49 BLHS thì tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án
tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
<i>Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm: Đã bị kết án về tội rất nghiêm</i>
trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xố án tích mà lại phạm tội rất nghiêm
trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; Đã tái phạm, chưa được xố án tích mà lại phạm tội do
cố ý.
Mặt khác, theo quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS thì: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội
phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là
đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất
của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây
nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến <i>mười lăm</i>
<i>năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà</i>
mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc
<i>tử hình. </i>
<i><b>* Tái phạm, tái phạm nguy hiểm có phải là trường hợp phạm tội nhiều lần khơng.</b></i>
Phạm tội nhiều lần là có từ hai lần trở lên phạm cùng một loại tội, trong đó mỗi lần đều đã
có đủ yếu tố CTTP, chưa bị truy cứu TNHS và chưa hết thời hạn truy cứu TNHS, nay các lần
phạm tội đó được xét xử trong cùng một bản án.
<b>Câu 20: Hãy trình bày cách xác định TNHS đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội và</b>
<b>phạm tội chưa đạt.</b>
Xác định hai giai đoạn này của tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quy TNHS
và quyết định hình phạt. Chỉ đối với những tội phạm thực hiện do cố ý thì mới có giai đoạn
chuẩn bị phạm tội, vì khi cố ý phạm tội thì người phạm tội mới thường tiến hành một số hoạt
động như: bàn bạc với người khác, tìm kiếm, sửa soạn phương tiện phạm tội hoặc tạo những
điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện tội phạm. Khoản 1 Điều 15 BLHS quy định: Chỉ
chuẩn bị phạm một tội nghiêm trọng thì người chuẩn bị phạm tội mới phải chịu TNHS, tức là
chỉ đối với những tội phạm gây nguy hiểm lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình
phạt đối với tội ấy là trên 5 năm tù, thì người chuẩn bị phạm tội mới phải chịu TNHS.
Khi hành vi của người phạm tội đã chuyển sang giai đoạn thực hiện thì hành vi đó đã thực
sự nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, khoản 2 điều 14 BLHS quy định trừng trị cả trường hợp
phạm tội chưa đạt, không phân biệt tội nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng. Phạm tội chưa đạt là
những hành vi đã tiến hành tội phạm, nhưng không thực hiện được đến cùng vì những ngun
nhân ngồi ý muốn của người phạm tội.
Trong thực tế đấu tranh chống tội phạm, phạm tội chưa đạt có hai dạng: phạm tội chưa đạt
chưa hồn thành vì khơng có điều kiện thực hiện đầy đủ hành vi phạm tội, thí dụ: A đã trèo
tường vào nhà B để trộm tài sản, nhưng thấy động nên phải rút lui; và phạm tội chưa đạt đã
hồn thành vì đã thực hiện đến cùng tội phạm nhưng khơng đạt được mục đích, thí dụ: kẻ giết
người đã bắn vào người bị hại, nhưng bắn không trúng, hoặc y đã cho người khác uống thuốc
độc, nhưng do liều lượng quá nhẹ nên người bị hại không chết.
Thơng thường thì trường hợp thứ hai nguy hiểm hơn trường hợp thứ nhất, cho nên phải xử
phạt nặng hơn Bản án xử những trường hợp phạm tội chưa đạt phải định tội danh là phạm tội
chưa đạt về tội gì (thí dụ: giết người chưa đạt) và phải viện dẫn điều luật quy định về tội đó
(như: Điều 101 về tội giết người…) và khoản 2 Điều 15 về phạm tội chưa đạt
<b>Câu 21: Phân tích khái niệm luật hình sự.</b>
<i><b>* Khái niệm: Thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phịng và chống tội phạm - loại vi phạm PL</b></i>
có tính nguy hiểm cao hơn hẳn so với các loại vi phạm PL khác cho xã hội. Nhà nước sử dụng
nhiều hình thức và biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp PL hình sự (PLHS). Biện pháp
này được Nhà nước sử dụng thể hiện trước hết qua hoạt động xây dựng PL mà kết quả là các
văn bản QPPLHS quy định về tội phạm và hình phạt được ra đời. Các QPPL này tồn tại trong
mối quan hệ hữu cơ biện chứng với nhau trong một hệ thống tạo thành ngành luật hình sự.
Vậy, Luật hình sự là một ngành luật trong hệ thống PL của nước CHXHCNVN, bao gồm
<i>hệ thống những QPPL do Nhà nước ban hành, xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội</i>
<i>nào là tội phạm, đồng thời quy định hình phạt đối với những tội phạm ấy.</i>
<i><b>* Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự:</b></i>
Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là các QHXH được các QPPL của ngành luật đó
điều chỉnh. Các QHXH được các QPPLHS tác động tới là đối tượng điều chỉnh của luật hình
sự. Luật hình sự chỉ điều chỉnh các QHXH khi có tội phạm xảy ra- đó cũng chính là các
QHPLHS.
Vậy, Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những QHXH phát sinh giữa Nhà nước và
<i>người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm.</i>
Thời điểm bắt đầu xuất hiện QHPL hình sự là thời điểm người phạm tội bắt đầu thực hiện
tội phạm và QHPL này chấm dứt khi người phạm tội được xố án tích. Trong cả q trình này
xuất hiện đồng thời QHPL TTHS, QHPL dân sự... Tuy nhiên, QHPL TTHS, đa số trường hợp
bắt đầu xuất hiện khi có quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can.
Trong QHPL hình sự ln có hai chủ thể với những vị trí pháp lý khác nhau.
<i>1. Nhà nước: Có quyền truy tố, xét xử người phạm tội, buộc họ phải chịu những biện pháp</i>
TNHS nhất định để bảo vệ PL bảo vệ lợi ích của tồn xã hội. Nhà nước thực hiện quyền này
<i>2. Người phạm tội: Có trách nhiệm chấp hành các biện pháp cưỡng chế mà Nhà nước áp</i>
dụng đối với mình. Mặt khác, họ có quyền yêu cầu Nhà nước đảm bảo các quyền và lợi ích
hợp pháp của mình.
<i><b>* Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự:</b></i>
Xuất phát từ chức năng điều chỉnh và địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia QHPL này,
luật hình sự sử dụng phương pháp quyền uy - phương pháp sử dụng quyền lực NN để điều
chỉnh các QHPL hình sự. NN áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người phạm tội không
bị cản trở hay phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Người phạm tội phải
phục tùng những biện pháp mà Nhà nước đã áp dụng với họ. Trách nhiệm của người phạm tội
về tội phạm mà họ đã gây ra là trách nhiệm đối với Nhà nước chứ không phải trách nhiệm đối
với người bị hại hay trách nhiệm đối với các cơ quan tiến hành tố tụng.
<b>Câu 22: Phân tích khái niệm đạo luật hình sự VN.</b>
Đạo luật hình sự VN là văn bản QPPL do cơ quan quyền lực NN cao nhất ban hành, quy
định về tội phạm và hình phạt cũng như các chế định khác liên quan đến việc xác định tội
phạm và hình phạt, đồng thời quy định nhiệm vụ và những nguyên tắc chung của luật HS VN.
Với khái niệm trên cho thấy, đạo luật hình sự có 3 đặc điểm như sau:
1. Về hình thức pháp lý: Đạo luật hình sự là văn bản QPPL.
2. Về thẩm quyền ban hành: Đạo luật hình sự do QH ban hành.
3. Về nội dung: Đạo luật hình sự chứa đựng các QPPL quy định về tội phạm và hình phạt.
Với các đặc điểm trên thì Đạo luật hình sự hiện hành chỉ là BLHS VN 1999. Song đánh
giá cả quá trình lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta cho thấy đạo luật hình sự VN bao
Nội dung bên trong của đạo luật hình sự VN chứa đựng các QPPL. Tính chất của các
QPPL hình sự trong đạo luật hình sự thể hiện ở tính chất cấm chỉ và tính chất bắt buộc:
+ Về tính chất cấm chỉ của QPPL hình sự được thể hiện ở việc không cho phép người ta
thực hiện những hành vi được quy định trong BLHS là tội phạm bằng cách răn đe áp dụng
hình phạt đối với người thực hiện hành vi đó.
Tuy nhiên, BLHS VN vẫn cho phép một người được quyền hành động để gây một thiệt
hại nhất định cho xã hội trong hai trường hợp: Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết (Điều
15, Điều 16 BLHS).
+ Về tính chất bắt buộc của các QPPL hình sự thể hiện ở 2 phương diện là đối với người
phạm tội luôn phải chịu một biện pháp TNHS nhất định, cịn đối với các cơ quan có trách
nhiệm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội một cách nghiêm minh, kịp thời.
xác định tội phạm và hình phạt. Các quy phạm này hợp thành phần chung của BLHS (được quy
định từ Điều 1 đến Điều 77 BLHS).
<i>Nhóm quy phạm thứ hai là các quy phạm quy định các tội phạm cụ thể và hình phạt cần áp</i>
dụng đối với từng tội phạm đó. Các quy phạm này hợp thành phần các tội phạm cụ thể (được
quy định từ Điều 78 đến Điều 344 BLHS)
<b>Câu 23: Thế nào là hiệu lực hồi tố. Cho biết BLHS VN có hiệu lực hồi tố khơng. Tại</b>
<b>sao.</b>
Hiệu lực hồi tố là hiệu lực của văn bản phát luật HS áp dụng đối với những hành vi phạm
tội xảy ra trước khi văn bản ấy có hiệu lực thi hành.
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 7 của BLHSVN được phép áp dụng BLHS 1999 để xét xử
những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01/17/2000 mà sau thời điểm này mới đưa ra xử lý,
nếu BLHS 1999 quy định theo hướng có lợi hơn so với BLHS 1985 cho người phạm tội đối với
trường hợp phạm tội cụ thể đó (đó là những trường hợp được áp dụng hiệu lực hồi tố). Cụ thể
BLHS VN có hiệu lực hồi tố trong một số trường hợp sau:
- Trường hợp xoá bỏ một tội phạm. VD: Tội chống Nhà nước XHCN anh em, tội chiếm
đoạt tem phiếu, tội phá huỷ tiền tệ, tội lưu hành sản phẩm kém phẩm chất là những tội phạm
được quy định trong BLHS 1985 mà không được quy định trong BLHS 1999.
- Xố bỏ một hình phạt: Ví dụ Điều 138 BLHS 1999 về tội trộm cắp tài sản quy định xoá bỏ
hình phạt tử hình.
- Xố bỏ một tình tiết tăng nặng: Ví dụ BLHS 1999 khơng cịn quy định tình tiết tăng nặng
lợi dụng chức vụ cao để phạm tội.
- Quy định một hình phạt nhẹ hơn.
- Quy định một tình tiết giảm nhẹ mới, như tình tiết người phạm tội đã lập công chuộc tội.
- Mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình phạt, xố án tích. Ví dụ như
BLHS 1985 thời hạn án tích là 3 năm đối với hình phạt cảnh cáo nhưng BLHS 1999 thời hạn là
1 năm.
- Phụ nữ có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi khơng được áp dụng hình phạt tử hình (BLHS 1985
chỉ áp dụng chính sách nhân đạo này đối với phụ nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi) hoặc người từ
14 đến 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS nếu điều luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt từ
7 năm trở lên (BLHS 1985 quy định người ở độ tuổi này phải chịu TNHS đối với những tội
phạm có quy định mức cao nhất của khung hình phạt từ 5 năm trở lên). Trường hợp này phải áp
dụng BLHS1999 để xét xử người phạm tội
<i>Chú ý: Trong trường hợp điều luật trong văn bản PL mới và văn bản PL cũ khơng thay đổi</i>
thì áp dụng điều luật của văn bản mới để xét xử hành vi phạm tội thực hiện trước khi văn bản
mới có hiệu lực.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 7 của BLHSVN không được phép áp dụng BLHS 1999 để
xét xử những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01/17/2000 mà sau thời điểm này mới đưa ra
xử lý, nếu BLHS 1999 quy định theo hướng bất lợi hơn so với BLHS 1985 cho người phạm tội
đối với trường hợp phạm tội cụ thể đó (đó là những trường hợp không được áp dụng hiệu lực
hồi tố).
<i>Cụ thể BLHS VN khơng có hiệu lực hồi tố trong một số trường hợp sau: </i>
- Quy định tội phạm mới, như tội lây truyền vi rút HIV cho người khác Điều 117, BLHS
1999. Tội vi phạm về sử dụng lao động là trẻ em (Điều 267).
- Quy định hình phạt nặng hơn: có thể là loại hoặc mức hình phạt nặng hơn.
Ví dụ Tội cố ý gây thương tích trong BLHS 1999 quy định hình phạt cao nhất là tù chung
thân nhưng BLHS 1985 quy định hình phạt cao nhất đối với tội này là 20 năm tù. Tội hành nghề
mê tín dị đoan trong 2 bộ luật mức hình phạt cao nhất là 10 năm tù, thì căn cứ vào mức thấp
nhất của tội phạm này trong 2 BLHS để xác định BLHS nào quy định về tội phạm đó với hình
phạt tối thiểu cao hơn thì thuộc trường hợp quy định hình phạt nặng hơn. Cụ thể Khoản 1, Điều
247 BLHS 1999 về tội hành nghề mê tín dị đoan quy định hình phạt thấp nhất là 6 tháng tù,
nhưng Khoản 1, Đ. 119 BLHS1985 quy định hình phạt thấp nhất là 3 tháng tù. Như vậy, Đ.247
BLHS 1999 là tội có mức hình phạt nặng hơn.
- Quy định tình tiết tăng nặng mới, tình tiết định khung tăng nặng mới: như tình tiết
xâm phạm tài sản XHCN, gây hậu quả rất nghiêm trọng, lợi dụng tình trạng khẩn cấp để
phạm tội, hoặc tình tiết định khung tăng mới như giết trẻ em, giết ông bà, cha mẹ...
- Quy định hạn chế phạm vi áp dụng án treo.
Ví dụ: Điều 44 BLHS 1985 quy định người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời
gian thử thách mà tội mới là cố ý hoặc vô ý mà bị phạt tù thì phải chấp hành hình phạt tù của
bản án cho hưởng án treo. Nhưng Điều 60 BLHS 1999 quy định trong mọi trường hợp phạm tội
mới trong thời gian thử thách đối với người đang chấp hành bản án treo đều phải chấp hành hình
phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
- Quy định hạn chế phạm vi miễn TNHS, miễn hình phạt,giảm thời hạn chấp hành hình.
Ví dụ: BLHS 1985 quy định với người bị kết án tù chung thân phải chấp hành được ít nhất
là 10 năm mới được xét giảm lần đầu thời gian thực sự ở tù là 15 năm. Theo BLHS 1999 người
bị kết án tù chung thân phải chấp hành được ít nhất là 15 năm mới có thể được xét giảm lần đầu,
thời gian ở tù ít nhất là 20 năm.
<i><b>* Cho biết BLHS VN có hiệu lực hồi tố không. Tại sao.</b></i>
Hiệu lực hồi tố là một dạng hiệu lực PL của văn bản QPPL. Hiệu lực của văn bản QPPL là
được coi là “tính bắt buộc thi hành của văn bản PBQPPL trong một giai đoạn nhất định, trên
<i>một không gian nhất định và với những chủ thể PL nhất định”.</i>
Hiệu lực theo thời gian của văn bản QPPL là “tính bắt buộc thi hành của văn bản QPPL
<i>đối với các chủ thể PL tại thời điểm văn bản đó phát sinh hiệu lực tới thời điểm văn bản đó</i>
<i>chấm dứt hiệu lực”. Theo quy định của Luật ban hành văn bản QPPL 2008, thời điểm bắt đầu</i>
có hiệu lực của văn bản QPPL được quy định trong văn bản nhưng không được sớm hơn 45
ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, trừ một số trường hợp đặc biệt (Điều 78).
<i>1. Thời điểm có hiệu lực của văn bản QPPL được quy định trong văn bản nhưng không sớm</i>
<i>hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.</i>
<i>Trường hợp văn bản QPPL quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, văn</i>
<i>bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì có thể có</i>
<i>hiệu lực kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành nhưng phải được đăng ngay trên Trang thông tin</i>
<i>điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng</i>
<i>Cơng báo nước Cộng hịa XHCN VN (sau đây gọi chung là Công báo) chậm nhất sau hai ngày</i>
<i>làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.</i>
Hiệu lực hồi tố là “hiệu lực trở về trước của một văn bản QPPL trước cả ngày văn bản đó
<i>dược ban hành, tức là các quy định của văn bản PL đó được áp dụng với cả những hành vi, sự</i>
<i>kiện đã xảy ra trước ngày văn bản QPPL đó được ban hành”.</i>
Nhìn từ phía Nhà nước - chủ thể có quyền ban hành PL có hiệu lực thi hành đối với mọi
người cũng như nhìn từ phía các thành viên xã hội - những chủ thể có nghĩa vụ chấp hành PL,
xét về mặt thời gian, một văn bản QPPL được ban hành có hiệu lực từ bao giờ, từ mốc thời gian
nào là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt.
Qua cách thức xác định mốc thời gian, tức là từ thời điểm một văn bản QPPL được ban
hành bắt đầu có hiệu lực, nhất là các văn bản QPPL trực tiếp liên quan, có quan hệ đến các
quyền tự do, dân chủ của công dân, có thể hình dung ra bản chất nhân dân, thuộc tính dân chủ
của một hệ thống PL, cũng là của một chế độ chính trị, nhà nước.
Trong các xã hội dân chủ, thơng thường văn bản QPPL bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ
ngày văn bản đó được công bố, được đăng Công báo hoặc được xác định ngay trong văn bản PL
đó và thường ở thời điểm muộn hơn. Bộ luật TTHS được Quốc hội thơng khóa XI, kỳ họp thứ 4
thông qua ngày 26. 11. 2003, nhưng theo Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật TTHS được
thơng qua cũng tại kỳ họp trên thì hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 01.7.2004. Nói một cách
ngắn gọn, hiệu lực PL của một văn bản PL là trở về sau, từ ngày hoặc sau ngày văn bản được
thông qua, ban hành, công bố, đăng Công báo…
Tuy nhiên, trong những trường hợp cá biệt và như Đ79 Luật ban hành văn bản QPL quy
định, có một số trường hợp cần thiết có thể quy định hiệu lực trở về trước cho văn bản QPPL.
<i>Điều 79. Hiệu lực trở về trước của văn bản QPPL</i>
<i>1. Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản QPPL mới được quy định hiệu lực</i>
<i>trở về trước.</i>
<i>2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:</i>
<i>a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi</i>
<i>đó PL khơng quy định trách nhiệm pháp lý;</i>
<i>b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.</i>
BLHS quy định về tội phạm và hình phạt – quy định về loại hành vi vi phạm PL nghiêm
trọng nhất, nguy hiểm đáng kể nhất và loại biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất.
Vì vậy, việc thừa nhận về nguyên tắc có hiệu lực hồi tố hay khơng là hết sức quan trọng, vì nó
thể hiện rõ nét nhất bản chất giai cấp, bản chất chế độ của NN và PL VN.
Để thấy được BLHS có hiệu lực hồi tố hay khơng, chúng ta có thể nghiên cứu các quy
định có liên quan trong BLHS 1999.
Nói về cơ sở của TNHS, Điều 2 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS
<i>quy định mới phải chịu TNHS”. Điều đó có nghĩa là, chỉ người nào thực hiện một hành vi</i>
nguy hiểm cho xã hội, khi và chỉ khi hành vi đó đã bị cấm trong BLHS lúc nó được thực hiện
thì mới bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt.
Định nghĩa về tội phạm, Điều 8 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
<i>được quy định trong BLHS…”. Trong các dấu hiệu của tội phạm, tính trái PL hình sự thể hiện</i>
Về hiệu lực của BLHS về thời gian, Điều 7 quy định:
<i>1. Điều luật áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành</i>
<i>tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.</i>
<i>2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi</i>
<i>áp dụng án treo, miễn TNHS, miễn hình phạt, xóa án tích và các quy định khác khơng có lợi</i>
<i>cho người phạm tội, thì khơng được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi</i>
<i>điều luật đó có hiệu lực thi hành.</i>
Như vậy, theo các quy định trên thì luật hình sự VN hiện hành khơng thừa nhận ngun
tắc hồi tố. Khơng nhà nước nào có thể bắt các chủ thể PL phải chịu trách nhiệm về một hành
vi, dù là nguy hiểm, mà khi hành vi đó được thực hiện, nó chưa bị cấm! Đó là nguyên tắc được
thừa nhận rộng rãi trong luật hình sự quốc tế. Tuy vậy, trong lịch sử luật hình sự VN, cũng như
một số vấn đề áp dụng PL, chúng ta cho phép vận dụng nguyên tắc này.
Trước khi BLHS được ban hành (năm 1985), do điều kiện luật hình sự chưa hồn chỉnh
nên luật hình sự VN cịn vận dụng nguyên tắc hồi tố. Việc vận dụng này xuất phát từ sự cần
thiết phải bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội và cơng dân. Tuy nhiên, khi xã hội
phát triển đến một chừng mực nào đó, kỹ thuật lập pháp hình sự phát triển, yêu cầu của nguyên
tắc pháp chế không cho phép áp dụng nguyên tắc hồi tố để xử lý tội phạm, bởi nó khiến người
ta khơng thể biết trước liệu việc mình làm hơm nay có chắc chắn khơng vi phạm PL hình sự
hay khơng. Ngay cả trong các đạo luật khác, những thay đổi của PL, nếu bất lợi cho đối tượng
Thực hiện nguyên tắc nhân đạo XHCN, luật hình sự VN cho phép vận dụng nguyên tắc
hồi tố trong trường hợp có lợi cho người phạm tội. Đây chỉ là việc vận dụng nguyên tắc trong
một số trường hợp cụ thể được quy định rõ trong BLHS và các văn bản liên quan (Nghị quyết
của QH về thi hành Bộ luật và Thông tư liên tịch hướng dẫn NQ.
Khoản 3 Điều 7 BLHS quy định: “Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình
<i>tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng</i>
<i>phạm vi áp dụng án treo, miễn TNHS, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy</i>
<i>định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện</i>
<i>trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”.</i>
Xét ở câu chữ, thì rõ ràng BLHS quy định cả về hiệu lực hồi tố và cấm hồi tố. Vậy tại sao
lại nói, luật hình sự VN cấm hồi tố? Việc cấm hồi tố là quy định về mặt nguyên tắc, còn việc
cho phép hồi tố đối với một số trường hợp cụ thể là việc vận dụng nguyên tắc theo hướng có
lợi cho người phạm tội. Việc quy định khơng cho phép có hiệu lực hồi tố là “một ngun tắc
có tính pháp lý của một hệ thống PL dân chủ theo tình thần xây dựng nhà nước pháp quyền, có
tầm quan trọng đặc biệt, vì nó góp phần tạo lập một trật tự pháp luật đủ tin cậy, đảm bảo xác
lập một tâm lý xã hội vững tin vào tư cách hợp pháp của hành vi của mọi chủ thể qua hệ PL,
tạo thế ổn định, vững chắc của cả hệ thống QHXH được mọi người tham gia, giải tỏa trạng
thái bất an, đưa lại sự tin tưởng vào ngày mai của chủ thể QHPL”. Trong sự thống nhất với
việc cấm hồi tố đó, việc quy định cho phép hồi tố trong một số trường hợp cụ thể không làm
ảnh hưởng bất lợi đến quyền lợi, nghĩa vụ của người phạm tội, được cộng đồng quốc tế thừa
nhận và khuyến khích.
Tóm lại, luật HS VN hiện hành không thừa nhận nguyên tắc hồi tố mà chỉ cho phép vận
dụng nguyên tắc này trong một số trường hợp cụ thể theo hướng có lợi cho người phạm tội./.
<b>Câu 24: Phân tích khái niệm tội phạm.</b>
<i><b>* Khái niệm tội phạm: Khái niệm tội phạm được quy định tại Khoản 1, Điều 8 BLHS như</b></i>
sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng
<i>lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn</i>
<i>vẹn lãnh thổ tổ quốc xâm phạm chế độ chính trị (thay chế độ XHCN), chế độ kinh tế nền văn</i>
<i>hố quốc phịng, an ninh trật tự, an tồn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm</i>
<i>phạm tính mạng sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp</i>
<i>khác của cơng dân xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự PL XHCN.</i>
Định nghĩa tội phạm về hình thức khác định nghĩa tội phạm về nội dung là nó chỉ rõ ra các
QHXH được luật hình sự bảo vệ là khách thể của tội phạm. Từ đó thấy được bản chất giai cấp
của tội phạm (phục vụ, bảo vệ lợi ích giai cấp nào? Hành vi phạm tội gây nguy hiểm cho lợi
ích của giai cấp nào?).
Như vậy, khái niệm về tội phạm nêu trong khoản 1, Điều 8 của BLHS là khái niệm tội
phạm về nội dung. Bởi vì, trong định nghĩa này nó đã xác định rõ phạm vi các QHXH được
luật hình sự VN điều chỉnh và bảo vệ.
<i>* Các đặc điểm của tội phạm: Về bản chất pháp lý thì tội phạm là một trong 4 loại vi</i>
phạm PL, trong đó tội phạm là vi phạm PL hình sự nên nó phải chứa đựng đầy đủ các đặc
điểm của VPPL nói chung. Song bên cạnh đó nó cịn mang các đặc điểm có tính đặc thù riêng
của nó để dựa vào đó có thể phân biệt được tội phạm với các vi phạm PL khác. Các đặc điểm
đó đã được thể hiện trong khái niệm tội phạm, đó là:
<i><b>a. Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội</b></i>
Đây là đặc điểm thể hiện dấu hiệu về nội dung của tội phạm nó quyết định các dấu hiệu
khác như tính được quy định trong BLHS của tội phạm. Chính vì vậy, việc xác định dấu hiệu
này có ý nghĩa như sau:
1. Là căn cứ quan trọng để phân biệt giữa các tội phạm và các vi phạm PL khác,
2. Là dấu hiệu quan trọng nhất quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm.
3. Là căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt.
Để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chúng ta phải cân nhắc,
xem xét, đánh giá một cách toàn diện các yếu tố sau:
+ Tính chất của QHXH bị xâm phạm.
+ Phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội.
+ Mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe doạ gây ra.
+ Hình thức và mức độ lỗi.
+ Động cơ và mục đích phạm tội.
+ Nhân thân người phạm tội.
+ Hồn cảnh chính trị xa hội lúc và nơi hành vi phạm tội xảy ra.
+ Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS.
<i><b>b. Tính có lỗi: Một người thực hiện hành vi phạm tội luôn bị đe doạ phải áp dụng hình phạt</b></i>
- là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Mục đích của hình phạt theo luật hình sự VN là
không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà chủ yếu nhằm cải tạo, giáo dục họ. Mục đích này
chỉ đạt được nếu hình phạt được áp dụng đối với người có lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội
-tức là khi thực hiện hành vi phạm tội đó họ có đầy đủ điều kiện và khả năng để lựa chọn một
biện pháp xử sự khác không gây thiệt hại cho xã hội nhưng họ đã thực hiện hành vi bị luật hình
sự cấm gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
<i><b>c. Tính trái PL hình sự (tính được quy định trong BLHS):</b></i>
Bất kỳ một hành vi nào bị coi là tội phạm cũng đều được quy định trong BLHS. Đặc điểm
Đặc điểm này có ý nghĩa về phương diện thực tiễn là tránh việc xử lý tuỳ tiện của người áp
dụng PL. Về phương diện lý luận nó giúp cho cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung sửa đổi BLHS
theo sát sự thay đổi của tình hình KTXH để cơng tác đấu tranh phịng chống tội phạm đạt hiệu
quả.
<i><b>d. Tính phải chịu hình phạt: Đặc điểm này khơng được nêu trong khái niệm tội phạm mà</b></i>
nó là một dấu hiệu độc lập có tính quy kết kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái
PL hình sự.
Tính phải chịu hình phạt của tội phạm có nghĩa là bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng bị
đe doạ phải áp dụng một hình phạt đã được quy định trong BLHS.
Từ việc phân tích các đặc điểm của tội phạm có thể đưa ra khái niệm tội phạm theo các đặc
điểm của nó: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong BLHS và
<i>phải chịu hình phạt.</i>
<i><b>* Ý nghĩa của khái niệm tội phạm: Khái niệm tội phạm là khái niệm cơ bản nhất trong luật</b></i>
hình sự VN là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể và các chế định khác
của luật HS. Các khái niệm khác tuy độc lập nhưng cũng chỉ là những khái niệm có tính chất cụ
thể hố và hồn tồn phụ thuộc vào khái niệm tội phạm.
Khái niệm tội phạm là cơ sở thống nhất cho việc nhận thức và áp dụng PL hình sự một cách
đúng đắn.
<b>* Cách trả lời 2: Tội phạm là khái niệm pháp lí và là khái niệm khoa học. Khái niệm này</b>
dùng để chỉ tất cả những hành vi được luật HS quốc gia hoặc quốc tế xác định mà chủ thể thực
Tất cả những hành vi bị coi là tội phạm đều có cùng bản chất xã hội và những đặc điểm nhất
định. Trước hết, tội phạm là hiện tượng XH tồn tại trong mọi quốc gia, được phản ánh trong luật
HS vì trái với chuẩn mực xã hội ở mức cao nhất so với các hiện tượng lệch chuẩn khác. Nó là
hiện tượng xã hội-pháp lí.
Tội phạm khơng chỉ là hiện tượng xã hội được phản ánh trong luật hình sự mà đồng thời
cũng là hiện tượng xã hội được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu, trong đó có khoa
học luật hình sự và tội phạm học. Khoa học luật hình sự và tội phạm học đều là khoa học về tội
phạm. Tuy nhiên, khoa học luật hình sự và khoa học luật TTHS là khoa học về tội phạm có tính
pháp lí, cịn tội phạm học và khoa học điều tra tội phạm là khoa học về tội phạm khơng có tính
pháp lí (1) hay nói cách khác là khoa học về tội phạm hiện thực.
Khoa học luật hình sự và tội phạm học tuy cùng nghiên cứu về tội phạm nhưng mỗi ngành
đều có nội dung mục đích nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu riêng về đối tượng
này. Theo đó, trong một số ngôn ngữ tồn tại hai khái niệm khác nhau được dùng trong hai ngành
khoa học này. Ví dụ: Trong tiếng Đức, khái niệm Kriminalität được dùng trong tội phạm học
cịn khái niệm Straftat được dùng trong luật hình sự.(2) Trong tiếng Việt cũng như trong một số
ngôn ngữ khác, chỉ có một khái niệm được dùng cả trong khoa học luật hình sự và tội phạm học.
Khoa học luật hình sự nghiên cứu tội phạm theo nghĩa là nghiên cứu hiện tượng bị PL coi là tội
phạm ở các nội dung chính sau:
- Dấu hiệu (đặc điểm) chung của những hành vi bị coi là tội phạm (dấu hiệu về nội dung
CTXH, dấu hiệu về hình thức pháp lí);
- Cấu trúc chung của những hành vi bị coi là tội phạm (bốn yếu tố của tội phạm);
- Dấu hiệu và cấu trúc (bốn yếu tố cấu thành) của từng nhóm tội cũng như của từng loại tội
phạm cụ thể;
- Kĩ thuật phản ánh tội phạm trong luật hình sự (CTTP)…
Với nội dung như vậy, khoa học luật hình sự phục vụ việc quy định tội phạm trong luật
cũng như phục vụ việc giải thích và nhận thức luật để áp dụng. Qua đó, khoa học luật hình sự
phục vụ nhiệm vụ truy cứu TNHS người phạm tội.
<b>Câu 25: Trình bày cơ sở của việc phân loại tội phạm.</b>
Cơ sở phân loại tội phạm theo QĐ của BLHS là dựa vào 2 tiêu chí:
Thứ nhất: Căn cứ vào nội dung chính trị xã hội- đó chính là tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội của tội phạm.
Thứ hai: Căn cứ vào hậu quả pháp lý-biểu hiện của nó là mức hình phạt.
Việc phân loại tội phạm càng thành nhiều nhóm khác nhau căn cứ vào tính chất và mức độ
nguy hiểm cho XH của tội phạm càng giúp cho việc cá thể hố hình phạt được chính xác. Dựa
vào 2 tiêu chí trên, tại K2, Đ8 BLHS chia tội phạm thành 4 loại:
<i>Tội phạm ít nghiêm trọng là loại TP gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất</i>
của khung hình phạt đối với tội ấy đến 3 năm tù.
<i>Tội phạm nghiêm trọng là loại tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của</i>
khung hình phạt đối với tội ấy đến 7 năm tù.
<i>Tội phạm rất nghiêm trọng là loại tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất</i>
của khung hình phạt đối với tội ấy đến 15 năm tù.
<i>Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là loại tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà</i>
mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 15 năm tù đến tù chung thân hoặc tử hình.
Theo khái niệm của mỗi loại tội phạm cho thấy, cơ sở để xác định chúng thuộc loại tội
phạm nào thực tế chỉ cần dựa vào mức cao nhất của từng khung hình phạt của mỗi điều luật
phần các tội phạm cụ thể của mỗi tội danh mà không thể xác định được mức độ gây nguy hại
cho xã hội của mỗi loại tội phạm như thế nào là chưa lớn, lớn, rất lớn và đặc biệt lớn. Do đó có
thể kết luận:
+ Đối với một khung hình phạt của một tội phạm thì hoặc chỉ là tội ít nghiêm trọng, hoặc
tội nghiêm trọng, hoặc tội rất nghiêm trọng, hoặc là tội đặc biệt nghiêm trọng.
+ Đối với một tội phạm nếu chỉ có một khung hình phạt thì loại tội đó chỉ có thể là 1 trong
4 loại tội. Nếu có từ hai khung hình phạt trở lên thì tội đó có thể vừa là tội ít nghiêm trọng, vừa
là tội nghiêm trọng vừa là tội rất nghiêm trọng và có thể vừa là tội đặc biệt nghiêm trọng (ví dụ
Tội trộm cắp tài sản, Đ.138 BLHS).
<b>Câu 26: Trình bày các đặc điểm của CTTP.</b>
<i><b>a. Các dấu hiệu trong CTTP đều do luật định</b></i>
Chỉ Nhà nước mới có quyền quy định một hành vi nào là tội phạm bằng cách là mô tả
những dấu hiệu đó và quy định chúng trong BLHS. Cơ quan giải thích và áp dụng PL chỉ được
phép giải thích nội dung những dấu hiệu đã được quy định trong BLHS. Việc thêm hoặc bớt
bất kỳ một dấu hiệu nào đó của CTTP đều có thể dẫn đến tình trạng định tội sai hoặc bỏ lọt tội
hoặc làm oan người vô tội.
Các dấu hiệu trong CTTP của một loại tội được quy định trong phần chung của BLHS
như: tuổi, tình trạng năng lực TNHS, lỗi; và chúng được quy định trong phần các tội phạm của
BLHS như dấu hiệu: hành vi khách quan, hậu quả của tội phạm, QHXH bị xâm hại...
<i><b>b. Các dấu hiệu của CTTP mang tính đặc trưng điển hình</b></i>
Một loại tội phạm chỉ được đặc trưng bởi một CTTP và một CTTP chỉ đặc trưng cho một
Một dấu hiệu có thể được phản ánh trong nhiều CTTP nhưng giũa các CTTP khác nhau
phải có ít nhất một dấu hiệu khác nhau-Đó là dấu hiệu điển hình. Hoặc ví dụ về CTTP trộm
cắp với CTTP lừa đảo có rất nhiều dấu hiệu chung giống nhau như: quan hệ sở hữu bị xâm hại,
độ tuổi, năng lực TNHS, hành vi chiếm đoạt tài sản, lỗi cố ý trực tiếp. Nhưng giữa 2 CTTP
này có 2 dấu hiệu mang tính điển hình cho mỗi CTTP đó là: hành vi lén lút trong tội trộm cắp
tài sản và hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Như vậy, giữa 2 CTTP khác
nhau phải khác nhau ít nhất một dấu hiệu, đó chính là dấu hiệu điển hình.
<i><b>c. Các dấu hiệu của CTTP có tính bắt buộc</b></i>
Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi nó thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của một CTTP.
Nếu thiếu hoặc thừa bất kỳ một dấu hiệu nào đó thì nó có thể khơng phải là tội phạm hoặc tội
phạm khác. Nghĩa là tất cả dấu hiệu của CTTP đều là điều kiện cần và đủ để định tội danh.
Các dấu hiệu của CTTP là các dấu hiệu bắt buộc được quy định ở phần chung hoặc phần
các tội phạm cụ thể của BLHS.
<i>Chú ý: Một số trường hợp trong đồng phạm hoặc phạm tội chưa đạt hay trong giai đoạn</i>
chuẩn bị phạm tội thì hành vi của người phạm tội thiếu đi một hoặc một số các dấu hiệu trong
một CTTP. Trường hợp này khi định tội phải kết hợp các QPPL phần chung về đồng phạm,
các giai đoạn thực hiện tội phạm. Vì mỗi QPPL phần các tội phạm cụ thể chỉ phản ánh các dấu
hiệu của CTTP đã hoàn thành và đối với trường hợp phạm tội riêng lẻ.
<b>Câu 27: Phân loại CTTP.</b>
<i><b>a. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm </b></i>
<i> CTTP cơ bản là loại CTTP chỉ có dấu hiệu định tội, đó là những dấu hiệu mô tả tội phạm</i>
cho phép phân biệt giữa tội này với tội khác.
CTTP cơ bản đa số được quy định ở khoản 1 của phần các tội phạm cụ thể của BLHS.
Riêng Điều 93 Tội giết người, CTTP cơ bản được quy định ở Khoản 2.
<i>CTTP tăng nặng là loại CTTP ngồi các dấu hiệu định tội cịn có thêm các dấu hiệu phản</i>
ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể (được gọi là các dấu
<i>hiệu định khung tăng nặng).</i>
Các dấu hiệu định khung tăng nặng được quy định tại khoản 2, 3, 4 phần các tội phạm cụ
thể (từ Điều 78 đến Điều 344). Trừ Điều 93 tội giết người, các dấu hiệu định khung tăng nặng
được quy định tại Khoản 1.
<i>CTTP giảm nhẹ là loại CTTP ngoài các dấu hiệu định tội cịn có thêm các dấu hiệu phản</i>
ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng kể (được gọi là các
<i>dấu hiệu định khung giảm nhẹ).</i>
Các dấu hiệu định khung giảm nhẹ được quy định tại khoản 4 của nhóm các tội xâm phạm
trật tự an tồn giao thơng (từ Đ202 đến Đ218).
Như vậy, có thể phác hoạ 3 loại CTTP này theo công thức sau:
CTTP cơ bản = các dấu hiệu định tội.
CTTP tăng nặng=các dấu hiệu định tội+dấu hiệu định khung tăng nặng.
CTTP giảm nhẹ=dấu hiệu định tội+dấu hiệu định khung giảm nhẹ.
Do đó, nội dung được phản ánh trong 3 loại CTTP là các dấu hiệu với 3 loại - dấu hiệu
Về phương diện khoa học luật HS thì các dấu hiệu được quy định trong mỗi CTTP trong
BLHS cũng chính là các tình tiết. Vì vậy, tương ứng với 3 loại dấu hiệu trong CTTP là 3 loại
tình tiết - tình tiết định tội, tình tiết định khung tăng nặng và tình tiết định khung giảm nhẹ.
Tình tiết định tội là những tình tiết được phản ánh bởi các dấu hiệu trong CTTP cơ bản
dùng để mô tả một loại tội. Chúng được quy định ở cả phần chung và phần các tội phạm cụ
thể.
Tình tiết định khung tăng nặng hoặc giảm nhẹ là những tình tiết làm thay đổi một lượng
đáng kể tính chất nguy hiểm cho xã hội của một loại tội.
Ngồi ra, trong BLHS cịn quy định trong phần chung tại Đ.46 và Đ.48 một loại tình tiết
tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS. Tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS là loại tình tiết
khơng được ghi nhận trong các dấu hiệu CTTP (khơng có ý nghĩa trong việc định tội, định
khung hình phạt mà chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt).
Chúng ta có thể phân biệt giữa tình tiết định khung tăng nặng hoặc giảm nhẹ với tình tiết
tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS như sau:
Tiêu chí so sánh <b>Tình tiết định khung</b>
tăng nặng, giảm nhẹ giảm nhẹ.Tình tiết tăng nặng hoặc
- Sự thay đổi về mức độ
nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm.
- Ví trí pháp lý
- Làm thay đổi một
lượng đáng kể.
- Được quy định trong
Khoản 2, 3, 4 phần các tội
phạm cụ thể
- Bắt buộc.
- Làm thay đổi một lượng
không đáng kể.
- Được quy định tại Điều
46, Điều 48 của phần chung.
- Không bắt buộc.
<i><b>b. Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc trong mặt khách quan của CTTP</b></i>
Dựa vào tiêu chí này có 2 loại CTTP:
<i>CTTP hình thức là loại CTTP trong mặt khách quan chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan.</i>
<i>CTTP vật chất là loại CTTP có các dấu hiệu trong mặt khách quan là hành vi khách quan,</i>
hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
Cơ sở khoa học của việc xây dựng CTTP vật chất hoặc CTTP hình thức là:
* Nếu chỉ riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm hoặc hoặc hậu quả khó xác định thì xây dựng CTTP hình thức.
Ví dụ: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, Tội cướp tài sản.
Ngoài ra, trong BLHS cịn có một loại CTTP đặc biệt đó là CTTP cắt xén là loại CTTP mà
trong mặt khách quan chỉ có dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng dấu hiệu hành vi
khơng phải là phản ánh chính hành vi phạm tội. Loại CTTP này được quy định tại Điều 79 - Tội
hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân..
Trong mặt khách quan của CTTP của Điều 79 được phản ảnh bởi một trong hai hành vi:
+ Hành vi thành lập tổ chức, về bản chất thì đây là hành vi chuẩn bị phạm tội. Vì vậy nó
được gọi là CTTP cắt xén.
+ Hành vi tham gia vào tổ chức hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Đối với hành
vi này đây là CTTP hình thức.
<b>Câu 28: Phân tích khái niệm khách thể của tội phạm.</b>
<i><b>* Khái niệm: Khách thể của tội phạm là những QHXH được luật hình sự bảo vệ và bị các</b></i>
<i>hành vi phạm tội xâm hại đến.</i>
Việc quy định những QHXH nào được luật hình sự bảo vệ là khách thể của tội phạm nó phụ
thuộc vào ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội nhưng thường thì nó là các QHXH
quan trọng trong đời sống xã hội. Khách thể của tội phạm chính là đối tượng bảo vệ của luật
hình sự được quy định ở K1, Điều 8 của BLHS.
Ý nghĩa của việc xác định khách thể của tội phạm thể hiện ở các phương diện như sau:
+ Là căn cứ để định tội.
+ Là căn cứ quan trọng để phân biệt tội phạm với các vi phạm PL khác.
+ Là căn cứ quan trọng để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
+ Thông qua khách thể của tội phạm có thể thấy được bản chất giai cấp của luật HS VN.
<i><b>* Phân loại khách thể của tội phạm: Dựa vào phạm trù cái chung, riêng và cái đặc thù của</b></i>
phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lê Nin có thể chia khách thể của tội phạm thành
3 nhóm sau:
<i><b>a. Khách thể chung của tội phạm: Khách thể chung của tội phạm là tổng hợp các QHXH</b></i>
<i>được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm.</i>
Phạm vi khách thể chung (đối tượng bảo vệ) của luật hình sự được quy định ở Khoản 1,
Điều 8 BLHS.
Ý nghĩa của việc xác định khách thể chung của tội phạm là nhìn vào khách thể chung chúng
ta thấy được phạm vi các QHXH được luật hình sự bảo vệ cũng như thấy được chính sách hình
sự của Nhà nước ta trong mỗi một giai đoạn cách mạng.
<i><b>b. Khách thể loại của tội phạm: Khách thể loại của tội phạm là một nhóm QHXH cùng tính</b></i>
<i>chất được một nhóm các QPPL hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của một nhóm tội phạm.</i>
Ý nghĩa của việc xác định khách thể loại của tội phạm là cơ sở để hệ thống hoá các QPPL
phần các tội phạm cụ thể trong BLHS thành từng chương.
<i><b>c. Khách thể trực tiếp của tội phạm: Khách thể trực tiếp của tội phạm là QHXH cụ thể bị</b></i>
<i>một loại phạm cụ thể trực tiếp xâm hại.</i>
Khi có một tội phạm xảy ra có thể xâm hại tới một hoặc nhiều QHXH.
* Nếu tội phạm đó chỉ xâm hại tới một QHXH thì đó chính là khách thể trực tiếp của tội
phạm.
* Nếu tội phạm đó xâm hại tới nhiều QHXH thì:
+ Tội phạm đó chỉ có một khách thể trực tiếp nếu một trong số các QHXH bị xâm hại đã thể
hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Ví dụ: Tội trộm cắp tài sản- chỉ có một
khách thể trực tiếp là quan hệ sở hữu. Vì chỉ quan hệ sở hữu bị xâm hại đã thể hiện đầy đủ bản
chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Đồng thời, quan hệ sở hữu của tội trộm cắp tài sản
cũng là QHXH trực tiếp bị tội phạm này xâm hại. Còn các quan hệ khác như tính mạng. sức
khoẻ, trật tự an toàn xã hội cũng bị tội trộm cắp tài sản gây thiệt hại, song sự gây thiệt hại này
chỉ là gián tiếp.
+ Tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp nếu bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
chỉ thể hiện đầy đủ trong tổng thể các QHXH bị xâm hại. Ví dụ: Tội cướp tài sản, Tội bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản-có 2 khách thể trực tiếp là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Vì bản
chất nguy hiểm cho xã hội của mỗi tội phạm này chỉ thể hiện đầy đủ trong tổng thể 2 QHXH bị
xâm hại. Đồng thời, quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân của tội cướp tài sản và tội bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản cũng là QHXH trực tiếp bị tội phạm này xâm hại. Cịn các quan hệ
khác như tính mạng. sức khoẻ của thân nhân con tin, trật tự an toàn xã hội cũng bị tội phạm gây
thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại. Song sự gây thiệt hại này chỉ là gián tiếp.
<b>Câu 29: Đối tượng tác động của tội phạm là gì. Cho ví dụ minh hoạ.</b>
<i><b>* Đối tượng tác động của tội phạm:</b></i>
<i>- Khái niệm đối tượng tác động của tội phạm: Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ</i>
phận của khách thể của tội phạm mà khi tác động lên nó, người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe
doạ gây thiệt hại cho những QHXH được luật hình sự bảo vệ.
Trong nội tại của khái niệm trên về đối tượng tác động của tội phạm cho thấy sự thể hiện ở
2 mặt:
Thứ nhất: Về mặt nội dung thì đối tượng tác động của tội phạm là cái thơng qua sự tác động
Ví dụ 1: Đối với tội phạm giết người. A dùng dao đâm chết B. Trong trường hợp phạm tội
này, tội phạm xâm hại quan hệ nhân thân của B và chỉ có thể thơng qua sự tác động lên cơ thể
của B mới có thể gây thiệt hại đến tính mạng của B. Do đó, đối tượng tác động của tội phạm là
con người B - B là chủ thể của quan hệ nhân thân.
Ví dụ 2: Đối với tội trộm cắp tài sản: A trộm ti vi của B. Tội phạm xâm hại đến quan hệ sở
hữu của B. Trong trường hợp này, chỉ có thể thơng qua sự tác động vào chiếc ti vi mới có thể
gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu của B. Do đó, đối tượng tác động của tội phạm là chiếc ti vi
của B - là đối tượng vật chất là khách thể của QHXH.
Ví dụ 3. Đối với tội đưa hối lộ: A là cán bộ kiểm lâm đã nhận 10 triệu đồng của B là lâm tặc
đang vận chuyển gỗ lậu. Trong trường hợp này tội phạm xâm hại đến quan hệ về sự hoạt động
đúng đắn của ngành kiểm lâm và chỉ có thể thơng qua sự tác động làm thay đổi tới quyền và
nghĩa vụ của cán bộ kiểm lâm mới có thể gây thiệt hại cho sự hoạt động đúng đắn của ngành
kiểm lâm. Do đó, đối tượng tác động của tội phạm là quyền và nghĩa vụ của A - là nội dung của
QHXH.
Thứ hai: Xét về mặt cấu trúc đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể
của tội phạm. Như vậy, khách thể của tội phạm phải được hợp thành bởi nhiều bộ phận trong đó
có một bộ phận là về đối tượng tác động của tội phạm.
Khách thể của tội phạm chính là các QHXH được luật hình sự bảo vệ. Như vậy, các bộ phận
hợp thành của khách thể của tội phạm cũng chính là các bộ phận hợp thành của các QHXH là
khách thể của tội phạm.
Các bộ phận hợp thành của QHXH đó là: Con người chủ thể của QHXH, các đối tượng vật chất là
lợi ích mà các chủ thể hướng tới là khách thể của QHXH và quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là nội
<i>* Nhận xét về đối tượng tác động của tội phạm:</i>
+ Để gây thiệt hại cho các QHXH can phạm phải tác động vào đối tượng tác động. Cơ sở để
xác định mức độ thiệt hại mà tội phạm gây ra phải dựa vào mức độ làm biến đổi tình trạng bình
thường của đối tượng tác động.
+ Các QHXH khách thể của tội phạm trong mọi trường hợp luôn bị gây thiệt hại hoặc đe
doạ gây thiệt hại nếu có tội phạm xảy ra.
+ Đối tượng tác động của tội phạm có thể ở tình trạng tốt hơn tình trạng ban đầu (nếu đối
tượng tác động của tội phạm là đối tượng vật chất).
<i>- Các loại đối tượng tác động của tội phạm:</i>
Con người với tư cách là chủ thể của QHXH có thể là đối tượng tác động của tội phạm.Ví
dụ: tội giết người.
Các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của QHXH có thể là đối tượng tác động
của tội phạm. Ví dụ: các tội xâm phạm sở hữu. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là nội dung
của QHXH có thể là đối tượng tác động của tội phạm. Ví dụ: các tội xâm phạm hoạt động của
cơ quan tư pháp, các tội phạm tham nhũng.
<b>Câu 30: Thế nào là hành vi khách quan của tội phạm. Các dạng cấu trúc đặc biệt của</b>
<b>hành vi khách quan.</b>
<b>* Hành vi khách quan của tội phạm:</b>
<i>- Khái niệm: Quan điểm truyền thống về khái niệm hành vi khách quan của tội phạm được</i>
thể hiện trong các giáo trình luật hình sự VN phần chung đó là Hành vi khách quan của tội
phạm là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình
thức cụ thể nhằm đạt những mục đích có chủ định và mong muốn.
Theo khái niệm này thì hành vi khách quan của tội phạm được hiểu là hành vi của con
người nói chung bao gồm cả hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp. Chỉ có xuất phát từ
việc nghiên cứu, chỉ ra các đặc điểm của hành vi khách quan của tội phạm mới có thể đưa ra
khái niệm này thể hiện tính khoa học.
Khi so sánh hành vi của con người là hành vi hợp pháp với hành vi vi phạm PL là hành vi
phạm tội với các hành vi vi phạm PL khác có thể chỉ ra hành vi khách quan của tội phạm có
các đặc điểm sau:
+ Hành vi khách quan của tội phạm có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội.
+ Hành vi khách quan của tội phạm có tính trái PL hình sự (được quy định trong BLHS
phần các tội phạm cụ thể).
+ Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi có thức và có ý chí tức là có khả năng nhận
thức được tính chất nguy hiểm của hành vi, và có khả năng kiềm chế khơng thực hiện hành vi
phạm tội. Hay nói cách khác, hành vi khách quan của tội phạm phải được ý thức kiểm sốt và
ý chí điều khiển.
Một người thực hiện một hành vi gây thiệt hại cho xã hội trong trường hợp bị cưỡng bức
về tinh thần - bị đe doạ (bị khống chế về tư tưởng) có thể phải chịu TNHS có thể khơng.
Trường hợp thứ nhất nếu người thực hiện hành vi gây hậu quả thiệt hại cho xã hội khi bị khống
chế toàn bộ về tư tưởng thì khơng phải chịu TNHS. Ví dụ: A giơ súng dí vào đầu B và ra điều
kiện phải ném lựu đạn vào nhà M, nếu khơng thì A bắn chết B. Sự đe doạ này đặt trong hoàn
Trường hợp thứ hai nếu người thực hiện hành vi gây hậu quả thiệt hại cho xã hội khi bị khống
chế một phần về tư tưởng thì được miễn TNHS một phần. Mức độ TNHS phụ thuộc vào mức độ
bị đe doạ. Ví dụ: A và B là đối tượng sống lang thang ở bến xe (B không cịn cha mẹ và khơng
nơi nương tựa). Vào lúc 8 giờ ngày 22/03/2005, A khống chế B cướp giật hành lý của hành
khách trên xe đưa cho A, nếu không A sẽ trục xuất B ra khỏi băng nhóm. Nếu B thực hiện theo
sự khống chế của A thì B vẫn phải chịu TNHS về tội cướp giật tài sản với tình tiết giảm nhẹ
phạm tội do bị người khác đe doạ, cưỡng bức.
Để xác định tính chất mãnh liệt của hành vi đe doạ phải đánh giá một cách khách quan,
tồn diện các tình tiết như: thời gian, hồn cảnh địa điểm, công cụ, thái độ, cường độ của sự đe
doạ.
Một người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội trong trường hợp bị cưỡng bức thân
thể khơng phải chịu TNHS vì thực tế họ chỉ là công cụ trong tay kẻ cưỡng bức. Việc thực hiện
hành vi gây thiệt hại cho xã hội hoàn toàn do sức mạnh bạo lực bên ngồi. Ví dụ: B đang đứng
cạnh A xem A chặt chuối. Trong lúc A đang giơ dao hướng về phía buồng chuối để chặt thì
bất ngờ M chạy tới bắt tay A chém B. Trường hợp này, A gây thương tích cho B trong trường
hợp bị cưỡng bức về thể chất, A không phải chịu TNHS về hậu quả thương tích của B.
Có thể phân biệt sự khác nhau giữa cưỡng bức về thân thể và cưỡng bức về tinh thần như
sau:
Cưỡng bức thân thể Cưỡng bức tinh thần
- Chỉ có sự tác động lên thân
thể.
- Người bị cưỡng bức khơng có
khả năng lựa chọn bất kỳ một xử sự
nào.
- Có thể tác động lên thân thể có thể khơng.
Nếu tác động lên thân thể qua đó tác động đến tư
tưởng người bị cưỡng bức.
- Người bị cưỡng bức có thể lựa chọn ít nhất
hai xử sự.
Từ những nội dung đã phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về hành vi khách quan của
tội phạm như sau: Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi được quy định trong phần các
tội phạm cụ thể của BLHS có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội và là hành vi có ý thức kiểm
sốt và có ý chí,
<i>- Các hình thức của hành vi khách quan của tội phạm:</i>
<i><b>a. Hành động phạm tội </b></i>
<i>Hành động phạm tội là hình thức của hành vi phạm tội để làm biến đổi tình trạng bình</i>
<i>thường của đối tượng tác động gây thiệt hại cho khách thể qua việc chủ thể làm một việc bị</i>
<i>PL hình sự cấm.</i>
Đối với tội phạm thì hành động phạm tội thường thể hiện ở các dạng như sau:
+ Người phạm tội có thể tác động trực tiếp vào đối tượng tác động.
Ví dụ: A phạm tội giết người bằng cách dùng tay bóp cổ B cho đến khi B chết
+ Có thể thơng qua cơng cụ, phương tiện.
Ví dụ: A phạm tội giết người bằng cách dùng dao chặt nhiều nhát vào người B cho đến khi
+ Có thể bằng lời nói.
Ví dụ: A làm nhục B bằng cách chửi rủa, miệt thị B trước đám đông nhằm hạ thấp danh
dự của B
+ Có thể sử dụng trẻ em hoặc người mắc bệnh tâm thần.
Ví dụ: A thuê B 12 tuổi vận chuyển cho A 1 kg hêroin qua cửa khẩu Bờ Y
<i><b>b. Không hành động phạm tội</b></i>
<i>Không hành động phạm tội là hình thức của hành vi phạm tội để làm biến đổi</i>
<i>tình trạng bình thường của đối tượng tác động gây thiệt hại cho khách thể qua việc</i>
<i>chủ thể không làm một việc mà PL hình sự u cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện</i>
<i>để làm.</i>
Không hành động phạm tội phải thoả mãn các điều kiện sau:
- Chủ thể phải có nghĩa vụ hành động.
- Trong hồn cảnh cụ thể chủ thể có đủ điều kiện để thực hiện nghĩa vụ này.
Nghĩa vụ pháp lý phát sinh trong trường hợp sau:
- Do luật định: Phải cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, hoặc phải
tố giác tội phạm.
- Do quyết định của CQNN có thẩm quyền: Như quyết định nhập ngũ.
- Do nghề nghiệp.
- Do xử sự trước đó của chủ thể.
Trong BLHS đa số các tội phạm được thực hiện bằng hành động, có một số tội phạm chỉ
thực hiện bằng không hành động (như Tội trốn thuế, Tội khơng cứu giúp người đang trong tình
trạng nguy hiểm đến tính mạng), có một số tội vừa thực hiện bằng hành động vừa bằng không
hành động (như Tội giết người, Tội huỷ hoại tài sản).
<i><b>* Các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan:</b></i>
<i><b>a. Tội ghép: Tội ghép là loại tội phạm mà hành vi khách quan được hình thành bởi nhiều</b></i>
<i>loại hành vi nguy hiểm cho xã hội, xảy ra cùng thời gian, xâm hại nhiều khách thể. </i>
Với khái niệm trên tội ghép có 3 đặc điểm sau:
- Có ít nhất 2 loại hành vi khác nhau.
- Các hành vi này phải xảy ra cùng thời gian.
- Các hành vi đó xâm hại ít nhất 2 khách thể.
Phân tích các tội phạm được quy định trong BLHS thì tội cướp tài sản (Điều 133) thoả mãn
đầy đủ 3 điều kiện trên. Do đó, tội cướp tài sản là tội ghép.
<i><b>b. Tội liên tục: Tội liên tục là loại tội phạm mà hành vi khách quan bao gồm nhiều hành vi</b></i>
<i>cùng loại xảy ra kế tiếp nhau về mặt thời gian cùng xâm hại một khách thể.</i>
Với khái niệm trên tội liên tục có 3 đặc điểm sau:
- Có ít nhất 2 hành vi cùng loại.
- Các hành vi đó xảy ra kế tiếp nhau về mặt thời gian.
- Các hành vi đó phạm xâm hại một khách thể.
Đối chiếu với các đặc điểm trên, tội liên tục được quy định trong BLHS đó là Tội bức tử, tội
đầu cơ, Tội hành hạ người khác.
Về phương diện khoa học luật hình sự ngồi tội liên tục cịn có phạm tội nhiều lần. Giữa 2
thuật ngữ này có rất nhiều điểm giống nhau đó là chúng đều thực hiện ít nhất 2 hành vi cùng
loại, các hành vi đó xảy ra kế tiếp nhau về mặt thời gian, các hành vi đó phạm xâm hại một
khách thể. Có thể phân biệt chúng dựa vào các tiêu chí sau:
Tội liên tục Phạm tội nhiều lần
Đặc
điểm
Tính chất
Phạm vi
- Có hành vi CTTP, có hành vi
không CTTP.
- Là đặc điểm của hành vi khách
quan được quy định trong CTTP cơ
bản- là tình tiết định tội
- Chỉ tồn tại trong một số tội
danh
- Mỗi hành vi đều CTTP.
- Là tình tiết định khung
tăng nặng hoặc tình tiết tăng
nặng.
- Tồn tại trong tất cả mọi
<i><b>c. Tội kéo dài: Là tội phạm mà hành vi khách quan có khả năng diễn ra không gián đoạn</b></i>
trong một khoảng thời gian dài.
Vd:Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội tàng trữ hàng cấm
Đặc điểm của tội kéo dài là chúng chỉ chấm dứt khi tội phạm bị phát hiện hoặc khi người
phạm tội tự thú.
<b>Câu 31: Trình bày cơ sở lý luận của mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả</b>
<b>của tội phạm.</b>
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm là mối quan hệ giữa các hiện tượng trong
đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vi khách quan) làm phát sinh một hiện tượng khác là
kết quả (là hậu quả của tội phạm). Dựa vào cơ sở lý luận của cặp phạm trù nhân quả trong phép biện
chứng có thể xác định được các điều kiện của mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
của tội phạm như sau:
- Hành vi phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian.
- Trong bản thân hành vi phải chứa đựng khả năng thực tế, mầm mống nội tại, nguyên nhân
trực tiếp làm phát sinh hậu quả.
- Nếu hậu quả xảy ra phải là hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành
vi.
Một hậu quả của tội phạm có thể do 1 hoặc nhiều nguyên nhân (một hoặc nhiều hành vi)
trực tiếp gây ra. Do đó, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm được chia
làm 2 dạng:
1. Mối quan hệ nhân quả đơn trực tiếp: Là mối quan hệ nhân quả chỉ có một hành vi trái PL
là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả. VD: A dùng dao đâm B, B bị thương với tỷ lệ thương
tật là 20%.
2. Mối quan hệ nhân quả kép trực tiếp: Là quan mối hệ nhân quả có nhiều hành vi trái PL
làm nguyên nhân trong đó mỗi hành vi trái PL đều đã chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh
hậu quả. VD: A và B dùng gậy gây thương tích cho M (tỷ lệ thương tích 30%)
<b>Câu 32: Trình bày khái niệm chủ thể của tội phạm.</b>
Để phù hợp với nguyên tắc có lỗi, nguyên tắc trách nhiệm cá nhân của luật hình sự cũng
như phù hợp với mục đích giáo dục cải tạo của việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội,
chủ thể của tội phạm theo luật hình sự VN hiện nay chỉ có thể là con người cụ thể.
<i>Chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS (NLTNHS), đạt một độ tuổi nhất định.</i>
Theo khái niệm này thì chủ thể của tội phạm phải thoả mãn 2 điều kiện đó là: Có năng lực
TNHS và phải đạt một độ tuổi theo luật định
Đối với một số tội phạm, chủ thể của tội phạm ngoài các dấu hiệu trên cịn địi hỏi phải có
thêm các dấu hiệu khác (dấu hiệu đặc biệt - gọi là chủ thể đặc biệt) Ví dụ: Điều tra viên, Kiểm
sát viên của Tội truy cứu TNHS người khơng có tội, hoặc người có chức vụ quyền hạn của Tội
tham ơ tài sản.
<b>Câu 33: Phân tích khái niệm năng lực TNHS.</b>
<i>- Khái niệm: NLTNHS là khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của</i>
<i>hành vi và khả năng điều khiển được hành vi ấy (tức là khả năng có thể kiềm chế việc thực hiện</i>
<i>hành vi nguy hiểm cho xã hội và có khả năng lựa chọn một xử sự khác không nguy hiểm cho xã</i>
<i>hội).</i>
Một người được coi là có NLTNHS phải thoả mãn đầy đủ 2 điều kiện sau:
- Một người đạt tới một độ tuổi nhất định thì có khả năng nhận thức đầy đủ về tính chất
pháp lý của hành vi của mình và có đầy đủ khả năng điều khiển được hành vi phù hợp với đòi
hỏi của xã hội.
- Một người ở độ tuổi trên chỉ coi là có NLTNHS nếu không mắc những bệnh làm mất hoặc
hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình.
Trong 2 điều kiện trên thì BLHS VN khơng trực tiếp quy định như thế nào là người có
NLTNHS mà chỉ quy định độ tuổi phải chịu TNHS (Điều 12) và các trường hợp khơng có
NLTNHS (Điều 13). Bằng phương pháp loại trừ này BLHS VN mặc nhiên thừa nhận người đã
đạt độ tuổi phải chịu TNHS là người có NLTNHS.
Do đó, trong thực tế áp dụng, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không phải xác định từng
trường hợp người phạm tội có NLTNHS hay khơng mà chỉ phái xác định độ tuổi. Cá biệt nếu có
sự nghi ngờ mới cần phải kiểm tra, trong trường hợp đó có NLTNHS hay khơng.
Như vậy: Người có NLTNHS theo luật hình sự VN là người đã đạt độ tuổi phải chịu TNHS và
khơng thuộc trường hợp ở trong tình trạng khơng có NLTNHS.
<i>- Tình trạng khơng có NLTNHS: Khoản 1, Điều 13 BLHS quy định: “Người thực hiện hành</i>
vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu TNHS. Đối với
người này phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”. Như vậy một người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội ở trong trường hợp trên là người khơng có NLTNHS.
Theo quy định của điều luật thì một người ở trong tình trạng khơng có NLTNHS khi thoả
- Điều kiện về y học: là người mắc bệnh tâm thần (tâm thần kinh niên, động kinh, loạn
thần kinh - rối loạn tâm thần nhất thời, si ngốc) hoặc các bệnh khác như: sốt rét, viêm màng
não, bệnh mộng du.
- Điều kiện về tâm lý: các bệnh trên phải làm cho người đó mất hồn tồn khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
- Tình trạng bệnh trên phải xuất hiện tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội.
Trong 3 điều kiện trên thì ĐK1 và ĐH2 phải có mối quan hệ nhân quả với nhau. Trong đó,
ĐK1 là nguyên nhân, ĐK2 là kết quả.
<i>* Chú ý: Người ở trong tình trạng NLTNHS bị hạn chế thì vẫn phải chịu TNHS, chỉ được</i>
miễn một phần TNHS. Mức độ TNHS phụ thuộc vào mức độ khả năng nhận thức và khả năng
điều khiển hành vi cịn lại của người đó tại thời điểm thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hiểm
cho xã hội. Trên thực tế xuất hiện một số trường hợp phát bệnh rối loạn nhân cách biểu hiện là
khi gặp con gái trong người nóng ran lên và đã dùng dao để đâm nạn nhân. Đây có phải là
trường hợp người ở trong tình trạng khơng có NLTNHS khơng?
<i>- Năng lực TNHS và tình trạng say: Điều 14 BLHS quy định: “người phạm tội trong tình</i>
trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu TNHS”.
Tình trạng say có thể phân hố ở 2 mức độ:
Mức 1: Tình trạng say làm mất hồn tồn khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi.
Mức 2: Tình trạng say làm hạn chế một phần khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi.
Theo quy định tại Điều 14 thì trong cả hai trường hợp trên, người thực hiện hành vi gây
hậu quả nguy hại cho xã hội vẫn phải chịu TNHS bình thường.
Cơ sở khoa học của việc quy định người phạm tội trong tình trạng say vẫn phải chịu
TNHS đó là:
<i>Thứ nhất: Trước khi say họ có NLTNHS bình thường, việc họ bị mất hoặc hạn chế NLTNHS</i>
do bị say hoàn toàn do người phạm tội, nghĩa là họ đã có lỗi với tình trạng say thì đồng nghĩa với
việc họ có lỗi với việc thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù tại thời điểm thực hiện hành vi phạm
tội họ bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Do vậy, TNHS đặt ra đối với
họ là ở thời điểm chưa say.
<i>Thứ hai: Về mặt xã hội, việc bắt người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình</i>
trạng say phải chịu TNHS bình thường biểu hiện thái độ của xã hội đối với tệ nạn say- là
nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực khác trong đời sống xã hội
trong đó có tội phạm.
Phạm tội trong tình trạng say khơng được coi là tình tiết tăng nặng hoặc giảm
nhẹ.Nếu uống rượu để “hăng máu” để phạm tội thì được coi tình tiết tăng nặng “cố tình thực
hiện tội phạm đến cùng.
Một số trường hợp phạm tội trong tình trạng say được coi là tình tiết định khung tăng
nặng. Ví dụ Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, sắt, thuỷ.
(Đ.202, Đ.208, Đ.212)
<b>Câu 34: Trình bày quy định của PL về tuổi chịu TNHS.</b>
<i>Theo quy định của BLHS 1999, sửa đổi bổ sung 2009 về Tuổi chịu TNHS thì: </i>
<i>1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm.</i>
<i>2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất</i>
<i>nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.</i>
Ngoài ra, BLHS cũng quy định rõ: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại
không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội
phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình
phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất
lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao
nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Các nước khác nhau quy định độ tuổi chịu TNHS khác nhau, thậm chí ở cùng một nước
nhưng ở những thời điểm khác nhau cũng có thể quy định độ tuổi phải chịu TNHS không
giống nhau.
Luật Gia Long quy định độ tuổi bắt đầu phải chịu TNHS từ 7 tuổi cho đến 90 tuổi. Luật
hình sự Mỹ một số bang quy định độ tuổi tối thiểu phải chịu TNHS là 8 tuổi, Nhật 15 tuổi,
Pháp 12 tuổi.
Luật hình sự VN căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, trên cơ sở tham
khảo kinh nghiệm một số nước, cũng như dựa vào kết quả cơng trình nghiên cứu khảo sát về
tâm lý và căn cứ vào chính sách hình sự của Nhà nước ta, điều 12 BLHS quy định:
“Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Người từ đủ 16 tuổi trở nên phải chịu TNHS về mọi tội phạm”.
Như vậy, luật hình sự VN khơng quy định độ tuổi tối đa phải chịu TNHS. Tuy nhiên nếu
người trên 70 tuổi phạm tội được coi là tình tiết giảm nhẹ. Độ tuổi tối thiểu phải chịu TNHS là
14 tuổi tròn.
Nguyên tắc xác định tuổi trịn tính đến ngày, giờ. Tức là phải xác định được ngày tháng
năm phạm tội trừ đi ngày tháng năm sinh thì sẽ được kết quả là tuổi tròn Như vậy, nếu người
phạm tội là trẻ em hoặc người chưa thành niên trong một số trường hợp khơng xác định được
ngày tháng năm sinh thì sẽ giải quyết bằng cách áp dụng theo hướng dẫn tại Nghị quyết số
02/NQ-HĐTPTANDTC, ngày 05/01/86 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, và Công văn số
81/2002/TANDTC, ngày 10/6/02 của TANDTC. Theo 2 văn bản này thì tuổi trịn của bị can,
bị cáo sẽ lấy ngày cuối cùng của tháng, của quý nếu đã xác định được tháng sinh, quý sinh và
lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng của năm sinh nếu chỉ xác định được năm sinh. Đây là
cách tính tuổi theo nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo.
<b>Câu 35: Phân tích khái niệm lỗi theo luật hình sự VN.</b>
Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của
mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra.
Trong Luật hình sự VN, ngun tắc lỗi là nguyên tắc cơ bản. Một người phải chịu TNHS
không chỉ đơn thuần vì họ có hành vi khách quan đã gây ra thiệt hại cho xã hội, mà còn vì đã
có lỗi trong việc thực hiện hành vi khách quan đó. Một người có hành vi gây thiệt hại cho xã
hội sẽ bị coi là có lỗi nếu hành vì đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể
trong khi chủ thể có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn hoặc quyết định một xử
sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.
Như vậy, theo Luật hình sự VN, một hành vi bị xem là có tính có lỗi (tức là người thực hiện hành vi bị
xem là có lỗi) khi có đủ 2 điều kiện:
+ Hành vi trái PL hình sự.
+ Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi trong
khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự khác không trái PL HS.
Lỗi là một phạm trù xã hội, bởi vì, lỗi thể hiện thái độ của người phạm tội đối với các giá trị
quan trọng nhất của xã hội.
<b>Câu 36: Trình bày khái niệm lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp.</b>
<i>* Lỗi cố ý trực tiếp: (khoản 1 Điều 9 BLHS)</i>
Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận
thức rõ hành vi của mình là có tính nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và
mong muốn hậu quả xảy ra.
Về lý trí: đối với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ, đầy đủ tính nguy hiểm cho
xã hội của hành vi cũng như thấy trước hậu quả sẽ xảy ra nếu thực hiện hành vi đó.
Về ý chí: người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh. Điều đó có nghĩa, hậu quả của
hành vi phạm tội mà người phạm tội đã thấy trước hoàn toàn phù hợp với mục đích và phù hợp
với sự mong muốn của người đó. Nói tóm lại, hình thức lỗi cố ý trực tiếp có 3 đặc điểm:
- Một là: người phạm tội thấy trước hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội.
- Hai là: người phạm tội thấy trước hậu quả tác hại của hành vi đó.
- Ba là: người phạm tội mong muốn gây ra hậu quả tác hại.
<i><b>* Lỗi cố ý gián tiếp: (khoản 2 Điều 9 BLHS)</b></i>
Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ
tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy
khơng mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (Điều 9 BLHS).
Giống như phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp, phạm tội do lỗi cố ý gián tiếp không chỉ bao gồm
trường hợp người phạm tội thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình có
thể xảy ra, mà cịn bao gồm trường hợp người phạm tội thấy trước hậu quả đó tất yếu sẽ xảy ra.
Nhưng khác với trường hợp phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp, trường hợp phạm tội do lỗi cố ý gián
tiếp người phạm tội không mong muốn cho hậu quả xảy ra, nghĩa là hậu quả phạm tội xảy ra
khơng nằm trong mục đích hành động của người phạm tội, cũng không phải là phương tiện cần
thiết mà người phạm tội mong muốn thực hiện để đạt đến mục đích phạm tội nào đó khi người
đó thấy trước hậu quả tất yếu sẽ xảy ra mà thái độ tâm lý của người phạm tội trong trường hợp
phạm tội do lỗi cố ý gián tiếp là không quan tâm đến hậu quả xảy ra. Đối với người phạm tội
hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra hay khơng xảy ra đều khơng có ý nghĩa gì.
Trường hợp người phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp, về lý trí họ cũng nhận thức rõ tính chất
nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình (tương tự như trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực
tiếp) người phạm tội cũng thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà họ có thể
gây ra. Cịn về ý chí, người phạm tội khơng mong muốn hậu quả đó mà họ có thái độ để mặc
cho hậu quả xảy ra (hậu quả xảy ra cũng được, không xảy ra cũng được). Tuy nhiên, họ đã
mong muốn hành vi nguy hiểm được thực hiện để đạt được mục đích khác của họ. Và cũng vì lẽ
đó họ chấp nhận hậu quả xảy ra khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Ở trường hợp phạm
tội với lỗi cố ý gián tiếp, sự thấy trước hậu quả chỉ là thấy trước hậu quả có thể xảy ra, khơng
thể có trường hợp người phạm tội đã thấy trước hậu quả tất nhiên xảy ra mà họ có thái độ để
mặc, khơng mong muốn hậu quả đó khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Khác với cố ý trực tiếp, đối với cố ý gián tiếp hậu quả không phải là kết quả tất yếu của
hành vi phạm tội, không phải là mục đích cuối cùng, cũng khơng phải là điều kiện, biện pháp
để đạt được mục đích cuối cùng. Đối với người phạm tội do lỗi cố ý gián tiếp thì hậu
quả nguy hại là kết quả phụ, đi theo của hành vi nhằm đạt được mục đích khác (mang
tính chất tội phạm hoặc khơng).
Nếu ở lỗi nói chung chúng ta nói đến sự lựa chọn thì ở lỗi cố ý là sự lựa chọn hành vi phạm
<b>Câu 37: Trình bày khái niệm lỗi vơ ý do quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả.</b>
<i><b>* Lỗi vơ ý vì q tự tin.</b></i>
Lỗi vơ ý vì quá tự tin được quy định tại Khoản 1, Điều 10 BLHS: “Lỗi vơ ý vì q tự tin là
<i>lỗi của người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã</i>
<i>hội nhưng cho rằng hậu quả đó khơng xảy ra hoặc nếu xảy ra thì có thể ngăn ngừa được”.</i>
Với khái niệm trên cho thấy lỗi vơ ý vì q tự tin được thể hiện như sau:
<i>- Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi và nhận thức rõ</i>
hậu quả có thể xảy ra.
<i>- Về ý chí: Người phạm tội loại trừ khả năng hậu quả xảy ra.</i>
Cơ sở để người phạm tội loại trừ khả năng hậu quả xảy ra trong lỗi vơ ý vì q tự tin là
người phạm tội chủ quan tin vào kinh nghiệm, thói quen, tin vào khả năng chuyên nghiệp vụ của
mình. Nhưng hậu quả thiệt hại vẫn xảy ra trên thực tế.
Nếu niềm tin của người phạm tội phù hợp với thực tế khách quan nghĩa là hậu quả khơng
xảy ra trên thực tế thì họ khơng phải chịu TNHS. Chính vì vậy, hầu hết các tội thực hiện với lỗi
vô ý là các tội có CTTP vật chất.
<i><b>* Lỗi vơ ý do cẩu thả. </b></i>
Lỗi vô ý do cẩu thả được quy định tại Khoản 2, Điều 10 BLHS: <i>“Lỗi vô ý do cẩu thả là</i>
<i>trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội tuy khơng thấy trước hành</i>
<i>vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể thấy</i>
<i>trước hậu quả đó”.</i>
Với khái niệm trên cho thấy lỗi vơ ý do cẩu thả được thể hiện như sau:
- Về lý trí: Người phạm tội trong lỗi vơ ý do cẩu thả do cẩu thả nên không thấy trước hậu
quả của hành vi nhưng trong điều kiện phải thấy trước và có thể thấy được hậu quả đó.
Như vậy, việc người phạm tội không thấy trước hậu quả của hành vi là do nguyên nhân chủ
quan từ phía người phạm tội.
<i>- Về ý chí: Trong lỗi vơ ý do cẩu thả người phạm tội khơng có khả năng điều khiển được</i>
hành vi của mình (tức là người phạm tội khơng có ý chí). Vì về lý trí người phạm tội khơng
nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và cũng không nhận thức được hậu
quả của hành vi đó. Mà giữa lý trí và ý trí trong quan hệ tâm lý của người phạm tội là 2 yếu tố
có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó, lý trí có trước và làm tiền đề, ý chí phụ thuộc
vào ý chí. Nếu khi hành động con người khơng có lý trí (khơng có khả năng nhận thức) thì
khơng bao giờ có ý chí (khơng thể có khả năng điều khiển hành vi và hậu quả được).
Muốn xác định người phạm tội có thể nhận thức được hoặc buộc phải nhận thức được hậu
quả đó hay khơng? phải đặt trong từng hồn cảnh cụ thể mới có thể đánh giá và kết luận được.
Chúng ta có thể đưa ra một ví dụ thể hiện mối liên quan và sự khác nhau của 4 hình thức lỗi
này như sau:
A vứt đồ vật qua cửa sổ từ tầng 5 xuống đất trúng đầu B, làm B chết.
Trong tình huống này sẽ thuộc vào 4 trường hợp sau:
1/ Sẽ là lỗi cố ý trực tiếp, nếu trước khi ném đồ vật A có quan sát thấy B đang đứng dưới
đất, A nhằm B ném, trúng B.
2/ Sẽ là lỗi cố ý gián tiếp, nếu trước khi ném đồ vật A có quan sát thấy B đang đứng dưới
đất, A vẫn cứ ném, A không nhằm vào B nhưng không may lại trúng B.
3/ Sẽ là lỗi vơ ý vì quá tự tin, nếu trước khi ném đồ vật A có quan sát khơng có ai, nhưng
khi ném thì có B tới đó nên đã trúng đầu B.
4/ Sẽ là lỗi vô ý do cẩu thả, nếu trước khi ném đồ vật A không quan sát khi ném đã trúng
B.
<b>Câu 38: Nguyên tắc xác định TNHS trong trường hợp sai lầm về sự việc.</b>
<i>Sai lầm về sự việc là trường hợp một người đánh giá không đúng về những tình tiết thực</i>
<i>tế của hành vi của mình.</i>
Sai lầm về sự việc có những dạng như sau:
1- Sai lầm về công cụ phương tiện: Là trường hợp một người thực hiện hành vi nhằm xâm
hại một khách thể được LHS bảo vệ nhưng trên thực tế đã không xâm hại được vì đã sử dụng
nhầm cơng cụ phương tiện mà người đó muốn.
2- Sai lầm về mối quan hệ nhân quả: Là trường hợp một người đánh giá không đúng về sự
phát triển của hành vi của mình.
3- Sai lầm về đối tượng tác động: Định giết A nhưng nhầm B là A nên đã giết B.
<i>- Dạng thứ nhất: Một người khi thực hiện hành vi nhằm xâm hại một khách thể nhất định</i>
nhưng trên thực tế đã không xâm hại được vì đã tác động nhầm vào đối tượng tác động không
thuộc khách thể được LHS bảo vệ. Trường hợp này họ phải chịu TNHS về tội có ý định thực
hiện.
<i>- Dạng thứ hai: Một người khi thực hiện hành vi nhằm xâm hại một khách thể được LHS</i>
bảo vệ nhưng trên thực tế đã không xâm hại được vì tác động nhầm vào đối tượng tác động
thuộc khách thể khác được LHS bảo vệ.
Trên thực tế là hành vi trộm cắp thuốc phiện nhưng trong ý thức chủ quan là trộm cắp tài
sản (trường hợp này người thực hiện hành vi đó phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản).
- Dạng thứ ba: Một người thực hiện hành vi không nhằm xâm hại khách thể được LHS
bảo vệ nhưng trên thực tế đã xâm hại đến khách thể do tác động nhầm vào đối tượng tác động
được LHS bảo vệ.
Trường hợp này phải chịu TNHS về hậu quả thực tế đã xảy ra với lỗi vô ý.
Các trường hợp
Sai lầm
ý thức chủ
quan
Thực tế
Nguyên tắc xác định TNHS
1. Sai lầm về
công cụ. độc giết người.Dùng thuốc Thuốc bổ. Không thay đổi.
2. Sai lầm về mối
quan hệ nhân quả A bắn B. C chết. Giết người chưa đạt.Vô ý làm chết người.
3 Sai lầm về đối
tượng tác động. A giết B. C chết. Giết người chưa đạt.Vô ý làm chết người.
4. Sai lầm về
khách thể. đâm BA dùng dao
A cướp tài sản
trên tay B
A bắn thú
rừng.
Đâm heo
Thuốc phiện
<i>B chết</i>
Cố ý gây thương tích. Cướp
tài sản.
Vơ ý làm chết người
Như vậy, cơ sở xác định TNHS đối với người phạm tội trong trường hợp có sai lầm về sự
việc là phải xuất phát từ việc xác định ý thức chủ quan của người phạm tội, bởi vì ý thức chủ
<i>quan của người phạm tội mới là sự thể hiện về mặt nội dung về bản chất của vụ án.</i>
<b>Câu 39: Phân tích khái niệm đồng phạm.</b>
<i>- Đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm.</i>
(Khoản 1, Điều 20 BLHS)
- Điều kiện của đồng phạm:
<i><b>a. Điều kiện về khách quan của đồng phạm: Là phải có ít nhất hai người có NLTNHS và</b></i>
cùng tham gia thực hiện một tội phạm (tức là phải có sự liên kết về khách quan giữa các hành
vi của mỗi người trong đồng phạm).
Được coi là giữa những người trong đồng phạm cùng tham gia thực hiện một tội phạm là
mỗi người tham gia vào đồng phạm phải có ít nhất một trong bốn loại hành vi đối với việc
thực hiện một tội phạm, đó là: hành vi thực hành, hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi
giúp sức.
Giữa các hành vi của mỗi người trong đồng phạm có mối liên kết thống nhất với nhau,
hành vi của người này QĐ hành vi của người khác và hành vi của mỗi người là điều kiện hỗ
trợ cho hoạt động chung. Trong các hành vi trong đồng phạm thì hành vi của người thực hành
là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả còn các loại hành vi khác thông qua hành vi
người thực hành mà gây ra hậu quả.
<i><b>b. Điều kiện về chủ quan của đồng phạm: Theo khái niệm trên về đồng phạm thì về hình</b></i>
thức lỗi trong mặt chủ quan giữa những người trong đồng phạm phải cùng cố ý (tức là phải có
sự liên kết về mặt chủ quan giữa những người trong đồng phạm)
Như vậy, đồng phạm chỉ có thể đặt ra với các tội thực hiện với hình thức lỗi cố ý (có thể là
lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp). Tính chất cùng trong hình thức lỗi của đồng phạm thể
hiện trong cấu trúc hợp thành bởi 2 bộ phận trong lỗi cố ý trực tiếp:
<i>* Cùng lý trí: Được hiểu là cùng lý trí giữa những người trong đồng phạm khi thoả mãn</i>
các điều kiện sau:
- Mỗi người trong đồng phạm đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều
biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình.
- Mỗi người trong đồng phạm phải thấy trước hậu quả của hành vi của mình cũng như hậu
quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện.
<i>* Cùng ý trí: Được hiểu là cùng ý trí giữa những người trong đồng phạm khi thoả mãn các</i>
điều kiện sau:
- Giữa những người đồng phạm cùng mong muốn có sự liên kết của các hành vi.
- Giữa những người đồng phạm cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả
chung phát sinh. Ví dụ: Biết tin xe tải chở gạo qua đèo Hải Vân bị lật, A rủ B và C cùng nhau
ra lấy gạo (A, B, C phạm tội cơng nhiên chiếm đoạt tài sản). Có thể xảy ra 2 trường hợp:
1- Mỗi người chở được số gạo tuỳ theo khả năng về nhà mình thì khơng phải là đồng
phạm.
2- Mỗi người chở được số gạo tuỳ theo khả năng về tập kết tại một địa điểm, sau đó chia
đều cho 3 người, thì A, B, C là đồng phạm của nhau.
<i>Chú ý: Với các tội có dấu hiệu mục đích là bắt buộc thì giữa những người đồng phạm địi</i>
hỏi phải có cùng mục đích hoặc biết rõ và tiếp nhận mục đích đó.
B biết được mục đích của A nhưng vẫn tiếp tục chở (B là đồng phạm với vai trò người giúp
sức), bởi trong trường hợp này B đã biết rõ và tiếp nhận mục đích đó.
<b>Câu 40: Các loại người đồng phạm.</b>
Khoản 2, Điều 20 BLHS quy định có 4 loại người đồng phạm:
<i>* Người thực hành: Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Người thực</i>
hành có hai dạng:
<i>Dạng 1: Tự mình thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP như trực tiếp thực</i>
hiện hành vi đâm, bắn.
<i>Dạng 2: Khơng tự mình trực tiếp thực hiện hành vi khách quan mà có hành vi tác động đến</i>
người khác để người này trực tiếp thực hiện hành vi khách quan. Nhưng người bị tác động là
người trực tiếp thực hiện hành vi khách quan họ không phải chịu TNHS. Chúng thuộc các
trường hợp phổ biến sau:
- Do họ khơng có NLTNHS. Ví dụ th em bé 13 tuổi đưa thuốc phiện qua biên giới.
- Họ khơng có lỗi hoặc chỉ có lỗi vơ ý. Ví dụ trường hợp gửi quà trong đó có thuốc phiện
mà người vận chuyển khơng biết đó là thuốc phiện.
- Họ bị cưỡng bức về tinh thần trong trường hợp được miễn TNHS.
<i>* Người tổ chức: Người tổ chức được quy định tại Khoản 2, Điều 20 BLHS bao gồm 3 loại</i>
người như sau:
- Người chủ mưu: là người chủ động về mặt tinh thần gây ra việc thực hiện tội phạm.
- Người cầm đầu: Là người đứng ra thành lập các băng nhóm phạm tội hoặc có hành vi tham
- Người chỉ huy: Là người trực tiếp điều khiển hoạt động của các băng nhóm phạm tội.
<i>* Người xúi giục: Người xúi giục là người dụ dỗ, kích động, thúc đẩy người khác thực hiện</i>
tội phạm.
Người xúi giục có 2 đặc điểm sau:
- Tác động đến tư tưởng người khác bằng thủ đoạn kích động, dụ dỗ thúc đẩy khiến người
này hình thành ý định phạm tội.
- Hành vi xúi giục phải nhằm vào một, một số người cụ thể và phải nhằm gây ra việc thực
hiện một tội phạm nhất định.
<i>* Người giúp sức: Người giúp sức là người tạo điều kiện về vật chất hoặc tinh thần cho việc</i>
thực hiện tội phạm.
Người giúp sức có 2 dạng như sau:
<i>- Giúp sức về vật chất: Là dạng cung cấp công cụ, phương tiện cho người khác sử dụng để</i>
thực hiện tội phạm.
<i>- Giúp sức về tinh thần: Như chỉ dẫn, góp ý kiến, cung cấp tình hình hoặc hứa hẹn trước sẽ</i>
che giấu tội phạm hoặc hứa hẹn trước sẽ tiêu thụ tang vật.Sự khác nhau giữa những loại người
trong đồng phạm được thể hiện như sau:
<b>Người giúp sức</b> Người xúi giục
- Chỉ tham gia sau khi người thực
hành có ý định phạm tội. định phạm tội.- Tham gia trước khi người thực hành có ý
Người xúi giục <b>Người chủ mưu</b>
- Chỉ tham gia trước và sau khi
người thực hành cố ý định phạm tội.
- Người thực hành quyết định việc
có hay không thực hiện tội phạm.
- Tham gia trong suốt quá trình (trước trong
và sau khi) người thực hành thực hiện tội phạm.
- Người chủ mưu đóng vai trò quyết định
việc thực hiện hay khơng thực hiện tội phạm của
người khác.
<b>Câu 41: Trình bày nguyên tắc xác định TNHS trong đồng phạm.</b>
<i><b>a. Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về tội phạm cùng thực hiện</b></i>
- Tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố xét xử về cùng một tội danh theo cùng một
điều luật và trong phạm vi những chế tài mà điều luật ấy quy định.
- Tất cả những người trong đồng phạm cùng phải chịu trách nhiệm về những tình tiết tăng
nặng của vụ án nếu họ đều biết.
- Phải tuân thủ các nguyên tắc chung về thời hiệu truy cứu TNHS, quyết định hình phạt đối
với loại tội mà họ đã tham gia thực hiện.
<i><b>b. Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện trong đồng phạm</b></i>
- Những người trong đồng phạm không phải chịu tránh nhiệm về hành vi vượt quá của
những người đồng phạm khác, nếu hành vi vượt quá là tình tiết định khung tăng nặng hoặc cấu
thành tội độc lập.
- Những tình tiết tăng nặng, hoặc giảm nhẹ, hoặc miễn TNHS, miễn hình phạt thuộc riêng
người nào thì chỉ áp dụng đối với người đó.
- Hành vi của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức dù chưa đưa đến việc thực hiện
tội phạm vẫn phải chịu TNHS.
- Sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người nào trong đồng phạm thì chỉ miễn
TNHS đối với người đó.
<i><b>c. Ngun tắc cá thể hoá TNHS</b></i>
- TNHS của mỗi người trong đồng phạm phụ thuộc vào mức độ tham gia (mức độ đóng
góp) thực tế của họ vào việc thực hiện tội phạm.
Ví dụ: Số vốn góp để bn bán hàng cấm.
- TNHS của mỗi người trong đồng phạm phụ thuộc vào tính chất của hành vi của họ khi
tham gia vào việc thực hiện tội phạm (hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi thực hành, hành
vi giúp sức).
<b>Câu 42: Những hành vi liên quan đến đồng phạm cấu thành tội độc lập.</b>
<b>- Tội che giấu tội phạm (Đ21 BLHS): Tội che giấu tội phạm là trường hợp người phạm tội</b>
<i>tuy không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm</i>
<i>tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện điều tra xử</i>
Tội che giấu tội phạm có 4 đặc điểm sau:
+ Khơng có sự hứa hẹn trước. (nếu hứa hẹn trước sẽ trở thành đồng phạm về tội mà người
được che giấu đã thực hiện).
+ Chỉ thực hiện sau khi tội phạm kết thúc.
+ Luôn thực hiện bằng hành động.
+ Chỉ cấu thành tội này theo điều 313 BLHS.
<b>- Tội không tố giác tội phạm (Đ22 BLHS): Tội không tố giác tội phạm là trường hợp một</b>
<i>người biết tội phạm đang được chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà không tố giác.</i>
Như vậy, tội khơng tố giác tội phạm có những đặc điểm sau:
+ Ln thực hiện bằng khơng hành động.
+ Có thể thực hiện ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình thực hiện tội phạm mà người kia đã
hoặc đang hoặc sẽ thực hiện.
+ Chỉ cấu thành tội này theo điều 313 BLHS.
<i>* Chú ý: Nếu người không tố giác là ông bà, cha mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc</i>
chồng của người phạm tội thì chỉ phải chịu TNHS trong trường hợp không tố giác tội xâm phạm
An ninh quốc gia hoặc các tội khác đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 314 BLHS.
Ví dụ: Khoản 4, Điều 113 BLHS tội cướp tài sản.
Đây là nội dung mới trong BLHS 1999 so với BLHS 1985. Việc sửa đổi này ghi nhận mối
quan hệ tình cảm gia đình là nét đặc trưng của truyền thống văn hố á Đông, trên cơ sở kế thừa
Các đối tượng trên chỉ được miễn TNHS đối với trường hợp khơng tố giác tội phạm vì loại
tội phạm này thực hiện bằng khơng hành động mang tính thụ động. Cịn với hành vi che giấu
tội phạm thì họ khơng được miễn TNHS vì loại tội này nó thể hiện sự chủ động, tích cực của
người phạm tội thường gây khó khăn cho việc phát hiện, xử lý tội phạm.
<b>Câu 43: So sánh lỗi cố ý trực tiếp với lỗi cố ý gián tiếp.</b>
Việc Xác định lỗi trong q trình định tội danh là một khâu vơ cùng quan trọng. Nó đảm
bảo định đúng tội danh cho tội phạm. Khi tội danh được xác định đúng thì đảm bảo PL được
công minh tránh trường hợp định tội quá nặng hay quá nhẹ đối với kẻ phạm tội. Việc phân biệt
giữa lỗi cố ý và vơ ý thì tương đối dễ dàng. nhưng phân biệt giữa lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián
tiếp thì tương đối phức tạp hơn.
Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối
với hậu quả do hành vị đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.
Lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp được định nghĩa tại điều 9 luật hình sự như sau:
1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu
quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra;
2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu
quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy khơng mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu
quả xảy ra.
Theo định nghĩa trên thì ta cần phân biệt trong ý chỉ của người phạm tội, thế nào là mong
muốn hậu quả đó xẩy ra? thế nào là khơng mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả
xảy ra?
Vì lỗi là thái độ tâm lí của con người nên ta khơng thể nhìn thấy bằng phương pháp bình
thường được mà thơng thường ta phải kiểm định chúng thông qua: Hành vi của người phạm
tội, công cụ phương tiện phạm tội, thời gian phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội...Từ đó mà
suy đốn lỗi, mà đã suy đốn thì khơng thể đạt độ chính xác 100% được.
Để cho các bạn dễ hiểu tơi xin ví dụ trường hợp ném mìn vào nhà mà tơi đã nêu ra trong
diễn đàn này.
Vì hậu quả chết người không xảy ra, nên việc xác định là loại lỗi gì có ý nghĩa quan trọng
xem người phạm tội có mắc tội phạm tội giết người chưa đạt hay không?
Ta xác định là lỗi cố ý gián tiếp nếu có một số các tình tiết như: thời gian ném mìn là thời
điểm mọi người trong nhà khơng thường xun ở chỗ mìn được ném, lượng mìn ít khơng đủ
gây ra hậu quả chết người, mục đích khơng phải giết người, mà mục đích khác...
Ta xác định là lỗi cố ý trực tiếp nếu xét thấy: thời gian ném mìn có nhiều người ở chỗ
ném, lượng mìn lớn khả năng gây chết người cao, mục đích giết người....
<b>* Ý 2:</b>
Sự phân biệt giữa lỗi cố ý trực tiếp với lỗi cố ý gián tiếp thể hiện chủ yếu ở khía cạnh ý chí
của lỗi. Tuy nhiên bên cạnh đó, cịn có sự thể hiện ở khía cạnh lý trí. Và sự khác nhau về mặt
lý trí giữa lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp là do sự khác nhau của mặt ý chí qui định.
Về mặt ý chí:
-Trong lỗi cố ý trực tiếp người phạm tội mong muốn cho hậu quả xảy ra.
-Trong lỗi cố ý gián tiếp người phạm tội tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc
cho hậu quả xảy ra.
Sự khác nhau về mặt ý chí qui định sự khác nhau về mặt lí trí:
- Trong lỗi cố ý trực tiếp, vì người phạm tội mong muốn cho hậu quả xảy ra cho nên người
phạm tội sẽ hướng tất cả chú ý và cố gắng vào việc gây ra hậu quả. Chính vì vậy mà người
phạm tội khơng những lựa chọn cơng cụ , phương tiện phạm tội mà cịn lựa chọn cả cách thức
sử dụng công cụ , phương tiện phạm tội đó. Trong số những cơng cụ, phương tiện hay phương
pháp phạm tội có khả năng giúp đạt được mục đích thì người phạm tội thường sẽ chọn cơng
cụ, phương tiện hay phương pháp tối ưu nhất, có tính nguy hiểm cao nhất để giúp cho hậu quả
mà họ mong muốn tất yếu xảy ra.
Như vậy, xuất phát từ mong muốn hậu quả xảy ra nên về mặt lí trí người phạm tội trong
lỗi cố ý trực tiếp thấy hậu quả tất yếu sẽ phải xảy ra hoặc có thể xảy ra .
- Trong lỗi cố ý gián tiếp, vì người phạm tội khơng mong muốn hậu quả xảy ra mà chỉ có
ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra nên người phạm tội không quan tâm đến công cụ, phương
tiện, phương pháp phạm tội cũng như cách thức sử dụng. Hậu quả xảy ra hay không xảy ra đối
với người phạm tội đều có ý nghĩa như nhau bởi họ đang theo đuổi một mục đích khác ; vì thế
họ thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội và hậu quả này không phù hợp với mục đích của
họ nhưng người phạm tội vẫn chấp nhận để cho hậu quả đó xảy ra. Như vậy, về mặt lí trí của
người phạm tội trong lỗi cố ý gián tiếp họ không thấy trước hậu quả tất yếu phải xảy ra mà chỉ
thấy trước hậu quả đó có thể xảy ra.
Ví dụ 1 về lỗi cố ý trực tiếp : do rất nhiều mâu thuẫn, A muốn giết B. A đã chuẩn bị sẵn
một con dao bầu cực sắc và đứng rình trước cổng nhà B. Khi B xuất hiện A nhằm thẳng vào
tim của B đâm thật nhiều nhát liên tiếp cho đến khi nào B chết mới thơi. Ví dụ 2 về lỗi cố ý
gián tiếp: Do bực tức, A đã dùng dao đâm bừa vào B làm B chết.
Như vậy trong hai ví dụ trên ta có thể thấy: Trong ví dụ 1 vì A mong muốn B chết nên A
đã lựa chọn cơng cụ phạm tội của mình là một con dao bầu cực sắc có tính nguy hiểm cao, có
Ngược lại, trong ví dụ 2 A không mong muốn B chết mà A đâm B vì một mục đích khác.
Cho nên A cũng khơng quan tâm lựa chọn con dao như thế nào để đâm B và A cũng không
xác định sẽ đâm vào đâu. Khi đâm B, A nhận thức được việc đâm của mình là nguy hiểm, có
thể dẫn đến chết người. Nhưng do bực tức nên vẫn cứ đâm, muốn như thế nào cũng được. A
không mong muốn giết B nhưng nếu B có chết A cũng chấp nhận. Ở đây, A không thấy hậu
quả làm B chết là hậu quả tất yếu xảy ra mà A chỉ thấy đó là hậu quả có thể xảy ra và A chấp
nhận điều đó.
<b>Câu 44: So sánh lỗi vơ ý do cẩu thả với sự kiện bất ngờ.</b>
- Sự kiện bất ngờ: Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất
ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả
của hành vi đó, thì khơng phải chịu TNHS. (Điều 11).
- Vô ý do cẩu thả: Vô ý do cẩu thả là trường hợp người phạm tội do cẩu thả mà không
thấy trước được khả năng gây hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trước và có thể
thấy trước. (Điều 10).
<i>- Giống nhau: </i>
+ Đều là hành vi gây hậu quả cho xã hội.
+ Đều không thấy trước được khả năng gây hậu quả cho xã hội.
Chủ thể thực hiện đều không thấy nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình đã gây ra.
+ Sự kiện bất ngờ là trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước
hậu quả của hành vi đó, cịn Vơ ý do cẩu thả là gây hậu quả trong trường hợp phải thấy trước
hoặc có thể thấy trước hậu quả.
+ Vơ ý do cẩu thả thì người phạm tội phải có nghĩa vụ thấy trước và có đủ điều kiện để thấy
trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình. Người đó khơng thấy trước là do cẩu
thả.
+ Trong đó sự kiện bất ngờ, chủ thể khơng có nghĩa vụ phải thấy trước hậu quả nguy hiểm
cho xã hội từ hành vi của mình hoặc tuy có nghĩa vụ phải thấy trước nhưng khơng có đủ điều
kiện để thấy trước hậu quả đó => Do khách quan.
<b>Câu 45. Chế định chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.</b>
<i>Chế định chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được quy định ở phần chung BLHS nước</i>
<i>ta. Điều 15 BLHS quy định: </i>
<i>1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn cơng cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều</i>
<i>kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm… </i>
<i>2. P/tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những</i>
<i>ngun nhân ngồi ý muốn của người phạm tội.</i>
Chế định chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được quy định ở phần chung BLHS nước
ta. Điều 15 BLHS quy định:
1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn cơng cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều
kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm…
2. P/tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những
ngun nhân ngồi ý muốn của người phạm tội.
Trong Luật hình sự VN, khái niệm chuẩn bị phạm tội và phạm tôi chưa đạt dùng để phân
biệt với khái niệm tội phạm hoàn thành. Sự khác nhau giữa chuẩn bị phạm tội với phạm tội chưa
đạt là ở chỗ hành vi chuẩn bị phạm tội mới là hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết để thực
hiện tội phạm, chứ chưa phải là hành vi thực hiện tội phạm. Người chuẩn bị phạm tội chưa trực
tiếp bắt tay vào việc thực hiện tội phạm còn người phạm tội chưa đạt đã bắt tay vào việc thực
hiện tội phạm, bắt tay vào việc thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của một CTTP cụ thể
(mà dấu hiệu của mặt khách quan được quy định tại một điều luật cụ thể phần các tội phạm của
BLHS) hoặc những hành vi đi liền trước hành vi thuộc mặt khách quan đó.
Sự khác nhau giữa phạm tội chưa đạt với tội phạm hoàn thành là ở chỗ, đối với phạm tội
chưa đạt, người phạm tội đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được
đến cùng vì những ngun nhân ngồi ý muốn của người đó, cịn đối với tội phạm hồn thành
người phạm tội thực hiện tội phạm đến cùng. Cơ sở để xác định một người đã thực hiện tội
phạm đến cùng (phạm tội hồn thành) hay khơng thực hiện được đến cùng (phạm tội chưa đạt)
là ở chỗ người đó đã thỏa mãn hết các dấu hiệu của một cấu thành của một tội phạm cụ thể hay
chưa? Nếu một người thực hiện hành vi thỏa mãn hết các dấu hiệu của một CTTP cụ thể thì
người đó được coi là đã thực hiện tội phạm được đến cùng, tội phạm do người đó thực hiện
được coi là tội phạm hoàn thành. Trong trường hợp một người thực hiện hành vi chưa thỏa mãn
hết các dấu hiệu của một cấu thành tơi phạm cụ thể, do những ngun nhân ngồi ý muốn của
người đó thì tội phạm do người đó thực hiện là tội phạm chưa hoàn thành, hành vi của người đó
là hành vi phạm tội chưa đạt.
Theo quy định của BLHS TNHS đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội (đối với
tội phạm nghiêm trọng) và phạm tội chưa đạt là cần thiết. Vì về khách quan hành vi chuẩn bị
phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, chúng đe dọa
trực tiếp gây thiệt hại cho những QHXH được luật hình sự bảo vệ. Về chủ quan, người chuẩn bị
Vấn đề đặt ra trong lý luận và thực tiễn áp dụng PL hình sự ta là giai đoạn chuẩn bị phạm
tội và phạm tội chưa đạt có thể có trong các tội phạm thực hiện do lỗi cố ý gián tiếp không?
Sách báo pháp lý và thực tiễn áp dụng PL hình sự ở nước ta từ trước đến nay mới chỉ chính
thức thừa nhận có giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đối với những tội phạm
thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, còn đối với các tội phạm thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp thì
khơng có gian đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Hay nói một cách khác, hiện nay
chúng ta mới chỉ chính thức thừa nhận là đối với những tội phạm thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp
thì, chỉ khi có hậu quả nguy hiểm cho xã hơi xảy ra hành vi mới có thể bị coi là hành vi phạm
tội. Nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa xảy ra, hành vi không thể bị coi là hành vi phạm tội,
và do vậy, khơng thể có giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay phạm tôi chưa đạt.
Trong giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã xuất hiện quan điểm cho rằng việc chỉ thừa nhận
có giai đoạn chuẩn bị phạm tội và giai đoạn phạm tội chưa đạt trong các tội phạm thực hiện với
lỗi cố ý trực tiếp cần phải được xem xét lại. Theo quan điểm này, cần phải thừa nhận các giai
đoạn phạm tội, đặc biệt là giai đoạn phạm tội chưa đạt đối với các tội phạm được thực hiện với
lỗi cố ý gián tiếp. Chúng tôi ủng hộ quan điểm này, bởi lẽ, khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội với lỗi cố ý gián tiếp, người thực hiện hành vi đã nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã
hội của hành vi của mình, đã thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó. Nghĩa là,
người thực hiện hành vi với lỗi cố ý gián tiếp đã có ý thức lựa chọn một hành vi phạm tội, lựa
chọn thái độ phủ định đối với các yêu cầu và chuẩn mực xã hội (đã được quy định thành chuẩn
mực pháp lý) và chấp nhận (để mặc) cho hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra. Hậu quả nguy
hiểm cho xã hội xảy ra hay khơng xảy ra hồn tồn phụ thuộc vào các điều kiện khách quan bên
ngoài. Bởi vậy, cả trong trường hợp hậu quả nguy hiểm cho xã hội không xảy ra thì việc xác
định TNHS đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do lỗi cố ý gián tiếp vẫn là
cần thiết.
Đáng chú ý là trong một số tội phạm, BLHS cũng đã xác định TNHS (hình phạt) cả trong
trường hợp hành vi thực hiện với lỗi vô ý chưa gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà mới chỉ
có khả năng thực tế gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ: trong các tội phạm được quy
định tại khoản 4 điều 186, khoản 3 các điều 190, 192, 194 BLHS.
Đương nhiên, trong những trường hợp giống nhau, hành vi thực hiện với lỗi cố ý (dù là cố ý
gián tiếp) phải được coi là nguy hiểm cho xã hội lớn hơn hành vi thực hiện với lỗi vô ý. Bởi vậy,
về logic, khi đã thừa nhận một người thực hiện hành vi nguy hiểm với lỗi vô ý, chưa gây ra hậu
quả nguy hiểm cho xã hội, mà mới chỉ có khả năng thực tế gây ra hậu quả đó phải chịu TNHS,
thì cũng phải thừa nhận TNHS đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố
ý gián tiếp, mặc dù, trên thực tế hành vi đó chưa gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mới đảm
bảo được nguyên tắc cơng bằng của luật hình sự và mới đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu
tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
Vì những lẽ trên, cần phải thừa nhận giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt có cả
trong trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp, và về nguyên
tắc, hành vi đó cũng phải chịu TNHS.
Cơ sở pháp lý của TNHS đối với người chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt cũng là việc
thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt thỏa mãn các dấu hiệu của một CTTP.
Song, với BLHS nước ta hiện nay, hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt
không phải là những hành vi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một CTTP cơ bản, mà là những
hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của những CTTP riêng biệt: cấu thành tôi phạm của hành vi
chuẩn bị phạm tội và CTTP của hành vi phạm tội chưa đạt. Đây là những CTTP bổ sung cho cấu
thành tôi phạm cơ bản và là “sự tổng hợp những dấu hiệu của một CTTP cơ bản với những dấu
hiệu của… chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm”
K3, Đ15 BLHS nước ta quy định: “đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội
chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng
Như vậy, theo quy định của BLHS, người chuẩn bị phạm tội và người phạm tội chưa đạt
phải chịu TNHS (hình phạt) giống với người thực hiện tội phạm đã hoàn thành theo cùng một
tội danh, trong khn khổ cùng một khung hình phạt, được quy định tại các điều phần các tội
phạm của BLHS. Thực tiễn áp dụng PL hình sự nước ta thừa nhận, khi định tội đối với hành vi
phạm tội chưa đạt, phải định tội danh là chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt về tội gì và
phải viện dẫn điều luật quy định về tội đó, đồng thời viện dẫn thêm K1, Đ15 BLHS (nếu là
hành vi chuẩn bị phạm tội) hoặc K2, Đ15 BLHS (nếu là hành vi phạm tội chưa đạt).
Đáng lưu ý khoản 3 điều 15 BLHS nước ta chỉ nêu những căn cứ quyết định hình phạt đối
với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, chứ không quy định một giới hạn
giảm nhẹ TNHS (hình phạt) nào của hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt
so với tội phạm hoàn thành tương ứng. Việc quy định TNHS đối với hành vi chuẩn bị phạm tội
và hành vi phạm tội chưa đạt như vậy là chưa hợp lý, chưa thể hiện được nguyên tắc cá thể hóa
TNHS, ngun tắc cơng bằng của luật hình sự. Bởi vậy, theo chúng tôi, BLHS cần được sửa
đổi theo hướng phân hóa TNHS một cách rõ ràng giữa hành vi chuẩn bi phạm tội, phạm tội
chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Về khách quan, trong những điều kiện giống nhau hành vi
chuẩn bị phạm tội nguy hiểm cho xã hội ít hơn so với hành vi phạm tội chưa đạt và hành vi
phạm tội chưa đạt ít nguy hiểm hơn so với tội phạm hoàn thành tương ứng: Bởi vậy, cần có
một thái độ rõ ràng ngay trong luật là, với những điều kiện giống nhau, TNHS đối với hành vi
chuẩn bị phạm tội phải nhẹ hơn TNHS đối với hành vi phạm tội chưa đạt và TNHS đối với
hành vi phạm tội chưa đạt phải nhẹ hơn TNHS đối với tội phạm hoàn thành tương ứng.
Về TNHS của người chuẩn bị phạm tội, BLHS nước ta hiện nay quy định: “người chuẩn
bị phạm một tội nghiêm trọng phải chịu TNHS” (khoản 1 điều 15). Theo chúng tôi, việc quy
định phạm vi phải chịu TNHS của người chuẩn bị phạm tội như vậy là quá rộng. Bởi lẽ, một
ngun tắc thể hiện rõ chính sách hình sự của Nhà nước ta là chỉ sử dụng các biện pháp hình
sự (TNHS) khi các biện pháp tác động khác có thể khơng mang lại kết quả mong muốn. Hành
Để khắc phục những hạn chế của BLHS hiện hành trong việc quy định TNHS của người
chuẩn bị phạm tội và người phạm tội chưa đạt và cũng là để thể hiện được ngun tắc cá thể
hóa TNHS, ngun tắc cơng bằng của luật hình sự, theo chúng tơi, BLHS sửa đổi ngoài việc
quy định ở phần chung khái niệm cơ sở TNHS của hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm
tội chưa đạt, ở phần các tội phạm cần xây dựng các CTTP của hành vi chuẩn bị phạm tội, và
trong một số trường hợp, có thể cả CTTP của hành vi phạm tội chưa đạt, độc lập với cấu thành
của tội phạm hoàn thành tương ứng. Cách xây dựng các cấu thành tôi phạm của hành vi chuẩn
bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt cần tuân theo một nguyên tắc là chỉ người chuẩn bị
phạm một tội đặc biệt nghiêm trọng, và trong một số trường hợp người chuẩn bị phạm tội
nghiêm trọng mới phải chịu TNHS. Trong những điều kiện giống nhau CTTP của hành vi
chuẩn bị phạm tội có khung hình phạt nhẹ hơn so với CTTP của hành vi phạm tội chưa đạt và
CTTP của hành vi phạm tội chưa đạt có khung hình phạt nhẹ hơn so với CTTP của tội phạm
hồn thành tương ứng. Khơng nhất thiết đối với tội phạm nào cũng phải có các khoản (hoặc
điều) quy định về CTTP của hành vi chuẩn bị phạm tội, thậm chí CTTP của hành vi tội phạm
chưa đạt, tương ứng. Việc quy định hay không quy định thêm các CTTP này phải xuất phát từ
<b>Câu 46: Phân biệt miễn TNHS và miễn hình phạt. </b>
<i>1. Ý nghĩa khoa học - thực tiễn của việc nghiên cứu: Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước</i>
pháp quyền XHCNVN hiện nay, việc nghiên cứu chế định miễn TNHS và chế định miễn hình
phạt để phân biệt sự giống và khác nhau giữa hai chế định này trong pháp luật hình sự thực
định cũng như trong thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng trên các bình diện chủ yếu dưới đây.
Một là, miễn TNHS và miễn hình phạt là các chế định quan trọng trong luật hình sự Việt
Nam thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm
tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời qua đó nhằm động viên, khuyến khích người phạm
tội lập cơng chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hịa nhập với cộng
đồng và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội. Hai chế định này chỉ có thể áp dụng khi có
đầy đủ các căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định.
Hai là, cũng như việc miễn TNHS, bằng các quy phạm có tính chất nhân đạo của chế định
miễn hình phạt, nhà làm luật khơng phải dùng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị) về
mặt pháp lý hình sự và do đó, sẽ loại trừ được việc áp dụng hình phạt trong những trường hợp
mặc dù hình phạt có được Tịa án quyết định đi chăng nữa nhưng trên thực tế là bất hợp lý vì
các mục đích của nó khơng thể đạt được.
Ba là, với việc áp dụng MTNHS hoặc miễn hình phạt NN khơng cách ly khỏi xã hội
những người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và như vậy, sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của trật tự pháp luật để trở lại cuộc sống bình
thường trong cộng đồng xã hội, phấn đấu là người lương thiện và có ích cho gia đình và xã
hội.
Bốn là, việc tiếp tục nghiên cứu về mặt lý luận chế định miễn TNHS và miễn hình phạt để
phân biệt chúng dưới góc độ nhận thức - khoa học khơng những là hướng nghiên cứu quan
<i>2. Khái niệm miễn TNHS: Hiện nay xung quanh khái niệm miễn TNHS cịn có nhiều quan</i>
điểm khác nhau. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học luật hình sự có thể định nghĩa: Miễn TNHS
là một chế định nhân đạo của luật hình sự VN và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp
lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là
có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó.
Như vậy, bản chất pháp lý của chế định miễn TNHS là hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc
thực hiện tội phạm khi có các căn cứ do PL hình sự quy định, tức là các cơ quan tư pháp hình
sự có thẩm quyền của nhà nước (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của VKS, VKS và TA)
căn cứ vào giai đoạn TTHS tương ứng cụ thể để miễn TNHS cho người phạm tội.
<i>3. Khái niệm miễn hình phạt:</i> Cũng giống như khái niệm miễn TNHS, hiện nay xung
quanh khái niệm miễn hình phạt cịn có nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, dưới góc độ
khoa học luật hình sự có thể định nghĩa: Miễn hình phạt là hủy bỏ biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất cho người bị kết án mà lẽ ra Tòa án phải tuyên trong bản án kết tội có hiệu
lực pháp luật đối với người này.
nghiêm khắc nhất khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện được quy định trong pháp
luật hình sự.
<i>4. Phân biệt miễn TNHS với miễn hình phạt:</i>
Về bản chất pháp lý, các đặc điểm cơ bản và những trường hợp miễn TNHS (quy định tại
Điều 19, Điều 15, K 2 Điều 69, K3 Điều 80, đoạn 2 khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290 và
khoản 3 Điều 314) và miễn hình phạt (quy định tại Điều 54 và khoản 3 Điều 314) vì đã được đề
cập trong các bài viết liên quan đến hai chế định nói trên [1] nên trong bài viết này chỉ tập trung
đi sâu phân tích các điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chúng theo hệ thống như sau.
4.1. Về các điểm giống nhau:
a. Miễn TNHS và miễn hình phạt đều thuộc hệ thống các biện pháp tha miễn trong luật hình
sự nước ta [2], thể hiện rõ ngun tắc nhân đạo trong chính sách hình sự nói chung và của luật
hình sự Việt Nam nói riêng.
b. Miễn TNHS và miễn hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người nào bị coi là có lỗi trong
việc thực hiện chính tội phạm đó. Nói cách khác, hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đó
thực hiện bị pháp luật hình sự cấm (BLHS (BLHS) quy định là tội phạm).
c. Miễn TNHS và miễn hình phạt chỉ có thể áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những
điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định tương ứng trong từng trường hợp cụ thể.
d. Cũng như người được miễn TNHS, người được miễn hình phạt khơng phạt chịu hậu quả
pháp lý bất lợi của việc phạm tội hoặc (và) của việc quyết định hình phạt - án tích.
e. Cũng như việc miễn TNHS, bằng các quy phạm có tính chất nhân đạo của chế định miễn
hình phạt, nhà làm luật khơng phải dùng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị) về mặt hình
sự và do đó, sẽ loại trừ được việc áp dụng hình phạt trong những trường hợp mặc dù hình phạt
có được Tịa án quyết định đi chăng nữa nhưng trên thực tế là bất hợp lý vì các mục đích của nó
khơng thể đạt được.
f. Và cuối cùng, với việc áp dụng MTNHS hoặc miễn hình phạt, NN không cách ly khỏi xã
hội những người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và như vậy, sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của trật tự pháp luật để trở lại cuộc sống bình thường
trong cộng đồng xã hội, phấn đấu làm người lương thiện và có ích cho gia đình và xã hội.
4.2. Về các điểm khác nhau:
a. Nếu BLHS năm 1999 hiện hành của nước ta có quy định chín trường hợp (dạng) miễn
b. TNHS có thể được thực hiện bằng hình phạt (nếu người phạm tội khơng được miễn
TNHS, mà bị Tịa án áp dụng hình phạt), nhưng cũng có thể bằng biện pháp có tính cưỡng chế
về hình sự khác (nếu người phạm tội được miễn hình phạt). Cịn miễn TNHS thì đương nhiên là
khơng áp dụng hình phạt với người phạm tội, tức là không áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm
khắc nhất của nhà nước đối với họ, nhưng miễn hình phạt thì khơng có nghĩa là khơng có
TNHS. Nói một cách khác, người được miễn hình phạt khi họ chưa đến mức được miễn TNHS,
còn người được miễn TNHS lại đương nhiên được miễn hình phạt.
c. Khác với miễn TNHS, điều kiện được miễn hình phạt áp dụng đối với từng trường hợp cụ
thể không được quy định rõ ràng như miễn TNHS. Theo quy định tại Đ54 BLHS 1999 thì các
điều kiện để miễn hình phạt khơng khắt khe (chặt chẽ) bằng các điều kiện để miễn TNHS. Do
đó, dưới góc độ pháp luật hình sự thực định và thực tiễn áp dụng nó, chúng ta có thể nhận thấy
hành vi phạm tội và nhân thân người được miễn TNHS thơng thường đều ít nguy hiểm hơn so
với hành vi phạm tội và nhân thân của người được miễn hình phạt. Nói một cách khác, hành vi
phạm tội và nhân thân người được miễn hình phạt nguy hiểm hơn so với hành vi phạm tội và
nhân thân người được miễn TNHS.
d. Nếu hình phạt và việc áp dụng miễn hình phạt đối với người bị kết án chỉ có thể và phải
do một cơ quan duy nhất áp dụng - TA, thì trong khi đó miễn TNHS đối với người phạm tội,
ngồi TA có thẩm quyền áp dụng ra cịn có thể do các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền
(cơ quan điều tra với sự phê chuẩn của VKS) áp dụng trước khi xét xử tùy thuộc vào giai đoạn
tố tụng hình sự cụ thể tương ứng.
e. Và cuối cùng, nếu người được miễn TNHS đương nhiên khơng phải chịu hậu quả pháp lý
hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện (như: khơng bị truy cứu TNHS, khơng phải
chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, khơng bị coi là có án tích và khơng bị
coi là có tội), nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, người được miễn TNHS vẫn có thể phải chịu một
5. Kết luận: Xuất phát từ phân biệt hai chế định nói trên trong BLHS năm 1999 hiện hành,
có thể rút ra một số kết luận chung dưới đây.
Thứ nhất, miễn TNHS và miễn hình phạt là hai chế định quan trọng thể hiện ngun tắc
nhân đạo trong chính sách hình sự nói chung, trong luật hình sự Việt Nam nói riêng. Hai chế
định này chỉ có thể áp dụng khi có đầy đủ các căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do pháp
luật hình sự quy định.
Thứ hai, việc quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam hai chế định này thể hiện phương
châm đúng đắn của đường lối xử lý về hình sự - đảm bảo sự kết hợp hài hịa giữa các biện pháp
cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất của nhà nước với các biện pháp tác động xã hội khác để
cải tạo, giáo dục người phạm tội, bằng cách đó hạn chế áp dụng các biện pháp mang tính trấn áp
(trừng trị) về mặt hình sự.
Thứ ba, trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCNVN hiện nay để nhân đạo
hóa hơn nữa chính sách hình sự nói chung và luật hình sự nước ta nói riêng, dưới góc độ nhận
thức - khoa học, nhà làm luật cần điều chỉnh hai chế định độc lập này thành hai chương riêng
Và cuối cùng, việc tiếp tục nghiên cứu về mặt lý luận chế định miễn TNHS và miễn hình
phạt để phân biệt chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc hồn thiện pháp luật hình sự, bảo vệ
các quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân, góp phần đấu tranh phịng và chống tội phạm.
<b>Câu 47: Phân biệt trường hợp miễn TNHS với trường hợp loại trừ TNHS. Cho ví dụ.</b>
<b>* Miễn TNHS:</b>
<i>- Khái niệm miễn TNHS: Hiện nay xung quanh khái niệm miễn TNHS cịn có nhiều quan</i>
điểm khác nhau. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học luật hình sự có thể định nghĩa: Miễn TNHS là
một chế định nhân đạo của luật hình sự VN và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý
của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có
lỗi trong việc thực hiện hành vi đó.
Như vậy, bản chất pháp lý của chế định miễn TNHS là hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc
thực hiện tội phạm khi có các căn cứ do pháp luật hình sự quy định, tức là các cơ quan tư pháp
hình sự có thẩm quyền của nhà nước (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của VKS, VKS và
Tòa án) căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể để miễn TNHS cho người phạm
tội.
<b>* Loại trừ TNHS:</b>
Theo quy định của BLHS thì các trường hợp loại trừ TNHS do người có hành vi nguy
hiểm cho xã hội nhưng chưa bị xử lý kỷ luật, chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án hoặc
tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích bao gồm:
- Người có hành vi chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền
- Người có hành vi cản trở công dân thực hiện quyền hội họp, quyền lập hội phù hợp với
lợi ích của nhà nước và của nhân dân, quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo, theo hoặc không theo
một tôn giáo nào nhưng chưa bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này thì chưa
cấu thành tội “xâm phạm quyền hội họp, lập hội, quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo của cơng
dân” theo điều 129 BLHS
- Người có hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị hai triệu đồng
nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng
đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “cơng nhiên chiếm đoạt tài sản” theo điều 137
BLHS
- Người có hành vi trộm cắp tài sản của người khác có giá trị hai triệu đồng nhưng chưa
gây hậu quả nghiêm trọng và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc chưa bị
kết án về tội chiếm đoạt tài sản, hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng đã được xố
án tích thì chưa cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo điều 138 BLHS.
- Người có thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị hai triệu đồng
nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng
đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điều 139 BLHS.
- Người có một trong những hành vi: vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận
được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ
trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến
khơng có khả năng trả lại tài sản có giá trị dưới bốn triệu đồng nhưng chưa gây hậu quả
- Người vì vụ lợi mà có hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ năm
mươi triệu đồng trở lên nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và chưa bị xử phạt hành chính
về hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc đã bị kết án về tội này nhưng đã được xố
án tích thì chưa cấu thành tội “sử dụng trái phép tài sản” theo điều 142 BLHS.
- Người có hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại
hai triệu đồng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi
này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc đã bị kết án về tội này nhưng đã được xố án tích thì
chưa cấu thành tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điều 143 BLHS.
- Người có hành vi cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở
người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hơn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ,
ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác nhưng chưa bị xử phạt
hành chính về hành vi này thì chưa cấu thành tội “cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ” theo điều 146 BLHS.
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hơn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác
hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hơn hoặc chung sống như vợ chồng với người
mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và cũng chưa
bị xử phạt hành chính về hành vi này thì chưa cấu thành tội “vi phạm chế độ một vợ, một
chồng” theo điều 147 BLHS.
- Người có một trong các hành vi: tổ chức việc kết hôn cho những người chưa đến tuổi kết
hơn; cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn mặc dù đã
có quyết định của tồ án buộc chấm dứt quan hệ đó nhưng chưa bị xử phạt hành chính về hành
vi này thì chưa cấu thành tội “tổ chức tảo hôn” hoặc tội “tảo hôn” theo điều 148 BLHS.
- Người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn biết rõ là người xin đăng ký không đủ
điều kiện kết hôn mà vẫn đăng ký cho người đó, nhưng chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi này thì
chưa cấu thành tội “đăng ký kết hôn trái pháp luật” theo điều 149 BLHS.
- Người có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với
người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn
tránh nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và cũng chưa bị xử phạt hành
chính về hành vi này thì chưa cấu thành tội “từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” theo
điều 152 BLHS.
- Người có hành vi bn bán trái phép qua biên giới hàng hố, tiền việt nam, ngoại tệ, kim
khí quý, đá quý có giá trị dưới một trăm triệu đồng; hàng cấm với số lượng chưa lớn nhưng chưa
bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc các hành vi quy định tại một trong các điều 154, 155,
156, 157, 158, 159, 160 và 161 BLHS hoặc chưa bị kết án về một trong các tội này, hoặc đã bị
kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “buôn lậu”theo điều 153 BLHS.
- Người có hành vi vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hố, tiền việt nam, ngoại tệ, kim
khí q, đá quý có giá trị dưới một trăm triệu đồng; hàng cấm với số lượng chưa lớn nhưng chưa
bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc các hành vi quy định tại một trong các điều 153, 155,
156, 157, 158, 159, 160 và 161 BLHS hoặc chưa bị kết án về một trong các tội này, hoặc đã bị
kết án nhưng đã được xố án tích và hành vi vận chuyển trái phép qua biên giới vật phẩm thuộc
di tích lịch sử, văn hố chưa bị xử phạt hành chính thì chưa cấu thành tội “vận chuyển trái phép
hàng hoá, tiền tệ qua biên giới” theo điều 154 BLHS.
- Người có hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, bn bán hàng hố mà nhà nước cấm
kinh doanh có số lượng chưa lớn, thu lợi bất chính chưa lớn và chưa bị xử phạt hành chính về
hành vi này hoặc các hành vi quy định tại các điều 153, 154, 156, 157, 158, 159 và 161 của
BLHS hoặc chưa bị kết án về một trong các tội này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án
tích thì chưa cấu thành tội “sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm” theo điều 155
- Người có hành vi sản xuất, bn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có
giá trị dưới ba mươi triệu đồng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa bị xử phạt
hành chính về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả hoặc các hành vi quy định tại một trong các
điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của BLHS hoặc chưa bị kết án về một trong các tội
này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “sản xuất, bn bán
hàng giả” theo điều 156 BLHS.
- Người có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn ni, phân bón,
thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi với số lượng chưa lớn hoặc chưa
gây hậu quả nghiêm trọng và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc các hành vi quy
định tại một trong các điều 153, 154, 155, 156, 157, 159 và 161 BLHS hoặc chưa bị kết án về
một trong các tội này, hoặc đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “sản
xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn ni, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực
vật, giống cây trồng, vật nuôi” theo điều 158 BLHS.
- Người kinh doanh khơng có đăng ký kinh doanh, kinh doanh khơng đúng với nội dung đã
đăng ký hoặc kinh doanh khơng có giấy phép riêng trong trường hợp pháp luật quy định phải có
giấy phép nhưng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này hoặc
về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 160, 161, 164, 193, 194,
195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của BLHS, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích
thì chưa cấu thành tội “kinh doanh trái phép” theo điều 159 BLHS.
- Người có hành vi trốn thuế với số tiền dưới 100 triệu đồng và chưa bị xử phạt hành chính
về hành vi trốn thuế hoặc chưa bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các
điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232,233, 236 và 238
của bộ luật này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “trốn
thuế” theo điều 161 BLHS.
- Người có hành vi cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạn
gian dối khác trong việc mua, bán nhưng chưa gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng hoặc
chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án
nhưng đã được xoá án tích thì chưa cấu thành tội “lừa dối khách hàng” theo điều 162 BLHS.
- Người có hành vi làm, buôn bán các loại tem giả, vé giả với số lượng chưa lớn và chưa
bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án
nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “làm tem giả, vé giả” hoặc tội “buôn bán tem
giả, vé giả” theo điều 164 BLHS.
- Người có hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hoá đơn; chứng từ thu nộp ngân sách
nhà nước với số lượng chưa lớn và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết
án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “in, phát
hành, mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” theo điều 164a
BLHS.
- Người có hành vi vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hoá đơn, chứng từ thu nộp
ngân sách nhà nước chưa gây hậu quả nghiêm trọng và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi
này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa
cấu thành tội “vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách
nhà nước” theo điều 164b BLHS.
- Người có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của nhà nước về
quản lý kinh tế gây thiệt hại dưới một trăm triệu đồng, nhưng chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi
này thì chưa cấu thành tội “cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả
nghiêm trọng” theo điều 165 BLHS.
- Người có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn lập quỹ trái phép có giá trị từ năm mươi
triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng và đã sử dụng quỹ đó nhưng chưa gây hậu quả nghiêm
trọng và cũng chưa bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này thì chưa cấu thành
tội “lập quỹ trái phép” theo điều 166 BLHS.
- Người vì vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác mà có hành vi báo cáo với cơ quan có
thẩm quyền những số liệu, tài liệu rõ ràng không đúng sự thật nhưng chưa gây hậu quả nghiêm
trọng cho việc xây dựng hay thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội của nhà nước và cũng chưa bị
xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy
đã bị kết án nhưng đã được xoá án tích thì chưa cấu thành tội “báo cáo sai trong quản lý kinh
tế” theo điều 167 BLHS.
- Người có hành vi quảng cáo gian dối về hàng hoá, dịch vụ chưa gây hậu quả nghiêm
trọng và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã
bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “quảng cáo gian dối” theo Đ168
BLHS.
- Người có thẩm quyền trong việc cấp văn bằng bảo hộ mà có hành vi vi phạm quy định
của pháp luật về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, nhưng chưa bị xử lý kỷ luật
hoặc xử phạt hành chính về hành vi này thì chưa cấu thành tội “vi phạm quy định về cấp văn
bằng bảo hộ quyền sở hữu cơng nghiệp” theo điều 170 BLHS.
- Người có hành vi lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với các
quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai chưa gây hậu quả nghiêm trọng và chưa
bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án
nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”
theo điều 173 BLHS.
- Người có hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho
thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật,
chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi này, đất có diện tích chưa lớn hoặc đất có giá trị chưa lớn,
chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành tội “vi phạm các quy định về quản lý đất
đai” theo điều 174 BLHS.
- Người có hành vi khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy
định của nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, hoặc vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép chưa
gây hậu quả nghiêm trọng và cũng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết
án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” theo điều 175 BLHS.
- Người có hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn có một trong các hành vi:
giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng; cho phép chuyển mục đích sử dụng
rừng, đất trồng rừng hoặc cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật chưa gây hậu
quả nghiêm trọng và chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi này thì chưa cấu thành tội “vi phạm các
quy định về quản lý rừng” theo điều 176 BLHS.
- Người có trách nhiệm mà thực hiện một trong các hành vi: cắt điện khơng có căn cứ
hoặc khơng thơng báo theo quy định, từ chối cung cấp điện không có căn cứ hoặc trì hỗn
việc xử lý sự cố điện khơng có lý do chính đáng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và
chưa bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc
tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “vi phạm các quy định về
cung ứng điện” theo Điều 177 BLHS.
- Người có trách nhiệm mà dùng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ chia lợi tức cổ phần
nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và cũng chưa bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về
hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì
chưa cấu thành tội “sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng”
theo Điều 178 BLHS.
- Người có hành vi cố ý cụng bố thơng tin sai lệch hoặc che giấu sự thật liên quan đến việc
chào bán, niêm yết, giao dịch, hoạt động kinh doanh chứng khoán, tổ chức thị trường, đăng ký,
lưu ký, bự trừ hoặc thanh toỏn chứng khoán chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành
tội “cố ý cơng bố thơng tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoản”theo
Điều 181a BLHS.
- Người có hành vi thao túng chứng khoán chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu
thành tội “thao túng chứng khốn” quy định tại Điều 181c BLHS.
- Người cú hành vi thải vào khơng khí, nguồn nước, đất nước chất gây ơ nhiễm mơi
trường, phát tán bức xạ, phóng xạ chưa vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở
mức độ nghiêm trọng hoặc chưa làm môi trường bị ụ nhiễm nghiờm trọng hoặc chưa gây hậu
quả nghiêm trọng khác thì chưa cấu thành tội “gây ơ nhiễm mụi trường” theo Điều 182 BLHS.
- Người có hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi
trường chưa nghiêm trọng hoặc chưa gây hậu quả nghiêm trọng khác thì chưa cấu thành tội “vi
phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại” theo Điều 182a
- Người cú hành vi vi phạm quy định về phịng ngừa sự cố mơi trường để xảy ra sự cố môi
trường hoặc vi phạm quy định về ứng phó sự cố mơi trường làm mơi trường bị ô nhiễm nhưng
chưa tới mức nghiêm trọng hoặc chưa gây hậu quả nghiêm trọng khác thì chưa cấu thành tội
“vi phạm quy định về phũng ngừa sự cố môi trường” theo Điều 282b BLHS.
- Người có một trong các hành vi: đưa vào hoặc mang ra khỏi khu vực hạn chế lưu thông
động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác bị nhiễm bệnh hoặc mang
mầm bệnh; đưa vào hoặc cho phép đưa vào việt nam động vật, thực vật, sản phẩm động vật,
thực vật thuộc đối tượng kiểm dịch mà không thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm
dịch; hoặc có hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật, nhưng chưa
bị xử phạt hành chính thì chưa cấu thành tội “làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật,
thực vật” theo Điều 187 BLHS.
- Người có hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc một trong các
trường hợp: sử dụng chất độc, chất nổ, các hố chất khác, dịng điện hoặc các phương tiện, ngư
cụ khác bị cấm để khai thác thuỷ sản hoặc làm huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản; khai thác thuỷ sản
tại khu vực bị cấm, trong mùa sinh sản của một số loài hoặc vào thời gian khác mà pháp luật
cấm; khai thác các loài thuỷ sản quý hiếm bị cấm theo quy định của chính phủ; phá hoại nơi cư
- Người có hành vi đốt, phá rừng trái phép rừng hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng chưa
gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này thì chưa cấu thành tội
“huỷ hoại rừng” theo Điều 189 BLHS.
- Người cú hành vi vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên chưa gây hậu
quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành tội “vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn
thiên nhiên” theo Điều 191 BLHS.
- Người cú hành vi cố ý nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại chưa gõy hậu quả
nghiêm trọng thi chưa cấu thành tội “nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại” theo Điều
191a BLHS.
- Người trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma
túy, chưa được giáo dục nhiều lần, chưa được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống hoặc tuy đã
được giáo dục nhiều lần, đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống nhưng chưa bị xử phạt
hành chính về hành vi này thì cũng chưa cấu thành tội “trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây
khác có chứa chất ma tuý” theo Điều 192 BLHS.
- Người có hành vi đua trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ chưa
gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc chưa bị xử phạt hành chính về hành vi
này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu
thành tội “đua xe trái phép” theo Điều 207 BLHS.
- Người có một trong các hành vi: đặt chướng ngại vật trên đường sắt; làm xê dịch ray, tà
- Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương
tiện giao thông đường sắt mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường sắt rõ
ràng khơng bảo đảm an tồn chưa gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng
cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi này thì chưa cấu
thành tội “đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường sắt khơng bảo đảm an tồn” theo
Điều 210 BLHS.
- Người có hành vi điều động hoặc giao cho người khơng có giấy phép hoặc bằng lái hoặc
khơng đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật chỉ huy, điều khiển phương tiện giao
thông đường sắt nhưng chưa gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho
sức khỏe, tài sản của người khác hoặc chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi này thì chưa cấu thành tội
“điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông
đường sắt” theo Điều 211 BLHS.
- Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương
tiện giao thông đường thuỷ mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường thuỷ rõ
ràng khơng bảo đảm an tồn nhưng chưa gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm
trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc chưa bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về
hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xoá án tích thì
chưa cấu thành tội “đưa vào sử dụng các phương tiện giao thơng đường thuỷ khơng bảo đảm an
- Người có hành vi điều động hoặc giao cho người khơng có giấy phép hoặc bằng lái hoặc
không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông
đường thuỷ nhưng chưa gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức
khỏe, tài sản của người khác hoặc chưa bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc
chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội
“điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông
đường thuỷ” theo Điều 215 BLHS.
- Người có một trong các hành vi: đặt các chướng ngại vật cản trở giao thông đường không;
di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất, hoặc phá huỷ các biển hiệu, tín hiệu an tồn giao
thơng đường khơng; sử dụng sai hoặc làm nhiễu các tần số thông tin liên lạc; cung cấp thông tin
sai lạc gây nguy hiểm cho chuyến bay; làm hư hỏng trang thiết bị của sân bay hoặc trang thiết bị
phụ trợ khác hoăc có hành vi khác cản trở giao thơng đường khơng chưa gây thiệt hại cho tính
mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc chưa bị xử lý
kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án
nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “cản trở giao thơng đường khơng” theo Điều
217 BLHS.
- Người có hành vi cố ý phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho mạng
máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chưa
cấu thành tội “phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng
máy tính, mạng viễn thơng, mạng internet, thiết bị số” theo Điều 224 BLHS.
- Người cú hành vi cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn
thơng, mạng internet, thiết bị số chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành tội “cản trở
hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thơng, mạng internet, thiết bị số”
theo Điều 225 BLHS.
- Người có hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thơng, mạng internet những thơng tin
trái với quy định của pháp luật; mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc cơng khai
hóa những thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trên mạng máy tinh,
mạng viễn thông, mạng internet mà không được phép của chủ sở hữu thơng tin đó hoặc các hành
vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tinh, mạng viễn thông, mạng internet nhưng
chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành tội “đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên
mạng máy tính, mạng viễn thơng, mạng internet” theo Điều 226 BLHS.
- Người sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các
chất độc hại theo danh mục mà nhà nước quy định nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng,
hoặc chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này thì chưa cấu thành tội “vi phạm quy định về
sử dụng lao động trẻ em” theo Điều 228 BLHS.
- Người có hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt vũ khí thơ sơ hoặc công cụ hỗ trợ nhưng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc
chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành
tội “chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thơ sơ
hoặc cơng cụ hỗ trợ” theo Điều 233 BLHS.
- Người có một trong các hành vi: cho phép xây nhà, cơng trình hoặc tự ý xây nhà, cơng
trình trong phạm vi hành lang bảo vệ an tồn cơng trình điện; gây nổ, gây cháy, đốt rừng làm
nương rẫy, làm đổ cây ảnh hưởng đến an tồn vận hành cơng trình điện; đào hố, đóng cọc, xây
nhà lên hành lang bảo vệ đường cáp điện ngầm; thả neo tàu, thuyền trong hành lang bảo vệ
đường cáp điện ngầm đặt ở lịng sơng, lịng biển đã có thơng báo hoặc biển báo nhưng gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc chưa bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính về hành vi này thì chưa cấu
thành tội “vi phạm quy định về an tồn vận hành cơng trình điện” theo Điều 241 BLHS.
- Người có hành vi vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp
phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác, nhưng chưa gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây
thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người khác và chưa bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành
- Người thực hiện việc phá thai trái phép cho người khác nhưng chưa gây thiệt hại cho tính
mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người đó và chưa bị xử lý kỷ luật, xử
phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã
được xoá án tích thì chưa cấu thành tội “phá thai trái phép” theo Điều 243 BLHS.
- Người có hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và
chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án
nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “gây rối trật tự công cộng” theo Điều 245
BLHS.
- Người có hành vi dùng bói tốn, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác
nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc
chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành
tội “hành nghề mê tín, dị đoan” theo Điều 247 BLHS.
- Người có hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay
hiện vật có giá trị dưới 2 triệu đồng hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc
gá bạc, hoặc tuy đã bị kết án về các tội này nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội
“đánh bạc” theo Điều 248 BLHS.
- Người có hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc với quy mô chưa lớn hoặc chưa bị xử
phạt hành chính về hành vi này hoặc hành vi đánh bạc, hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ
chức đánh bạc hoặc gá bạc, hoặc tuy đã bị kết án về các tội này nhưng đã được xoá án tích thì
chưa cấu thành tội “tổ chức đánh bạc” theo Điều 249 BLHS.
- Người có hành vi làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ
- Người có hành vi khơng chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ
quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, nhưng chưa bị xử
phạt hành chính về hành vi này, hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án về các tội
này nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “trốn tránh nghĩa vụ quân sự” theo Điều
259 BLHS.
- Người có hành vi sửa chữa, làm sai lệch nội dung hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch
hoặc các loại giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức và sử dụng giấy tờ đó thực
hiện hành vi trái pháp luật nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và cũng chưa bị xử phạt
hành chính về hành vi này thì chưa cấu thành tội “sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các
tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Điều 266 BLHS.
- Người có hành vi chiếm dụng chỗ ở, xây dựng nhà trái phép, nhưng chưa bị xử phạt
hành chính về hành vi này, hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án về các tội này
nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “vi phạm các quy định về quản lý nhà ở”
theo Điều 270 BLHS.
- Người có hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn
hố, danh lam, thắng cảnh nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và chưa bị xử phạt hành
chính về hành vi này, hoặc chưa bị kết án về tội này, hoặc tuy đã bị kết án về các tội này
nhưng đã được xoá án tích thì chưa cấu thành tội “vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng
di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 272
BLHS.
- Người có hành vi vi phạm quy định về cư trú, đi lại hoặc các quy định khác về khu vực
biên giới, nhưng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này, hoặc chưa bị kết án về tội này,
hoặc tuy đã bị kết án về các tội này nhưng đã được xoá án tích thì chưa cấu thành tội “vi phạm
quy chế về khu vực biên giới” theo Điều 273 BLHS.
- Người có hành vi xuất cảnh, nhập cảnh trái phép hoặc ở lại nước ngoài, ở lại việt nam
trái phép, nhưng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này thì chưa cấu thành tội “xuất cảnh,
nhập cảnh trái phép; tội ở lại việt nam trái phép” theo Điều 274 BLHS.
- Người có có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà
mình có trách nhiệm quản lý có giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm
trọng, chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi này, chưa bị kết án về một trong các tội quy định tại
mục a chương xxi BLHS, hoặc tuy đã bị kết án về các tội này nhưng đã được xố án tích thì
chưa cấu thành tội “tham ơ tài sản” theo Đ278 BLHS.
- Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung
gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có
giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng, chưa bị xử lý kỷ luật về hành
vi này, chưa bị kết án về một trong các tội quy định tại mục a chương xxi BLHS, hoặc tuy đã
bị kết án về các tội này nhưng đã được xố án tích thì chưa cấu thành tội “nhận hối lộ” theo
điều 279 BLHS.
- Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung
gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào để
dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc
thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được
phép làm mà tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị dưới hai triệu đồng nhưng chưa
gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi này thì chưa cấu thành tội “lợi
dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi” theo điều 283 BLHS.
- Người vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được
giao nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành tội “thiếu trách nhiệm gây hậu
quả nghiêm trọng” theo điều 285 BLHS .
- Người vơ ý làm lộ bí mật cơng tác hoặc làm mất tài liệu bí mật cơng tác nhưng chưa gây
hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành tội “vơ ý làm lộ bí mật cơng tác; tội làm mất tài liệu bí
mật cơng tác” theo điều 287 BLHS.
- Người là cán bộ, công chức mà cố ý từ bỏ nhiệm vụ công tác nhưng chưa gây hậu quả
nghiêm trọng, thì chưa cấu thành tội “đào nhiệm” theo điều 288 BLHS.
- Người đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu
đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần thì chưa
cấu thành tội “đưa hối lộ” theo điều 289 BLHS.
- Người nào làm môi giới hối lộ mà của hối lộ có giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần thì chưa cấu thành tội “làm mơi giới hối lộ” theo điều
290 BLHS.
- Người có hành vi trực tiếp hoặc qua trung gian nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác
dưới bất kỳ hình thức nào để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn
làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ
hoặc làm một việc không được phép làm mà tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị
dưới 2 triệu đồng nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi
này thì chưa cấu thành tội “lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi”
theo điều 291 BLHS.
- Người có thẩm quyền mà cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết
định thi hành bản án, quyết định của toà án nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng hoặc chưa bị
xử lý kỷ luật về hành vi này thì chưa cấu thành tội “không thi hành án” theo điều 305 BLHS.
- Người có hành vi rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ nhưng chưa gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc trong thời bình và chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi này thì chưa cấu
thành tội “đào ngũ” theo điều 325 BLHS.
- Người có hành vi quấy nhiễu nhân dân nhưng chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc
chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành tội “quấy nhiều nhân dân” theo điều 338
BLHS.
khi xác định trường hợp chưa bị xử lý kỷ luật, chưa bị xử phạt hành chính chưa bị kết án
hoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xố án tích cần chú ý:
- Đối với người tuy đã bị xử lý kỷ luật nhưng đã được xố kỷ luật thì cũng được coi là chưa
bị xử lý kỷ luật.
- Đối với người tuy đã bị xử phạt hành chính nhưng theo quy định của pháp lệnh xử phạt
hành chính họ đã được coi là chưa bị xử phạt hành chính thì cũng coi là chưa chưa bị xử phạt
hành chính.
- Đối với trường hợp một người đã bị kết án nhưng đã được xố án tích theo quy định của
BLHS thì cũng không bị coi là đã bị kết án.
<b>Khẳng định đúng sai</b>
<b>1. Hình phạt là một trong những hình thức thực hiện TNHS?</b>
- Đúng. Hình thức của TNHS bao gồm hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích.
<b>2. Ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới là mục đích phịng ngừa chung của hình</b>
<b>phạt?</b>
- Sai. Mục đích phịng ngừa chung của hình phạt bao gồm giáo dục người khác tơn trọng PL
và nâng cao ý thức đấu tranh phịng chống tội phạm.
<b>3. Hình phạt quản chế và cấm cư trú chỉ được tun kèm theo hình phạt tù có thời</b>
<b>hạn?</b>
- Đúng. Vì đây là biện pháp nhằm giáo dục cải tạo người phạm tội sau khi chấp hành hình
phạt tù, nếu họ bị tun tù chung thân thì khơng thể ra ngồi(TA cũng khơng tiên liệu được khi
nào họ ra) hoặc nếu họ được miễn giảm và ra ngoài thì họ phải thật sự cải tạo tốt nên khơng cần
áp dụng biện pháp quản chế ,cấm cư trú đối với họ.
<b>4. Biện pháp tư pháp chỉ có thể áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội?</b>
- Sai. Có thể áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội do đó người không
phạm tội vẫn bị áp dụng K2 điều 41 và K1 điều 43.
<b>5. Biện pháp tư pháp có thể được áp dụng thay thế cho hình phạt?</b>
- Đúng. Đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng TA
có thể áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại xã phường thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng
thay thế cho hình phạt.
<b>6. Chấp hành bản án là chấp hành hình phạt?</b>
- Sai. Vì bản án có thể là hình phạt cũng có thể là biện pháp tư pháp hoặc quyết định trong
bản án là miễn hình phạt.
<b>7. Người được miễn TNHS là người khơng phạm tội?</b>
- Sai. Việc miễn TNHS là chính sách khoan hồng cho tội phạm nhưng vẫn đạt được mục
đích giáo dục cải tạo họ trong một số trường hợp cụ thể như tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm
<b>8. Miễn hình phạt là biện pháp khơng gây án tích cho người được áp dụng?</b>
- Sai. Người phạm tội bị kết án nhưng đáp ứng một số điều kiện miễn chấp hành hình phạt
được BLHS quy định nên được miễn hình phạt , người được áp dụng miễn hình phạt vẫn phải
chịu án tích và đương nhiên được xóa án tích theo khoản 1 điều 64.
<b>9. Án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn?</b>
- Sai. Án treo khơng phải là hình phạt mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt đối với
hình phạt tù có thời hạn.
<b>10. Án treo chỉ áp dụng cho tội ít nghiêm trọng ?</b>
- Sai. Án treo áp dụng cho mọi loại tội phạm mà người phạm tội bị TA kết án phạt tù không
quá 3 năm. K1Đ60
<b>11. Người đã được xóa án tích được coi là người chưa bị kết án?</b>
- Đúng. Định nghĩa xóa án tích là hoạt động xóa đi án tích cho người bị kết án và người
được xóa án coi như chưa bị kết án. Đ63
<b>12. Miễn TNHS là biện pháp khơng gây án tích cho người được áp dụng?</b>
- Đúng. Án tích là hậu quả pháp lý của việc bị kết án và án tích là một trong những hình
thức của TNHS do đó miễn TNHS đương nhiên khơng mang án tích.
<b>13. Người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 điều 194</b>
- Tội phạm quy định tại khoản 1 điều 194 là tội nghiêm trọng mức cao nhất của khung hình
phạt là 7 năm (khoản 3 điều 8)
- Tịch thu tài sản được áp dụng đối với tội nghiêm trọng . Điều 40
- Khoản 5 điều 194 cho phép tịch thu một phần hoặc tồn bộ tài sản.
=> Đúng
<b>14. Có thể áp dụng mức phạt 8 năm tù đối với người 17 tuổi phạm tội cướp tài sản</b>
<b>theo quy định tại khoản 1 điều 133 ?</b>
- Tội phạm tại khoản 1 điều 133 là tội rất nghiêm trọng mức cao nhất của khung hình phạt
là 10 năm
- Khoản 1 điều 74 quy định tù có thời hạn đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 mức phạt
cao nhất được áp dụng khơng q ¾ mức phạt mà điều luật quy định. 10x3/4 = 7 năm 6 tháng.
=> Sai
<b>15. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo bị đưa ra xét xử một tội</b>
<b>phạm khác thì phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên trong bản án cho hưởng án treo.</b>