Tải bản đầy đủ (.pdf) (167 trang)

Đảng bộ huyện cần giờ lãnh đạo lãnh đạo phát triển văn hóa, xã hội (1991 2010)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (9.73 MB, 167 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HÀ

ĐẢNG BỘ HUYỆN CẦN GIỜ LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, XÃ HỘI
(1991 – 2010)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

TP. Hồ Chí Minh – 2011


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HÀ

ĐẢNG BỘ HUYỆN CẦN GIỜ LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, XÃ HỘI
(1991 – 2010)

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.56

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐINH HUY LIÊM

TP. Hồ Chí Minh – 2011




LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tác giả. Tư liệu,
số liệu sử dụng trong luận văn trung thực và có nguồn gốc.

TP. Hồ Chí Minh ngày 26 tháng 05 năm 2011
Ký tên

Nguyễn Thị Hà


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1. Lý do lựa chọn đề tài .................................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ........................................................................ 3
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài .................................................................... 5
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .................................................. 5
5. Đóng góp mới của đề tài............................................................................. 6
6. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 6
7. Kết cấu của đề tài ....................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HUYỆN CẦN GIỜ VÀ TÌNH HÌNH
LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HÓA,
XÃ HỘI CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN CẦN GIỜ (1991 – 2010) .................... 7
1.1. Đặc điểm địa lý, dân cư ........................................................................... 7
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển............................................................. 11
1.3. Điều kiện phát triển kinh tế ................................................................... 18
1.4. Tình hình văn hóa, xã hội tại Cần Giờ trước năm 1991.......................... 22

1.5. Chủ trương của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đối với phát triển văn
hóa, xã hội .................................................................................................... 28
CHƯƠNG 2: Q TRÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HĨA, XÃ
HỘI CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN CẦN GIỜ (1991 – 2010) ......................... 35
2.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng bộ huyện Cần Giờ về văn hóa, xã hội
(1991 – 2010) ............................................................................................... 35
2.1.1. Giai đoạn 1991 – 1996 ................................................................... 35
2.1.2. Giai đoạn 1996 – 2000 ................................................................... 38
2.1.3. Giai đoạn 2000 – 2005 ................................................................... 43
2.1.4. Giai đoạn 2005 – 2010 ................................................................... 47


2.2. Quá trình tổ chức thực hiện phát triển văn hóa, xã hội của Đảng bộ huyện
Cần Giờ (1991 – 2010) ................................................................................. 50
2.2.1. Về văn hóa ..................................................................................... 50
2.2.2. Về xã hội ....................................................................................... 74
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ
NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN CẦN
GIỜ VỀ VĂN HÓA, XÃ HỘI GIAI ĐOẠN TỚI ..................................... 97
3.1. Nhận xét chung về thành tựu, hạn chế ................................................... 97
3.1.1. Về thành tựu .................................................................................. 97
3.1.2. Về hạn chế ................................................................................... 103
3.2. Giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cần Giờ nhằm phát
triển văn hóa, xã hội ................................................................................... 108
3.2.1. Nhóm giải pháp cơ bản chiến lược ............................................... 108
3.2.2. Nhóm giải pháp cấp bách trước mắt ............................................. 114
3.3. Kiến nghị ............................................................................................. 115
3.3.1. Kiến nghị với Trung ương, Thành phố ......................................... 116
3.3.2. Kiến nghị với UBND huyện Cần Giờ .......................................... 119
KẾT LUẬN ............................................................................................... 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 126
PHỤ LỤC.................................................................................................. 136
Phụ lục 1: Bản đồ huyện Cần Giờ .............................................................. 137
Phụ lục 2: Một số hình ảnh về huyện Cần Giờ ........................................... 140
Phụ lục 3: Quy hoạch chung huyện Cần Giờ .............................................. 157


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PCGDTH:

PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC

XMC:

XÓA MÙ CHỮ

THCS:

TRUNG HOC CƠ SỞ

THPT:

TRUNG HỌC PHỔ THƠNG

XĐGN:

XĨA ĐĨI GIẢM NGHÈO

VHTT – TDTT:


VĂN HĨA THƠNG TIN – THỂ DỤC THỂ THAO

LĐ – TBXH:

LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH XÃ HỘI

MTTQ:

MẶT TRẬN TỔ QUỐC

UBND:

ỦY BAN NHÂN DÂN

KTGĐ:

KINH TẾ GIA ĐÌNH


1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI (1986) của Đảng khởi xướng, nước ta thốt khỏi sự khủng hoảng, khó
khăn, kinh tế - xã hội phát triển, an ninh quốc phòng được giữ vững, vị thế
của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Trong xu thế
phát triển chung ấy, huyện Duyên Hải (nay là huyện Cần Giờ) được cả nước

biết đến với những thành tựu khả quan của sự nghiệp đổi mới, từ một vùng
đất nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu đã trở thành khu dữ trữ sinh quyển của
thế giới.
Những thành tựu mà huyện Cần Giờ đạt được trong thời gian qua góp
phần khẳng định đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, mà trực tiếp là của
một Đảng bộ có truyền thống đồn kết, thống nhất đã chủ động suy nghĩ, tìm
tịi và biết vận dụng một cách sáng tạo đường lối đổi mới vào điều kiện địa
phương, biết kế thừa và phát huy những thành quả của thế hệ đi trước.
Sự phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn hóa, xã hội là một xu
thế tất yếu trong lịch sử. Sự phát triển văn hóa, xã hội là động lực thúc đẩy
kinh tế phát triển và ngược lại, phát triển kinh tế nhằm giải quyết tốt các vấn
đề văn hóa, xã hội. Trước đây, có quan điểm cho rằng: chỉ cần tăng trưởng
kinh tế với việc sử dụng cơ chế kinh tế thị trường cùng với việc phát triển, sử
dụng khoa học công nghệ cao là có sự phát triển. Sau một thời gian thực hiện
kết quả cho thấy, một số quốc gia đạt được một số mục tiêu về tăng trưởng
kinh tế nhưng đã vấp phải sự xung đột gay gắt trong xã hội, sự suy thối về
đạo đức, văn hóa ngày càng tăng. Từ đó, kéo theo kinh tế phát triển chậm lại,
mất ổn định xã hội tăng lên và cuối cùng là sự phá sản của các kế hoạch phát
triển kinh tế, đất nước rơi vào tình trạng suy thối, khơng phát triển được.


2

Ở nước ta nói chung, huyện Cần Giờ nói riêng, thực hiện chủ trương
của Đảng đã triển khai mơ hình: tăng trưởng kinh tế, cùng với việc phát triển
tài nguyên con người, bảo vệ mơi trường sinh thái. Mơ hình này, tuy tăng
trưởng kinh tế không nhanh, nhưng lại bền vững, xã hội ổn định.
Hiện nay, kinh tế của huyện Cần Giờ tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực
nông nghiệp và công nghiệp nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng của Cần Giờ.

Kinh tế trên địa bàn huyện Cần Giờ phát triển kéo theo sự phát triển
của văn hóa, xã hội. Văn hóa, xã hội ở Cần Giờ đã có những chuyển biến
đáng kể: nhân dân trong huyện được sống trong mơi trường văn hóa lành
mạnh, trình độ học vấn của dân cư tăng, các hoạt động thể thao, thông tin đại
chúng ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện…
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn tồn tại những hạn chế: đời
sống nhân dân, nhất là công nhân, viên chức cịn gặp nhiều khó khăn, người
lao động chưa có hoặc chưa đủ việc làm. Nhiều nhu cầu tối thiểu về đời sống
vật chất, tinh thần chưa được đảm bảo, nông thôn thiếu hàng tiêu dùng, điều
kiện vệ sinh, sinh hoạt văn hóa nghèo nàn… Để giải quyết những hạn chế trên
cần tìm ra nguyên nhân, đề ra những giải pháp để khắc phục, đảm bảo cho đời
sống văn hóa, vật chất của nhân dân huyện Cần Giờ ngày một tiến bộ.
Từ thực trạng của văn hóa, xã hội tại Cần Giờ, việc nghiên cứu sự phát
triển văn hóa, xã hội của huyện Cần Giờ dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, nhằm lý giải những thành tựu cũng
như những hạn chế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, từ đó tìm ra ngun nhân
của những thành tựu, yếu kém, đồng thời đề ra phương hướng để phát huy
những thành tựu và khắc phục những yếu kém của địa phương trong phát
triển văn hóa, xã hội giai đoạn tới. Đó cũng là lý do, tác giả chọn đề tài “Đảng
bộ huyện Cần Giờ lãnh đạo phát triển văn hóa, xã hội (1991 – 2010)” làm đề


3

tài Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cùng với kinh tế, văn hóa, xã hội là một lĩnh vực rất quan trọng trong
đời sống tinh thần của con người. Vì thế, đã có nhiều cơng trình khoa học
nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về kinh tế, văn hóa, xã hội như: “Cải

cách về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở Nhật Bản những năm 1945 –
1955”, Luận án Tiến sĩ Khoa học Lịch sử của tác giả Hoàng Thị Minh Hoa,
năm 1996; “Những thay đổi về văn hóa, xã hội trong quá trình chuyển sang
nền kinh tế thị trường ở một số nước Châu Á, tổng hợp của nhiều tác giả, xuất
bản năm 1998; “Những chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre từ năm 1986
– 2002, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử của tác giả Nguyễn Hữu Hậu,
năm 2004; “Quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận (1991 –
2002)”, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Lịch sử của tác giả Đặng Thị Kim Oanh,
năm 2004; “Những chuyển biến kinh tế - xã hội ở nơng thơn huyện Củ Chi
(thành phố Hồ Chí Minh) thời kỳ 1975 – 1996”, Luận văn Thạc sĩ Khoa học
Lịch sử của tác giả Đặng Thị Kim Liêng, năm 2005; “Những chuyển biến kinh
tế - xã hội ở tỉnh Bình Dương từ năm 1945 đến năm 2005”, Luận án Tiến sĩ
Lịch sử của tác giả Nguyễn Văn Hiệp, năm 2007; “Những chuyển biến kinh tế
- xã hội ở nông thôn Vĩnh Long thời kỳ đổi mới (1986 – 2005)”, Luận án Tiến
sĩ Lịch sử của tác giả Nguyễn Bách Khoa, năm 2009; “Tổng quan kinh tế - xã
hội Việt Nam 2006 – 2010” của Nguyễn Tiến Dy và nhiều tác giả khác, xuất
bản năm 2009.
Ngồi các cơng trình nghiên cứu về kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung,
cịn có các cơng trình nghiên cứu về địa bàn huyện Cần Giờ nói riêng như:
“Truyền thống cách mạng của nhân dân huyện Duyên Hải của Ban Tuyên
giáo huyện Duyên Hải”, xuất bản năm 1986; “Mảnh đất Duyện Hải – Cần


4

Giờ” của Trần Chút và nhóm sinh viên khoa văn trường Đại học Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh, biên soạn năm 1985; “Tổng kết 10 năm xây dựng
huyện Duyện Hải (từ 1975 – 1985)” của Giáo sư Mạc Đường và nhóm cán bộ
Khoa học Lịch sử thuộc viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, xuất
bản năm 1987; “Đồn 10 rừng Sác anh hùng” của phịng khoa học quân sự,

xuất bản năm 1986; “Sơ khảo huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh” của
Trần Bạch Đằng và Dương Minh Hồ (chủ biên), xuất bản năm 1993; “Lịch sử
truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Cần Giờ
(1930 – 1975)” của huyện ủy Cần Giờ, xuất bản năm 2003; “Lịch sử Đảng bộ
huyện Cần Giờ (1975 – 2000)” của huyện ủy Cần Giờ, xuất bản năm 2005;
“Lịch sử phát triển xã hội huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh trong thời
kỳ đầu đổi mới (1986 – 2000)”, Luận án Tiến sĩ của Hoàng Văn Lễ, năm 2006;
“Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ” của Lê Đức Tuấn và nhiều
tác giả khác, xuất bản năm 2002; “Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch
sinh thái ở huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ,
chuyên ngành bảo vệ hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên của tác giả
Nguyễn Văn Thanh, năm 2004; “Nghiên cứu sinh thái nhân văn khu dự trữ
sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh”, Luận án Tiến
sĩ Địa lý của tác giả Lê Đức Tuấn, năm 2006; “Đảng bộ huyện Cần Giờ lãnh
đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1996 – 2009”, Luận văn Thạc sĩ
Khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của tác
giả Phùng Thế Anh, năm 2010.
Các cơng trình nghiên cứu nói trên đã cho chúng ta một cái nhìn tổng
thể về kinh tế, văn hóa, xã hội của từng khu vực, địa phương cụ thể; về truyền
thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Cần Giờ trong
từng giai đoạn lịch sử; phác họa được bức tranh kinh tế, xã hội, môi trường
Cần Giờ. Tuy nhiên, những cơng trình nghiên cứu này chưa đi sâu vào lĩnh


5

vực phát triển văn hóa, xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cần Giờ.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các cơng trình đi trước, tác giải thực hiện đề
tài: “Đảng bộ huyện Cần Giờ lãnh đạo phát triển văn hóa, xã hội (1991 –
2010)”.

3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài: Góp phần tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện
Cần Giờ trên lĩnh vực phát triển văn hóa, xã hội (1991 – 2010). Từ đó, lý giải
những thành tựu, hạn chế; nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế; đồng
thời đề ra phương hướng để phát triển văn hóa, xã hội trong giai đoạn tới.
Nhiệm vụ của đề tài:
Khái quát về huyện Cần Giờ và tình hình liên quan đến q trình lãnh
đạo phát triển văn hóa, xã hội của Đảng bộ huyện Cần Giờ (1991 – 2010)
Làm rõ, q trình lãnh đạo phát triển văn hóa, xã hội của Đảng bộ
huyện Cần Giờ (1991 – 2010)
Nhận xét chung và nêu giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng bộ huyện Cần Giờ trong lĩnh vực văn hóa, xã hội giai đoạn tới
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng, phát triển văn hóa, xã hội trong thời kỳ cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Phương pháp chung được sử dụng trong luận văn là phương pháp biện
chứng duy vật. Các phương pháp chuyên ngành được sử dụng gồm: phương
pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương pháp khảo sát
thực địa…


6

5. Đóng góp mới của đề tài
Phản ảnh q trình phát triển văn hóa, xã hội tại huyện Cần Giờ dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ huyện giai đoạn (1991 – 2010). Trong đó, Luận văn
làm rõ những thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân.

Từ đó, rút ra nhận xét chung và nêu một số giải pháp, kiến nghị góp
phần phát triển văn hóa, xã hội Cần Giờ trong giai đoạn tiếp theo.
6. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa lý luận:
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về xây dựng, phát triển văn hóa, xã hội trong thời kỳ cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn cung cấp thêm cơ sở khoa học cho quá trình lãnh đạo, quản lý
văn hóa, xã hội của tổ chức Đảng, chính quyền huyện Cần Giờ.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho cơ quan Đảng, Nhà nước
trong việc hoạch định đường lối, chính sách xây dựng, phát triển văn hóa, xã
hội, nhất là đối với vùng nông thôn ngoại thành như Cần Giờ.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề
tài có 3 chương, 10 mục và 10 tiểu mục
Chương 1: Tổng quan về huyện Cần Giờ và tình hình liên quan đến quá
trình lãnh đạo phát triển văn hóa, xã hội của Đảng bộ huyện Cần Giờ (1991 –
2010)
Chương 2: Q trình lãnh đạo phát triển văn hóa, xã hội của Đảng bộ
huyện Cần Giờ (1991 – 2010)
Chương 3: Nhận xét chung và giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cần Giờ về văn hóa, xã hội giai đoạn tới


7

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ HUYỆN CẦN GIỜ VÀ TÌNH HÌNH LIÊN QUAN
ĐẾN Q TRÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN VĂN HĨA, XÃ HỘI

CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN CẦN GIỜ (1991 – 2010)
1.1. Đặc điểm địa lý, dân cư
Địa lý
Huyện Cần Giờ nằm ở phía Đơng Nam của thành phố Hồ Chí Minh,
cách trung tâm thành phố khoảng 50 km đường bộ. Phía Bắc có sơng Sồi
Rạp ngăn cách với huyện Nhà Bè, phía Nam giáp biển Đơng, phía Tây có
ranh giới là sơng Sồi Rạp ngăn cách với huyện Cần Đước của tỉnh Long An
và huyện Gị Cơng Đơng của tỉnh Tiền Giang, Phía Đơng Nam tiếp giáp với
huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ranh giới là sông Thị Vải. Huyện
Cần Giờ có diện tích tự nhiên là 70.421 ha1, chia theo đơn vị hành chính gồm
1 thị trấn (Cần Thạnh) và 6 xã (Long Hòa, Thạnh An, Tam Thơn Hiệp, Bình
Khánh, An Thới Đơng, Lý Nhơn).
Cần Giờ nằm trong tọa độ địa lý từ 106 046’12’’ đến 107000’50’’ kinh
độ Đông và từ 10022’14’’ đến 10040’00’’ vĩ độ Bắc [4, tr.15].
Cần Giờ được bao bọc xung quanh là sông và biển, có hệ thống sơng
ngịi chằng chịt, đây là điều kiện để xây dựng các hải cảng nước sâu, tiếp
nhận tàu bè có trọng tải lớn. Do vậy, địa bàn Cần Giờ có vị trí quan trọng
trong phát triển kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, hiện nay các
cảng biển ở Cần Giờ vẫn chưa khai thác hết tiềm năng.
Song song với kinh tế, huyện Cần Giờ có ý nghĩa rất quan trọng về mặt
quân sự. Ở vị trí phía Đơng Nam của thành phố, Cần Giờ là cửa ngõ của
thành phố Hồ Chí Minh đi ra biển Đơng. Cần Giờ là địa phương phải kiểm
sốt đầu tiên khi tiến vào thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đây đã diễn ra trận
1

Trong Bản Quy hoạch chung huyện Cần Giờ ghi là 71.361 ha.


8


đánh giữa một bên là Nguyễn Ánh với sự hỗ trợ của chiến thuyền Bồ Đào
Nha và quân Tây Sơn vào năm 1782, nơi tàu chiến Pháp đầu tiên vào xâm
chiếm Nam Bộ, là tuyến đầu chống thực dân Pháp đầu tiên tiến vào Gia Định.
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Cần Giờ là địa bàn chiến
lược quan trọng nên đặc biệt được chú trọng. Quân và dân ta kiên quyết
chống trả lại địch. Những chiến công trên sơng Lịng Tàu trong thời kỳ kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ của quân và dân Cần Giờ gắn liền với chiến
khu Rừng Sác đã khẳng định điều đó.
Với vị trí địa lý như vậy, Cần Giờ có vai trị rất quan trọng trong phát
triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc phòng của cả vùng đất Nam Bộ.
Điều kiện tự nhiên
Về đất đai: Diện tích tự nhiên của Cần Giờ là 70.421 ha, chiếm 1/3 diện
tích đất tồn thành phố. Trong đó, đất lâm nghiệp là 32.109 ha, bằng 46,45%
diện tích đất tồn huyện; đất sơng rạch là 22.850 ha, bằng 32% diện tích đất
tồn huyện; diện tích đất trồng lúa, cây ăn quả, cây cói và làm muối trên
5.000 ha; diện tích ngập mặn chiếm 56,7% diện tích tồn huyện, tạo nên hệ
sinh thái rừng ngập mặn độc đáo, trong đó chủ yếu là cây đước, cây bần, mắm
[4, tr.16].
Về khí hậu: Cần Giờ nằm trong vùng khí hậu cận xích đạo với hai mùa
nắng, mưa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa
khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình
là 25 – 29 0C, số giờ nắng thấp nhất vào tháng 9 khoảng 169 giờ và cao nhất
khoảng 176 giờ vào tháng 3, lượng bức xạ trung bình 10,14 kcal/cm2/tháng,
độ ẩm giao động từ 74 – 83%, lượng mưa thấp nhất trung bình 150
mm/tháng/95 ngày mưa/năm [63, tr.10]. Điều kiện khí hậu tạo cho Cần Giờ
phát triển cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học.


9


Về thủy văn, sơng ngịi: Huyện Cần Giờ có mạng lưới sơng ngịi dày
đặc, hai hệ thống sơng chính là Lịng Tàu và Sồi Rạp chi phối tồn bộ thủy
văn của hầu hết kênh rạch khác. Ngồi ra, cịn có các con sơng khác như: Thị
Vải, Gị Gia, Cái Mép… Hệ thống sơng ngịi chằng chịt là huyết mạch giao
thống chính của Cần Giờ, sơng Lịng Tàu là đường giao thơng thủy chính, cho
phép các tàu biển có vận tải lớn ra vào cảng Sài Gịn. Tổng diện tích mặt nước
của huyện gần 23.000 ha, chiếm 32% diện tích đất tự nhiên, đây là thế mạnh
cho huyện trong phát triển giao thông đường thủy, du lịch, nuôi trồng thủy
sản.
Chế độ thủy triều: Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm trong vùng chế độ bán
nhật triều, với mật độ dòng chảy cao từ 7 – 10 km/km2, biên độ triều khá lớn
0,6 – 1m [63, tr.1-3]. Biên độ triều lớn nhất vào tháng 9 đến tháng giêng năm
sau, thấp nhất vào tháng 4, tháng 5; vào những ngày cuối tháng và đầu tháng
tính theo âm lịch và những ngày giữa tháng nước lên cao, lúc này hầu như
toàn bộ rừng bị ngập mặn.
Độ mặn: Là địa phương duy nhất tiếp giáp với biển Đông nên độ mặn
ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong huyện. Độ mặn thay
đổi theo quy luật, độ mặn lớn nhất khi triều cường và nhỏ nhất khi triều kém.
Diễn biến ngập mặn phụ thuộc vào sự kết hợp giữa thủy triều ở biển Đơng và
lưu lượng nước ở thượng nguồn sơng Sài Gịn và sông Đồng Nai. Vào tháng 4,
nước biển chiếm ưu thế hơn trong mối tương tác sông – biển, nước mặn xâm
nhập sâu hơn vào vùng đất liền. Do đó, độ mặn của nước trong rừng được
nâng cao. Ngược lại, vào thời gian từ tháng 9 đến tháng 10, khi các sơng giữ
vai trị ưu thế trong lực tương tác sơng – biển, từ đó, nước ngọt từ sơng đẩy
lùi nước mặn ra biển làm hạ bớt độ mặn của nước trong khu vực [47, tr.42].
Nắm được quy luật và sự biến thiên của mực nước mặn, Đảng bộ Cần Giờ đã
cho quy hoạch vùng ngập mặn để có chiến lược phát triển kinh tế đúng hướng.


10


Trong khu vực có độ mặn thấp khoảng 4%, nằm ở phía Bắc Cần Giờ được
trồng lúa, vùng ven biển có độ mặn lớn hơn thích hợp cho trồng rừng phịng
hộ. Diện tích đất đai ở Cần Giờ nhiễm mặn lớn không thuận lợi cho trồng lúa
nước, tuy nhiên lại thuận lợi cho nghề làm muối, cho nuôi trồng thủy hải sản
và cho việc trồng các loại cây như: đước, vẹt, bần, mắm… phát triển, tạo bình
phong vững chắc cho khu vực rừng phịng hộ ven biển.
Về khống sản: Khống sản ở Cần Giờ rất nghèo nàn, có khoảng 210
ha than bùn, chất lượng kém, chủ yếu dùng làm phân bón. Ở sơng Lịng Tàu
và Nhà Bè có khối lượng cát mịn lớn nhưng chất lượng kém, phải xử lý rửa
mặn trước khi đưa vào sử dụng.
Về địa hình: Cần Giờ là địa phương được bao bọc bởi hệ thống sơng
ngịi chằng chịt nên về địa hình, Cần Giờ là vùng đầm lầy hình lịng chảo, cao
bình qn 0,6 – 0,7 m (cao nhất là 10 m ở Giồng Chùa xã Thạnh An, nơi thấp
nhất là 0,5 m so với mực nước biển) [63, tr.1-3]. Vùng đầm lầy có thể chia
thành 5 dạng là: không ngập, ngập theo chu kỳ nhiều năm, ngập theo chu kỳ
năm, ngập theo chu kỳ tháng và ngập theo chu kỳ ngày.
Với điều kiện tự nhiên như trên, Cần Giờ là địa phương duy nhất ở
thành phố Hồ Chí Minh tiếp giáp với biển Đơng nên có nhiều tiềm năng và
triển vọng trong việc phát triển các ngành kinh tế biển, nuôi trồng thủy hải sản,
phát triển du lịch sinh thái trong định hướng bảo vệ môi trường để Cần Giờ
mãi là lá phổi xanh của thành phố.
Dân cư
Theo số liệu thống kê, dân số Cần Giờ tăng từ 59.810 người năm 2000
lên 66.310 người năm 2005 và 70.456 người năm 2010. Mật độ dân số cũng
tăng từ 85,63 người/km2 năm 2000 lên 94,95 người/km2 năm 2005 và 110
người/km2 năm 2010. Mật độ dân số cao tập trung ở thị trấn Cần Thạnh
(472,03 người/km2) và xã Bình Khánh (420,12 người/km2, xã có mật độ dân



11

số thấp nhất là Thạnh An (thấp hơn mật độ dân số toàn huyện là 35,17
người/km2) [96, tr.1].
Thành phần dân tộc chủ yếu là dân tộc Kinh, chiếm hơn 90% dân số
tồn huyện. Ngồi dân tộc Kinh cịn có dân tộc Hoa, Chăm, Khmer. Dân số
trong độ tuổi lao động của huyện vào năm 2010 có hơn 40.000 người, chiếm
hơn 50% tổng số dân của toàn huyện.
So với mật độ dân số của thành phố Hồ Chí Minh, Cần Giờ là địa
phương có mật độ dân số thấp và sự phân bố dân cư khơng đồng đều. Hiện
nay, có một bộ phận dân cư đang sống ở vùng trũng, ven sơng, ven biển có
nguy cơ sạt lở nghiêm trọng. Huyện Cần Giờ cần đẩy mạnh công tác di dời
dân cư đến những nơi an tồn, có những chính sách dãn dân hợp lý, tránh tình
trạng chênh lệch quá lớn về sự phân bố dân cư.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển
Tên gọi Cần Giờ
Có nhiều cách hiểu khác nhau về tên gọi Cần Giờ:
Thứ nhất, theo dân gian truyền miệng: Năm xưa chúa Nguyễn trên
đường bơn tẩu vì bị quân Tây Sơn đánh đuổi đã đến vùng đất Cần Giờ ngày
nay. Lúc bấy giờ, dân chài lưới ở đây chỉ nhắm giờ theo hai chòm sao Nam
Tào, Bắc Đẩu để ra khơi, trong khi đó ơng lại cần có những khoảng thời gian
chính xác để hẹn quân đội hội họp. Ông đã tạo ra chiếc đồng hồ cho mỗi
tướng lĩnh của mình bằng cách dùng những lu đựng nước cùng kích cỡ có đục
lỗ thốt nước với đường kính như nhau, trên có gắn một cái cần có treo cây
thước đã vạch sẵn những múi giờ rồi canh theo mực nước hạ xuống, lấy mốc
thời gian hội họp. Sau khi giành lại được quyền bính, Ơng đã đặt tên cho vùng
đất này là Cần Giờ.
Thứ hai, về mặt khoa học: Nhiều nhà khoa học đã chứng minh, nguồn
gốc tên gọi Cần Giờ bắt nguồn từ tiếng Khmer.



12

Trong cuốn “Tự vị tiếng Việt miền Nam” của nhà nghiên cứu Vương
Hồng Sển, địa danh Cần Giờ được đề cập đến như sau:
Theo tiếng Cơ me (tức tiếng Khmer), Quyển Le Cisbassac của L
Malleret chép lại di cảo của Trương Vĩnh Ký có ghi hai chỗ:
trang 191: Păm prêk chơn cần chơ, cần chơ là chưn đèn và
tr.196: Pấm phnăn kancơ, phnăn đọc phnor là giồng cát, ở Sóc
Trăng cũng có Phnor Cần Chơ, xưa dịch là “Giồng Cần Giờ”.
Xét ra năm 1875, Trương Vĩnh Ký có hứa trong quyển P C G B
C rồi không đăng mớ di cảo về địa danh Miên, cũng vì lúc đó
ơng điều chỉnh chưa kịp đến 1933, L Malleret lục thấy, bèn in
vào sách Le Cisbassac của ông [52, tr.102].
Trong quyển “Từ điển địa danh thành phố Sài Gịn – Hồ Chí Minh” của
tác giả Lê Trung Hoa nêu lên địa danh Cần Giờ xuất phát từ tiếng Khmer, bắt
nguồn từ chữ Kanchoeu, trong quá trình cộng cư mà đọc thành Cần Giờ như
ngày nay, chữ Kanchoeu có nghĩa là cái thúng [37, tr.98].
Tên gọi Cần Giờ xuất phát từ tiếng Khmer là có cơ sở khoa học. Tài
liệu của Trương Vĩnh Ký và Lê Trung Hoa chỉ khác nhau ở cách phiên âm:
Păm pêk chơn cần chơ và kanchoeu.
Lịch sử hình thành và phát triển
Từ xa xưa, Cần Giờ đã có con người sinh sống. Những di chỉ khảo cổ
học phát hiện tại Giồng Cá Vồ vào năm 1997 đã chứng minh điều đó. Những
di cốt khai quật tại Cần Giờ cho thấy niên đại của những mộ chum vào
khoảng 3000 – 3500 năm trước.
Từ thế kỷ VI đến thể kỷ VII, khi Phù Nam bị Chân Lạp xâm chiếm thì
đất Đồng Nai là đất tranh chấp giữa hai vương quốc. Tuy nhiên, Phù Nam và
Chân Lạp không ai làm chủ được lâu dài, cũng không ai đủ sức phá rừng làm
rẫy, mặc dù, vẫn tồn tại những thủ quốc chịu ảnh hưởng của văn minh Chăm



13

lẫn Khmer. Trước khi cư dân Việt vào đây, cư dân Khmer đã sống trên các
giồng cao, vùng đồi núi nhưng với số lượng dân cư ít, trình độ kỹ thuật thấp
kém, kết quả khai phá khơng đáng kể. Vì thế, Cần Giờ nói riêng, Sài Gịn –
Gia Định nói chung hầu như là đất hoang, đầm lầy, rừng rậm chưa được khai
phá.
Sự hoang hóa của Cần Giờ được phản ánh trong tác phẩm “Châu Lạp
Phong Thổ Ký” của Châu Đạt Quan, viên sứ bộ của Trung Quốc sang thăm
kinh đô Angkor vào năm 1296, khi đi qua cửa biển Cần Giờ đã miêu tả như
sau:
Đoạn từ Chân Bồ theo hướng khôn thân (tây nam – 1/6 nam,
chúng tôi đi ngang biển Côn Lôn (K’ouen Louen, Poulo Condor)
và vào cửa sơng. Sơng này có hàng chục ngả, nhưng ta chỉ có
thể vào được ngả thứ tư1 , các ngả khác có nhiều thuyền lớn
khơng đi được. Nhìn lên bờ, chúng tơi thấy tồn là cây cao vút,
cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thống qua khơng dễ gì biết được
lối vào, thế nên các thủy thủ cho rằng rất khó mà tìm đúng cửa
sơng [51, tr.23].
Điều này, một lần nữa được Lê Quý Đôn phản ánh trong tác phẩm
“Phủ Biên Tạp Lục”: “Đất Đồng Nai thuộc phủ Gia Định, từ các cửa biển lớn
và nhỏ cửa Cần Giờ, cửa Soài Rạp đi vào (tức địa bàn Cần Giờ ngày nay),
toàn là những đám rừng hoang vu cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn
nghìn dặm” [10, tr.79].
Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, do chiến tranh Trịnh – Nguyễn nên
vùng đất Đàng Ngồi ln xảy ra chiến tranh. Một bộ phận không nhỏ người
1


Chân Bồ là ngôi làng đáng cá ở chân núi Vũng Tàu. Từ núi Vũng Tàu vào tới mũi Cà Mau, bờ biển rất thấp
có tới mười cửa sơng. Tính từ Chân Bồ đến cửa thứ tư, chúng ta có: Cửa Cần Giờ, cửa Sồi Rạp, cửa Tiểu,
cửa Đại. Cửa Cần Giờ là cửa sông Sài Gịn, cửa Sồi Rạp là cửa sơng Đồng Nai. Cửa Tiểu và cửa Đại mới là
2 trong nhiều cửa sơng Cửu Long. Cửa Tiểu có nhiều bãi cát nổi ở giữa dịng sơng, thuyền bè khó qua lại.
Cửa Đại (tức là cửa thứ tư) là cửa tốt nhất để Châu Đạt Quan có thể đi qua Mỹ Tho, lên Nam Vang và tới
Biển Hồ.


14

Việt, trong đó chủ yếu là nơng dân phiêu tán, thợ thủ công dưới sự áp bức của
giai cấp địa chủ, phong kiến, phải bỏ quê hương, xóm làng vào vùng đất mới
khẩn hoang, lập nghiệp. Khi vào vùng đất mới, họ khơng phải chịu sự kiểm
sốt của chính quyền phong kiến nhưng họ phải đối mặt với muôn vàn khó
khăn, đó là đầm lầy, là thú dữ.
Tuy nhiên, bằng truyền thống cần cù lao động, tinh thần dám nghĩ, dám
làm, bằng ý chí và lịng dũng cảm, những người Việt đã khơng ngừng khai
hoang, mở đất, lập làng xóm, phố chợ, hình thành khu dân cư đơng đúc Đồng
Nai – Bến Nghé trong đó có Cần Giờ.
Năm 1698, khi chúa Nguyễn sai Thống Suất Chương cơ Lê Thành Hầu
Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, vùng đất này thuộc phủ Gia Định,
dinh Phiên Trấn, huyện Tân Bình. Năm 1779, địa bàn Cần Giờ thuộc tổng
Bình Dương, huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn, phủ Gia Định1. Năm 1802,
Cần Giờ thuộc tổng Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An, thành Gia
Định2 (chưa xác định rõ thuộc tổng nào). Theo Trịnh Hồi Đức trong “Gia
Định Thành Thơng Chí”, vào năm 1819, Cần Giờ thuộc tổng Dương Hòa3.
Năm 1832 – 1862, Cần Giờ thuộc tỉnh Gia Định, phủ Tân Bình, tổng
Bình Trị Thượng4.
Từ năm 1871 – 1874, huyện Cần Giờ nằm trong hạt Sài Gòn. Từ năm
1874 – 1875, hạt Sài Gòn đổi tên là hạt Bình Hịa. Từ năm 1885 – 1889 lại

đổi tên thành hạt Gia Định. Năm 1889, hạt Sài Gòn đổi thành tỉnh Gia Định.
Địa bàn Cần Giờ trong giai đoạn này nằm trong hạt Sài Gòn rồi tỉnh Gia Định
1

Tồn miền Nam khi ấy có một phủ Gia Định.
Năm 1802, cải cách phủ Gia Định thành trấn Gia Định.
3
Tổng Dương Hịa có 74 xã, thơn, phường, ấp, phía Đơng giáp biển, phía Tây giáp Cao Miên, phía Bắc giáp
sơng cái Phước Bình (sơng Lịng Tàu), từ cửa cảng Cần Giờ ngược qua ngã ba Nhà Bè đến sơng Phước
Thành. Trong số 74 tên làng của tổng có 3 tên nay thuộc địa bàn Cần Giờ: Cần Giờ An Thạnh Thơn, Đồng
Tranh Tân Hịa Thơn, Long Thạnh Thơn.
4
Năm 1832, Minh Mệnh bãi chức tổng trấn, bỏ cấp hành chính Gia Định Thành thống trị cả 5 trấn. Từ 5 trấn
phân ra 6 tỉnh, trấn Phiên An thành tỉnh Phiên An, trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa, trấn Định Tường
thành tỉnh Định Tường, trấn Vĩnh Thanh thành tỉnh Long An và tỉnh An Giang, trấn Hà Tiên thành tỉnh Hà
Tiên. Năm 1834, đặt ra Nam kỳ lục tỉnh. Năm 1836, tỉnh Phiên An đổi tên thành tỉnh Gia Định.
2


15

được chia làm hai tổng trực thuộc như sau: tổng An Thịt gồm 5 làng (An
Thạnh, Bình Khánh, Khánh Độ, Sài Tân, Vạn Phước), tổng Cần Giờ gồm 6
làng (Cần Thạnh, Đồng Hòa, Long Thành, Lý Nhơn, Tân Thạnh, Thạnh Thới).
Từ cuối những năm 1920, một cấp hành chính trung gian giữa tổng và
tỉnh được đặt ra là huyện. Lúc này, địa bàn Cần Giờ chia ra làm hai tổng
thuộc quận Nhà Bè, tỉnh Gia Định gồm hai tổng: An Thịt gồm 3 làng (Bình
Khánh, An Thới Đơng, Tam Hiệp) và tổng Cần Giờ gồm 5 làng (Lý Nhơn,
Tân Thạnh, Cần Thạnh, Đồng Hòa, Long Thành).
Trong cuộc xâm lược thuộc địa lần thứ hai, thực dân Pháp xác định

rừng Sác – Cần Giờ là vùng sông rạch chằng chịt, rừng cây bạt ngàn nên dễ
dàng đặt căn cứ kháng chiến, chặn đứng và hạ thủ các tàu chiến qua cảng Sài
Gòn. Năm 1947, Pháp tách Cần Giờ (tổng An Thịt, tổng Cần Giờ) sang thị xã
Ô Cấp1 và thiết lập tỉnh Cap Saint – Jacques (tỉnh Vũng Tàu). Pháp hy vọng
có thể dùng hải quân khống chế rừng Sác.
Năm 1956, hai tổng An Thịt và Cần Giờ hợp thành quận Cần Giờ nằm
trong tỉnh Phước Tuy2.
Ngày 29/01/1959, từ quận Cần Giờ lập thêm quận Quảng Xuyên. Đến
tháng 9/1965, chuyển hai quận Cần Giờ và Phước Tuy sang tỉnh Biên Hòa.
Năm 1966, chuyển hai quận Cần Giờ và Quảng Xuyên từ tỉnh Biên Hòa về
Gia Định như cũ. Năm 1968, huyện Duyên Hải được thành lập, sau đó Cần
Giờ và Quảng Xuyên thuộc huyện Duyên Hải (tỉnh Đồng Nai). Đến năm 1978,
huyện Duyên Hải sát nhập vào thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1991, huyện
Duyên Hải được đổi tên thành huyện Cần Giờ.
Với vị trí là huyện tiền tiêu, là cửa ngõ phía Đơng Nam, Cần Giờ có ý
nghĩa hết sức quan trọng về kinh tế và quân sự. Ngày 10/02/1859, quân Pháp

1
2

Ô Cấp là căn cứ hải quân quan trọng của Pháp ở Đông Dương.
Phước Tuy là tên một phủ thuộc tỉnh Biên Hòa thời lục tỉnh xưa.


16

nổ súng tấn công vào cửa biển Cần Giờ đã gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ
của nhân dân Cần Giờ. Nghĩa quân Trương Định đã chiến đấu anh dũng dưới
sự đùm bọc, che chở của người dân nơi đây đã làm cho thực dân Pháp hoảng
sợ.

Là vùng đất đầu tiên bị thực dân Pháp kiểm soát để tiến vào Gia Định
nhưng các thế hệ Cần Giờ vẫn kiên cường chống Pháp, có một số thanh niên
được giác ngộ từ rất sớm. Tiêu biểu là Huỳnh Hai Hích (Hai Hích) đã được
An Nam Cộng sản Đảng giác ngộ từ năm 1929 và chính thức làm liên lạc trên
đường dây giao liên từ Bà Rịa – Vũng Tàu. Đồng chí Huỳnh Hai Hích là
người thanh niên Cần Giờ đầu tiên được đứng vào hàng ngũ đảng ở lứa tuổi
hai mươi.
Đến năm 1934, xứ ủy Nam Kỳ cử đồng chí Trần Văn Cứ về tỉnh Bà
Rịa xây dựng cơ sở Đảng. Đồng chí đã bắt liên lạc với nhóm của đồng chí Hồ
Tri Tâm 1 và xây dựng cơ sở Đảng đầu tiên tại vùng rừng Sác.
Do địa bàn Cần Giờ quá phức tạp nên địa giới hành chính thay đổi liên
tục, có lúc Duyên Hải thuộc Nhà Bè, Cần Giờ thuộc Vũng Tàu nên phong trào
cách mạng ở đây chịu sự chỉ đạo trực tiếp của huyện ủy Nhà Bè và huyện ủy
Vũng Tàu. Song cái chung là người dân nơi đây luôn gắn với rừng Sác và
chiến đấu bảo vệ rừng Sác như bảo vệ bản thân họ. Năm 1961, huyện ủy Cần
Giờ được thành lập do đồng chí Vũ Hùng Yên làm bí thư. Năm 1967, huyện
ủy Duyên Hải2 được thành lập để lãnh đạo phong trào cách mạng ở hai quận
Cần Giờ và Quảng xuyên. Trong hơn 30 năm kháng chiến chống thực dân
Pháp, đế quốc Mỹ và bọn tay sai phản động, trong điều kiện vô cùng khó
1

Đồng chí Hồ Tri Tâm là người Quảng Trị, tham gia Đơng Dương Cộng sản Liên Đồn bị thực dân Pháp
truy lùng nên trà trộn vào đoàn người đi về phương Nam lập nghiệp. Đồng chí đã dừng chân tại mảnh đất
rừng Sác – Cần Giờ để hoạt động. Tại đây, đồng chí đã bắt liên lạc với những thanh niên yêu nước và giác
ngộ họ. Nhóm thanh niên yêu nước này đã tổ chức rải truyền đơn, kêu gọi chống Pháp.
2
Huyện ủy Duyên Hải được thành lập năm 1967, mãi đến ngày 05/07/1968 mới chính thức thành lập huyện
Duyên Hải gồm 11 xã: Thạnh An, Tân Thạnh, Cần Thạnh, Long Thành, Đồng Hịa, Lý Nhơn, An Thới Đơng,
Bình Khánh, Tam Thôn Hiệp, Phú Hữu, Phước Khánh.



17

khăn, gian khổ, chịu nhiều hy sinh, mất mát, nhân dân Cần Giờ dưới sự chỉ
đạo của các cơ sở Đảng vẫn kiên cường đoàn kết, “bám rễ” vào rừng Sác để
chiến đấu và lập nên nhiều chiến cơng, góp phần xuất sắc vào sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc.
Sau ngày miền Nam hồn tồn giải phóng, đất nước thống nhất, Cần
Giờ phải gánh chịu hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, hơn 2 triệu tấn bom
đạn, hơn 4 triệu lít thuốc khai hoang được rải xuống mảnh đất Cần Giờ, tàn
phá nghiêm trọng hệ sinh thái và mơi trường nơi đây. Tồn huyện khơng có
đường nhựa, giao thông nông thôn lầy lội, người dân đi lại rất khó khăn, diện
tích lúa trồng trên đất nhiễm phèn, nhiễm mặn khơng cho thu hoạch, nhân dân
thiếu đói liên tục. Mạng lưới y tế thiếu thốn, dịch bệnh lan nhanh, hơn 80%
dân số mù chữ, nhân dân khơng có nước sạch, khơng có điện thắp sáng để sử
dụng trong sinh hoạt…
Trước những khó khăn đó, Đảng bộ và nhân dân huyện Duyên Hải (nay
là huyện Cần Giờ) luôn khắc phục khó khăn, xây dựng huyện ngày càng phát
triển, từng bước cải thiện đời sống nhân dân. Hàng nghìn ha rừng Sác được
trồng lại, năng suất lúa tăng, kinh tế biển phát triển, hệ thống điện, đường,
trường, trạm, dịch vụ y tế phát triển. Năm 1990, mạng lưới điện đã về đến các
thơn xóm Cần Giờ. Đặc biệt vào năm 2000, UNESCO đã công nhận rừng
ngập mặn Cần Giờ là khu dữ trữ sinh quyển của thế giới. Ngày 28/04/2000,
Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký quyết định số 160/KT.CTN tặng
thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Đảng bộ, dân
và quân Cần Giờ. Ngày 16/06/2005, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký
quyết định số 596/2005 – QĐ/CTN tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lao
động trong thời kỳ đổi mới cho Đảng bộ, dân và qn Cần Giờ vì những cơng
lao đóng góp và thành tích xuất sắc trong cơng cuộc đổi mới.



18

1.3. Điều kiện phát triển kinh tế
Năm 1978, sau 3 năm đất nước thống nhất, huyện Duyên Hải (nay là
huyện Cần Giờ) được sát nhập vào thành phố Hồ Chí Minh. Đây là sự kiện
quan trọng và là cơ sở đưa huyện Duyên Hải tiến lên một bước trong phát
triển kinh tế - xã hội.
Sau khi sát nhập, Đảng bộ huyện Duyên Hải đã nhận thấy rằng: Việc
mở rộng diện tích nơng nghiệp bằng ngăn mặn, khai hoang đã khơng đưa lại
kết quả như mong muốn. Nguyên nhân là do lượng mưa thấp nên không đủ
nước ngọt cho trồng lúa, mặt khác do cấu tạo chân đất không chắc chắn, nhiều
lồi lươn lịch, cua cịng làm hang xun bờ gây nhiễm mặn. Do vậy, từ cuối
năm 1979, huyện đã cho khoanh vùng để sản xuất nơng nghiệp thay vì mở
rộng diện tích. Bên cạnh những biện pháp tích cực trong sản xuất nông nghiệp,
huyện cũng xác định ngư nghiệp là một ngành kinh tế mũi nhọn nên rất được
quan tâm đầu tư phát triển. Một trong những thành tựu nổi bật của huyện
trong giai đoạn này là phục hồi và phát triển rừng ngập mặn. Ngày
25/08/1978, huyện tổ chức ra quân trồng đước, đến ngày 01/10/1978, huy
động được 19.475 ngày công lao động, trồng 3.161,20 ha/5000 ha theo kế
hoạch. Năm 1979, trồng 2.700 ha/3000 ha theo kế hoạch, tỷ lệ cây sống đạt
65%, mở ra triển vọng khôi phục rừng ngập mặn giá trị cao về kinh tế và môi
sinh [4, tr.48-49]
Khi huyện Duyên Hải (nay là huyện Cần Giờ) được chính thức sát nhập
vào thành phố Hồ Chí Minh. Những chủ trương của Thành ủy thành phố Hồ
Chí Minh và Huyện ủy Cần Giờ đã nhanh chóng đưa huyện Cần Giờ thốt
khỏi tình trạng khó khăn ban đầu, đồng thời xác định được lợi thế của huyện
ven biển để chuyển đổi cơ cấu kinh tế thích hợp với điều kiện tự nhiên, thúc
đẩy kinh tế phát triển nhanh, mạnh.



19

Giai đoạn 1980 – 1990 là giai đoạn kinh tế Cần Giờ phát triển toàn diện.
Huyện xác định ngành kinh tế mũi nhọn lúc này là ngư nghiệp, đồng thời tăng
cường đầu tư phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp theo hướng ứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất nên
đã góp phần tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Tổng sản lượng hải sản
năm 1975 là 8.000 tấn đến năm 1990 tăng lên 15.000 tấn. Nơng nghiệp cũng
có sự chuyển biến mạnh mẽ nhờ biện pháp thâm canh, tăng vụ, mở rộng diện
tích canh tác từ 3000 ha năm 1979 tăng lên 4.000 ha năm 1990 [94, tr.2].
Cùng với đầu tư phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng của huyện cũng được
đầu tư phát triển. Tuyến đường Nhà Bè – Duyên Hải dài 36,5 km xuyên qua
rừng Sác nối liền Cần Giờ với trung tâm thành phố Hồ Chí Minh được xây
dựng và đưa vào sử dụng, tạo thuận lợi cho giao thông đi lại trên địa bàn
huyện và các địa phương lân cận khác.
Song song với phát triển kinh tế và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cơng
tác trồng rừng phịng hộ phát triển nhanh, rừng được phục hồi và bảo vệ tốt đã
góp phần bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái cho thành phố, đồng thời
tạo điều kiện khai thác, nuôi trồng thủy hải sản phát triển. Tận dụng nguồn
nước mặn của biển, nghề muối được đầu tư phát triển và nâng cao năng suất,
chất lượng.
Ngư nghiệp trong giai đoạn này phát triển mạnh, xuất hiện hình thức
đánh bắt xa bờ, mang lại giá trị kinh tế cao, hoạt động nuôi tôm đã tạo ra một
khối lượng tôm xuất khẩu mang lại giá trị kinh tế cao.
Có được những thành quả trong phát triển kinh tế của huyện Cần Giờ
trong giai đoạn kể trên là kết quả của q trình khắc phục khó khăn của Đảng
bộ và nhân dân dưới sự chỉ đạo của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Hơn
nữa, Cần Giờ đã biết phát huy những lợi thế về tự nhiên của huyện để phát
triển kinh tế phù hợp.



×